Văn hóa Nhị Lý Đầu

Văn hóa Nhị Lý Đầu (giản thể: 二里头文化; phồn thể: 二里頭文化; bính âm: Èrlǐtóu Wénhuà) là tên gọi được các nhà khảo cổ học đặt cho một xã hội đô thị đầu thời đại đồ đồng có niên đại xấp xỉ từ 1900 TCN đến 1500 TCN.[1] Nền văn hóa này được đặt tên theo một di chỉ được phát hiện tại thôn Nhị Lý Đầu thuộc thành phố Yển Sư, tỉnh Hà Nam. Nền văn hóa này phổ biến rộng rãi trên địa bàn nay thuộc hai tỉnh Hà Nam và Sơn Tây, và sau đó lan đến địa bàn nay thuộc các tỉnh Thiểm TâyHồ Bắc. Các nhà khảo cổ học Trung Quốc thường xác định văn hóa Nhị Lý Đầu thuộc văn hóa triều Hạ, song không có các bằng chứng, như văn tự, để xác nhận mối liên hệ này.[2]

Erlitou map

Di chỉ Nhị Lý Đầu

CMOC Treasures of Ancient China exhibit - bronze jue
tước (bình đựng rượu) bằng đồng

Văn hóa Nhị Lý Đầu có thể phát triển trên nền tảng văn hóa Long Sơn. Ban đầu, nền văn hóa này tập trung tại khu vực hai tỉnh Hà Nam và Sơn Tây, sau đó lan đến các tỉnh Thiểm Tây và Hồ Bắc. Sau khi văn hóa Nhị Lý Cương nổi lên, di chỉ Nhị Lý Đầu suy giảm về quy mô song vẫn có người cư trú.[3]

Di chỉ Nhị Lý Đầu được Từ Húc Sinh phát hiện vào năm 1959,[4] đây là di chỉ lớn nhất có liên hệ với văn hóa Nhị Lý Đầu, với các tòa cung điện và xưởng luyện đồng. Nhị Lý Đầu là nơi duy nhất sản xuất bình tế bằng đồng thanh vào đương thời.[5] Đô thị nằm ven sông Y, một chi lưu của sông Lạc- đổ vào Hoàng Hà. Đô thị có kích thước 2,4 km × 1,9 km; tuy nhiên do lũ lụt tàn phá nên chỉ còn lại 3 km2 (1,2 sq mi).[3] Văn hóa Nhị Lý Đầu được chia thành 4 thời kỳ, mỗi thời kỳ kéo dài khoảng 1 thế kỷ.

Trong thời kỳ thứ nhất, với diện tích 100 ha (250 mẫu Anh), Nhị Lý Đầu phát triển nhanh chóng, trở thành một trung tâm khu vực, song chưa phải là nền văn minh đô thị.[6]

Đô thị hóa bắt đầu trong thời kỳ thứ 2, với diện tích mở rộng lên 300 ha (740 mẫu Anh). Một khu vực cung điện rộng 12 ha (30 mẫu Anh) được bốn con đường phân định. Nó bao gồm Cung điện số 3 có kích thước 150x50 m, gồm ba sân dọc theo một trục dài 150 mét, và Cung điện số 5.[3] Một xưởng đúc đồng được thiết lập ờ phía nam tổ hợp cung điện.[7]

Khu đô thị đạt đến đỉnh cao vào thời kỳ thứ 3, và có thể có từ 18.000-30.000 cư dân.[6] Tổ hợp cung điện được bao quanh bằng một bức tường đắp bằng đất dày 2 mét, các Cung điện 1, 7, 8, 9 được xây dựng. Các cung điện 3 và 5 bị bỏ và bị thay thế bằng 4200 m² Cung số 2 và Cung số 4.[8]

Thời kỳ thứ 4 trước dây được xem là thời kỳ suy giảm, song các khai quật gần đây thể hiện rằng việc xây dựng vẫn tiếp tục. Cung điện số 6 được xây dựng như một phần mở rộng của Cung điện số 2, các Cung điện số 10 và 11 được xây dựng. Thời kỳ thứ 5 gối lên hạ kỳ của văn hóa Nhị Lý Cương (1600–1450 TCN). Khoảng 1600 TCN, một khu đô thị có tường bao bọc được xây dựng tại Yển Sư, cách Nhị Lý Đầu khoảng 6 km về phía đông bắc.[8]

Việc sản xuất đồ bằng đồng và các mặt hàng tinh hoa khác chấm dứt vào cuối thời kỳ thứ 4, đồng thời với việc khu đô thị ở Trịnh Châu thuộc văn hóa Nhị Lý Cương được hình thành, cách đó 85 km (53 mi) về phía đông. Không có bằng chứng sự phá hủy là do hỏa hoạn hoặc chiến tranh, song vào thượng kỳ văn hóa Nhị Lý Cương (1450–1300 BCE) tất cả các cung điện bị bỏ, và Nhị Lý Đầu suy giảm thành một thôn rộng 30 ha (74 mẫu Anh).[8]

Liên quan với các ghi chép cổ

ErlitouXia
Văn hóa Nhị Lý Đầu

Một mục tiêu chính của ngành khảo cổ học Trung Quốc là tìm kiếm thủ đô của các triều đại Hạ và Thương, vốn được mô tả trong các thư tịch cổ là nằm ở thung lũng Hoàng Hà.[9] Những điều này được ghi chép trong các thư tịch rất lâu sau đó như Trúc thư kỷ niên (khoảng 300 TCN) và Sử ký (thế kỷ 1 TCN), và tính lịch sử của chúng, đặc biệt là phần liên quan đến triều Hạ, bị nhiều học giả nghi ngờ.[10] Việc phát hiện ra giáp cốt vănÂn Khư thuộc An Dương khẳng định rằng đây là kinh đô cuối cùng của triều Thương, song những chứng cứ như vậy không được tìm thấy trong các di chỉ có niên đại trước đó.[11]

Khi Từ Húc Sinh lần đầu phát hiện ra di chỉ Nhị Lý Đầu, ông khẳng định đó là Bạc, thủ đô đầu tiên của triều Thương dưới thời vua Thang trong thư tịch cổ.[12] Từ cuối thập niên 1970, sự nghiên cứu trong giới khảo cổ học Trung Quốc tập trung vào mối liên hệ giữa văn hóa Nhị Lý Đầu và triều Hạ. Việc triều Thương lật đổ triều Hạ trong thư tịch cổ được các tác giả khác nhau xác định tương ứng với mốc kết thúc của mỗi một trong số 4 thời kỳ. Hạ Thương Chu đoạn đại công trình xác định toàn bộ bốn thời kỳ của văn hóa Nhị Lý Đầu là văn hóa triều Hạ, và việc xây dựng thành Yển Sư có tường bao bọc là mốc triều Thương thành lập.[13] Các học giả khác, đặc biệt là ở bên ngoài Trung Quốc, chỉ ra việc thiếu một bằng chứng vững chắc cho nhận định như vậy, và cho rằng sự tập trung vào sử học của khảo cổ học Trung Quốc là sự hạn chế thái quá.[14]

Chú thích

  1. ^ Allan 2007; Liu & Xu 2007, tr. 886.
  2. ^ Allan 2007; Liu 2004; Liu & Xu 2007.
  3. ^ a ă â Li 2003.
  4. ^ Liu & Chen 2012, tr. 259.
  5. ^ Liu 2004, tr. 231.
  6. ^ a ă Liu 2004, tr. 229.
  7. ^ Liu 2004, tr. 230–231.
  8. ^ a ă â Liu & Xu 2007.
  9. ^ Liu & Chen 2012, tr. 256.
  10. ^ Liu & Xu 2007, tr. 897.
  11. ^ Liu & Chen 2012, tr. 256–258.
  12. ^ Liu & Xu 2007, tr. 894.
  13. ^ Lee 2002.
  14. ^ Liu & Chen 2012, tr. 258.

Tham khảo

  • Allan, Sarah (2007). “Erlitou and the Formation of Chinese Civilization: Toward a New Paradigm”. The Journal of Asian Studies (Cambridge University Press) 66 (2): 461–496. doi:10.1017/S002191180700054X.
  • Liu, Li (2004). The Chinese neolithic: trajectories to early states. Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-81184-2.
  • Liu, Li; Chen, Xingcan (2012). The Archaeology of China: From the Late Paleolithic to the Early Bronze Age. Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-64310-8.

Đọc thêm

  • Fairbank, John King and Merle Goldman (1992). China: A New History; Second Enlarged Edition (2006). Cambridge: MA; London: The Belknap Press of Harvard University Press. ISBN 0-674-01828-1

Liên kết ngoài

  • Bronze Age China, The Golden Age of Chinese Archaeology: Exhibition brochure, National Gallery of Art.
Bắc Chu

Bắc Chu (tiếng Trung: 北周) là một triều đại tiếp theo nhà Tây Ngụy thời Nam Bắc triều, có chủ quyền đối với miền Bắc Trung Quốc từ năm 557 tới năm 581. Cơ sở quyền lực của nhà Bắc Chu được Vũ Văn Thái, một viên đại tướng nhà Tây Ngụy, thiết lập sau khi có sự chia tách Bắc Ngụy thành Tây Ngụy và Đông Ngụy vào năm 535.

Sau khi Vũ Văn Thái chết năm 556, cháu trai ông Vũ Văn Hộ đã buộc Tây Ngụy Cung Đế Nguyên Khuếch phải nhường ngôi cho con trai thứ ba của Vũ Văn Thái là Vũ Văn Giác (tức Hiếu Mẫn Đế), thành lập ra nhà Bắc Chu. Hiếu Mân Đế giáng Tây Ngụy Cung Đế làm Tống Công, không lâu sau thì xử tử. Nhà Bắc Chu có tổng cộng 161 châu, 356 quận, 642 huyện. Đến khi tiêu diệt Bắc Tề thống nhất miền Bắc tổng cộng có 211 châu, 508 quận, 1124 huyện.

Sự trị vì của ba vị hoàng đế đầu tiên của nhà Bắc Chu (các con trai Vũ Văn Thái) – bao gồm Bắc Chu Hiếu Mẫn Đế, Bắc Chu Minh Đế và Bắc Chu Vũ Đế bị chi phối bởi ảnh hưởng của Vũ Văn Hộ cho tới khi Vũ Đế cho mai phục giết chết Hộ năm 572 và tự mình cai trị.

Bắc Tề

Bắc Tề (tiếng Trung: 北齊; Běiqí) là một trong năm triều đại thuộc Bắc triều trong lịch sử Trung Quốc. Triều đại này cai quản khu vực miền bắc Trung Quốc từ năm 550 tới năm 577.

Hà Nam (Trung Quốc)

Hà Nam (tiếng Trung: 河南; bính âm: Hénán), là một tỉnh ở miền trung của Trung Quốc. Tên gọi tắt là Dự (豫), đặt tên theo Dự châu, một châu thời Hán. Tên gọi Hà Nam có nghĩa là phía nam Hoàng Hà. Năm 2018, Hà Nam là tỉnh đông thứ ba về số dân, đứng thứ năm về kinh tế Trung Quốc với 95,6 triệu dân, tương đương với Việt Nam và GDP đạt 4.810 tỉ NDT (715,9 tỉ USD) tương ứng với Ả Rập Xê Út.Hà Nam giáp Hà Bắc về phía bắc, Sơn Đông về phía đông bắc, An Huy về phía tây nam, Hồ Bắc về phía nam, Thiểm Tây về phía tây và Sơn Tây về phía tây bắc. Hà Nam và tỉnh láng giềng Hà Bắc có tên gọi chung là Lưỡng Hà (两河).

Hà Nam thường được gọi là Trung Nguyên (中原) hoặc Trung Châu (中州), nghĩa là "đồng/ vùng đất ở giữa"; rộng hơn, tên gọi này cũng được dùng để chỉ bình nguyên Hoa Bắc. Hà Nam được xem là vùng đất phát nguyên trung tâm của nền văn minh Trung Hoa.

Nhà Hạ

Nhà Hạ hay triều Hạ (tiếng Trung: 夏朝; Hán-Việt: Hạ triều; bính âm: Xià Cháo, khoảng thế kỷ 21 TCN-khoảng thế kỷ 16 TCN) là triều đại Trung Nguyên đầu tiên theo chế độ thế tập được ghi chép trong sách sử truyền thống Trung Quốc.

Một số người cho rằng nhà Hạ chưa phải là 1 triều đình cai trị đúng nghĩa mà là một liên minh nhiều bộ lạc có hình thức tù trưởng phức tạp. Còn nếu căn cứ theo ghi chép trong sách sử thì Tam Đại gồm Hạ, Thương, Chu đều là vương triều phong kiến phân quyền, quân chủ và chư hầu chia nhau mà cai trị, và triều Hạ là vương triều phong kiến thị tộc thế tập đầu tiên. Trong các văn vật thời kỳ Hạ, có số lượng nhất định lễ khí làm bằng đồng thanh hoặc ngọc, niên đại của chúng ước tính là vào cuối Thời đại đồ đá mới, đầu Thời đại đồ đồng.

Mặc dù ghi chép liên quan đến triều Hạ trong các văn hiến truyền thống Trung Quốc là khá nhiều, song các sách này được viết khá muộn sau thời kỳ đó. Cho đến nay vẫn chưa phát hiện được chứng cứ trực tiếp để có thể công nhận sự tồn tại của triều Hạ (như văn tự thời kỳ đó hoặc di tích lăng tẩm), do đó trong giới lịch sử học cận hiện đại có người nghi ngờ tính chân thực về sự tồn tại của triều Hạ. Văn hóa Nhị Lý Đầu phát hiện được ở tây bộ Hà Nam và nam bộ Sơn Tây có các điều kiện cơ bản về niên đại và vị trí địa lý của nhà Hạ, song do chưa khai quật được các ghi chép văn tự giống như giáp cốt bốc từ ở Ân Khư, do vậy tính tồn tại của triều Hạ vẫn chưa thể chứng thực được. Nhiều học giả trong và ngoài Trung Quốc nhận định rằng di chỉ Nhị Lý Đầu ở Yển Sư thuộc Hà Nam có khả năng là di tích đô thành của triều Hạ ít nhất là trong thời kỳ thứ nhất và thứ nhì, song hiện vẫn đang phải tìm kiếm thêm căn cứ xác thực để làm rõ.

Căn cứ theo ghi chép trong sử sách, Vũ truyền vị cho con là Khải, cải biến thiện nhượng chế bộ lạc nguyên thủy, khởi đầu tiền lệ thế tập vương vị kéo dài 4000 năm trong lịch sử Trung Quốc. Triều Hạ tổng cộng truyền được 14 đời với 17 vua, kế tục trong khoảng 471 năm, bị triều Thương tiêu diệt. Triều Hạ được xem là vương triều đầu tiên theo lịch sử truyền thống Trung Quốc, có địa vị lịch sử khá cao, người Hán đời sau thường tự xưng là "Hoa Hạ", trở thành danh từ đại diện cho Trung Quốc.

Nhà Hậu Lương

Nhà Hậu Lương (giản thể: 后梁; phồn thể: 後梁; bính âm: Hòu Liáng) (5 tháng 6 năm 907-923) là một trong năm triều đại của thời kỳ Ngũ đại Thập quốc của Trung Quốc. Triều đại này do Chu Ôn (còn gọi là Chu Toàn Trung) thành lập, đóng đô ở Biện Lương (Khai Phong).

Nhà Trần (Trung Quốc)

Nhà Trần (giản thể: 陈朝; phồn thể: 陳朝; bính âm: Chén cháo) (557-589), đôi khi gọi là Nam triều Trần (南朝陳), là triều đại thứ tư và cuối cùng trong số các triều đại thuộc Nam triều thời kỳ Nam-Bắc triều ở Trung Quốc, cuối cùng bị nhà Tùy tiêu diệt.

Khi triều đại này được Trần Bá Tiên (Vũ Đế) thành lập năm 557. Quốc gia này rất yếu, chỉ chiếm một phần nhỏ lãnh thổ đã từng thuộc về triều đại trước đó là nhà Lương – và trên lãnh thổ đó những cuộc chiến đã làm nhà Lương suy sụp cũng đồng thời tàn phá tất cả những thứ khác. Tuy nhiên, những người kế vị của Trần Vũ Đế là Trần Văn Đế và Trần Tuyên Đế lại là những vị hoàng đế có năng lực, và vì thế nhà nước này dần dần thống nhất và vững mạnh thêm, trở thành ngang hàng về sức mạnh trước các đối thủ như nhà Bắc Chu và nhà Bắc Tề.

Tuy nhiên, sau khi Bắc Chu tiêu diệt Bắc Tề năm 577 thì nhà Trần bị dồn vào thế bí do bại trận trong cuộc tranh chấp miền bắc với Bắc Chu. Bên cạnh đó, vị hoàng đế cuối cùng của nhà Trần là Trần Thúc Bảo lại không có tài năng và cả tin, và cuối cùng nhà Trần đã bị triều đại kế tục nhà Bắc Chu là nhà Tùy xóa sổ năm 589.

Nhà Trần là triều đại cuối cùng của Nam triều, cũng là triều đại cuối cùng trong Lục triều (cùng với Đông Ngô - Đông Tấn - Lưu Tống - Nam Tề và nhà Lương) cai trị vùng Giang Nam, đóng đô ở Kiến Khang; tính từ khi Tôn Quyền xưng vương, tất cả kéo dài gần 400 năm.

Tam Hoàng Ngũ Đế

Tam Hoàng Ngũ Đế (chữ Hán: 三皇五帝) là thời kỳ lịch sử đầu tiên của Trung Quốc, và là các vị quân chủ huyền thoại của Trung Quốc trong thời kỳ từ năm 2852 TCN tới 2205 TCN, thời kỳ ngay trước thời nhà Hạ.

Cái gọi là Tam Hoàng (三皇), dùng để chỉ đến ba vị quân chủ đầu tiên mang tính chất huyền huyễn và thần thánh. Theo truyền thuyết, ba vị này được cho là thần tiên hoặc bán thần, những người đã sử dụng các phép màu để giúp dân. Do phẩm chất cao quý nên họ sống lâu và thời kỳ cai trị của họ hòa bình thịnh vượng. Còn Ngũ Đế (五帝), là năm vị quân chủ nối tiếp theo Tam Hoàng, có công khai hóa dân tộc Trung Hoa, đưa dân tộc này thoát khỏi tình trạng sơ khai. Trong thời kỳ này, người Trung Quốc đã biết chế ra lửa để nấu chín thức ăn, biết cất nhà, làm quần áo, trồng ngũ cốc, chài lưới, thực hiện lễ nghi, và bắt đầu tạo ra chữ viết.

Đó là thời kỳ sơ khai tối cổ của Trung Quốc. Văn minh chưa có hay mới bắt đầu có nhưng rất thô sơ và dân chúng rất thưa thớt, sống từng nhóm nhỏ theo lối du mục, không có dấu tích gì còn sót lại. Điều này khiến việc nghiên cứu để biết rõ các triều đại tối cổ này khá khó khăn.

Thời đại đồ đồng

Thời đại đồ đồng là một thời kỳ trong sự phát triển của nền văn minh khi phần lớn công việc luyện kim tiên tiến (ít nhất là trong sử dụng có hệ thống và rộng rãi) bao gồm các kỹ thuật để nấu chảy đồng và thiếc từ các loại quặng lộ thiên sẵn có trong tự nhiên, và sau đó phối trộn các kim loại này với nhau để tạo ra đồng đỏ (đồng thiếc). Thời đại đồ đồng tạo thành một phần của hệ thống ba thời đại cho các xã hội tiền sử. Trong hệ thống đó, nó diễn ra sau thời đại đồ đá mới trong một số khu vực trên thế giới. Tại nhiều khu vực của châu Phi Hạ Sahara thì thời đại đồ đá mới được kế tiếp là thời đại đồ sắt mà không có thời đại đồ đồng.

Thục Hán

Quý Hán (季漢; 221 - 263), thường gọi là Thục Hán (蜀漢), quốc hiệu chính thức là Hán, miệt xưng Thục, là một trong ba quốc gia trong thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Hoa, thuộc vùng Tây Nam Trung Quốc (khu vực Tứ Xuyên ngày nay). Kinh đô trên thực tế của nước Thục là Thành Đô (vùng phía bắc của nước Thục). Có một số sử gia cho rằng Thục Hán là triều đại cuối cùng của Nhà Hán vì Hoàng đế Thục Hán Lưu Bị thuộc dòng dõi hoàng tộc. Hai nước còn lại thời Tam Quốc là Đông Ngô và Tào Ngụy.

Kể từ thời nhà Đường, nhà Thục Hán được sử sách Trung Quốc coi là sự nối tiếp của nhà Hán, là triều đại chính thống trong số 3 triều đại của thời Tam quốc, do vậy Lưu Bị - vua khai quốc của Thục Hán, là hoàng đế duy nhất trong thời Tam quốc được thờ tại Đế vương miếu (các hoàng đế của Tào Ngụy, Đông Ngô không được thờ). Thời Tống, bộ sách Tư trị thông giám của Tư Mã Quang là bộ sử đầu tiên gọi chính quyền Thục Hán là Hán, tuy nhiên Tư Mã Quang lại lấy Tào Ngụy là chính thống.

Triều đại Trung Quốc

Trước khi thành lập Trung Hoa Dân Quốc vào năm 1912, quyền lực thống trị tối cao tại Trung Quốc do thành viên các gia tộc thế tập nhau nắm giữ, hình thành nên các triều đại Trung Quốc. Các triều đại có người thống trị tối cao là "vương" hoặc "hoàng đế". Các dân tộc khác nhau lập nên triều đại hoặc chính quyền định đô tại Trung Nguyên, thông thường xưng là vương triều Trung Nguyên; các chính quyền do ngoại tộc thành lập ở ngoài Trung Nguyên, về sau tiến vào thống trị Trung Nguyên được gọi là vương triều chinh phục hoặc vương triều xâm nhập.

Căn cứ lịch sử địa lý học Trung Quốc, các chính quyền hoặc thế lực cát cứ địa phương trong lịch sử Trung Quốc cũng là một bộ phận của các triều đại Trung Quốc

Tào Ngụy

Tào Ngụy (曹魏) là một trong 3 quốc gia thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Hoa, kinh đô ở Lạc Dương. Tào Ngụy do Tào Tháo xây dựng tiền đề nhưng con trai Tào Tháo là Tào Phi là người thiết lập nên Tào Ngụy. Tào Phi là vị hoàng đế đầu tiên của Tào Ngụy. Tào Ngụy đã bị Tư Mã Viêm xóa sổ và lập nên nhà Tây Tấn vào tháng 2 dương lịch năm 266, sau đó thống nhất Trung Quốc. Nhà Ngụy kéo dài từ 220 đến 266 theo dương lịch, chiếm cứ vùng bắc Trung Quốc.

Tây Ngụy

Tây Ngụy (tiếng Trung:西魏) là triều đại xuất hiện sau khi có sự tan rã của nhà Bắc Ngụy và cai trị vùng lãnh thổ miền Bắc Trung Quốc từ năm 535 tới năm 557.

Văn hóa Bùi Lý Cương

Văn hóa Bùi Lý Cương (裴李崗文化, Péilǐgāng Wénhuà) là tên được các nhà khảo cổ học đặt cho một nhóm các cộng đồng thời đại đồ đá mới tại lưu vực sông Y-Lạc thuộc tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Nền văn hóa này tồn tại từ năm 7000 TCN đến 5000 TCN. Có trên 100 di chỉ đã được xác định thuộc về văn hóa Bùi Lý Cương, gần như toàn bộ trong số đó đều nằm trong một khu vực nhỏ có diện tích khoảng 100 km² ở ngay phía nam sông và dọc theo đôi bờ sông. Nền văn hóa này được đặt tên theo di chỉ Bùi Lý Cương được khai quật năm 1977 thuộc thành phố Tân Trịnh. Các nhà khảo cổ học cho rằng văn hóa Bùi Lý Cương theo chủ nghĩa quân bình, có ít cấu trúc mang tính chính trị.

Cư dân thuộc nền văn hóa Bùi Lý Cương trồng kê và chăn nuôi lợn, gia súc và gia cầm. Họ săn bắn hươu nai và lợn rừng, đánh cá tại dòng sông gần đó, dùng lưới làm từ sợi cây gai dầu. Văn hóa Bùi Lý Cương cũng là một trong những nền văn hóa Trung Quốc cổ nhất có hoạt động sản xuất đồ gốm. Nền văn hóa này mang điểm đặc trưng là có khu vực dân cư và khu vực mai táng riêng biệt, giống như hầu hết các nền văn hóa thời đại đồ đá mới. Các hiện vật thường thấy bao gồm mũi tên, mũi giáo, đầu rìu bằng đá; các công cụ bằng đá như đục, dùi, và liềm dùng để thu hoạch ngũ cốc, các đồ gốm dùng để nấu nướng và lưu trữ ngũ cốc.

Di chỉ Giả Hồ là một trong các di chỉ sớm nhất được xác định thuộc nền văn hóa Bùi Lý Cương.

Văn hóa Lão Quan Đài

Văn hóa Lão Quan Đài là một văn hóa thời kỳ đồ đá mới tại khu vực trung du Hoàng Hà ở Trung Quốc, còn gọi là Văn hóa Đại Địa Loan, chủ yếu phân bố tại lưu vực sông Vị Hà, trong khu vực từ Quan Trung tới thượng du Đan Giang, tồn tại từ khoảng 5800 tới 5000 năm TCN.

Văn hóa Lão Quan Đài chia sẻ nhiều nét tương đồng với văn hóa Từ Sơn (8000-5500 TCN) và văn hóa Bùi Lý Cương (7000-5000 TCN).

Văn hóa Mã Gia Banh

Văn hóa Mã Gia Banh (giản thể: 马家浜文化; phồn thể: 馬家浜文化) là một nền văn hóa thuộc thời đại đồ đá mới tồn tại ở vùng cửa sông của Trường Giang, chủ yếu tập trung quanh khu vực Thái Hồ và phía bắc vịnh Hàng Châu. Nền văn hóa này trải rộng khắp nam bộ Giang Tô và bắc bộ Chiết Giang từ khoảng 5000 TCN đến 3000 TCN. Thoạt đầu, các nhà khảo cổ học nhận định các di chỉ thuộc văn hóa Mã Gia Banh thuộc cùng một nền văn hóa với các di chỉ ở bắc bộ Giang Tô và đặt tên là văn hóa Thanh Liên Cương. Sau đó, các nhà khảo cổ học nhận ra rằng các di chỉ ở bắc bộ Giang Tô thuộc văn hóa Đại Vấn Khẩu và xếp các di chỉ ở nam bộ Giang Tô quy thuộc văn hóa Mã Gia Banh. Văn hóa Mã Gia Banh cùng tồn tại với văn hóa Hà Mỗ Độ trong hơn 1000 năm như hai nền văn hóa riêng biệt và khác biệt, song có sự truyền bá văn hóa giữa hai bên.

Người dân thuộc nền văn hóa Mã Gia Banh canh tác lúa. Ở di chỉ Thảo Hài Sơn và di chỉ Xước Đôn thuộc văn hóa Mã Gia Banh, các nhà khảo cổ học đã khai quật được ruộng lúa, cho thấy vai trò trung tâm của lúa trong kinh tế. Ngoài ra, các hóa thạch động vật khai quật được từ những di chỉ thuộc văn hóa Mã Gia Banh thể hiện rằng người dân đã thuần hóa lợn. Tuy nhiên, người ta cũng tìm thấy hóa thạch của hươu sao và hoẵng, cho thấy họ không hoàn toàn phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp. Các di chỉ khảo cổ cũng có các dấu tích cho thấy người dân thuộc văn hóa Mã Gia Banh sản xuất đồ trang trí làm từ ngọc thạch.

Văn hóa Nhị Lý Cương

Văn hóa Nhị Lý Cương (二里岗文化, khoảng 1500–1300 TCN) là thuật ngữ được các nhà khảo cổ học sử dụng để đề cập đến một nền văn hóa khảo cổ học thuộc thời đại đồ đồng ở Trung Quốc. Di chỉ chính được phát hiện tại Nhị Lý Cương, thuộc Trịnh Châu, Hà Nam, vào năm 1951.

Đô thị cổ có một bức tường lớn bao quanh với chu vi khoảng 7 km. Các xưởng lớn nằm ở bên ngoài tường thành, bao gồm một xưởng chế tác từ xương, một xưởng gốm, và hai xưởng làm bình bằng đồng thanh. Phần còn lại của thành cổ Nhị Lý Cương nằm bên dưới khu đô thị hiện đại, do vậy việc khai quật khảo cổ không thể tiến hành được. Do đó, hầu hết các thông tin về nền văn hóa Nhị Lý Cương đến từ việc nghiên cứu các di chỉ khác thuộc nền văn hóa này.

Văn hóa Nhị Lý Cương tập trung tại thung lũng Hoàng Hà. Các sản phẩm đồ đồng của văn hóa Bùi Lý Cương phát triển từ kiểu dáng và kỹ thuật của văn hóa Nhị Lý Đầu trước đó, tập trung cách Trịnh Châu 85 km về phía tây. Nhị Lý Cương là nền văn hóa khảo cổ học đầu tiên tại Trung Quốc cho thấy việc sử dụng rộng rãi các bình được đúc từ đồng thanh, chúng cũng thống nhất về phong cách hơn so với văn hóa Nhị Lý Đầu.

Trong những năm đầu, văn hóa Nhị Lý Cương khuếch trương nhanh chóng, vươn đến lưu vực Trường Giang, bằng chứng là di chỉ Bàn Long Thành ở Hồ Bắc. Do Trịnh Châu chưa tiếp cận được các kim loại đồng địa phương, các di chỉ như Bàn Long Thành có thể được sử dụng để bảo vệ nguồn tài nguyên kim loại ở xa. Nền văn hóa này dần suy giảm kể từ thời điểm đỉnh cao vào ban đầu.

Nhiều nhà khảo cổ học Trung Quốc tin rằng thành cổ ở Trịnh Châu là một trong các kinh đô trước tiên của triều Thương- được đề cập đến trong các thư tịch cổ. Tuy nhiên, nhiều học giả và các nhà khảo cổ học phương Tây thì cho rằng không giống như Ân Khư, không có văn tự nào được phát hiện tại Nhị Lý Cương để có thể liên hệ các tàn tích khảo cổ với chính sử.

Văn hóa Từ Sơn

Văn hóa Từ Sơn (磁山文化) (8000-5500 TCN) là một nền văn hóa Hoàng Hà thời đại đồ đá mới, chủ yếu nằm ở khu vực nam bộ tỉnh Hà Bắc. Văn hóa Từ Sơn dựa vào hoạt động canh tác kê, việc trồng kê tại một di chỉ có niên đại từ 10.000 năm trước. Các đồ tạo tác thông thường của nền văn hóa này bao gồm cối nghiền bằng đá, liềm bằng đá và đồ gốm ba chân.

Do văn hóa Từ Sơn chia sẻ nhiều điểm tương đồng với văn hóa Bùi Lý Cương láng giềng ở phía nam, cả hai nền văn hóa thường được gọi chung là "văn hóa Từ Sơn-Bùi Lý Cương" hay "văn hóa Bùi Lý Cương-Từ Sơn". Văn hóa Từ Sơn cũng chia sẻ một số điểm tương đồng với văn hóa Bắc Tân láng giềng ở phía đông.

Di chỉ đặc trưng Từ Sơn nằm ở Vũ An, Hà Bắc; có diện tích khoảng 80.000 m². Các ngôi nhà thuộc di chỉ Từ Sơn theo kiểu bán ngầm và tròn. Di chỉ cũng có các dấu tích của lợn, chó và gà đã thuần hóa, lợn là nguồn cung cấp thịt chính. Cá cũng là một thành phần quan trọng trong khẩu phần ăn của cư dân thuộc văn hóa Từ Sơn.

Có trên 500 hố ngầm tích trữ được phát hiện tại di chỉ Từ Sơn, chúng được dùng làm kho kê. Các hố lớn nhất sâu 5 mét và có thể trữ đến 1.000 kg kê.

Đông Ngô

Ngô (吳) (229 - 1 tháng 5, 280) sử gọi là Tôn Ngô (孫吳) hay Đông Ngô (東吳) là một trong 3 quốc gia thời Tam Quốc (220-280) trong lịch sử Trung Quốc. Trước đó, nó tồn tại từ 220-222 với tư cách là một vương quốc chư hầu dưới danh nghĩa của Tào Ngụy - quốc gia đối thủ, nhưng sau đó tuyên bố độc lập với Ngụy và trở thành một quốc gia có chủ quyền vào năm 222. Đông Ngô trở thành một đế quốc vào năm 229 sau khi lãnh đạo Tôn Quyền tự xưng là hoàng đế . Tên của quốc gia này được bắt nguồn từ nơi nó tọa lạc - vùng Giang Nam (đồng bằng sông Dương Tử), còn được gọi là "Ngô" trong lịch sử. Nó được các nhà sử học gọi là "Đông Ngô" hoặc "Tôn Ngô" để phân biệt với các quốc gia lịch sử Trung Quốc khác có tên tương tự cũng nằm trong khu vực đó, chẳng hạn như nước Ngô vào Xuân Thu và vương quốc Ngô Việt trong thời kỳ Ngũ đại Thập quốc . Nó được gọi là "Đông Ngô" vì nó chiếm phần lớn miền đông Trung Quốc trong thời Tam Quốc và "Tôn Ngô" vì họ của người lãnh đạo nước này là "Tôn". Trong thời gian tồn tại, thủ đô Đông Ngô ở Kiến Khang (ngày nay là Nam Kinh, Giang Tô ), nhưng cũng có lúc ở Vũ Xương 武昌 ; ngày nay là Ngạc Châu, Hồ Bắc ).

Đông Ngụy

Đông Ngụy (tiếng Trung: 東魏) là triều đại xuất hiện sau khi có sự tan rã của Nhà nước Bắc Ngụy và cai trị vùng lãnh thổ Bắc Trung Quốc từ năm 534 tới năm 550.

Năm 534, Cao Hoan (高歡), viên tướng chuyên quyền ở nửa đông của khu vực từng là lãnh thổ Bắc Ngụy sau sự tan rã của triều đại Bắc Ngụy đã dựng Nguyên Thiện Kiến, một hậu duệ Bắc Ngụy làm Hoàng đế của Đông Ngụy. Nguyên Thiện Kiến chỉ là ông vua bù nhìn do quyền lực thật sự nằm trong tay Cao Hoan. Một vài chiến dịch quân sự đã nổ ra để chống lại Nhà nước Tây Ngụy với mục đích tái thống nhất vùng lãnh thổ đã từng có thời thuộc Bắc Ngụy, nhưng đã không thành công, và năm 547, Cao Hoan chết. Các con trai ông là Cao Trừng (高澄) và Cao Dương (高洋) có đủ khả năng để theo đuổi các chính sách của ông trong việc kiểm soát Hoàng đế, và vào năm 550, Cao Dương đã phế truất Nguyên Thiện Kiến để lập ra triều đại của chính mình, sử gọi là nhà Bắc Tề.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.