Vành đai lửa Thái Bình Dương

Vành đai lửa Thái Bình Dương là một khu vực hay xảy ra động đất và các hiện tượng phun trào núi lửa bao quanh vòng lòng chảo Thái Bình Dương. Nó có hình dạng tương tự vành móng ngựa và dài khoảng 40.000 km. Nó gắn liền với một dãy liên tục các rãnh đại dương, vòng cung quần đảo, các dãy núi lửa và / hoặc sự chuyển động của các mảng kiến tạo. Đôi khi nó còn được gọi là vành đai địa chấn Thái Bình Dương.

Khoảng 71% các trận động đất có cường độ mạnh nhất thế giới diễn ra tại vành đai lửa này[1]. Vành đai Alp, kéo dài từ Java tới Sumatra qua dãy núi Himalaya, Địa Trung Hải và tới tận Đại Tây Dương chiếm khoảng 17%, còn vành đai sống núi giữa Đại Tây Dương là vành đai chiếm vị trí thứ ba về động đất[2][3].

Vành đai lửa Thái Bình Dương là hệ quả trực tiếp của các hoạt động kiến tạo địa tầng và của sự chuyển động và va chạm của các mảng lớp vỏ Trái Đất[4]. Phần phía đông của vành đai này là kết quả của sự chìm lún xuống dưới của các mảng Nazcamảng Cocos do sự chuyển động về phía tây của mảng Nam Mỹ. Một phần của mảng Thái Bình Dương cùng với mảng kiến tạo nhỏ Juan de Fuca cũng đang bị chìm lún xuống dưới mảng Bắc Mỹ. Dọc theo phần phía bắc thì chuyển động theo hướng tây bắc của mảng Thái Bình Dương đang làm nó chìm lún xuống dưới vòng cung quần đảo Aleutia. Xa hơn nữa về phía tây thì mảng Thái Bình Dương cũng đang bị lún xuống dưới dọc theo vòng cung Kamchatka - quần đảo Kuril trên phần phía nam Nhật Bản. Phần phía nam của vành đai này là phức tạp hơn với một loạt các mảng kiến tạo nhỏ đang va chạm với mảng kiến tạo Thái Bình Dương từ khu vực quần đảo Mariana, Philipin, Bougainville, TongaNew Zealand. Indonesia nằm giữa vành đai lửa Thái Bình Dương (chạy dọc theo các đảo phía đông bắc, gần với và bao gồm cả New Guinea) và vành đai Alp (chạy dọc theo phía nam và tây từ Sumatra, Java, Bali, FloresTimor). Trận động đất tháng 12 năm 2004 gần bờ biển Sumatra trên thực tế thuộc một phần của vành đai Alp. Khu vực đứt gãy San Andreas nổi tiếng và đang hoạt động gần California là đứt gãy chuyển dạng đang bù lại một phần của đới nâng đông Thái Bình Dương dưới khu vực tây nam Hoa KỳMéxico.

Một loạt các vùng đất và các điểm đặc trưng của đại dương nằm trong vành đai lửa Thái Bình Dương, liệt kê theo chiều kim đồng hồ:

Pacific Ring of Fire
Vành đai lửa Thái Bình Dương
Pacific Ring of Fire volcanoes
Năm ngọn núi lửa trên vành đai: Mayon, Krakatau (Krakatoa), Helens, Pinatubo, Garibaldi
MSH80 st helens eruption plume 07-22-80
Núi lửa Helen, tiểu bang Washington phun 18/5/1980

Chi lê

Hoạt động động đất ở Chile có liên quan đến quá trình di chuyển mảng Nazca ở phía đông. Chile đặc biệt là giữ kỷ lục về trận động đất lớn nhất từng được ghi nhận, trận động đất năm 1960 Valdivia. Villarrica, một trong những núi lửa hoạt động mạnh nhất của Chile, lên trên Hồ Villarrica và thị trấn Villarrica. Đây là phía tây của ba stratovolcanoes lớn mà xu hướng vuông góc với chuỗi Andean. Một miệng núi lửa rộng 6 km hình thành trong cuối kỷ Pleistocene,> 0,9 triệu năm trước

Chile đã trải qua rất nhiều núi lửa phun trào từ núi lửa 60, bao gồm Llaima Volcano và Volcano Chaitén. Gần đây hơn, một trận động đất 8,8 độ richter xảy ra miền trung Chile vào ngày 27 tháng 2 năm 2010, núi lửa Puyehue-Cordon Caulle phun trào vào năm 2011 và một trận động đất 8,2 độ richter xảy ra phía bắc Chile vào ngày 01 tháng 4 năm 2014 Các mainshock được đi trước bởi một số lượng vừa phải những cú sốc lớn và được theo sau bởi một số lượng lớn các cơn dư chấn từ trung bình đến rất lớn, bao gồm cả một sự kiện M7.6 vào ngày 03 tháng 4. [10]

Bolivia

Nước Bolivia có rất nhiều núi lửa đang hoạt động và ngừng hoạt động trên toàn lãnh thổ của mình. Các núi lửa hoạt động nằm ở phía tây Bolivia, nơi được tạo nên Cordillera Occidental, giới hạn phía tây của cao nguyên Altiplano. Nhiều người trong số các núi lửa hoạt động là núi "quốc tế chia sẻ" với Chile. Tất cả núi lửa Kainozoi của Bolivia là một phần của núi lửa Khu Trung (CVZ) của Andean đai núi lửa mà kết quả do quá trình tham gia trong quá trình di chuyển mảng Nazca dưới mảng Nam Mỹ. Núi lửa Khu Central là một tỉnh núi lửa Kainozoi trên chính. [11] Ngoài núi lửa Andean, địa chất của Bolivia còn có núi lửa cổ xưa ở Tiền Cambri Guaporé lá chắn ở phía đông của đất nước.

Trung Mỹ

Costa Rica  

Một trận động đất mạnh, cường độ 7.6 làm rung chuyển Costa Rica và một vùng rộng lớn ở Trung Mỹ tại 08:42 (10:42 EDT; 1442 GMT) hôm 09/05/2012

Nhật BảnEcuador 2016

Một trận động đất với cường độ 7 tại đảo Kyushu đã xảy ra vào ngày 16.4.2016 (tiền chấn vào 2 ngày trước với cường độ 6,2) và ở Ecuador với cường độ 7,8 cùng ngày. Tuy cùng nằm trên Vành đai lửa Thái Bình Dương, nhưng trên 2 mảng kiến tạo khác, cách nhau rất xa, nên các nhà khoa học theo kiến thức hiện tại cho là chỉ tình cờ, chứ không liên quan với nhau.[5]

Tham khảo

Ghi chú

  1. ^ earthquake.usgs.gov
  2. ^ U.S. Geological Survey Earthquakes FAQ.
  3. ^ U.S. Geological Survey Earthquakes Visual Glossary.
  4. ^ xem tại đây bằng tiếng Anh
  5. ^ Japan, Ecuador quakes hit in seismically active 'Ring of Fire', sbs, 18.4.2016
Andosols

Andosols (bắt nguồn từ tiếng Nhật an nghĩa là sẫm và do nghĩa là đất, một từ đồng nghĩa của kuroboku) là loại đất hiện diện tại những vùng núi lửa, hình thành trên nền vật liệu vụn núi lửa. Trong một số trường hợp, cũng có thể tìm thấy Andosols tại những vùng ngoài nơi núi lửa hoạt động. Đất Andosols bao phủ khoảng 1–2% diện tích đất liền không đóng băng của Trái Đất. Andosols có mối liên hệ chặt chẽ với những loại đất khác như Vitrosols, Vitrandosols, Vitrons và đất đá bọt (Pumice Soils), xuất hiện trong các hệ thống phân loại đất khác nhau.

Loại Andosols kém phát triển thường có nhiều trong những vật liệu thủy tinh (vitreous material), nên còn được gọi là Vitric Andosols.

Thường lệ, Andosols được định nghĩa là loại đất có tỷ lệ cao vật liệu thủy tinh và chất keo vô định hình, bao gồm allophane, imogolite và ferrihydrite. Trong hệ thống phân loại đất USDA, Andosols được thay bằng Andisols.Do tuổi đất hầu như khá trẻ, nên Andosols điển hình rất màu mỡ, ngoại trừ trường hợp đất nằm ở những nơi dễ cố định phospho (một quá trình đôi lúc xuất hiện tại vùng nhiệt đới). Đất thích hợp cho thâm canh cây trồng, như tại đảo Java, Andosols nuôi dưỡng một diện tích lớn đồng ruộng lúa nước, đem lại nguồn lương thực cho vùng đất thuộc diện đông dân nhất thế giới. Andosols cũng phù hợp để trồng trên đó các loại cây ăn quả, ngô, trà, cà phê và thuốc lá. Tại vùng Tây Bắc Thái Bình Dương Hoa Kỳ, Andosols làm nền cho những mảnh rừng rậm rạp tươi tốt.

Andosols chiếm khoảng 1% diện tích đất liền không đóng băng trên toàn cầu. Tập trung chủ yếu quanh Vành đai lửa Thái Bình Dương, gồm những khu vực hiện hữu rộng nhất nằm ở trung tâm Chile, Ecuador, Colombia, Mexico, Tây Bắc Thái Bình Dương Hoa Kỳ, Nhật Bản, Java và Đảo Bắc New Zealand. Andosols cũng hiện diện ở Đới tách giãn Đông Phi, Ý, Iceland và Hawaii.

Andosols hóa thạch xuất hiện ở những vùng cách xa các nơi có hoạt động núi lửa ngày nay, và trong một số trường hợp lui tận về thời kỳ Tiền Cambri, cách đây 1,5 tỷ năm.

Kiến tạo mảng

Kiến tạo mảng (tiếng Anh: plate tectonics; tiếng Hy Lạp: τέκτων tektōn, nghĩa là "người xây dựng", "thợ nề") mô tả các chuyển động ở quy mô lớn của thạch quyển Trái Đất. Học thuyết này hoàn thiện các quan niệm trước đây về trôi dạt lục địa do Alfred Wegener đề xuất trong các thập niên đầu thế kỷ 20 và tách giãn đáy đại dương trong thập niên 1960.

Phần ngoài cùng nhất của Trái Đất được cấu tạo bởi thạch quyển nằm trên và quyển mềm bên dưới. Thạch quyển bao gồm vỏ Trái Đất và phần trên cùng nhất của quyển manti. Quyển mềm thuộc manti ở trạng thái rắn, nhưng có độ nhớt và ứng suất cắt tương đối thấp nên có thể chảy giống như chất lỏng nếu xét theo thời gian địa chất. Phần sâu nhất của manti bên dưới quyển mềm thì cứng do chịu áp suất lớn hơn.

Thạch quyển bị vỡ ra thành các mảng kiến tạo và chúng trượt trên quyển mềm. Các mảng này di chuyển tương đối với nhau theo một trong ba kiểu ranh giới mảng: hội tụ hay va chạm; tách giãn, cũng được gọi là trung tâm tách giãn; và chuyển dạng. Các trận động đất, hoạt động núi lửa, sự hình thành các dãy núi, và rãnh đại dương đều xuất hiện dọc theo các ranh giới này. Sự dịch chuyển sang bên của các mảng vào khoảng 50–100 mm/năm.

Krakatau

Krakatau hay Krakatoa, là một đảo núi lửa thuộc vành đai lửa Thái Bình Dương. Nó đã hình thành nên một hệ thống quần đảo gồm bốn đảo chính trong eo biển Sunda của Indonesia, giữa đảo Sumatra và đảo Java. Cấu trúc địa lý của đảo đã thay đổi ít nhất hai lần, sau hai vụ phun trào núi lửa vào các năm 416 (hoặc 535) và vào năm 1883. Mặc dù vậy, quần đảo vẫn đón nhận một hệ sinh thái đa dạng, với hàng trăm loài động, thực vật khác nhau, phần lớn là nhờ khí hậu nhiệt đới. Quần đảo thuộc vườn quốc gia Ujung Kulon, được xem là di sản văn hóa thế giới do UNESCO xếp hạng.

Mảng Juan de Fuca

Mảng Juan de Fuca được đặt theo tên của nhà thám hiểm Juan de Fuca, là một mảng kiến tạo có ranh giới là sống núi Juan de Fuca và bị hút chìm bên dưới phần phía tây của mảng Bắc Mỹ tại đới hút chìm Cascadia. Ranh giới phía nam là đới đứt gãy Blanco, phía bắc là đứt gãy Nootka, và chạy dọc theo phía tây của mảng Thái Bình Dương. Mảng Juan de Fuca trong quá khứ là một phần của một mảng Farallon, nhưng bây giờ phần lớn mảng này bị hút chìm bên dưới mảng Bắc Mỹ, và đã bị nứt ra thàm 3 mảnh nhỏ. Tên mảng đôi khi được sử dụng để chỉ toàn bộ mảng phía đông của đới tách giãn, và trong một số trường hợp khác chỉ đề cập đến mảng trung tâm. Khi cần phân biệt rõ ràng, mảnh phía nam được gọi là mảng Gorda và mảnh phía bắc được gọi là mảng Explorer. Các mảnh riêng biệt được phân giới rõ ràng bởi các dốc nghiêng lớn của đới tách giãn đáy biển và đới đứt gãy.

Hệ thống mảng hút chìm này hình thành dãy núi lửa Cascade và dãy Thái Bình Dương, là một phần của vành đai lửa Thái Bình Dương, chạy dọc theo bờ biển phía tây của Nam Mỹ từ miền nam British Columbia đến miền bắc California.

Các trận động đất chính gần đây nhất ở đới hút chìm Cascadia là trận động đất Cascadia năm 1700, được ước tinh là có độ lớn là từ 8.7 đến 9.2. Dựa trên việc định tuổi cacbon của các tích tụ do sóng thần địa phương, thì thời gian xuất hiện vào khoảng năm 1700. Theo báo cáo trong National Geographic ngày 8 tháng 12 năm 2003, các ghi nhận về sóng thần của Nhật Bản cho thấy rung động đã diễn ra vào tối thứ 3, ngày 26 tháng 1 năm 1700.

Vào năm 2008, các trận động đất nhỏ đã được quan sát trong mảng này. Các rung rộng bất thường đã được miêu tả là "có hơn 600 chấn động trong vòng 10 ngày qua trong bồn trũng cách 150 dặm về phía tây nam của Newport. "Các chấn động không giống với hầu hết các chấn động khác vì chúng không theo kiểu của một chấn động lớn, và theo sau là các dư chấn nhỏ hơn; tuy vậy, chúng đơn giản là một sự diễn ra liên tục các chấn động nhỏ. Hơn thế nữa, chúng khỗng xuất hiện tại ranh giới mảng kiến tạo, nhưng có thể là xuất hiện tại trung tâm của mảng. Các chấn động bên dưới mặt đất được ghi nhận bởi các ống nghe đặt dưới nước, và các nhà khoa học miêu tả các âm thanh này giống nhu sấm, và không giống bất kỳ âm thanh nào đã ghi nhận trước đó.

Núi St. Helens

Núi St. Helens là một núi lửa tầng đang hoạt động ở quận Skamania ở tiểu bang Washington, Hoa Kỳ. Núi này nằm ở phía nam bang Washington, là một phần của dãy núi Cascade. Ngọn núi này nằm cách Seatle 154 km về phía nam, và cách Portland, Oregon 85 km về phía đông bắc. Tên St. Helens được đặt theo tên của nhà ngoại giao người Anh Lord St Helens, là bạn của nhà thám hiểm George Vancouver, người đã thám hiểm vùng này vào cuối thể kỷ 18. Núi lửa này thuộc dãy núi Cascade và là một phần của cung núi lửa Cascade thuộc vành đai lửa Thái Bình Dương, vành đai này bao gồm hơn 160 núi lửa đang hoạt động.

Vụ phun trào nổi tiếng diễn ra vào ngày 18 tháng 5 năm 1980, là vụ phun trào núi lửa gây thiệt hại nặng nề trong lịch sử Hoa Kỳ, làm 57 người chết; 250 ngôi nhà, 47 cây cầu, 24 km đường sắt và 198 km đường cao tốc bị phá hủy. Vụ phun trào tạo ra các dòng lũ đá, san bằng các khu rừng phía bắc của ngọn núi với diện tích gần 600 km², phun tro cao hàng trăm mét và theo gió phát tán khắp vùng Tây Bắc Hoa Kỳ làm tối cả một vùng và phần phía bắc của nó bị sập sau đó từ độ cao 2.950 m giảm xuống 2.550 m, tạo thành một miệng núi lửa dạng móng ngựa rộng 1,6 km.. Công trình kỷ niệm núi lửa quốc gia núi St. Helens được thành lập để bảo tồn và làm nơi nghiên cứu khoa học.

Cũng như hầu hết các núi lửa khác trong dãy Cascade, núii St. Helens có dạng hình nón phun trào lớn bao gồm dung nham xen kẽ với tro, đá bọt, và các trầm tích khác. Núi bao gồm các lớp bazan và andesit bị xuyên cắt bởi các vòm dung nham dacit khi chúng phun trào. Vòm lớn nhất tạo thành phần đỉnh trước đây và phần sườn phía bắc có vòm Goat Rocks nhỏ hơn, và cả hai đã bị phá hủy trong vụ phun trào năm 1980.

Núi lửa

Núi lửa là núi có miệng ở đỉnh, qua đó, từng thời kỳ, các chất khoáng nóng chảy với nhiệt độ và áp suất cao bị phun ra ngoài. Núi lửa phun là một hiện tượng tự nhiên trên Trái Đất hoặc các hành tinh vẫn còn hoạt động địa chấn khác, với các vỏ thạch quyển di chuyển trên lõi khoáng chất nóng chảy. Khi núi lửa phun, một phần năng lượng ẩn sâu trong lòng hành tinh sẽ được giải phóng.

Trên thế giới, Indonesia, Nhật Bản và Mỹ được xem là ba nước có nhiều núi lửa đang hoạt động nhất, theo thứ tự giảm dần về mức độ hoạt động.

Núi lửa Taal

Núi lửa Taal (tiếng Filipino: Bulkang Taal‎) là một ngọn núi lửa phức tạp nằm trên đảo Luzon ở Philippines. Đây là núi lửa hoạt động mạnh thứ hai ở Philippines với 33 vụ phun trào lịch sử. Tất cả những vụ phun trào này tập trung vào đảo Volcano, một hòn đảo gần giữa hồ Taal. Hồ cung cấp nước một phần cho hõm chảo Taal, được hình thành bởi các vụ phun trào thời tiền sử từ 140.000 đến 5.380 BP. Nhìn từ sườn núi Tagaytay, núi lửa Taal và hồ là một trong những khung cảnh đẹp nhất và hấp dẫn nhất ở Philippines. Nó cách thành phố Manila, thủ đô của Philippines, khoảng 50 kilômét (31 dặm) về phía nam.

Núi lửa phun trào dữ dội một vài lần trong quá khứ gây ra thiệt hại về sinh mạng ở đảo và các khu vực xung quanh hồ, với số người chết ước tính khoảng 5.000 đến 6.000. Do gần các khu vực đông dân cư và lịch sử phun trào của nó, núi lửa được cho là núi lửa Thập niên, xứng đáng nghiên cứu chặt chẽ để ngăn ngừa thiên tai trong tương lai. Tất cả núi lửa của Philippines là một phần của Vành đai lửa Thái Bình Dương.

Philippines

Philippines (tiếng Tagalog/tiếng Filipino: "Pilipinas" hoặc "Filipinas"; phiên âm: Phi-líp-pin), tên chính thức là Cộng hòa Philippines (tiếng Tagalog/tiếng Filipino: Republika ng Pilipinas; tiếng Anh: Republic of the Philippines), là một đảo quốc có chủ quyền tại Đông Nam Á. Philippines cách Đài Loan qua eo biển Luzon ở phía bắc; cách Việt Nam qua biển Đông ở phía tây, cách đảo Borneo qua biển Sulu ở phía tây nam, và các đảo khác của Indonesia qua biển Celebes ở phía nam; phía đông quốc gia là biển Philippines và đảo quốc Palau. Philippines nằm trên Vành đai lửa Thái Bình Dương và nằm gần xích đạo, do vậy quốc gia hay chịu ảnh hưởng từ các trận động đất và bão nhiệt đới, song lại có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng sinh học ở mức độ cao. Philippines có diện tích 300.000 kilômét vuông (115.831 sq mi), là quốc gia rộng lớn thứ 71 trên thế giới, bao gồm 7.641 hòn đảo được phân loại phổ biến thành ba vùng địa lý lớn: Luzon, Visayas, và Mindanao. Thủ đô của Philippines là Manila, còn thành phố đông dân nhất là Quezon; cả hai thành phố đều thuộc Vùng đô thị Manila.

Với dân số ít nhất là 99 triệu, Philippines là quốc gia đông dân thứ bảy tại châu Á và đứng thứ 12 trên thế giới. Ngoài ra, có 12 triệu người Philippines sống tại hải ngoại, họ tạo thành một trong những cộng đồng tha hương lớn nhất và có ảnh hưởng nhất thế giới. Philippines có sự đa dạng về dân tộc và văn hóa. Vào thời tiền sử, người Negrito nằm trong số các cư dân đầu tiên của quần đảo, tiếp theo là các làn sóng nhập cư của người Nam Đảo. Sau đó, nhiều quốc gia khác nhau được thành lập trên quần đảo, nằm dưới quyền cai trị của những quân chủ mang tước vị Datu, Rajah, Sultan hay Lakan. Thương mại với Trung Quốc cũng khiến cho văn minh Trung Quốc truyền đến Philippines, cũng như xuất hiện các khu định cư của người Hán.

Ferdinand Magellan đến Philippines vào năm 1521, sự kiện này đánh dấu kỉ nguyên người Tây Ban Nha quan tâm và cuối cùng là thuộc địa hóa quần đảo. Năm 1543, nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Ruy López de Villalobos đặt tên cho quần đảo là Las Islas Filipinas để vinh danh Quốc vương Felipe II của Tây Ban Nha. Miguel López de Legazpi đến quần đảo từ Tân Tây Ban Nha (Mexico ngày nay) vào năm 1565, ông thành lập nên khu định cư đầu tiên của người Tây Ban Nha tại quần đảo, và quần đảo trở thành thuộc địa của Tây Ban Nha trong hơn 300 năm sau đó. Thời kỳ thuộc địa khiến cho Công giáo Rôma chiếm ưu thế tại Philippines; Philippines và Đông Timor là hai quốc gia châu Á duy nhất mà tôn giáo này chiếm ưu thế. Trong thời gian này, Manila trở thành đầu mối châu Á của tuyến đường thương mại thuyền buồm Manila–Acapulco.

Vào thời gian chuyển giao giữa thế kỷ XIX và thế kỷ XX, liên tiếp diễn ra cách mạng Philippines; chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ; và Chiến tranh Philippines–Mỹ. Kết quả là Hoa Kỳ trở thành thế lực thống trị quần đảo, song bị gián đoạn khi Nhật Bản chiếm đóng. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Hiệp ước Manila công nhận Cộng hòa Philippines là một quốc gia độc lập. Kể từ đó, Philippines trải qua các biến động với nền dân chủ, nổi bật là phong trào "quyền lực nhân dân" lật đổ chế độ độc tài của Ferdinand Marcos. Philippines hiện là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh tại châu Á, việc có quy mô dân số lớn khiến Philippines có triển vọng đạt được mức phân loại là một cường quốc bậc trung.

Quần đảo Aleut

Quần đảo Aleut (có thể là từ tiếng Chukchi aliat có nghĩa là "đảo") là một chuỗi đảo gồm hơn 300 đảo núi lửa tạo thành một vòng cung đảo trong Bắc Thái Bình Dương, chiếm một diện tích khoảng 6.821 dặm vuông Anh (17.666 km²) và kéo dài khoảng 1.200 dặm Anh (1.900 km) về phía tây từ Bán đảo Alaska về phía Bán đảo Kamchatka. Vượt qua kinh tuyến 180°, quần đảo này là phần cận tây nhất của Hoa Kỳ (và về kỹ thuật mà nói cũng là phần cận đông nhất; xem các cực điểm của Hoa Kỳ). Gần như tất cả quần đảo là bộ phận của tiểu bang Alaska và thường được xem là nằm trong vùng "Alaskan Bush" nhưng phần cuối cực tây là Quần đảo Komandorski xa xôi hẻo lánh, nhỏ và có liên hệ về mặt địa lý thì nằm trong lãnh thổ của Nga. Quần đảo có 57 núi lửa và nằm trong phần phía bắc của Vành đai lửa Thái Bình Dương. Xa lộ vùng biển Alaska chạy qua quần đảo.

Về địa thể, quần đảo này là một bộ phận riêng biệt của vùng bờ viền Thái Bình Dương rộng lớn hơn mà đến lượt bờ viền này là một bộ phận của phân vùng địa thể Hệ thống Núi Thái Bình Dương.

Rãnh Sunda

Rãnh Sunda, trước đây được biết đến và đôi khi vẫn được chỉ định là Rãnh Java, là một rãnh đại dương nằm ở Ấn Độ Dương gần Sumatra, được hình thành nơi các mảng Capricorn của Úc chìm dưới một phần của mảng Á-Âu. Nó dài 3.200 km (2.000 mi). Độ sâu tối đa của nó là 77.725 mét (25.344 ft)(ở 10 ° 19'S, 109 ° 58'E, cách thành phố Yogyakarta khoảng 320 km về phía nam), là điểm sâu nhất ở Ấn Độ Dương. Rãnh trải dài từ Quần đảo Sunda nhỏ hơn qua Java, xung quanh bờ biển phía nam Sumatra đến Quần đảo Andaman và tạo thành ranh giới giữa mảng Ấn-Úc và mảng Á-Âu (cụ thể hơn là mảng Sunda). Rãnh được coi là một phần của Vành đai lửa Thái Bình Dương cũng như một trong những rãnh của đại dương quanh rìa phía bắc của mảng Úc.

Năm 2005, các nhà khoa học tìm thấy bằng chứng cho thấy hoạt động động đất năm 2004 ở khu vực Rãnh Java có thể dẫn đến sự dịch chuyển thảm khốc hơn nữa trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, có lẽ chưa đến một thập kỷ. Mối đe dọa này đã dẫn đến các thỏa thuận quốc tế để thiết lập một hệ thống cảnh báo sóng thần diễn ra dọc theo bờ biển Ấn Độ Dương.

Rãnh Yap

Rãnh Yap là một rãnh đại dương gần đảo Yap ở miền tây Thái Bình Dương. Rãnh này tạo thành một phần của Vành đai lửa Thái Bình Dương giữa quần đảo Palau và rãnh Mariana. Nó kéo dài khoảng 650 km (400 dặm Anh) và nằm ở độ sâu khoảng 8.527 m (27.976 ft) tại điểm sâu nhất của nó.

Simeulue (huyện)

Simeulue là một huyện (kabupaten) của tỉnh Aceh, Indonesia. Nó chiếm toàn bộ diện tích đảo Simeulue (Pulau Simeulue), ngoài khơi bờ biển phía tây của Sumatra 150 km, với diện tích 2.051,48 kilômét vuông (792,08 dặm vuông Anh). Huyện có dân số 80.674 người theo Tổng điều tra năm 2010; ước tính (tháng Giêng năm 2014) là 84.933 người.

Với vị trí địa lý tách biệt, Simeulue đã không bị ảnh hưởng bởi những biến động của cuộc xung đột ở đại lục Aceh giữa Chính phủ Indonesia và Phong trào Aceh Tự do (GAM). Hiện GAM chưa có hoạt động lớn trên đảo này.

Sumbawa

Sumbawa là một đảo thuộc Indonesia, nằm ở khoảng giữa của chuỗi các đảo gọi chung là quần đảo Nusa Tenggara (quần đảo Sunda Nhỏ), với đảo Lombok ở phía tây, đảo Flores ở phía đông và đảo Sumba xa hơn một chút về phía đông nam. Về mặt hành chính, nó là một phần của tỉnh Tây Nusa Tenggara.

Sumbawa có chiều dài theo hướng tây-đông khoảng 270 km và chiều rộng theo hướng bắc-nam khoảng 95 km, diện tích 15.448 km² (ba lần lớn hơn đảo Lombok) với dân số năm 2005 khoảng 1,2 triệu người. Nó là mốc giới giữa các đảo phía tây chịu ảnh hưởng tôn giáo và văn hóa Ấn Độ nhiều hơn với các đảo phía đông. nơi ảnh hưởng của văn hóa và tôn giáo Ấn Độ là không đáng kể.

Tai biến tự nhiên

Tai biến tự nhiên là một mối đe dọa của các sự kiện xảy ra một cách tự nhiên mà nó có những tác động tiêu cực đến con người hoặc môi trường. Một số tai biến tự nhiên có quan hệ qua lại với nhau như động đất có thể gây ra sóng thần và hạn hán có thể dẫn đến nạn đói một cách trực tiếp. Một ví dụ cụ thể giữa tai biến tự nhiên và thảm họa tự nhiên là trận động đất San Francisco 1906 là một thảm họa, mặc dù các trận động đất là dạng tai biến. Tai biến tự nhiên có thể trở thành thảm họa tự nhiên khi nó ảnh hưởng lớn tới con người, thường với số lượng tử vong lớn hơn 10, bị thương trên 100, và gây thiệt hại 100,000 USD.

Vanuatu

Vanuatu, tên chính thức Cộng hòa Vanuatu, là đảo quốc gồm quần đảo vùng Melanesia, tây nam Thái Bình Dương. Quần đảo này nằm phía đông Úc cách 1.750 km, phía đông bắc Nouvelle-Calédonie cách 500 km, phía tây Fiji, và phía nam quần đảo Solomon.

Trước năm 1980, Vanuatu có tên là New Hebrides thuộc sự đồng trị của cả hai nước Anh và Pháp. Người Việt thời đó gọi Vanuatu là Tân Đảo vì thực dân Pháp thường mộ phu chân đăng ở Đông Dương để đi khai phá và canh tác đồn điền ở đó. Nhiều người cũng gọi gộp 2 quần đảo Nouvelle-Calédonie và New Hebrides này là Tân Đảo.

Vành đai Anpơ

Vành đai Alp, vành đai Anpơ hay hệ Alp-Himalaya, hệ Anpơ-Himalaya là một tập hợp các dãy núi trải dài dọc theo rìa phía nam của đại lục Á-Âu. Vành đai này kéo dài từ Java và Sumatra qua dãy núi Himalaya, Địa Trung Hải và kết thúc trong Đại Tây Dương. Nó bao gồm các dãy núi Anpơ, Karpat, các dãy núi tại Tiểu Á và Iran, Hindu Kush, Himalaya và các dãy núi ở Đông Nam Á. Nó là khu vực có các hoạt động địa chấn xảy ra thường xuyên đứng hàng thứ hai (5-6% các trận động đất và 17% các trận động đất mạnh nhất thế giới) trên thế giới, chỉ sau Vành đai lửa Thái Bình Dương.

Vành đai Alp được tạo ra bởi hoạt động kiến tạo địa tầng đang diễn ra, là quá trình va chạm giữa các mảng đang di chuyển về phía bắc, như mảng châu Phi, mảng Ả Rập và mảng Ấn Độ với mảng Á-Âu.

Indonesia nằm giữa hai vành đai địa chấn là Vành đai lửa Thái Bình Dương (dọc theo các đảo đông bắc cận kề và bao gồm cả New Guinea) và vành đai Alp (dọc theo miền tây và nam Sumatra, Java, Bali, Flores và Timor). Trận động đất Ấn Độ Dương 2004 ngoài khơi đảo Sumatra nằm trong vành đai Alp.

Động đất Melongane 2009

Hàng loạt các vụ động đất mạnh xảy ra tại Melongane, phía bắc tỉnh Sulawesi đã làm rung chuyển đất nước Indonesia vào sáng Thứ Năm 12 tháng 2 năm 2009.

Theo Cơ quan Địa chấn Indonesia, vụ động đất bắt đầu diễn ra vào lúc 0:34 sáng. Tâm chấn của vụ động đất gần đảo Talaud với độ sâu 10 km. Trận động đất mạnh nhất đo được 7,4 độ Richter. Nhiều trận dư chấn đã xảy ra sau đó. Dư chấn cuối cùng với cường độ 5,2 độ Richter đã được ghi nhận vào lúc 05:32 sáng.

Ngay sau khi vụ động đất diễn ra, Cơ quan Địa chấn Indonesia đã phát đi cảnh báo về sóng thần. Tuy nhiên, sau đó, cảnh báo này đã được rút lại. Indonesia nằm ở khu vực rất dễ xảy ra động đất. Khu vực này được gọi là "Vành đai lửa Thái Bình Dương". Đây là nơi tiếp giáp của hai thềm lục địa và thường xuyên xảy ra các rung động địa chấn.

Động đất Samoa 2009

Trận động đất Samoa 2009 có độ lớn 8.0 Mw xảy ra ở khu vực quần đảo Samoa vào lúc 06:48:11 giờ địa phương ngày 29 tháng 9 năm 2009 (17:48:11 giờ UTC, ngày 29 tháng 9).Trận động đất phát sinh 3 đợt sóng thần, đợt lớn nhất có độ cao 4,2 m so với mặt biển. Trung tâm Cảnh báo sóng thần Thái Bình Dương đo được nước biển dâng cao 76 mm gần chấn tâm. Chấn động xuất hiện gần đới hút chìm Kermadec-Tonga, ranh giới giữa mảng Thái Bình Dương bị hút chìm bên dưới mảng Úc thuộc vành đai lửa Thái Bình Dương.

Động đất dưới đại dương

Một trận Động đất dưới đại dương hay động đất dưới đáy biển, hoặc trận động đất dưới nước là một trận động đất xảy ra dưới nước, ở dưới đáy của một vùng nước, đặc biệt là đại dương. Chúng là nguyên nhân hàng đầu của sóng thần. Độ lớn của nó có thể được đo một cách khoa học,bằng cách sử dụng các thang độ lớn mô men và cường độ có thể được đo sử dụng thang đo Mercalli.

Hiểu biết về kiến tạo mảng giúp giải thích căn nguyên của động đất dưới đại dương. Bề mặt của trái Đất hay thạch quyển bao gồm các mảng kiến tạo mà trung bình dày khoảng 50 dặm, và đang tiếp tục di chuyển rất từ từ trên lớp mắc ma ở quyển mềm và bên trong lớp manti. Các mảng hội tụ chồng chéo nhau, mảng ở trên mảng ở dưới, hoặc một số nơi chịu áp lực trượt, di chuyển theo chiều ngang. Phong trào ít gọi là lỗi leo được nhỏ và không thể đo lường. Các tấm gặp nhau, và nếu thô điểm gây ra sự chuyển động để dừng lại ở các cạnh, chuyển động của các tấm tiếp tục. Khi thô điểm không còn có thể giữ, phát hành bất ngờ của xây dựng lên chuyển động chí, và sự chuyển động đột ngột dưới đáy biển nguyên nhân tàu ngầm một trận động đất. Khu vực này của trượt cả ngang dọc được gọi là chấn tâm, và có mức độ cao nhất, và gây ra những thiệt hại lớn nhất.

Động đất dưới đại dương làm thay đổi đáy biển, tạo ra một loạt các con sóng, và phụ thuộc vào độ dài và độ lớn của trận động đất, sóng thần được tạo ra gây thiệt hại về tài sản và người ở các thành phố ven biển.

Động đất dưới đại dương cũng có thể làm hỏng cáp ngầm dẫn đến dán đoạn Internet và mạng điện thoại quốc tế ở những khu vực. Đặc biệt ở châu Á, nơi có nhiều đường cáp ngầm dẫn qua khu có động đất như Vành đai lửa Thái Bình Dương.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.