Vùng Caribe

Vùng Caribe (phát âm: Ca-ri-bê) (tiếng Tây Ban Nha: Caribe, tiếng Anh: Caribbean, tiếng Pháp: Caraïbe, tiếng Hà Lan: Caraïben) là khu vực giáp Nam Mỹ về phía nam, Trung Mỹ về phía tây và Bắc Mỹ về phía tây bắc. Địa lý vùng Caribe bao gồm biển Caribe, các hải đảo thuộc nhóm Lucayan, Đại AntillesTiểu Antilles cùng dải duyên hải trên đất liền.

CIA map Central America & Caribbean
Vùng Caribe
Vùng Caribe

Antillas (orthographic projection)

Diện tích Quần đảo dài 4020 km, rộng 257 km gồm hơn 7.000 hòn đảo lớn nhỏ
Dân số (2000) 37,5 triệu[1]
Chủng tộc Da Đen gốc châu Phi, Thổ dân châu Mỹ (Arawak, Carib, Taino), người châu Âu (Tây Ban Nha, Pháp, Anh, Bồ Đào Nha), người châu Á (Trung Hoa, Ấn Độ)
Tên gọi dân cư Người Caribe, người Tây Ấn,
Chính thể 13 quốc gia độc lập; 2 lãnh thổ hải ngoại và 12 lãnh thổ phụ thuộc, đa số liên hệ với Liên hiệp châu Âu
Internet TLD Multiple
Calling Code Multiple

Caribe hải đảo

Vùng Caribe có hơn 7.000 hải đảo, trong đó có quần đảo "Tây Ấn", trải dài hơn 4.000 cây số. Nhóm Bahamas nằm lui về phía bắc còn nhóm Đại Antilles và Tiểu Antilles trải dài thành một chuỗi hình vòng cung nối hai lục địa Bắc và Nam Mỹ cùng ôm lấy biển Caribe. Hải đảo ở đây được cấu tạo do núi lửa hoặc rạn san hô bồi lên từ đáy biển.

Địa danh "Tây Ấn" có nguồn gốc từ chuyến hải hành của Cristoforo Colombo năm 1492 khi ông khám phá ra châu Mỹ. Vì ngộ nhận là ông đã đến xứ Ấn Độ, ông gọi vùng đất đó là "Ấn Độ". Người đời sau phải thêm chữ "Tây" vào để phân biệt với xứ Ấn Độ và Nam Dương mà người Âu châu sau gọi là "Đông Ấn".

Caribe lục địa

Nước Belize thuộc Trung MỹGuyana thuộc Nam Mỹ, tuy về mặt địa lý không phải là hải đảo giống như những xứ Caribe kia, nhưng lịch sử và văn hóa gắn liền hai quốc gia này với vùng Caribe. Nước Suriname cũng cùng trường hợp như vậy. Vùng Caribe đất liền cũng phải kể miền duyên hải phía đông nước Nicaragua (còn có tên là Bờ biển Mosquito) vì vùng này xưa kia thuộc quyền kiểm soát của Anh nên có nhiều nét văn hóa giống các hải đảo Caribe hơn là giống văn hóa lục địa.

Địa dư và khí hậu

Hải đảo vùng Caribe khá đa dạng. Những đảo như Aruba, Bahamas, Turks và Caicos, Barbados, CaymanAntigua thì đất đai bằng phẳng trong khi Cuba, Hispaniola, Jamaica, Puerto Rico thì nhiều núi non.

Rãnh biển Puerto Rico ở phía bắc đảo Puerto Rico là điểm sâu nhất Đại Tây Dương..[2]

Khí hậu vùng Caribe là khí hậu nhiệt đới, nắng ấm quanh năm. Vũ lượng từng địa phương thay đổi tùy cao độ và hải lưu. Gió mậu dịch thổi từ hướng đông đem khí ẩm, khi gặp núi cao cản trở thì trút mưa xuống, gây nên khác biệt rõ rệt giữa vùng khuất gió và vùng hứng gió. Khu vực hứng gió cũng hứng lấy khí mưa ẩm còn vùng khuất gió ít mưa nên đất đai gần như sa mạc.

Vùng Caribe hằng năm hay bị bão. Khu vực hứng bão nhiều nhất là từ Grenada trở ra bắc và từ Barbados lui về hướng tây.

Các nhóm đảo

Quần đảo Lucayan[3]

Đại Antilles

Tiểu Antilles

Các quốc gia lục địa có biển đảo thuộc vùng Caribe

  •  Belize
    • Ambergris Caye
    • Thành phố Belize
    • Big Creek
    • Caye Caulker
    • Glover's Reef
    • Dangriga
    • Hicks Cays
    • Hopkins
    • Lighthouse Reef
    • Placencia
    • Punta Gorda
    • St. George's Caye
    • Nam Water Caye
    • Quần đảo Turneffe
  •  Colombia
    • Quần đảo San Andrés và Providencia
    • Quần đảo Rosario
  •  Costa Rica
  •  Pháp
    •  French Guiana
      • Îles du Salut
        • Île du Diable
        • Île Royale
        • Île Saint-Joseph
  •  Guatemala
  •  Honduras
    • Islas de la Bahía
      • Cayos Cochinos
      • Guanaja
      • Roatán
      • Quần đảo Swan
      • Útila
  • México México
  •  Nicaragua
    • Quần đảo Corn
    • Miskito Cays
    • Pearl Cays
  •  Panama
    • Quần đảo Kuna Yala (có hơn 1300 đảo)
    • Quần đảo Bocas del Toro (quần đảo có khoảng 300 đảo)
  •  Venezuela
    • Isla Margarita
    • Đảo Coche
    • Đảo Cubagua
    • Quần đảo Los Monjes
    • Quần đảo Las Aves
    • Isla Aves
    • Quần đảo Los Hermanos
    • Islas Los Frailes
    • Quần đảo Los Roques
    • Đảo La Sola
    • Đảo La Tortuga
    • La Orchila
    • Đảo Blanquilla
    • Quần đảo Los Testigos
    • Isla de Patos

Đa dạng sinh vật

Hải đảo vùng Caribe được Tổ chức Bảo tồn Quốc tế xem là một trong những điểm nóng với hệ sinh vật đa dạng vì môi trường thiên nhiên đặc thù và phong phú, bao gồm từ miền rừng cao nguyên mây phủ đến đất bãi khô cằnxương rồng. Những hệ sinh thái này đã bị thiệt hại nhiều vì sinh hoạt con người xâm nhập cùng phá rừng. Nhiều loại bò sát, chim chóc và muông thú bị đe dọa tuyệt chủng, trong số đó phải kể cá sấu Cuba và khu rừng già trên đảo Puerto Rico.

Các nước Caribe

Có tất cả 13 nước độc lập ở khu vực Caribe. Số lãnh thổ còn lại thuộc các nước Hoa Kỳ, Pháp, Hà LanVương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Dân sống ở vùng Caribe là tập hợp của nhiều nền văn hóa khác nhau. Phần lớn người thổ dân châu Mỹ đã chết sau khi người châu Âu đến đây khai phá vùng đất mới. Thiếu nhân lực, thực dân Âu châu đã quay sang nguồn nô lệ từ châu Phi để phục dịch trên các đồn điền trồng mía đường và hậu duệ của người Phi chiếm tỷ số đông nhất. Sau thời kỳ nô lệ, dân gốc Ấn ĐộTrung Hoa cũng được mộ sang vùng Caribe làm phu.

Ngày nay, tính trên tổng số thì phần lớn dân vùng Caribe nói tiếng Tây Ban Nha. Tuy nhiên tiếng Pháp, tiếng Hà Lantiếng Anh cũng phổ biến.

Gần nửa dân số ở Caribe là nông dân. Hệ thống đồn điền trồng cà phê vẫn còn cung ứng công ăn việc làm cho số dân đáng kể. Các nông sản quan trọng khác phải kể thêm chuối, cây ăn quả, bông gònthuốc lá.

Chú thích

  1. ^ Table A.2, Database documentation, Latin America and the Caribbean (LAC) Population Database, version 3, International Center for Tropical Agriculture et al., 2005. Truy cập on line ngày 20 tháng 2 năm 2008.
  2. ^ Uri ten Brink. “Puerto Rico Trench 2003: Cruise Summary Results”. National Oceanic and Atmospheric Administration. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2008.
  3. ^ Since the Lucayan Archipelago is located in the Atlantic Ocean rather than Caribbean, the archipelago is part of the West Indies but are not technically part of the Caribbean, although the United Nations groups it with the Caribbean.
Bactris

Bactris là một chi có khoảng 240 loài thuộc họ cau, Arecaceae, bản địa của Trung và Nam Mỹ, và vùng Caribe. Chúng là các cây gỗ cao tới 4–20 m. Lá dài tới 5 m, hình lông chim với nhiều lá chét. Quả dạng quả hạch, dài 2–6 cm, ăn được ở một số loài.

Một số loài tiêu biểuBactris acanthocarpa

Bactris bifida

Bactris brogniartii

Bactris coloniata

Bactris constanciae

Bactris cruegeriana

Bactris cubensis

Bactris ferruginea

Bactris gasipaes (Pupunha)

Bactris guineensis

Bactris glandulosa

Bactris glaucescens

Bactris gracilior

Bactris grayumi

Bactris hirta

Bactris jamaicana

Bactris longiseta (Huiscoyol)

Bactris major

Bactris mexicana

Bactris militaris

Bactris nancibensis

Bactris pickelii

Bactris pilosa

Bactris plumeriana

Bactris setiflora

Bactris setosa

Bactris simplicifrons

Bactris wendlandiana

Bahamas

Bahamas ( ()) hay tên chính thức Thịnh vượng chung Bahamas (phiên âm Tiếng Việt: Ba-ha-mát), hay Quần đảo Bahamas là một quốc gia nói tiếng Anh tại Vùng Caribe. Là một quần đảo với 700 hòn đảo, cồn và đảo nhỏ, Bahamas nằm trong Đại Tây Dương, ở phía đông Hoa Kỳ (điểm gần nhất là tiểu bang Florida), phía bắc Cuba và vùng Caribe, phía tây lãnh thổ phụ thuộc Anh Quần đảo Turks và Caicos.

Barbados

Barbados (phiên âm Tiếng Việt: Bác-ba-đốt) là một đảo quốc độc lập ở phía tây của Đại Tây Dương, phía đông của biển Caribe.

Basseterre

Basseterre là thủ đô của quốc đảo Saint Kitts và Nevis nằm ở vùng Caribe. Thành phố này nằm ở bờ biển phía tây nam đảo Saint Kitts và là một trong những trung tâm thương mại quan trọng của quần đảo Leeward. Basseterre là một trong những đô thị cổ nhất ở Đông Caribe.

Biển Caribe

Biển Caribe (Phiên âm: Ca-ri-bê) là một vùng biển nhiệt đới ở Tây Bán cầu thuộc Đại Tây Dương. Đây là một vùng biển bao bọc bởi một chuỗi hải đảo cùng hai lục địa, Bắc và Nam Mỹ. Bờ biển phía nam giáp Nam Mỹ, phía tây và tây-nam giáp México và Trung Mỹ. phía bắc và đông là chuỗi đảo Antilles, gồm Đại Antilles và Tiểu Antilles. Toàn khu vực quanh biển Caribe còn gọi là Vùng Caribe.

Biển Caribe là một trong những vùng biển lớn trên thế giới với diện tích 2.754.000 km².. Điểm sâu nhất là vực Cayman giữa Cuba và Jamaica ở 7.686 m dưới mặt biển. Biển Caribe có nhiều vũng nhỏ cùng vịnh lớn như Vũng Gonâve, Vũng Venezuela, Vũng Darien, Vịnh Mosquitos và Vịnh Honduras.

Bolívar (tỉnh Colombia)

Bolívar là một tỉnh của Colombia. Tỉnh được đặt tên theo một trong chín tiểu bang ban đầu của Các bang thống nhất Colombia. Tỉnh nằm ở phía bắc của đất nước, mở rộng gần như Bắc-Nam từ bờ biển Caribbea tại Cartagena gần cửa sông Magdalena, sau đó về phía nam dọc theo bờ sông giáp giới với tỉnh Antioquia. Các tỉnh Sucre và Córdoba nằm về phía tây, và tỉnh Atlántico là ở phía bắc và phía đông (hầu hết các biên giới được hình thành bởi các Canal del Dique). Qua sông Magdalena về phía đông là tỉnh Magdalena. Lá cờ của tỉnh rất giống với lá cờ của Lithuania.

Tỉnh lỵ là Cartagena, thành phố quan trọng khác bao gồm Magangué và Turbaco.

Cesar (tỉnh)

Cesar là một trong 32 tỉnh của Colombia. Tỉnh nằm tại phía bắc Colombia, thuộc khu vực Caribe. Boyacá tiếp giáp với tỉnh La Guajira về phía bắc, giáp với tỉnh Magdalena và tỉnh Bolívar về phía tây, giáp với hai tỉnh Arauca và Casanare về phía đông, giáp với tỉnh Santander về phía nam, và giáp tỉnh Norte de Santander và nước Venezuela về phía đông. Thủ phủ của tỉnh là thành phố Valledupar.

Vùng Cesar có người bản địa sinh sống, gồm người Euparíes ở thung lũng Upar và người Guatapuríes ở thung lũng sông Cesar. Chỉ huy Pedro de Vadillo người Tây Ban Nha là người châu Âu đầu tiên thám hiểm vùng đất này, song vùng này lại bị Ambrosio Alfínger người Đức xâm chiếm vào năm 1532.

Dominica

Dominica là một đảo quốc trong vùng Biển Caribê. Không nên nhầm lẫn nước này với Cộng hoà Dominica, một quốc gia khác trong vùng Caribê. Trong tiếng Latin tên của quốc gia này có nghĩa là "Chủ Nhật", đó là ngày hòn đảo được Cristoforo Colombo khám phá.

Tên chính thức là Thịnh vượng chung Dominica. Tên của Dominica thời tiền Colombo là Wai'tu kubuli, có nghĩa "người cô ta cao." Người thổ dân Kalinago trên hòn đảo, thường bị gọi sai thành người 'Carib', có một vùng lãnh thổ giống với vùng lãnh thổ dành riêng cho người da đỏ của Canada. Vì hòn đảo này đã trải qua một giai đoạn chiếm đóng của Pháp và năm giữa hai lãnh thổ hải ngoại của Pháp (Guadeloupe ở phía bắc và Martinique ở phía nam), nên thỉnh thoảng nó được gọi là "Dominica thuộc Pháp". Nó cũng có tên hiệu "Hòn đảo thiên nhiên của vùng Caribê" vì vẻ đẹp tự nhiên chưa bị xâm phạm.

Dominica là một trong những đảo trẻ nhất vùng Tiểu Antilles, và nó vẫn đang được thành tạo bởi hoạt động địa nhiệt của núi lửa. Đây là một hòn đảo có nhiều núi non và những khu rừng mưa, nơi sinh sống của nhiều loài thực vật, động vật và chim quý hiếm. Tại một số vùng ở bờ biển phía tây có những vùng khí hậu khô, nhưng trong sâu trong đất liền lượng mưa khá lớn. Vẹt Sisserou là loài động vật được vẽ trên quốc kỳ Dominica. Nền kinh tế Dominica phụ thuộc nhiều vào cả du lịch và nông nghiệp.

Grenada

Grenada (tiếng Anh: Grenada, Tiếng Việt: Grê-na-đa) là một quốc đảo thuộc vùng biển Caribê gồm một đảo chính và sáu đảo nhỏ hơn nằm gần Grenadines. Vị trí địa lý Grenada nằm ở phía Tây Bắc Trinidad & Tobago, phía Đông Bắc của Venezuela và phía Tây Nam Saint Vincent và Grenadines.

Diện tích tự nhiên của Grenada hơn 344 km², dân số gần 110.000 người. Thủ đô là St. George's.

Jamaica

Jamaica (phiên âm Tiếng Việt: Gia-mai-ca hoặc Ha-mai-ca; tiếng Anh phát âm /dʒəˈmeɪkə/) là một quốc đảo ở Đại Antilles, có chiều dài 234 kilômét (145 dặm) và chiều rộng 80 kilômét (50 dặm) với diện tích 11.100 km2. Quốc gia này nằm ở Biển Caribbean, cự ly khoảng 145 kilômét (90 dặm) về phía nam Cuba, và 190 kilômét (120 dặm) về phía tây Hispaniola, đảo có các quốc gia Haiti và Cộng hòa Dominica. Những người dân bản địa nói tiếng Taíno gọi đảo này là Xaymaca, có nghĩa là "Vùng đất của Gỗ và Nước", hay "Vùng đất của các Con suối".Đã từng là một khu vực thuộc Tây Ban Nha với tên gọi Santiago, khu vực này sau này thuộc thuộc địa Anh Jamaica. Với 2,8 triệu dân, đây là quốc gia nói tiếng Anh lớn thứ 3 ở châu Mỹ, sau Hoa Kỳ và Canada. Quốc gia này là một Vương quốc Khối thịnh vượng chung với Nữ hoàng Elizabeth II là nguyên thủ quốc gia. Kingston là thành phố lớn nhất, thủ đô của Jamaica.

Port of Spain

Port of Spain là tên thủ đô của Trinidad và Tobago và là đô thị lớn thứ ba của quốc gia này, sau Chaguanas và San Fernando. Theo thống kê dân số năm 2000, thành phố có dân số đô thị 49.031 người và dân số kể cả khu vực ngoại thành là 128.026 (ước tính 1990). Thành phố nằm bên bờ vịnh Paria, bờ tây bắc của đảo Trinidad.

Thành phố này là một trung tâm hành chính, dịch vụ tài chính của quốc gia này, ở đây có hai trong các ngân hàng lớn nhất của vùng Caribe nói tiếng Anh. Thành phố này cũng là một trong những trung tâm vận chuyểnt bằng tàu biển lớn của vùng Caribe, xuất khẩu các nông sản và asphalt. Bauxite từ Guyana và quặng sắt từ Venezuela được trung chuyển tàu thông qua cảng tại Chaguaramas, cách thành phố 5 dặm về phía tây. Tòa nhà cao nhất của Port of Spain (và của cả nước) là Nicholas Tower cao 21 tầng; tòa nhà Waterfront International Project dự kiến xây là một tháp cao 26 tầng.

Quần đảo Cayman

Quần đảo Cayman thuộc lãnh thổ hải ngoại của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, nằm ở phía Tây vùng biển Caribe, bao gồm 3 đảo: Grand Cayman, Cayman Brac và đảo Little Cayman. Với điều kiện tự nhiên thuận lợi (nước biển sâu, thắng cảnh đẹp...), nơi đây đang là điểm đến hấp dẫn cho những khách du lịch đam mê môn thể thao lặn biển.

Ngày nay, Cayman còn được biết đến như một trung tâm dịch vụ tài chính xa bờ toàn cầu; một trung tâm tài chính của quần đảo Caribe

Quần đảo Turks và Caicos

Quần đảo Turks và Caicos (tiếng Anh: Turks and Caicos Islands, (phiên âm theo IPA: [ˈtɜːks ænd ˈkeɪkəs]) là một vùng lãnh thổ nằm trong quần đảo Antilles (hay còn gọi là quần đảo Caribe) thuộc Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Diện tích nơi đây vào khoảng 497 km² (xếp hạng 199 thế giới); dân số xấp xỉ 21.726 người (xếp hạng 208 thế giới).

Quần đảo Virgin thuộc Mỹ

Quần đảo Virgin thuộc Mỹ là một nhóm đảo nằm trong vùng Caribe và là một vùng quốc hải Hoa Kỳ. Về mặt địa lý, quần đảo này là một phần của chuỗi quần đảo Virgin và nằm trong Quần đảo Leeward thuộc nhóm Tiểu Antilles. Quần đảo Virgin thuộc Mỹ bao gồm bốn đảo chính St. Croix, Saint John, St. Thomas và Đảo Water, cùng nhiều đảo nhỏ hơn. Đây là nơi duy nhất của Hoa Kỳ mà xe cộ lưu thông bên trái. Tổng diện tích toàn lãnh thổ là 346,36 km² (133,73 dặm vuông). Theo điều tra dân số năm 2000, dân số của quần đảo là 108.612.

Quần đảo từng là Tây Ấn thuộc Đan Mạch cho đến khi Đan Mạch nhường lại thuộc địa này cho Hoa Kỳ trong Hiệp ước Tây Ấn thuộc Đan Mạch năm 1916.

Saint-Martin

Saint-Martin, tên chính thức là Cộng đồng Saint-Martin (tiếng Pháp: Collectivité de Saint-Martin), là một cộng đồng hải ngoại của Pháp nằm ở Caribe. Nó trở nên một cộng đồng vào ngày 22 tháng 2 năm 2007, bao gồm phần phía bắc của đảo Saint Martin và những tiểu đảo lân cận, lớn nhất trong số đó là Tintamarre. Phần phía nam của đảo, Sint Maarten, là một quốc gia cấu thành của Vương quốc Hà Lan.

Saint Kitts và Nevis

Liên bang Saint Kitts và Nevis (tên gọi khác: Liên bang Saint Christopher và Nevis) là một đảo quốc nằm trong Quần đảo Leeward, Tây Ấn. Đây là một đảo quốc nhỏ nhất nằm trong cả hai danh sách của Hoa Kỳ: Danh sách các quốc gia theo diện tích và Danh sách các quốc gia theo dân số.

Thành phố thủ đô và tổng hành dinh của chính phủ Liên bang nằm trên đảo Saint Kitts. Theo ý kiến của nhiều người, tên gọi ngày nay của hòn đảo này bắt nguồn từ tiếng Tây Ban Nha ("San Cristóbal") do Christopher Columbus đặt cho.

Bang Nevis, còn có tên gọi khác "Nuestra Señora de las Nieves" (tạm dịch "Bà Tuyết của chúng tôi"), là một bang nhỏ nhất của đảo quốc này; nó nằm trên phần diện tích rộng khoảng 2 dặm (3 km) ở phía Đông - Nam Saint Kitts, cắt ngang qua con kênh có tên "The Narrows".

Theo các tài liệu lịch sử, Anguilla, một thuộc địa của thực dân Anh, từng là một phần của Liên bang, nhưng sau đó tách ra và được biết đến với tên gọi vùng lãnh thổ Saint Christopher-Nevis-Anguilla như ngày nay.

Saint Kitts và Nevis là một lãnh thổ địa lý thuộc quần đảo Leeward; giáp Saint Eustatius, Saba, Saint Barthélemy,và Saint Martin ở phía Bắc Đông Bắc; giáp Antigua và Barbuda về phía Đông Bắc; còn ở phía Đông Nam, giáp đảo quốc nhỏ, không người ở Redonda, và đảo Montserrat, khu vực thường xuyên xảy ra những đợt núi lửa lớn.

Suriname

Suriname (phiên âm tiếng Việt: Xu-ri-nam), tên đầy đủ là Cộng hòa Suriname (tiếng Hà Lan: Republiek Suriname) là một quốc gia tại Nam Mỹ.

Suriname toạ lạc giữa Guyane thuộc Pháp về phía đông và Guyana về phía tây. Biên giới phía nam chung với Brasil còn ranh giới phía bắc là bờ biển Đại Tây Dương. Biên giới cực nam với Guiana thuộc Pháp đang bị tranh chấp nằm dọc theo các sông Marowijne và Corantijn.

Suriname là quốc gia có chủ quyền nhỏ nhất về diện tích ở Nam Mỹ. Đây là khu vực nói tiếng Hà Lan duy nhất ở Tây Bán Cầu không thuộc Vương quốc Hà Lan. Suriname cực kỳ đa dạng về chủng tộc, ngôn ngữ và tôn giáo. Diện tích quốc gia này gần 165.000 km². Quốc gia này có một phần tư dân số sống dưới 2 đô la Mỹ mỗi ngày.

Vương quốc Hà Lan

Vương quốc Hà Lan (tiếng Hà Lan: Koninkrijk der Nederlanden ) là quốc gia độc lập có lãnh thổ tại Tây Âu và vùng Caribe.

Đế quốc Anh

Đế quốc Anh (tiếng Anh: British Empire) bao gồm các quốc gia tự trị, các thuộc địa, các lãnh thổ bảo hộ, các lãnh thổ ủy thác và các lãnh thổ khác do Anh cai trị và quản lý. Đế quốc Anh khởi nguồn với các thuộc địa và trạm mậu dịch hải ngoại do Anh thiết lập từ cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVIII. Vào giai đoạn đỉnh cao của nó, đây là đế quốc hùng mạnh nhất trong lịch sử và là thế lực đứng đầu toàn cầu trong hơn một thế kỷ. Đến năm 1913, Đế quốc Anh cai trị khoảng 412,2 triệu người, chiếm 23% dân số thế giới lúc đó và bao phủ diện tích hơn 35.500.000 km², gần một phần tư tổng diện tích toàn cầu. Do vậy, những di sản về văn hóa, ngôn ngữ, luật pháp của Đế quốc Anh được truyền bá rộng rãi. Vào thời điểm nó đạt tới đỉnh cao của quyền lực, Đế quốc Anh thường được ví với câu nói "đế quốc có mặt trời không bao giờ lặn" bởi vì sự mở rộng cương thổ ra toàn địa cầu đồng nghĩa với việc mặt trời luôn chiếu sáng trên ít nhất một trong những vùng lãnh thổ của nó.

Trong suốt Thời đại Khám phá vào thế kỷ XV và XVI, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là hai quốc gia châu Âu đi tiên phong trong phong trào thám hiểm thế giới và trong quá trình đó họ đã thiết lập các đế quốc hải ngoại lớn. Đố kỵ với sự thịnh vượng vô cùng lớn mà hai đế quốc thực dân này giành được, các nước Anh, Pháp và Hà Lan bắt đầu thiết lập các thuộc địa và các mạng lưới mậu dịch của họ tại châu Mỹ và châu Á. Một loạt cuộc chiến với Pháp và Hà Lan trong thế kỷ XVII và XVIII đã giúp Anh trở thành một cường quốc chi phối thống trị tại Bắc Mỹ và Ấn Độ. Nhưng đồng thời, uy thế của nước Anh (và cả Pháp) bị hạn chế tại châu Âu sau năm 1763, trước sự phát triển lớn mạnh của các cường quốc phía Đông như Phổ, Áo và Nga.Sự kiện Mười ba thuộc địa tại Bắc Mỹ giành được độc lập vào năm 1783 sau cuộc Chiến tranh Cách mạng Mỹ khiến cho nước Anh mất đi một số thuộc địa lâu đời nhất và đông dân nhất của mình. Ngay sau đó nước Anh nhanh chóng chuyển sự quan tâm sang châu Phi, châu Á và Thái Bình Dương. Sau thất bại của nước Pháp trong cuộc chiến tranh Cách mạng Pháp và chiến tranh Napoléon (1792 – 1815), nước Anh tận hưởng một thế kỷ thống trị hầu như không có đối thủ, và mở rộng phạm vi trên khắp toàn cầu. Địa vị thống trị của Anh sau này được ca ngợi như là Pax Britannica (Thái bình Anh Quốc), một giai đoạn mà châu Âu và thế giới tương đối thái bình (1815 – 1914), đây là thời điểm mà nước Anh nắm quyền bá chủ toàn cầu và trở thành người canh giữ cho hoà bình thế giới. Vào đầu thể kỷ 19, cuộc Cách mạng công nghiệp bắt đẩu biến đổi nước Anh; tại thời điểm diễn ra cuộc "Đại Triển Lãm" vào năm 1851, nước Anh được ca ngợi như là "công xưởng của thế giới". Đế quốc Anh còn bành trướng đến Ấn Độ, phần lớn Châu Phi và nhiều khu vực khác trên thế giới. Cùng với sự kiểm soát chính thức của nước Anh đối với các thuộc địa riêng của mình, nó còn thống trị gần như toàn bộ nền thương mại của thế giới đồng nghĩa với việc là nó kiểm soát nền kinh tế của nhiều khu vực khác như châu Á và Mỹ Latinh.Tại nước Anh, những quan điểm chính trị đã thay đổi theo hướng ủng hộ chính sách tự do thương mại cùng chính sách tự do và phổ cập hoá đặc quyền bầu cử. Vào thế kỷ XIX, dân số của nước Anh đã gia tăng một cách mạnh mẽ, cùng với đó quá trình đô thị hoá nhanh chóng mà gây nên những căng thẳng nghiêm trọng về cả kinh tế cũng như xã hội. Để tìm kiếm các thị trường và các nguồn tài nguyên mới, Đảng Bảo thủ dưới thời Benjamin Disraeli đã khởi động một kỷ nguyên mới của chủ nghĩa bành trướng đế quốc tại Ai Cập, Nam Phi và nhiều nơi khác. Nhiều thuộc địa như Canada, Úc và New Zealand được trao quyền tự trị, một vài trong số đó được tái phân loại là quốc gia tự trị.Đến đầu thế kỷ XX, sự phát triển lớn mạnh của Đức và Hoa Kỳ làm xói mòi phần nào vị thế dẫn đầu về kinh tế của nước Anh. Chính sách đối ngoại của Anh quốc tập trung vào mối quan hệ hợp tác chặt chẽ và hữu nghị với Hoa Kỳ, nhưng những căng thẳng về vấn đề ngoại giao và quân sự khiến quan hệ với nước Đức ngày càng trở nên xấu đi và là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Trong thời kỳ diễn ra cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, nước Anh đã phải dựa nhiều vào đế quốc của mình về mặt nhân sự cũng như lương thực. Cuộc chiến này đã tạo ra một gánh nặng to lớn cả về mặt quân sự, tài chính và nguồn nhân lực cho nước Anh. Mặc dù sau cuộc chiến này, cương thổ của Đế quốc Anh đã được mở rộng lên tới cực điểm, bản thân nó đã không còn giữ được vị thế như là một cường quốc vô song về quân sự và công nghiệp được nữa. Trong Chiến tranh thế giới lần hai, các thuộc địa của Anh tại Đông Nam Á đã bị Nhật Bản chiếm đóng, điều này đã làm cho uy tín của đế quốc Anh bị suy giảm nghiêm trọng và đẩy nhanh quá trình sụp đổ của đế quốc này. Sau chiến tranh, Anh phải trao quyền độc lập cho thuộc địa đông dân và giá trị nhất là Ấn Độ. Trong những năm còn lại của thế kỷ XX, phần lớn những thuộc địa của Đế quốc Anh giành được độc lập như một phần của phong trào phi thuộc địa hóa từ các cường quốc châu Âu, kết thúc với việc chuyển giao Hồng Kông cho Trung Quốc vào năm 1997. 14 lãnh thổ ở hải ngoại hiện vẫn thuộc chủ quyền của Anh.

Sau độc lập, nhiều cựu thuộc địa của Anh gia nhập Thịnh vượng chung các Quốc gia, một hiệp hội tự do của các quốc gia độc lập. 16 quốc gia có chung một nguyên thủ, Nữ vương Elizabeth II, đó là Vương quốc Khối thịnh vượng chung.

Các quốc gia và vùng lãnh thổ vùng Caribe
Liên Hiệp Anh
Hà Lan
Pháp
Hoa Kỳ
Các khu vực trên thế giới

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.