Vương quốc Ý

Vương quốc Ý (tiếng Ý: Regno d'Italia) là một nhà nước thành lập vào năm 1861 sau khi vua Victor Emmanuel II của Vương quốc Sardegna thống nhất các quốc gia trên bán đảo Italia và trở thành Vua của Ý. Nhà nước này tồn tại cho đến năm 1946 sau khi người Ý, thông qua một cuộc trưng cầu dân ý, quyết định từ bỏ chế độ quân chủ và lựa chọn hiến pháp cộng hòa.

Năm 1866 Ý liên minh với Phổ và tuyên chiến với Áo, mặc dù chiến dịch không thành công nhưng Ý vẫn thu được khu vực Veneto sau chiến thắng của Bismarck. Quân đội Ý tiến vào Roma năm 1870, kết thúc hơn một ngàn năm của thế quyền Giáo hoàng. Ý chấp nhận đề nghị của Bismarck gia nhập liên minh tay ba với ĐứcÁo-Hung vào năm 1882, sau những bất đồng mạnh mẽ với Pháp về vấn đề mở rộng thuộc địa. Tuy nhiên, ngay cả khi liên minh với Berlin trở nên thân thiện, mối quan hệ với Viên vẫn hoàn toàn mang tính hình thức, do Ý vẫn luôn nhòm ngó Trentino và Trieste, 2 vùng đất tuy thuộc đế quốc Áo-Hung nhưng cư dân ở đây chủ yếu là người Italia. Vì vậy, năm 1915, Ý chấp nhận lời mời của Anh tham gia khối Đồng Minh trong Thế chiến I, do những lời hứa hẹn về lãnh thổ từ các đồng minh phương Tây là hào phóng hơn hẳn so với lời đề nghị trung lập từ Áo-Hung. Chiến thắng trong chiến tranh đã đưa Italia tình trạng của một cường quốc cùng với một ghế thường trực trong Hội đồng của Hội Quốc Liên.

Phát xít Ý là tên gọi một số nhà sử học dành để chỉ Vương quốc Ý trong thời kỳ Đảng phát xít quốc gia của nhà độc tài Benito Mussolini nắm quyền từ năm 1922 đến năm 1943. Mussolini thiết lập chế độ độc tài, đàn áp các phe đảng đối lập và những người bất đồng quan điểm, nhưng đồng thời cũng thúc đấy hiện đại hóa kinh tế, tái lập các giá trị xã hội truyền thống cũng như thúc đẩy quan hệ với Giáo hội công giáo Roma. Theo Payne (1996), "chế độ Phát xít Ý đã trải qua những giai đoạn tương đối khác biệt". Giai đoạn thứ nhất (1923-1925) trên danh nghĩa là sự tiếp nối của hệ thống nghị viện, dù được vận hành dưới một "chế độ độc tài điều hành và tổ chức một cách hợp pháp". Giai đoạn thứ hai (1925-1929) là giai đoạn "xây dựng chế độ độc tài phát xít đúng nghĩa". Giai đoạn thứ ba (1929-1934) trải qua với ít hoạt động đáng chú ý. Giai đoạn thứ tư (1935-1940) được đặc trưng bởi một chính sách đối ngoại hiếu chiến với cuộc xâm lược Ethiopia cũng như Somalialand thuộc Anh [2], đối đầu với các biện pháp trừng phạt kinh tế của Hội Quốc Liên. Giai đoạn thứ năm (1940-1943) là giai đoạn Ý tham gia vào Thế chiến II, với những thất bại quân sự và thiên tai trong nước. Giai đoạn cuối cùng (1943-1945) là khi chính quyền Salo (dưới sự chi phối của Đức quốc xã) kiểm soát miền bắc Ý [3].

Dưới chủ nghĩa phát xít, Vương quốc Ý liên minh với Đức Quốc xã trong Thế Chiến II cho đến năm 1943. Trong hai năm còn lại của Thế chiến II, Vương quốc Ý chuyển sang phe Đồng Minh sau khi Mussolini bị lật đổ và đảng phát xít Ý bị giải thể. Ở miền bắc Ý các tàn tích của nhà nước phát xít vẫn tiếp tục chiến đấu chống lại quân Đồng Minh dưới một nhà nước bù nhìn của Đức Quốc xã, dưới tên gọi "Cộng hòa xã hội Ý", vẫn do Mussolini và những người trung thành với ông lãnh đạo. Ngay sau chiến tranh, bất mãn trong xã hội dâng cao đã dẫn đến một cuộc trưng cầu ý dân vào năm 1946 về việc Ý sẽ vẫn là một chế độ quân chủ hoặc trở thành một nước cộng hòa. Theo kết quả của cuộc trưng cầu, người dân Ý đã quyết định từ bỏ chế độ quân chủ và lựa chọn chính thể cộng hòa. Nước Cộng hòa Italia được thành lập và tiếp tục tồn tại, phát triển cho tới ngày nay.

Vương quốc Ý

Regno d'Italia
1861–1946
Khẩu hiệu: Foedere et Religione Tenemur
Quốc ca: Marcia Reale d'Ordinanza
"Hành khúc Hoàng gia Pháp lệnh"
  Vương quốc Ý   Thuộc địa của Ý   Lãnh thổ chiếm đóng trong Thế chiến II
  Vương quốc Ý
  Thuộc địa của Ý
  Lãnh thổ chiếm đóng trong Thế chiến II
Thủ đô
Ngôn ngữ chính thứcTiếng Ý
Ngôn ngữ thiểu số
Tôn giáo
Chính quyền
Vua 
• 1861–1878
Victor Emmanuel II
• 1878–1900
Umberto I
• 1900–1946
Victor Emmanuel III
• 1946
Umberto II
Thủ tướng 
• 1861
Camillo Benso (đầu tiên)
• 1922–1943
Benito Mussolini
(Il Duce từ 1925)
• 1945–1946
Alcide De Gasperi (cuối cùng)a
Cơ quan lập phápNghị viện
Lịch sử 
năm 1861
• Cuộc tuần hành tại Rome
31 tháng 10 năm 1922
• Lật đổ Benito Mussolini
25 tháng 7 năm 1943
• Thành lập nhà nước cộng hòa Ý
năm 1946
Tiền tệLira (₤)
Mã ISO 3166IT
Tiền thân
Kế tục
Vương quốc Sardegna
Vương quốc Lombardia–Veneto
Lãnh thổ Giáo hoàng
Vương quốc Hai Sicilia
Ý
Hiện nay là một phần của

Chiếm đóng quân sự tại:

  1. Khi Vương quốc Ý giải thể vào năm 1946, de Gasperi tiếp tục làm Thủ tướng tới năm 1953.

Tham khảo

  1. ^ a ă Technische Universität Dresden (2011). Religiöse Intoleranz und Diskriminierung in ausgewählten Ländern Europas, Band 2. LIT Verlag. tr. 166.
  2. ^ Andrea L. Stanton; Edward Ramsamy; Peter J. Seybolt (2012). Cultural Sociology of the Middle East, Asia, and Africa: An Encyclopedia. tr. 308. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2014.
  3. ^ Stanley G. Payne, A History of Fascism, 1914–1945 (1996) p 212
1861

1861 (số La Mã: MDCCCLXI) là một năm thường bắt đầu vào thứ Ba trong lịch Gregory.

Bản mẫu:Tháng trong năm 1861

Alfonso Ferrero La Marmora

Alfonso Ferrero La Marmora, 1. Cavaliere La Marmora (phát âm tiếng Ý: [alˈfɔnso la ˈmarmora]; 18 tháng 11 năm 1804 – 5 tháng 1 năm 1878) là tướng lĩnh và chính khách người Ý. Những người anh của ông bao gồm sĩ quan và nhà nghiên cứu vạn vật học Alberto della Marmora và Alessandro Ferrero La Marmora, sáng lập nhánh của Quân đội Ý ngày nay gọi là Bersaglieri.

Arnulf của Kärnten

Arnulf của Kärnten (tiếng Slovene: Anurlf Koroški;850 – 8 tháng 12 năm 899) là vua Đông Frank thuộc nhà Karolinger từ năm 887 và Hoàng đế La Mã Thần thánh từ năm 896 tới khi qua đời. Ông là con ngoài giá thú của Karlmann của Frank Đông và một cung nữ tên Liutswind, có nguồn gốc từ Carantanian, con gái của Bá tước Ernst. Ông thừa kế Lãnh địa công tước Kärnten, một chư hầu của Frank và là hậu thân của Công quốc Carantania từ vua cha, trong khi Ludwig III thừa kế Bayern và Karl III der Dicke thừa kế vương quốc Ý năm 880.

Cagliari

Cagliari (tiếng Ý: [ˈkaʎʎari] (); tiếng Sardegna: Casteddu; tiếng Latinh: Caralis) là thủ phủ và thành phố lớn nhất của Sardegna, một vùng tự trị của Ý. Tên tiếng Sardegna của Cagliari (Casteddu) có nghĩa là lâu đài. Nội ô thành phố có 150.000 dân, trong khi vùng đô thị (bao gồm Cagliari và 16 điểm dân cư lân cận) có hơn 431.000 dân. Theo Eurostat, dân số vùng đô thị đã đạt 476,974.

Cagliari là thành phố lớn thứ 26 của Ý và thành phố lớn nhất trên hòn đảo Sardegna.

Là một thành phố cổ với lịch sử dài, Cagliari đã là một phần của nhiều nền văn minh khác nhau. Tại đây có những vết tích của sự cư ngụ của con người từ năm nghìn năm trước (vào thời kỳ đồ đá mới). Những địa điểm lịch sử gồm Domus de Janas thời tiền sử, một nghĩa trang thời Carthage, một giảng trường thời La Mã, một vương cung thánh đường Byzantine, ba ngọn tháp thời Pisa và một hệ thống thành quách từng khiến thành phố trở thành cốt lõi quyền lực của nhà Habsburg trên Địa Trung Hải.

Cagliari là thủ đô của Vương quốc Sardegna từ năm 1324 đến 1848, khi Turin trở thành thủ đô mới của vương quốc (mà vào năm 1861 trở thành Vương quốc Ý). Ngày nay, đây là trung tâm văn hóa, giáo dục, chính trị và nghệ thuật trong khu vực, với kiến trúc Art Nouveau và nhiều đài tưởng niệm khác nhau. Đây cũng là trung tâm kinh tế của Sardegna với một trong những cảng lớn nhất vùng Địa Trung Hãi, một sân bay quốc tế, và mức thu nhập cao thứ 106 toàn Ý (trong 8.092 comune), tương đương với nhiều thành phố miền Bắc Ý.Thành phố còn có đại học Cagliari, thành lập năm 1607, và tổng giáo phận Công giáo La Mã chính của Sardegna, từ thế kỷ 5 CN.

Chiến tranh Pháp-Phổ

Chiến tranh Pháp - Phổ (19 tháng 7 năm 1870 – 28 tháng 1 năm 1871), sau khi chiến tranh kết thúc thì còn gọi là Chiến tranh Pháp – Đức (do sự nhất thống của nước Đức ở thời điểm ấy), hay Chiến tranh Pháp – Đức (1870 – 1871), Chiến tranh Pháp - Đức lần thứ nhất, thường được biết đến ở Pháp là Chiến tranh 1870, là một cuộc chiến giữa hai nước Pháp và Phổ. Cuộc chiến kết thúc với chiến thắng của nước Phổ, trở thành cuộc chiến tranh đế quốc đầu tiên do Đế quốc Đức - Phổ phát động. Với vai trò hết sức trọng đại trong lịch sử châu Âu, đây là cuộc chiến tranh có tầm vóc đồ sộ, trọng đại nhất giữa những cuộc chiến tranh của Napoléon và Chiến tranh thế giới thứ nhất. Nước Phổ được hỗ trợ bởi Liên bang Bắc Đức và các bang miền Nam Đức như Baden, Württemberg và Bayern. Ngay từ những sự kiện dẫn tới chiến tranh, thiên tài ngoại giao của vị Thủ tướng nước Phổ là Otto von Bismarck đã được biểu lộ. Chiến thắng của quân Phổ và Đức là một bước ngoặt to lớn trong lịch sử châu Âu, đã đem lại sự thống nhất và khởi lập của nền Đế quốc Đức dưới sự cai trị của Hoàng đế Wilhelm I – nhà Vua nước Phổ. Với thắng lợi hiển hách này - là chiến tích chiến lược huy hoàng của ông, tên tuổi của vị Tổng tham mưu trưởng Quân đội nước Đức là Đại tướng - Bá tước Helmut von Moltke đạt tới đỉnh cao vinh quang, với đầu óc sáng tạo mang tầm ảnh hưởng to lớn đến nền quân sự toàn cõi châu Âu. Nhưng bên cạnh thiên tài của ông thì cả Bộ Tổng Tham mưu Đức nói chung là đóng góp lớn nhất cho chiến thắng vinh hiển của đất nước. Thất bại thảm hại của Pháp cũng đánh dấu sự sụp đổ của Napoléon III và dấu chấm hết cho nền Đệ Nhị đế chế Pháp, sau đó được thay thế bởi Đệ Tam cộng hòa. Do đó, chiến bại thê lương này đã hoàn toàn chấm dứt chế độ quân chủ Pháp, trở thành một trong những thảm bại nặng nhất trên đất Pháp. Vùng Alsace-Lorraine bị nước Phổ chiếm lấy và hợp thành một phần của nước Đức cho đến khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Kể từ sau thất bại trong cuộc chiến, người Pháp luôn bị ám ảnh bởi sự mất mát này. Trong khi đó, chiến thắng quyết định của người Phổ - Đức đã tiếp lửa cho tinh thần đoàn kết, cao trào dân tộc chủ nghĩa Đức trỗi dậy mạnh mẽ; và làm cho nước Pháp thất trận bị lăng nhục nặng nề, mở đầu cho sự thù địch cay đắng giữa nước Đức và Pháp, đặt nền tảng cho một cuộc Chiến tranh Pháp – Đức đẫm máu hơn nhiều. Với sự nhất thống của Đế quốc Đức vào tháng 1 năm 1871, về chính trị người Đức đã toàn thắng trước cả khi Paris thất thủ. Là một đòn giáng sấm sét vào đội quân hùng mạnh của Napoléon III, chiến thắng của nước Đức cũng mở đầu cho quá trình suy yếu nghiêm trọng của nước Pháp, đánh một đòn rất đau vào Pháp kể từ sau năm 1815.Cuộc chiến nối tiếp chiến thắng của nước Phổ hùng mạnh trong cuộc Chiến tranh Áo – Phổ, và là kết quả của sự căng thẳng kéo dài nhiều năm giữa hai cường quốc, mà ngòi nổ là mâu thuẫn về việc một Hoàng thân của Vương triều nhà Hohenzollern ứng cử ngai vàng của Tây Ban Nha bị bỏ trống sau khi Nữ hoàng Isabel II bị phế truất năm 1868. Việc bản tuyên cáo Ems bị để lộ ra cho báo chí, trong đó cường điệu sự lăng mạ giữa Quốc vương nước Phổ và đại sứ Pháp, đã như châm thêm dầu vào lửa ở cả hai phía. Bất chấp thất bại vừa qua tại México, nước Pháp tổng động viên quân đội, và đến ngày 19 tháng 7 tuyên chiến với Phổ Quốc. Quân Pháp gặp hỗn loạn và vấn đề hậu cần. Vốn Thủ tướng Bismarck cho rằng chiến tranh chống Pháp là rất cần thiết cho quá trình nhất thống Đức Quốc. Đúng như tầm nhìn xa trông rộng của Bismarck, các tiểu quốc Đức nhanh chóng đứng về phía Phổ và tham chiến chống Pháp. Với quân số đông đảo, chiến sĩ tinh nhuệ, nước Phổ tổng động viên ba quân nhanh chóng hơn hẳn Pháp, trong khi Pháp còn bị rối loạn trầm trọng. Theo lệnh của nhà chiến lược thiên tài Moltke, ba đạo quân Phổ (trong đó có Đệ Tam Đại quân gồm có cả Quân đội Nam Đức) - đều được trang bị hoàn hảo và có khoảng 472 nghìn chiến sĩ với những Tiểu đoàn hùng hậu tiến đánh Pháp Quốc, nhằm tiêu diệt quân Pháp và đánh chiếm Paris.Sức mạnh vượt trội của nước Phổ và Đức hiển hiện nhanh chóng, một phần bằng việc sử dụng hiệu quả vận chuyển bằng đường sắt (hệ thống đường sắt Phổ lớn thứ tư trên thế giới trong khi hệ thống đường sắt Pháp thì lớn thứ năm) và Pháo binh tân tiến hiệu Krupp. Sức mạnh khủng khiếp của lực lượng Pháo binh Đức, cùng với sự bày binh bố trận rất chuẩn mực của Tổng Tham trưởng Moltke đã hoàn toàn áp đảo thế mạnh của Pháp về súng trường Chassepot. Quân đội Đức-Phổ chọc thủng lỗ hổng Lorraine, giành thẳng thế chủ động từ tay quân Pháp, và nhanh chóng giành được một loạt thắng lợi tại miền đông nước Pháp (tỷ dụ như Trận Spicheren nơi quân Đức của Thống chế Karl Friedrich von Steinmetz dùng đại pháo hiệu Krupp hủy diệt địch và đánh tạt sườn địch, Trận Wörth nơi Hoàng thái tử Friedrich đại phá quân của Thống chế Patrice de Mac-Mahon, Trận Gravelotte cực kỳ khốc liệt nơi các chiến sĩ Đức anh dũng trở nên rạng danh uy chấn nhờ đánh bại tan tác đạo quân Pháp có thế mạnh hơn và đuổi quân Pháp về Metz), những chiến thắng lẫy lừng này là bước ngoặt ban đầu phá vỡ tinh thần tấn công của Pháp. Đội Kỵ binh Phổ của Thiếu tướng Friedrich Wilhelm Adalbert von Bredow đã lập nên chiến công ngàn thu mang lại thắng lợi lớn cho quân Phổ trong Trận Mars-la-Tour. Loạt thắng lợi chứng tỏ sự tinh nhuệ, nề nếp của quân Phổ hơn hẳn sự kém hiệu quả, bất lực của quân Pháp - chỉ trong vòng sáu tuần mà đoàn binh tinh nhuệ Phổ đã tiến công nhanh gọn và hạ nhục Pháp. Đỉnh điểm là Trận Sedan, khi mà quân Pháp thất thế, Đại tướng Moltke đại thắng Thống chế Mac-Mahon, đồng thời Napoléon III và toàn bộ đạo quân dưới quyền bị bắt vào ngày 2 tháng 9 - thất bại thảm hại của Pháp chỉ 6 tuần sau khi chiến sự nổ ra. Với tính chất hủy diệt rất cao, đại thắng mang tính bước ngoặt ở Sedan là một thắng lợi "thiêng liêng", huyền thoại, lớn lao hàng đầu trong suốt chiều dài lịch sử quân sự Phổ - Đức, khắc họa kế hoạch vây bọc của Moltke và đỉnh cao vinh quang của Bismarck. Không những Đệ Nhị Đế chế Pháp sụp đổ mà do đạo quân đồn trú Pháp tại La Mã phải sang giao chiến với Đức nên quân đội Ý thừa cơ đoạt lấy thành La Mã. Chiến thắng huy hoàng trong trận đánh Sedan với ý nghĩa quyết định đã tạo điều kiện cho Liên minh Đức sớm chấm dứt chiến sự với thắng lợi của mình. Ngoài ra, Quân đội Phổ sau khi nhử được mồi còn xiết chặt quân Pháp và chiếm đoạt được pháo đài Metz. Nước Pháp thất trận hoàn toàn náo loạn. Tuy nhiên, cuộc chiến chưa chấm dứt: Đệ Tam cộng hòa được tuyên bố thành lập ngày 4 tháng 9 tại Paris, và người Pháp tiếp tục kháng cự dưới sự chỉ huy của Chính phủ Vệ Quốc (Le Gouvernement de la Défense Nationale) và sau đó là Adolphe Thiers. Trong vòng 5 tháng, quân đội Đức-Phổ đánh bại những đạo quân mới được tuyển mộ của Pháp trong một loạt trận chiến dọc miền Bắc nước Pháp, tiếp tục sự chiếm đóng của người Đức trên đất Pháp. Nỗ lực của Chính phủ Vệ quốc hoàn toàn bị các chiến sĩ Đức đập tan.

Sau đại bại, Napoléon III chạy sang Anh Quốc. Tuy thất bại thảm hại nhưng cuộc chiến đấu tiếp diễn của Pháp trong thời gian này đã biểu hiện vai trò, sức mạnh của nhân dân trong thời buổi ấy. Quân đội Đức – Phổ cũng công hãm thủ đô Paris của Pháp và cắt nguồn tiếp tế, đánh lui các đợt chống trả của Pháp. Những đoàn quân hùng mạnh của Von Moltke trên đà thắng lợi, và rồi với thất bại hết sức thê thảm trong trận Le Mans, quân Pháp đã suy sụp nhuệ khí nghiêm trọng và chẳng thể nào cứu vãn Paris. Quân Đức thắng thế cũng đánh cho tan nát Binh đoàn Lê dương Pháp vừa đổ bộ lên nghênh chiến. Quân Lê dương Pháp bị giải ngũ trong ô nhục, trong khi dân chúng Paris bị đói khổ. Sau cùng, Paris thất thủ vào ngày 28 tháng 1 năm 1871 sau một cuộc vây hãm kéo dài. Quân Đức lấy được Paris buộc chính quyền Pháp phải xin hoà, đầu hàng Đế quốc Đức. Mười ngày trước đó, tại cung điện Versailles, các tiểu quốc Đức đã tuyên bố hợp nhất dưới sự trị vì của nhà vua nước Phổ, thống nhất nước Đức thành Đế quốc Đức do nước Phổ làm minh chủ. Đây là một thắng lợi hoàn toàn quyết định của Thủ tướng Otto von Bismarck, đánh dấu chiến thắng toàn diện về mặt chính trị của ông. Ông được Đức hoàng phong làm Vương công. Chiến thắng lừng lẫy của nước Đức trong cuộc Chiến tranh Pháp – Đức này cũng thể hiện hiệu quả lớn lao của sự kết hợp giữa sự lãnh đạo dân sự mạnh mẽ của Bismarck và tài năng tổ chức quân sự xuất sắc của Moltke. Với những điều khoản khe khắt của nước Đức áp đặt cho kẻ thù bại trận, Hiệp ước Frankfurt được ký kết giữa nước Đức trỗi dậy với nước Pháp thất trận vào ngày 10 tháng 5 năm 1871 chấm dứt chiến tranh, trong giai đoạn máu lửa của phong trào Công xã Paris năm 1871. Nước Đức đã hoàn toàn cuộc chinh phạt và áp đảo Pháp, buộc Pháp phải đóng một khoản chiến phí khổng lồ, dù điều này không hệ trọng bằng việc Pháp nhượng hai tỉnh Alsace - Lorraine. Chiến thắng lớn lao trong cuộc chiến tranh này đưa Đế quốc Đức trở nên vô cùng hùng mạnh, phá vỡ hoàn toàn cán cân quyền lực ở châu Âu. Nhiệt huyết của người Đức trở nên sục sôi dâng trào với chiến thắng quyết định này, họ quên đi tất cả những chia rẽ xưa kia. Đồng thời, chiến thắng này cũng thể hiện những điểm ưu việt của lực lượng Quân đội Phổ như các chiến sĩ được trang bị tốt và có Bộ Tổng Tham mưu tổ chức chiến sự, và còn là một thắng lợi của nền giáo dục quân sự Đức hồi ấy. Như một chiến quả rực rỡ của thắng lợi trong cuộc chiến tranh Pháp-Phổ nói riêng và hàng loạt của chinh chiến của vị Thủ tướng đại tài Bismarck nói chung, nền Đế quốc Đức ra đời, là một dân tộc hùng mạnh có chủ quyền, phát triển vô song về mọi mặt và mở ra một thời đại mới mẻ trong lịch sử châu Âu, với vai trò vô cùng to lớn và quan trọng đối với cả tình hình chính trị quốc tế thế kỷ XX. Dưới ảnh hưởng từ chiến thắng vang lừng , nền quân sự Đức vẫn tiếp tục phát triển rực rỡ, phát huy đại pháo hiệu Krupp sau thắng lợi hiển hách, trong khi Pháp sau chiến bại ô nhục đã tiến hành cải cách – mà đến khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ thì vẫn thất bại. Trong quá trình cải tổ ấy, nước Pháp thất trận thậm chí còn áp dụng theo khuôn mẫu của nước Đức chiến thắng. Sau đại thắng trong cuộc Chiến tranh Pháp – Đức, nước Đức dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Bismarck không những rộng hơn mà còn nhanh chóng công nghiệp hóa. Trong khi ấy, nếu như nền Đệ Tam Cộng hòa Pháp có cái xuất thân tệ hại là ra đời với chiến bại ô nhục trong cuộc Chiến tranh Pháp – Đức lần thứ nhất này, nó sẽ bị sụp đổ với một chiến bại thê lương khác, trong cuộc Chiến tranh Pháp – Đức lần thứ ba (1940).

Firenze

Firenze [fiˈrɛntse] () hay là Florence trong tiếng Anh, tiếng Pháp, là thủ phủ của vùng Toscana, Ý.

Từ 1865 đến 1870 đây cũng là thủ đô của vương quốc Ý. Firenze nằm bên sông Arno, dân số khoảng 400.000 người, khoảng 200.000 sinh sống trong các khu vực nội thành. Các khu lân cận có khoảng 956.000 người ở. Từ thời trung cổ Firenze đã là trung tâm thương mãi và văn hoá của châu Âu, được xem như là nơi phát động trào lưu thời kỳ phục hưng của Ý - gia đình Medici nổi tiếng từ khi cai trị Firenze. Firenze nổi tiếng về nghệ thuật và kiến trúc. Người ta thường cho rằng trong mỗi 1.000 nghệ sĩ có tiếng của thiên kỷ thứ nhì, 350 có từng làm việc tại Firenze.

Trung tâm lịch sử tại Firenze được UNESCO chọn làm Di sản thế giới năm 1982.

Giuseppe Saracco

Giuseppe Saracco (6 tháng 10 năm 1821 – 9 tháng 1 năm 1907) là chính khách, nhà tài phiệt và Hiệp sĩ Annunziata người Ý.

Hòa ước Saint-Germain-en-Laye (1919)

Hòa ước Saint-Germain-en-Laye hay Hiệp ước Saint-Germain-en-Laye là hòa ước được ký vào ngày 10 tháng 9 năm 1919 tại Cung điện Saint-Germanin gần Paris giữa nước bại trận trong Chiến tranh thế giới thứ nhất là Áo với các nước thắng trận thuộc phe Hiệp ước. Đồng thời hòa ước này cũng đã chính thức chấm dứt sự tồn tại của Đế quốc Áo-Hung, một trong những đế quốc lớn nhất Châu Âu trước Chiến tranh thế giới thứ nhất.

Hòa ước Versailles

Hòa ước Versailles năm 1919 là hòa ước chính thức chấm dứt cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918) giữa nước Đức và các quốc gia thuộc phe Hiệp Ước. Nội dung Hòa ước được soạn thảo bởi Georges Clemenceau, Thủ tướng nước Pháp, cùng với Hoa Kỳ và Vương quốc Anh – là ba nước thắng trận.

Sau nhiều trận đánh đẫm máu từ năm 1914 cho đến giữa năm 1918, quân đội Pháp đã khánh kiệt. Tuy nhiên, nhờ có sự hợp tác của quân đội Anh và Hoa Kỳ, Pháp đã tiếp tục nỗ lực chiến tranh của mình. Cuối cùng, khi tình hình nước Đức trở nên rối loạn, nước Pháp ăn mừng chiến thắng và mong ước có một hội nghị hòa bình nhằm xóa bỏ hoàn toàn mối đe dọa từ phía Đức và có được khoản bồi thường chiến phí.Hội nghị hòa bình này đặt ra những điều khoản khe khắt lên nước Đức bại trận. Nó có thể được so sánh với Hòa ước Tilsit mà Napoléon Bonaparte áp đặt lên Vương quốc Phổ vào năm 1807, hoặc là Hòa ước Brest-Litovsk do Đế quốc Đức áp đặt lên nước Nga Xô Viết vào đầu năm 1918. Sau khi Nhà nước Đức Quốc xã được thành lập với sự lãnh đạo của Adolf Hitler, hội nghị hòa bình đã bị Hitler xóa bỏ vào thập niên 1930.

Luigi Carlo Farini

Luigi Carlo Farini (22 tháng 10 năm 1812 – 1 tháng 8 năm 1866) là nhà vật lý, chính khách và nhà sử học người Ý.

Luigi Facta

Luigi Facta (16 tháng 11 năm 1861, Pinerolo, Tỉnh Turin - 5 Tháng Mười Một, 1930, Pinerolo) là một chính trị gia Ý, nhà báo và là Thủ tướng cuối cùng của Italy trước khi lãnh đạo của Benito Mussolini. Facta sinh ra ở Pinerolo, Piedmont, Ý. Ông học luật và sau đó trở thành một nhà báo. Ông gia nhập chính trị vào năm 1892 khi ông được bầu vào đại hội của Pinerolo, một ghế mà ông giữ trong 30 năm. Facta, một thành viên của Đảng Tự do, đã từng làm phó tổng thư ký của các cơ quan công lý và nội vụ trong các tủ liên minh trong phần lớn thời gian ông ở Quốc hội. Ông cũng là Bộ trưởng Tài chính từ năm 1910 cho đến năm 1914 và năm 1920 cho đến năm 1921. Vào thời Thế chiến I nổ ra, Facta hỗ trợ trung lập cho Ý, nhưng sau đó ủng hộ chiến tranh khi Ý xâm nhập vào nó. Con trai của ông bị giết trong chiến tranh, và ông nói rằng ông tự hào cho một con trai để đất nước của mình.

Lãnh địa Giáo hoàng

Giáo hoàng quốc, tên chính thức là Lãnh địa Giáo hội, là những lãnh địa nằm trên bán đảo Ý nằm dưới quyền của Giáo hoàng, từ thế kỷ 8 đến 1870. Đây từng là một trong những nhà nước lớn tại Ý cho tới năm 1861 khi bán đảo Ý dần được thống nhất. Ở đỉnh cao, Lãnh địa Giáo hoàng gồm hầu hết Lazio (có cả Roma), Marche, Umbria và Romagna, và một phần Emilia.

Tới năm 1861, đa phần Lãnh địa Giáo hoàng đã bị đánh chiếm bởi Vương quốc Ý. Chỉ Lazio, gồm cả Roma, vẫn nằm trong tầm kiểm soát của Giáo hoàng. Năm 1870, Giáo hoàng mất cả Lazio và Roma. Thủ lĩnh phát xít Benito Mussolini đã kết thúc cuộc khủng hoảng giữa nước Ý thống nhất và Vatican bằng việc ký kết Hiệp ước Lateran, chấp nhận chủ quyền Thành Vatican.

Montefiascone

Montefiascone là một thị xã ở tỉnh Viterbo, Italia, nằm bên đồi phía đông nam của hồ Bolsena, 113 km theo đường sắt về phía tây bắc của Roma.

Đô thị này bắt đầu thuộc Vương quốc Ý vào năm 1870. Thị xã bị bom Đồng Minh phá hủy vào tháng 5 năm 1944.

Thị xã có đại giáo đường theo thiết kế kiến trúc của Michele Sanmicheli,

St. Maria della Grazie, cũng do Sanmicheli thiết kế.

Odoacer

Flavius Odoacer (433 – 493), còn được biết đến với tên gọi Flavius Odovacer hay Odovacar (tiếng Ý: Odoacre, tiếng Latinh: Odoacer, Odoacar, Odovacar, Odovacris) là Vua Ý vào thế kỷ thứ 5, thời kỳ trị vì của ông đánh dấu sự kết thúc của Đế chế La Mã cổ đại ở Tây Âu và mở đầu thời kỳ Trung Cổ. Ông được xem là vị vua không có nguồn gốc xuất thân từ La Mã cai trị toàn bộ nước Ý.

Odoacer là viên tướng chỉ huy lực lượng foederati người Scirii tại Ý đã phát động một cuộc nổi loạn nhằm truất phế vị Hoàng đế Tây La Mã cuối cùng, Romulus Augustus vào ngày 4 tháng 9 năm 476. Mặc dù nắm thực quyền trong tay, ông cai trị trong vai trò là người ủng hộ Julius Nepos trên danh nghĩa, sau khi Nepos mất vào năm 480, thì chuyển sang ủng hộ Hoàng đế Đông La Mã ở Constantinopolis. Odoacer được xem là một vị vua (tiếng Latin: rex) trong nhiều nguồn tài liệu và ông tự mình sử dụng nó ít nhất một lần và ở một thời điểm khác nó đã từng được quan chấp chính tối cao Basilius sử dụng.

Roma

Roma (tiếng Latinh và tiếng Ý: Roma; còn phổ biến với tên gọi Rome trong tiếng Anh và tiếng Pháp hay La Mã theo phiên âm Hán Việt) là thủ đô của nước Ý và là một đô thị cấp huyện (comune) loại đặc biệt (có tên đầy đủ là Comune di Roma Capitale), đồng thời đóng vai trò là thủ phủ vùng Lazio của quốc gia này. Roma là thành phố lớn nhất và đông dân nhất ở Ý với hơn 2,8 triệu cư dân trong phạm vi 1.285 km². Đây là thành phố đông dân thứ tư của Liên minh châu Âu, sau Luân Đôn, Berlin và Madrid, tính theo số dân sinh sống bên trong phạm vi thành phố. Roma cũng đồng thời là trung tâm của Thành phố đô thị Roma Thủ đô với hơn 4,3 triệu cư dân, do đó là thành phố đô thị đông dân nhất của nước Ý. Roma tọa lạc ở vùng Lazio, dọc theo con sông Tevere (khu vực Latium lịch sử) thuộc Trung Tây của bán đảo Ý. Thành quốc Vatican (quốc gia nhỏ nhất thế giới) là một đất nước độc lập nằm trong lòng Roma, đây là ví dụ duy nhất về một quốc gia nằm trong lãnh thổ của một thành phố; cũng vì lý do này mà Roma thường được xem là thủ đô lưỡng quốc.Lịch sử Roma trải dài 28 thế kỷ. Mặc dù thần thoại La Mã đặt mốc thời gian thành lập Roma vào khoảng năm 753 TCN, tuy nhiên thành phố đã có mặt cư dân sinh sống lâu hơn thế, khiến nó trở thành một trong những khu định cư lâu đời nhất có con người vẫn đang tiếp tục sinh sống tại châu Âu. Cư dân ban đầu của thành phố có nguồn gốc hỗn hợp từ người Latinh, Etrusca và Sabine. Sau đó, thành phố trở thành thủ đô của Vương quốc La Mã, Cộng hòa La Mã và Đế quốc La Mã, và được nhận định là cái nôi của nền văn minh phương Tây cũng như là kiểu mẫu đô thị trung tâm đầu tiên từng xuất hiện. Roma ban đầu được gọi là Thành phố vĩnh hằng (tiếng Latinh: Urbs Aeterna) bởi thi hào Tibullus người La Mã trong thế kỷ thứ nhất TCN và ý tưởng đó đã được Ovidius, Vergilius và Livius tiếp nối. Thành phố còn nổi tiếng với danh hiệu "Caput Mundi" trong tiếng Latinh có nghĩa là Kinh đô thế giới. Theo sau sự sụp đổ của Đế quốc Tây La Mã đánh dấu khởi đầu của Đêm trường Trung Cổ, Roma dần rơi vào sự thống trị của giáo hoàng (đã cư ngụ tại thành phố kể từ thế kỷ 1) và chính thức thế kỷ 8 trở thành thủ đô của Vương quốc Giáo hoàng tồn tại cho đến năm 1870. Bắt đầu từ thời kỳ Phục Hưng, hầu như tất cả các giáo hoàng từ Nicôla V (1447–1455) trở đi đều chủ trương theo đuổi tiến trình mang tính kiến trúc và đô thị hóa liên tục suốt 400 năm nhằm mục đích biến thành phố trở thành trung tâm nghệ thuật và văn hóa của thế giới. Do vậy, Roma trở thành trung tâm lớn của nền Phục Hưng Ý, và sau đó là nơi khai sinh của trường phái Baroque và chủ nghĩa Tân cổ điển. Các nghệ sĩ, họa sĩ, nhà điêu khắc và kiến trúc sư nổi tiếng đã biến Roma trở thành trung tâm hoạt động của họ, tạo ra những kiệt tác khắp toàn thành phố. Năm 1871, Roma chính thức trở thành thủ đô của Vương quốc Ý thống nhất và sau đó là Cộng hòa Ý từ năm 1946 cho đến ngày nay.

Roma mang đẳng cấp của một thành phố toàn cầu. Trong năm 2016, Roma xếp thứ 14 trong số những thành phố được viếng thăm nhiều nhất thế giới, đứng thứ 3 tại châu Âu và là điểm thu hút khách du lịch nổi tiếng nhất tại Ý. Khu trung tâm lịch sử của Roma được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới. Bảo tàng Vatican nổi tiếng nằm trong số những bảo tàng được viếng thăm nhiều nhất thế giới và Đấu trường La Mã trở thành điểm thu hút khách du lịch phổ biến nhất thế giới với 7,4 triệu lượt khách trong năm 2018. Roma cũng là nơi tổ chức Thế vận hội Mùa hè 1960. Roma là trụ sở của các cơ quan chuyên môn thuộc Liên Hiệp Quốc như Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO), Chương trình Lương thực Thế giới (WFP) và Quỹ quốc tế về phát triển nông nghiệp (IFAD). Thành phố cũng là nơi đặt văn phòng Tổng thư ký Hội đồng Nghị viện Liên minh Địa Trung Hải (UfM) cũng như trụ sở của nhiều tập đoàn kinh doanh quốc tế như Eni, Enel, TIM, Leonardo S.p.A., và các ngân hàng nhà nước và quốc tế như Unicredit và BNL. Khu vực quận kinh tế và trung tâm thương mại của thành phố được gọi là EUR, là cơ sở của nhiều công ty quan trọng tham gia vào các ngành công nghiệp dầu mỏ, công nghiệp dược phẩm và dịch vụ tài chính. Roma cũng là một trung tâm thiết kế và thời trang quan trọng nhờ các thương hiệu quốc tế nổi tiếng có trụ sở tại thành phố, và đứng ở vị trí thứ 5 trong bảng xếp hạng các kinh đô thời trang của thế giới trong những năm gần đây. Phim trường Cinecittà của Roma, phim trường lớn nhất tại châu Âu, đã trở thành nơi bấm máy của rất nhiều bộ phim đoạt giải Oscar.

Thủ tướng Ý

Thủ tướng Ý, chính thức là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Cộng hòa Ý (tiếng Ý: Presidente del Consiglio dei Ministri) là người đứng đầu chính phủ của Cộng hòa Ý.

Dù chức vụ này là tương tự như trong hầu hết các chế độ nghị viện khác, Thủ tướng Ý lại có thẩm quyền ít hơn so với một số các người đồng cấp của mình. Thủ tướng không có quyền yêu cầu giải tán Quốc hội Ý hoặc miễn nhiệm Bộ trưởng, và phải thông qua một cuộc bỏ phiếu chấp thuận từ Hội đồng Bộ trưởng nắm quyền hành pháp thực tế để thi hành hầu hết các hoạt động chính trị.

Chức vụ này được thiết lập trong các điều khoản từ 92 đến 96 của Hiến pháp của Ý hiện tại. Thủ tướng được bổ nhiệm bởi Tổng thống Cộng hòa sau mỗi cuộc tổng tuyển cử. Thường được gọi ở Ý là Thủ tướng, chức vụ này chính thức được gọi là "Presidente del Consiglio dei Ministri", hoặc chỉ "Presidente del Consiglio. Trình tự ưu tiên Ý chính thức xếp chức vụ này về mặt lễ nghi là chức vụ nhà nước quan trọng thứ tư của Ý.

Vương quốc Hai Sicilia

Vương quốc Hai Sicilia (tiếng Ý: Regno delle Due Sicilie, tiếng Sicilia: Regnu dî Dui Sicili) là quốc gia lớn nhất trong các quốc gia từng tồn tại trên bán đảo Ý trước khi nước Ý thống nhất. Vương quốc này tồn tại tới năm 1860 và bị thôn tính vào Vương quốc Sardegna và được đổi tên thành Vương quốc Ý năm 1861. Vương quốc Hai Sicilia có thủ đô là thành phố Napoli.

Vương quốc Hai Sicilia bao gồm phần phía nam bán đảo Ý và hòn đảo Sicilia. Vương quốc này là kết quả của sự thống nhất giữa hai vương quốc cũ có cùng lịch sử là Vương quốc Napoli bao gồm phấn phía nam bán đảo Ý và Vương quốc Sicilia trên đảo Sicilia.

Vương quốc Sardegna

Vương quốc Sardegna hay Vương quốc Sardinia là tên của một quốc gia gồm đảo Sardegna và một số lãnh thổ và đảo trong khu biển Địa Trung Hải phía nam châu Âu. Vương quốc này tồn tại gần 6 thế kỷ, từ khi thành lập năm 1164 đến khi thống nhất với Vương quốc Hai Sicilia để thành lập nên Vương quốc Ý năm 1861.

Trước khi thể chế quân chủ thành lập tại Sardegna, hòn đảo này do bốn lãnh chúa cai trị. Năm 1164, Friedrich Barbarossa thành lập chính quyền quân chủ đầu tiên và Sardegna trở thành một phần của Đế quốc La Mã Thần thánh, nhưng việc này bị tòa thánh Vatican phản đối. Vương quốc Sardegna này có tên gọi nhưng không thực sự là một vương quốc. Năm 1297, Boniface VIII lập lên một vương quốc mới thuộc lãnh thổ của vua Aragón.

Vương quốc Sardegna thuộc Triều đại Savoie từ năm 1718, dựng thủ đô tại Torino (Piedmont) - và còn được gọi là Vương quốc Piedmont-Sardegna, bao gồm Savoie, Piedmont, và Nice. Sau Cách mạng Pháp năm 1792, Savoie trở thành địa phận Mont-Blanc của Pháp. Năm 1815, vua Sardegna được Hội nghị Wien cho lấy tại đất đai và còn được cho Cộng hòa Ligure sáp nhập vào vương quốc của mình.

Năm 1860 Nice và Savoie được Sardegna cống cho Pháp để trả ơn Pháp đã "giúp" họ trong công cuộc thống nhất nước Ý. Vương quốc Sardegna giải thể năm 1861 và trở thành một phần của Vương quốc Ý thống nhất.

Các vua của vương quốc Sardegna:

James II the Aragon: 1323-1327

Alfonso IV: 1327-1336

Peter IV: 1336-1387

John I: 1387-1396

Martin I: 1396-1410

Ferdinand I of Trastámara: 1412-1416

Alfonso V: 1416-1458

John II: 1458-1479

Ferdinand II: 1479-1516

Joanna của Castile: 1516-1555

Carlos I của Tây Ban Nha: 1555-1556

Philip II: 1556-1598

Philip III: 1598-1621

Philip IV: 1621-1665

Charles II: 1665-1700

Philip V: 1700-1708

Charles VI của Áo: 1708-1720

Victor Amadeus II của Savoy: 1720 - 1730

Charles Emmanuel III: 1730 - 1773

Victor Amadeus III: 1773 - 1796

Charles Emmanuel IV: 1796 - 1802

Victor Emmanuel I: 1802 - 1821

Charles Felix: 1821 - 1831

Charles Albert: 1831 - 1849

Victor Emmanuel II: 1849 - 1861

Đế quốc Ý

Đế quốc Ý (tiếng Ý: Impero Italiano) hay Đế quốc thực dân Ý (tiếng Ý: Impero coloniale Italiano) là tập hợp các thuộc địa, xứ bảo hộ, đất nhượng bộ, lãnh thổ phụ thuộc và lãnh thổ ủy thác của Vương quốc Ý (tiếng Ý: Regno d'Italia). Vương quốc Ý cùng với hệ thống thuộc địa của Ý tạo thành Đế quốc thuộc địa Ý, đôi khi được gọi là Đế quốc Ý, tồn tại từ 1869 đến 1946. Nguồn gốc của đế quốc thuộc địa Ý là việc thành lập thuộc địa đầu tiên, một thị trấn ven biển Assab trên Biển Đỏ. Điều này đã được chính phủ Ý tiếp quản vào năm 1882, trở thành lãnh thổ nước ngoài đầu tiên của Ý hiện đại.

Vào đầu Thế chiến thứ nhất năm 1914, Ý đã lập ở châu Phi một thuộc địa trên bờ Biển Đỏ, ngày nay là Eritrea, thiết lập quyền bảo hộ ở Somalia và chiếm Libya thuộc Ottoman (sau Chiến tranh Ý-Thổ Nhĩ Kỳ). Sự mở rộng của Ý vào nội địa châu Phi từ bờ Biển Đỏ đã khiến Ý xung đột với Đế quốc Ethiopia, nước này đánh bại Ý lần đầu tiên trong trận Dogali (1887) và một lần nữa trong cuộc xâm lược đầu tiên của Ý vào Ethiopia (1895–1896).

Bên ngoài châu Phi, Ý sở hữu quần đảo Dodecanese ngoài khơi bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ và tô giới tại Thiên Tân ở Trung Quốc. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Ý chiếm miền nam Albania để ngăn chặn Áo-Hungary xâm chiếm. Năm 1917, thiết lập chế độ bảo hộ ở Albania cho đến năm 1920. Chính phủ phát xít của Benito Mussolini nắm quyền vào năm 1922 đã tìm cách mở rộng kích thước của đế quốc Ý.

Trong cuộc xâm lược Ethiopia lần thứ hai vào năm 1935–1936, Ý đã thành công. Ethiopia được sáp nhập với các thuộc địa khác ở Đông Phi để tạo ra vùng Đông Phi thuộc Ý. Năm 1939, Ý xâm lược Albania. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai (1939–45), Ý chiếm Somaliland của Anh, một phần của Đông Nam nước Pháp, Tây Ai Cập và phần lớn Hy Lạp. Nhưng do thất bại trong Chiến tranh thế giới II, Ý mất các thuộc địa châu Phi của nó, bao gồm Ethiopia cho các lực lượng đồng minh. Ý đã bị ép buộc từ bỏ chủ quyền trên tất cả các thuộc địa. Ý đã được cấp một sự tin tưởng của Liên Hiệp Quốc để quản lý cựu thuộc địa Somaliland của Ý vào năm 1950 dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc. Khi Somalia độc lập vào năm 1960, tám thập kỷ của Ý với chủ nghĩa thực dân đã chấm dứt.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.