Viễn Đông Nga

Viễn Đông Nga (tiếng Nga: Да́льний Восто́к; phát âm [ˈdalʲnʲɪj vʌˈstok]) hay Transbaikalia là một thuật ngữ chỉ những vùng của Nga ở Viễn Đông, ví dụ, những vùng cực đông của Nga, giữa Hồ Baikal ở Trung Siberia, và Thái Bình Dương. Quận Viễn Đông Liên bang của Nga, bao phủ vùng này, không nên bị nhầm lẫn với Quận Liên bang Siberia.

Thuật ngữ

Tại Nga

Tại Nga, vùng thường được gọi là "Viễn Đông", dễ gây nhầm lẫn với ý nghĩa quốc tế của Viễn Đông khi phiên dịch. Viễn Đông thường được gọi trong tiếng Nga là "Vùng châu Á Thái Bình Dương" (Азиатско-тихоокеанский регион, viết tắt theo АТР), hay "Đông Á" (Восточная Азия).

Các đặc điểm địa lý

Lịch sử

Buổi đầu lịch sử

Nga đã mở ra tới bờ biển Thái Bình Dương năm 1647 với việc thành lập Okhotsk, và củng cố sự kiểm soát của họ với Viễn Đông Nga vào thế kỷ 19.

Lãnh thổ

Cho tới năm 2000, Viễn Đông Nga vẫn không có các biên giới được quy định chính thức. Một thuật ngữ duy nhất "Siberia và Viễn Đông" (Сибирь и Дальний Восток) thường được dùng để chỉ các vùng của Nga nằm ở phía đông dãy Ural mà không chỉ ra một sự phân biệt rõ ràng giữa "Siberia" và "Viễn Đông." Nhiều thực thể với cái tên "Viễn Đông" đã tồn tại ở nửa đầu thế kỷ 20, tất cả với các biên giới hoàn toàn khác biệt:

Từ năm 1938 tới năm 2000, không có thực thể chính thức với cái tên này và thuật ngữ "Viễn Đông" được sử dụng một cách lỏng lẻo.

Năm 2000, các thực thể liên bang của Nga được gộp vào trong các vùng liên bang, và Vùng liên bang Viễn Đông được thành lập, gồm Amur, Khu tự trị Chukotka, Tỉnh tự trị Do Thái, Kamchatka, Khu tự trị Koryak, Khabarovsk Krai, Magadan, Primorsky Krai, Cộng hoà Sakha (Yakutia), và Sakhalin. Từ năm 2000, thuật ngữ "Viễn Đông" ngày càng được dùng nhiều ở Nga để chỉ quận này, dù nó cũng thường được dùng một cách lỏng lẻo hơn.

Các biên giới được xác định của quận liên bang, Viễn Đông có diện tích 6.2 triệu km² — chiếm một phần ba tổng diện tích của Nga.

Nhân khẩu

Dân số

Theo cuộc Điều tra dân số năm 2002, Quận Viễn Đông Liên bang có dân số  6,692,865 người. Hầu hết số này tập trung ở các vùng phía nam. Với diện tích rất to lớn của lãnh thổ Viễn Đông Nga, 6.7 triệu người người ở đây có mật độ dân số chỉ hơn 1 người trên 1 km², khiến Viễn Đông Nga là một trong những nơi có dân cư thưa thớt nhất thế giới. Dân số Viễn Đông Nga đã suy giảm nhanh chóng từ sự sụp đổ của Liên Xô (thậm chí nhanh hơn mức trung bình của toàn nước Nga), giảm 14% trong 15 năm qua. Chính phủ Nga đã thảo luận một loạt các chương trình tái cấu trúc dân số để tránh sự dự báo dân số sẽ chỉ còn 4.5 triệu người vào năm 2015, hy vọng thu hút số dân cư Nga từ các quốc gia lân cận.

Sắc tộc NgaUkraina chiếm đa số dân cư.

75% dân số sống tại đô thị. Các thành phố lớn nhất là (tất cả các con số đều lầy theo cuộc điều tra dân số năm 2002):

Các nhóm sắc tộc truyền thống

Các nhóm sắc tộc truyền thống của Viễn Đông Nga gồm (được gộp theo nhóm ngôn ngữ):

Xem thêm

Liên kết ngoài

Amur

Sông Amur (A-mua) hay Hắc Long Giang (tiếng Nga: Амур; tiếng Trung giản thể: 黑龙江, phồn thể: 黑龍江. bính âm: Hēilóng Jiāng), tức "Hắc Long Giang" hay là "sông Rồng đen"; tiếng Mông Cổ: Хара-Мурэн, Khara-Muren có nghĩa là "sông Đen"; tiếng Mãn: Sahaliyan Ula cũng có nghĩa là "sông Đen"), với tổng chiều dài lên đến 4.444 km, nó trở thành con sông lớn thứ 10 trên thế giới, tạo thành biên giới tự nhiên giữa miền Viễn Đông của Nga và vùng Mãn Châu (tỉnh Hắc Long Giang) của Trung Quốc.

Biển Okhotsk

Biển Otkhost (tiếng Nga: Охо́тское мо́ре, chuyển tự. Okhotskoye More, IPA [ɐˈxotskəɪ ˈmorʲɪ]; tiếng Nhật: オホーツク海, chuyển tự Ohōtsuku-kai) là vùng biển phía tây bắc Thái Bình Dương, nằm giữa bán đảo Kamchatka, quần đảo Kuril, đảo Sakhalin và đảo Hokkaidō. Tên của nó được lấy theo tên của khu dân cư người Nga đầu tiên ở miền Viễn Đông. Người Châu Âu biết đến biển Okhotsk là nhờ hai nhà thám hiểm Nga Ivan Moskvitin và Vassili Poyarkov giữa thế kỷ XVII.

Tổng diện tích biển Okhotsk là 1.583.000 km², độ sâu trung bình 859 m, nơi sâu nhất là 3.372 m.

Vào mùa đông, giao thông trên biển Okhotsk gần như đình trệ bởi biển đóng băng. Nước từ sông Amur chảy vào biển làm giảm độ mặn và do đó tăng nhiệt độ đóng băng của nước. Băng trên biển không đều nhau ở mọi nơi, phân bố và độ dày phụ thuộc vào địa điểm, thời điểm, dòng nước và nhiệt độ nước biển.

Trừ đảo Hokkaidō, tất cả các đảo và đất liền quanh biển Okhotsk đều thuộc Nga. Vì thế có thể coi biển này nằm dưới sự quản lý của Nga.

Trong tiếng Nhật, tên ban đầu của biển là Hokkai (北海), có nghĩa là "biển bắc". Tên này dễ nhầm lẫn với Biển Bắc ở Châu Âu nên ngày nay nó được gọi là Ohōtsuku-kai (オホーツク海) theo tên của Nga.

Bán đảo Kamchatka

Bán đảo Kamchatka (phiên âm tiếng Việt: Bán đảo Cam-sát-ca; tiếng Nga: полуо́стров Камча́тка, Poluostrov Kamchatka) là một bán đảo dài khoảng 1.250 km ở miền Viễn Đông nước Nga, với diện tích khoảng 472.300 km². Nó nằm giữa Thái Bình Dương (về phía đông) và biển Okhotsk (về phía tây). Ngoài khơi bán đảo này về phía Thái Bình Dương là rãnh Kuril-Kamchatka với độ sâu lớn nhất là 10.500 m.

Bán đảo Kamchatka, quần đảo Commander, đảo Karaginsky tạo thành vùng Kamchatka của Nga. Phần lớn trong số 322.079 cư dân là người Nga, và dân tộc thiểu số lớn nhất là người Koryak sinh sống ở quận tự trị Koryakia nằm ở phía bắc bán đảo với khoảng 13.000 người (2014).

Bán đảo Kamchatka nổi tiếng với 160 núi lửa, 19 trong số đó được UNESCO công nhận là Di sản thế giới. Bán đảo cũng là nơi nhận lượng mưa lên tới 2.700 mm (110 in) mỗi năm.

Kamchatka (vùng)

Vùng Kamchatka (tiếng Nga: Камча́тский край, chuyển tự. Kamchatsky kray, IPA [kɐmˈtɕatskʲɪj kraj]) là một chủ thể liên bang (một krai) của Nga. Về địa lý, nó nằm ở miền Viễn Đông, là một phần của Vùng liên bang Viễn Đông. Vùng Kamchatka có dân số 322,079 (2010).Petropavlovsk-Kamchatsky là thành phố lớn nhất, đồng thời là thủ phủ vùng Kamchatka, là nơi cư ngụ của hơn một nửa dân số vùng.

Vùng Kamchatka được thiết lập ngày 1 tháng 7 năm 2007, là kết quả của việc hợp nhất tỉnh Kamchatka và khu tự trị Koryak, theo kết quả một cuộc trưng cầu dân ý. Khu tự trị Koryak vẫn giữ địa vị hành chính đặc biệt, dù đã được sáp nhập vào vùng Kamchatka.

Khabarovsk

Khabarovsk (tiếng Nga: Хаба́ровск, phát âm tiếng Nga: [xɐˈbarəfsk]) là thành phố lớn nhất, trung tâm hành chính của Khabarovsk Krai, Nga. Thành phố này có cự ly 30 km so với biên giới của Trung Quốc. Đây là thành phố lớn thứ nhì tại Viễn Đông Nga, sau Vladivostok. Thành phố đã trở thành trung tâm hành chính của Vùng liên bang Viễn Đông của Nga vào năm 2002. Dân số theo điều tra năm 2002 là 583.072 người, năm 1989 là 600.623 người và năm 2009 là 578.600 người.

Thành phố tọa lạc tại hợp lưu của sông Amur và sông Ussuri, khoảng 800 km về phía bắc Vladivostok và có kế nối với đường sắt xuyên Sibiria. Thành phố này cách Moskva 8523 km tính theo khoảng cách đường sắt.

Thành phố có Sân bay Khabarovsk Novy.

Thành phố có cự ly 30 km so với biên giới Trung Quốc.

Khabarovsk (vùng)

Vùng Khabarovsk (tiếng Nga: Хаба́ровский край, chuyển tự. Khabarovsky kray, IPA [xɐˈbarəfskʲɪj kraj]) là một chủ thể liên bang của Nga (một krai), nằm ở Viễn Đông Nga. Vùng Khabarovsk bao gồm đồng bằng hạ lưu sông Amur, cũng như các khu vực đồi núi rộng lớn dọc theo đường bờ biển của biển Okhotsk, một bộ phận của Thái Bình Dương. Trung tâm hành chính của vùng là thành phố Khabarovsk. Theo điều tra năm 2010, vùng có 1.343.869 cư dân.

Magadan (tỉnh)

Magadan Oblast (tiếng Nga: Магада́нская о́бласть, Magadanskaya oblast) là một chủ thể liên bang (một tỉnh thuộc vùng Liên bang Viễn Đông của Nga. Trung tâm hành chính là thành phố Magadan.

Mảng Thái Bình Dương

Mảng Thái Bình Dương là một mảng kiến tạo đại dương nằm dưới Thái Bình Dương.

Về phía bắc của mặt phía đông là ranh giới phân kỳ với mảng Explorer, mảng Juan de Fuca và mảng Gorda tạo ra các sống đại dương tương ứng là sống đại dương Explorer, sống đại dương Juan de Fuca và sống đại dương Gorda. Ở đoạn giữa của mặt đông là ranh giới biến dạng với mảng Bắc Mỹ dọc theo đứt gãy San Andreas và ranh giới với mảng Cocos. Ở phía nam của mặt đông là ranh giới phân kỳ với mảng Nazca tạo thành đới nâng đông Thái Bình Dương.

Mặt nam của nó là ranh giới phân kỳ với mảng Nam Cực tạo thành sống núi Thái Bình Dương - Nam Cực.

Mặt phía tây là ranh giới hội tụ đang chìm lún xuống phía dưới mảng Á-Âu ở phía bắc và mảng Philippin ở đoạn giữa tạo ra rãnh Mariana. Tại phía nam của mặt này, mảng Thái Bình Dương có ranh giới phức tạp nhưng nói chung là hội tụ với mảng Ấn-Úc, đang chìm lún xuống phía dưới nó tại phía bắc New Zealand tạo thành rãnh Tonga và rãnh Kermadec. Phay Alpine đánh dấu ranh giới biến dạng giữa hai mảng này và xa hơn về phía nam thì mảng Ấn-Úc lại chìm lún xuống phía dưới mảng Thái Bình Dương tạo ra rãnh Puysegur. Phần của Zealandia về phía đông ranh giới này là khối lớp vỏ lục địa lớn nhất của mảng Thái Bình Dương.

Mặt phía bắc là ranh giới hội tụ đang chìm lún xuống phía dưới mảng Bắc Mỹ tạo thành rãnh Aleut và tương ứng với nó là quần đảo Aleut.

Mảng Thái Bình Dương chứa một điểm nóng tạo thành quần đảo Hawaii.

Ngữ hệ Chukotka-Kamchatka

Ngữ hệ Chukotka-Kamchatka hay Ngữ hệ Chukchi–Kamchatka là một ngữ hệ tại miền Viễn Đông Nga. Người nói các ngôn ngữ này về truyền thống là dân săn bắt-hái lượm và chăn tuần lộc. Toàn bộ ngôn ngữ trong hệ đều đã tuyệt chủng hoặc đang bị đe dọa.

Nhánh Kamchatkan sắp biến mất, với chỉ tiếng Itelmen còn hiện diện, với chỉ 80 người còn sót lại (2010). Nhánh Chukotka có gần 7.000 người nói (2010, đa số là người nói tiếng Chukchi) trên tổng dân số là 25.000 người.

Nhật Bản

Nhật Bản (Nhật: 日本, Hepburn: Nihon hoặc Nippon, hay Nhật Bản Quốc (日本国)) là một đảo quốc nằm ở vùng Đông Á. Tọa lạc trên Thái Bình Dương, nước này nằm bên rìa phía đông của Biển Nhật Bản, Biển Hoa Đông, Trung Quốc, bán đảo Triều Tiên và vùng Viễn Đông Nga, trải dài từ Biển Okhotsk ở phía bắc xuống Biển Hoa Đông và đảo Đài Loan ở phía nam. Chữ kanji (Hán tự) trong quốc hiệu Nhật Bản nghĩa là "gốc của Mặt Trời," và thường được biết đến qua biệt danh "Đất nước Mặt Trời mọc."

Nhật Bản là một quần đảo núi lửa gồm khoảng 6.852 đảo, chủ yếu nằm trong khu vực ôn đới với bốn mùa rõ rệt, nhưng có khí hậu khác biệt dọc theo chiều dài đất nước. Năm hòn đảo chính yếu là Honshu, Hokkaido, Kyushu, Shikoku và Okinawa, chiếm khoảng 97% diện tích đất liền của nước này, nhưng phần nhiều chỉ là rừng và núi với nguồn tài nguyên khoáng sản rất hạn chế. Quần đảo được chia thành 47 tỉnh thuộc 8 vùng địa lý. Dân số Nhật Bản vào khoảng 126 triệu người, đứng thứ 11 thế giới và là đảo quốc đông dân thứ hai, tập trung chủ yếu ở các vùng đồng bằng nhỏ hẹp ven biển. Người Nhật chiếm khoảng 98,1% tổng dân số đất nước. Gần 13,8 triệu cư dân sống tại trung tâm Tokyo, thủ đô không chính thức của đất nước. Vùng thủ đô Tokyo, bao gồm thủ đô và một vài tỉnh xung quanh nó, là đại đô thị lớn nhất thế giới với hơn 35 triệu dân và có nền kinh tế đô thị hóa cao nhất hành tinh. Đại đa số người dân Nhật Bản thực hành tín ngưỡng Thần đạo theo truyền thống bản địa, kết hợp với Phật giáo vốn được du nhập từ bên ngoài.

Các nghiên cứu khảo cổ chỉ ra rằng đã có người định cư tại Nhật Bản từ thời Thượng kỳ đồ đá cũ. Những ghi chép đầu tiên đề cập đến quốc gia này nằm trong các thư liệu lịch sử Trung Hoa có từ thế kỷ thứ nhất Công Nguyên. Thoạt đầu chịu ảnh hưởng từ các vùng đất khác, chủ yếu là Đế quốc Trung Quốc, tiếp đến là giai đoạn tự cách ly, về sau thoát khỏi sự chi phối của thế giới phương Tây, đã hình thành những nét đặc trưng trong lịch sử và văn hóa Nhật Bản. Từ thế kỷ 12 đến năm 1868, Nhật Bản liên tục thuộc quyền cai trị của các quân nhân phong kiến shogun nhân danh Thiên hoàng. Quốc gia này bước vào quá trình cô lập kéo dài suốt nửa đầu thế kỷ 17, và chỉ kết thúc vào năm 1853 khi một hạm đội của Hoa Kỳ gây áp lực buộc Nhật Bản phải mở cửa với phương Tây. Gần hai thập kỷ nội chiến và bạo loạn đã xảy ra trước khi Thiên hoàng Minh Trị tái thiết lại đất nước trong vai trò nguyên thủ vào năm 1868 và khai sinh Đế quốc Nhật Bản, với Thiên hoàng trở thành biểu tượng thiêng liêng của dân tộc. Trong những năm cuối thế kỷ 19, công nghiệp hóa tại Nhật Bản diễn ra mạnh mẽ, đất nước phát triển nhanh chóng, và đến đầu thế kỷ 20 thì Nhật Bản đã trở thành quốc gia có trình độ hiện đại hóa cao nhất châu Á, sánh ngang nhiều nước Tây Âu. Những thắng lợi sau chiến tranh Thanh-Nhật, chiến tranh Nga-Nhật và Chiến tranh thế giới thứ nhất đã cho phép Nhật Bản đánh chiếm nhiều vùng lãnh thổ tại Trung Quốc và Triều Tiên, mở rộng đế chế của mình và củng cố quyền lực của chủ nghĩa quân phiệt. Cuộc chiến tranh Trung-Nhật năm 1937 đã nhanh chóng lan rộng thành một phần của Chiến tranh thế giới thứ hai từ năm 1941, mà cuối cùng kết thúc vào năm 1945 sau vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Từ thời điểm bản Hiến pháp mới được ban hành năm 1947, Nhật Bản là một nhà nước đơn nhất duy trì chế độ quân chủ lập hiến kết hợp dân chủ đại nghị, trong đó cơ quan lập pháp dân cử là Quốc hội.

Nhật Bản là nước thành viên của Liên Hợp Quốc, khối APEC, các nhóm G7, G8 và G20, đồng thời được xem như một cường quốc. Quốc gia này có nền kinh tế đứng hạng ba thế giới theo GDP danh nghĩa và hạng tư thế giới theo sức mua tương đương. Nó cũng đứng hạng tư hành tinh cả về kim ngạch nhập khẩu lẫn xuất khẩu. Mặc dù Nhật Bản đã chính thức từ bỏ quyền tuyên chiến, nước này vẫn sở hữu một lực lượng quân đội hiện đại có ngân sách cao thứ tám thế giới, được huy động với mục đích tự vệ và gìn giữ hòa bình. Nhật Bản là một nước phát triển với mức sống và Chỉ số phát triển con người rất cao, trong đó người dân được hưởng tuổi thọ cao nhất thế giới, đứng hạng ba trong số những quốc gia có tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh thấp nhất thế giới, và vinh dự có số người đoạt giải Nobel nhiều nhất châu Á. Nhật Bản là quốc gia dẫn đầu về Chỉ số thương hiệu quốc gia, hạng sáu trong Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2019 và giữ vị trí cao thứ hai châu Á về Chỉ số hòa bình toàn cầu. Nhật Bản cũng là quốc gia châu Á đầu tiên đăng cai tổ chức Thế vận hội Mùa hè và Mùa Đông. Mặt khác, Nhật Bản là quốc gia có tỉ lệ tự sát cao, kết hợp với tình trạng sinh đẻ thấp ở mức báo động đã góp phần khiến cho quá trình lão hóa dân số diễn ra ngày càng trầm trọng.

Priamurye

Priamurye (tiếng Nga: Приаму́рье) là một vùng lãnh thổ ở Viễn Đông của Nga. Priamurve bao gồm các đơn vị hành chính Primorsky Krai, phần phía nam của Khabarovsk Krai, Tỉnh tự trị Do Thái, Amur Oblast.

Primorsky (vùng)

Primorsky Krai (tiếng Nga:Примо́рский край), không chính thức được gọi là Primorye (Приморье), là một chủ thể liên bang của Nga (một vùng, krai). Trung tâm hành chính là thành phố Vladivostok.

Primorsky có nghĩa là "ven biển" hay duyên hải trong tiếng Nga, do đó khu vực đôi khi được gọi là tỉnh duyên hải hoặc vùng lãnh thổ duyên hải.

Ngày nay, Primorsky Krai là nền kinh tế lớn nhất ở Viễn Đông Nga và là nơi sinh sống của gần 2,1 triệu người, người Nga chiếm 89,89%, 4,54% là người Ukraina, và 0,86% là người Triều Tiên.

Quần đảo Kuril

Bản mẫu:Infobox disputed islands

Quần đảo Kuril theo cách gọi của Nga (tiếng Nga: Курильские острова [kuˈrʲilskiɪe əstrʌˈva], Kuril'skie ostrova), hay quần đảo Chishima theo cách gọi của Nhật Bản (tiếng Nhật: 千島列島; âm Hán Việt: Thiên Đảo liệt đảo; nghĩa là "chuỗi 1000 đảo") nay thuộc tỉnh Sakhalin của Nga, là một quần đảo núi lửa trải dài khoảng 1.300 km về phía đông bắc từ Hokkaidō, Nhật Bản tới Kamchatka của Nga, ngăn biển Okhotsk bên tây bắc và Thái Bình Dương phía đông nam. Quần đảo này có khoảng 56 đảo và nhiều đảo đá nhỏ khác.

Sau phát xít Nhật bại trận vào năm 1945, Liên Xô chiếm đóng toàn bộ quần đảo Kuril từ phía Nhật, và nay là của Nga. Tất cả cư dân trên đảo sau đó đã được đưa sang định cư ở vùng Trung Á thuộc Liên Xô. Tuy nhiên đến nay Nhật vẫn khẳng định chủ quyền của mình ở 4 đảo cực nam của quần đảo này.

Sakhalin (tỉnh)

Sakhalin Oblast (tiếng Nga:Сахали́нская о́бласть, Sakhalinskaya oblast) là một chủ thể liên bang của Nga (một tỉnh). Trung tâm hành chính là thành phố Yuzhno-Sakhalinsk. Tỉnh này bao gồm đảo Sakhalin và quần đảo Kuril.

Ulan-Ude

Ulan-Ude (tiếng Nga: Улан-Удэ; tiếng Buryat: Улаан-Үдэ Ulaan-Ude) là thủ phủ của Cộng hòa Buryat, Nga, thành phố này năm cách khoảng 100 km về phía đông nam hồ Baikal trên sông Uda tại hợp lưu với sông Selenga. Theo điều tra dân số năm 2002, dân số Ulan-Ude là 359.391, còn dân số năm 2010 là 402.000 người, đây là thành phố lớn thứ ba ở miền đông Siberia.

Ulan-Ude có khoảng cách 5.640 km (3.500 dặm) về phía đông của Moskva và 100 km (62 dặm) về phía đông nam của hồ Baikal. Thành phố nằm ở độ cao 600 mét trên mực nước biển ở chân các dãy núi Khamar-Daban và Khrebet Ulan-Burgasy, bên cạnh nơi hợp lưu của sông Selenga và nhánh của nó Uda phân chia thành phố thành hai phần. Thành phố có sân bay Ulan-Ude.

Ussuri

Ussuri là một con sông ở phía đông của vùng Đông Bắc Trung Quốc và phía nam của Viễn Đông Nga.

Viễn Đông

Viễn Đông là một từ dùng để chỉ các quốc gia Đông Á. Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, "Cận Đông" dùng để ám chỉ các vùng đất cạnh Đế quốc Ottoman, "Trung Đông" là các vùng tây bắc Nam Á và Trung Á và "Viễn Đông" là các quốc gia nằm dọc tây Thái Bình Dương và các quốc gia nằm dọc đông Ấn Độ Dương. Nhiều ngôn ngữ châu Âu có thuật từ tương đương như tiếng Pháp là Extrême-Orient, tiếng Tây Ban Nha Extremo Oriente, tiếng Đức Ferner Osten, tiếng Ý Estremo oriente, tiếng Anh Far East (một từ rất phổ biến suốt thời Đế quốc Anh như một thuật từ chung chỉ các vùng đất phía đông Ấn Độ thuộc Anh), tiếng Hà Lan Verre Oosten...

Theo cách sử dụng của các chuyên gia nghiên cứu về Đông phương thì nó có nghĩa là một sự cách xa về cả mặt địa lý cũng như văn hóa; có nghĩa là một địa phương không chỉ xa về mặt địa lý mà cũng xa lạ về mặt văn hóa. "Viễn Đông" chưa bao giờ được dùng để ám chỉ, ví dụ, đến các quốc gia có nền văn hóa Tây phương như Úc và New Zealand. Hai nước này thậm chí nằm xa về phía đông của châu Âu hơn phần nhiều các quốc gia châu Á. "Viễn Đông" trong cách này tương tự các thuật từ như "phương Đông" (có nghĩa là phía đông); "thế giới Đông phương" hoặc đơn giản là "phía đông". Viễn Đông Nga có lẽ được bao gồm vào Viễn Đông theo góc độ nào đó vì sự di dân hiện nay của người Trung Hoa đến Nga và Koryo-saram.

Vùng liên bang Viễn Đông

Vùng liên bang Viễn Đông (tiếng Nga: Дальневосточный федеральный округ, chuyển tự Dalnevostochny federalny okrug) là vùng liên bang lớn nhất trong 8 vùng liên bang của Nga, đây cũng là vùng có dân số ít nhất, với 6.692.865 người (74,3% dân thành thị) và diện tích 6.215.900 km². Vùng liên bang Viễn Đông được thành lập năm 2000 bởi tổng thống Vladimir Putin. Vùng liên bang Viễn Đông bao gồm phần lớn lãnh thổ của khu vực Viễn Đông Nga.

Xung đột biên giới Trung-Xô

Cuộc xung đột biên giới Trung-Xô năm 1969 là một loạt các vụ đụng độ vũ trang giữa Liên Xô và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, xảy ra vào lúc cao điểm của sự chia rẽ giữa Trung Quốc và Liên Xô trong thập niên 1960. Một hòn đảo trên sông Ussuri có diện tích 0,74km2 mà người Trung Hoa gọi là Trân Bảo và Liên Xô gọi là Damansky (Остров Даманский) gần như đưa Liên Xô và Trung Quốc vào chiến tranh năm 1969.

Nhóm Quốc gia và lãnh thổ Đông Á

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.