Trung Bộ châu Mỹ

Trung Bộ châu Mỹ cổ đại (thuật ngữ gốc: Mesoamerica) là một vùng và là một khu vực văn hóa ở châu Mỹ, trải dài từ miền trung México đến Belize, Guatemala, El Salvador, Honduras, Nicaragua và miền bắc Costa Rica. Trước khi Cristoforo Colombo đặt chân đến châu Mỹ kéo theo thực dân Tây Ban Nha vào các thế kỷ 15 và 16 thì Trung Bộ châu Mỹ từng là nơi có nhiều nền văn minh phát triển.[1][2]

Trong tư cách một khu vực văn hóa, Trung Bộ châu Mỹ được hiểu là một bản khảm các nét văn hóa tiêu biểu được các nền văn hóa bản địa phát triển và chia sẻ. 7000 năm trước Công nguyên, người châu Mỹ thuần hóa được ngô, đậu cô ve, bí và ớt, cũng như gà tâychó. Điều này tạo bước chuyển xã hội từ lối sống bộ lạc săn bắt hái lượm thời Thái cổ Anh-điêng sang sống trong các làng mạc làm nghề nông ít du canh. Trong giai đoạn sau đó, nông nghiệp và các nét văn hóa tiêu biểu như nền tôn giáo phức tạp, hệ chữ số nhị thập phân, bộ lịch Trung Bộ châu Mỹ, nền kiến trúc Trung Bộ châu Mỹ độc đáo đã khuếch tán khắp cả khu vực này. Cũng trong giai đoạn này, làng mạc bắt đầu phân tầng và phát triển thành các bộ tộc với các trung tâm nghi lễ lớn, được kết nối với nhau bởi một hệ thống các tuyến đường buôn bán trao đổi hàng hóa xa xỉ như đá obsidian, ngọc thạch, hạt ca cao, chu sa, vỏ Spondylus, Hematit và đồ gốm. Tuy nền văn minh Trung Bộ châu Mỹ đã biết đến bánh xe và thuật luyện kim nhưng các kỹ thuật này không có được tầm quan trọng về văn hóa ở đây [3].

Trong số những nền văn minh phức tạp sớm nhất, phải kể đến nền văn hóa Olmec với phạm vi sinh tồn trải từ bờ vịnh México vào trong nội địa và hướng về phía nam qua eo biển Tehuantepec. Sự tiếp xúc thường xuyên và trao đổi văn hóa giữa Olmec thời sơ khai với các nền văn hóa khác ở Chiapas, Guatemala và Oaxaca đã đặt nền tảng cho khu vực văn hóa Trung Bộ châu Mỹ. Giai đoạn hình thành này chứng kiến sự lan rộng của các truyền thống tôn giáo và biểu tượng độc đáo, cũng như các phức hợp nghệ thuật và kiến trúc. Ở giai đoạn Tiền Cổ điển, các thành thị có tổ chức phức tạp bắt đầu phát triển trong lòng nền văn minh Maya - với sự lên ngôi của các trung tâm như El Mirador, CalakmulTikal - và trong lòng nền văn minh Zapotec với trung tâm Monte Albán. Trong giai đoạn này, hệ thống chữ viết Trung Bộ châu Mỹ thực sự đầu tiên đã phát triển trong lòng các nền văn hóa Hậu Olmec và Zapotec; chữ viết truyền thống của Trung Bộ châu Mỹ đạt tới đỉnh cao với chữ tượng hình Maya. Trung Bộ châu Mỹ là một trong năm vùng duy nhất trên thế giới có sự phát triển độc lập về chữ viết. Ở Trung México, có một thành phố gọi là Teotihuacán được xem là đỉnh cao của giai đoạn Cổ điển. Từ đây đã hình thành một đế chế quân sự và thương mại với tầm ảnh hưởng chính trị trải về phương nam vào khu vực của Maya rồi hướng về phương bắc. Sau sự sụp đổ của Teotihuacán vào khoảng năm 600, giữa một số trung tâm chính trị quan trọng trong vùng Trung México đã nảy ra cuộc cạnh tranh với nhau, chẳng hạn Xochicalco và Cholula. Trong giai đoạn Hậu Cổ điển, người Nahua phương bắc bắt đầu chuyển xuống phía nam và tiến vào Trung Bộ châu Mỹ, thay thế dân nói tiếng Oto-Mangue để trở thành lực lượng chiếm thế thượng phong về chính trị và văn hóa ở miền trung México. Trong suốt giai đoạn Hậu Cổ điển sớm, nền văn hóa Toltec chiếm ưu thế tại Trung México trong khi nền văn minh Mixtec chiếm ưu thế tại Oaxaca. Khu vực hạ Maya có các trung tâm quan trọng tại Chichén ItzáMayapán. Về cuối thời kỳ Hậu Cổ điển, người Aztec ở Trung México đã xây nên một đế quốc với nhiều chư hầu, bao trùm phần lớn diện tích miền trung Trung Bộ châu Mỹ [4].

Nền văn hóa độc đáo của vùng Trung Bộ châu Mỹ kết thúc khi Tây Ban Nha xâm lược Đế quốc Aztec vào thế kỷ 16. Trong các thế kỷ kế tiếp, những nền văn hóa bản địa trong vùng lần lượt đầu hàng trước sự cai trị của thực dân Tây Ban Nha. Những di sản của nền văn hóa Trung Bộ châu Mỹ hiện vẫn còn sót lại trong số những cư dân bản địa sống ở Trung Bộ châu Mỹ. Nhiều người trong số họ vẫn tiếp tục nói ngôn ngữ của tổ tiên và thậm chí vẫn duy trì nhiều tập tục có gốc gác Trung Bộ châu Mỹ [5].

Mesoamerica english
Trung Bộ châu Mỹ và các khu vực văn hóa của vùng này.
Tikal mayan ruins 2009
Tikal là một trong những di chỉ khảo cổ và trung tâm đô thị lớn nhất của nền văn minh Maya thời kỳ Tiền Colombo. Nơi này nằm ở vùng khảo cổ thuộc lòng chảo Petén mà ngày nay thuộc bắc Guatemala.

Từ nguyên và định nghĩa

Templo tazumal
Phế tích Tazumal của nền văn minh Maya tại Santa Ana, El Salvador

Trong tiếng Hy Lạp, Mesoamerica có nghĩa là "giữa châu Mỹ". Khu vực này được hiểu là quê hương của nền văn minh Mesoamerica - bao gồm các nhóm người gắn bó chặt chẽ về văn hóa và lịch sử. Phạm vi địa lý chính xác của Trung Bộ châu Mỹ thay đổi qua thời gian khi nền văn minh này mở rộng phạm vi về bắc và nam tính từ trung tâm là miền nam México. Nhà dân tộc học người Đức Paul Kirchhoff là người sử dụng lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ Mesoamerica khi ông viết rằng có sự tương đồng giữa các nền văn hóa thời kỳ tiền Colombo ở một vùng bao gồm miền nam México, Guatemala, Belize, El Salvador, miền tây Honduras, miền đất thấp ven Thái Bình Dương của Nicaragua và tây bắc Costa Rica. Căn cứ theo thuyết khảo cổ học lịch sử văn hóa thịnh hành vào nửa đầu thế kỷ 20, Kirchhoff đã định nghĩa Trung Bộ châu Mỹ là một khu vực văn hóa dựa trên một hệ các điểm tương đồng văn hóa có tương quan với nhau được gây nên bởi nhiều thiên niên kỷ tiếp xúc liên vùng hoặc nội vùng. [6][7] Trung Bộ châu Mỹ được công nhận là một khu vực văn hóa có tính gần như nguyên mẫu, và hiện nay thuật ngữ này đã được tích hợp hoàn toàn vào hệ thống thuật ngữ chuẩn của các nghiên cứu nhân loại học thời kỳ tiền Colombo.

Một số nét văn hóa nổi bật định nghĩa nên truyền thống văn hóa Trung Bộ châu Mỹ là:

  • Sống định cư dựa vào trồng ngô
  • Xây dựng các kim tự tháp Trung Bộ châu Mỹ
  • Sử dụng hai bộ lịch Trung Bộ châu Mỹ khác nhau (lịch nghi lễ gồm 260 ngày và lịch dựa trên năm mặt trời gồm 365 ngày).
  • Dùng hệ chữ số nhịp thập phân (cơ số 20)
  • Dùng hệ chữ viết bằng hình vẽ và tượng hình
  • Sử dụng nhựa cao su và có sở thích chơi bóng
  • Sử dụng hệ thống chữ viết do dân bản địa phát triển, viết bằng cách dùng chữ tượng hình và chữ biểu tượng
  • Sử dụng giấy làm bằng vỏ cây cho mục đích nghi lễ và để làm giấy viết.
  • Thực hành hiến tế dưới nhiều hình thức khác nhau, bao gồm cả hiến tế người
  • Tôn giáo Trung Bộ châu Mỹ dựa trên sự kết hợp của Saman giáo và thần thánh tự nhiên, cùng với các hệ thống biểu tượng như nhau
  • Trung Bộ châu Mỹ cũng được xem là một vùng ngôn ngữ (Sprachbun) gọi là Khu vực ngôn ngữ Trung Bộ châu Mỹ. [8]

Chú thích

  1. ^ "Meso-America." Oxford English Reference Dictionary (ấn bản 2), 2002, Oxford University Press; ISBN 0-19-860652-4, tr. 906
  2. ^ (2000): Atlas del México Prehispánico. Revista Arqueología mexicana. Número especial 5. Julio de 2000. Raíces/ Instituto Nacional de Antropología e Historia. México.
  3. ^ Carmack, Gasco & Gossen 1996, tr. 55.
  4. ^ Carmack, Gasco & Gossen 1996, tr. 40-80.
  5. ^ Carmack, Gasco & Gossen 1996.
  6. ^ Kirchhoff 1943.
  7. ^ Carmack, Gasco & Gossen 1996, tr. 5-8.
  8. ^ Campbell, Kaufman & Smith-Stark 1986.

Sách

  • Campbell, Lyle; Kaufman, Terrence; Smith-Stark, Thomas (tháng 9 năm 1986). “Meso-America as a linguistic area”. Language (Washington, DC: Hội Ngôn ngữ học Hoa Kỳ) 62 (3): 530–558. ISSN 0097-8507. JSTOR 415477. OCLC 1361911. doi:10.2307/415477. (tiếng Anh)
  • Carmack, Robert M.; Gasco, Janine L.; Gossen, Gary H. (1996). Legacy of Mesoamerica, The: History and Culture of a Native American Civilization. New Jersey: Prentice Hall. ISBN 0-13-337445-9. (tiếng Anh)
  • Kirchhoff, Paul (1943). “Mesoamérica. Sus Límites Geográficos, Composición Étnica y Caracteres Culturales”. Acta Americana 1 (1): 92–107. (tiếng Tây Ban Nha)
Aztec

Aztec () là tên gọi một số dân tộc nhất định tại miền trung Mexico, đặc biệt là những người nói tiếng Nahuatl, thống trị phần lớn vùng Trung Bộ châu Mỹ từ thế kỷ 14 đến 16. Từ aztecatl [asˈtekat͡ɬ] (số ít) và aztecah [asˈtekaʔ] (số nhiều) trong tiếng Nahuatl có nghĩa là "người từ Aztlan", một địa điểm thần loại trong văn hóa Nahuatl đương thời, và sau đó được dùng để chỉ người Mexica. Thông thường "Aztec" được dùng cho người Mexica tại Tenochtitlan (nơi ngày nay là Thành phố Mexico), một thành bang tọa lạc trên Hồ Texcoco; những người này gọi mình là Mēxihcah Tenochcah [meːˈʃiʔkaʔ teˈnot͡ʃkaʔ] hay Cōlhuah Mexihcah [ˈkoːlwaʔ meːˈʃiʔkaʔ].

Đôi khi cư dân tại hai thành bang đồng minh của Tenochtitlan, là người Acolhua của Texcoco và người Tepanec của Tlacopan cũng được gọi là "Aztec". Họ, cùng với người Mexica, đã thành lập nên Tam Đồng Minh Aztec. Có khi, Aztec được dùng để chỉ các altepetl (thành bang) và cư dân tại đó, những người đã chia sẻ nền văn hóa và lịch sử với người Mexica, Acolhua và Tepanec, và cũng để chỉ những người dùng tiếng Nahuatl như một lingua franca. Theo nghĩa này, Aztec nhắc đến nền văn minh Aztec, bao gồm những di sản và thành tựu có nhiều nét chung của người dân Trung Bộ châu Mỹ trong thời kỳ hậu cổ điển.

Từ thế kỷ 13, Thung lũng México là trung tâm của nền văn minh Aztec: nơi đây thủ đô của Tam Đồng Minh Aztec, thành phố Tenochtitlan, được xây dựng trên những đảo nhỏ giữa hồ Texcoco. Tam Đồng Minh lập thành Đế quốc Aztec và mở rộng ảnh hưởng ra ngoài thung lũng México, xâm chiếm các thành bang khác trên khắp Trung Bộ châu Mỹ. Nó bắt nguồn từ năm 1427 là một liên minh giữa các thành bang Tenochtitlan, Texcoco, và Tlacopan; những người này đã liên minh để đánh bại Tepanec của Azcapotzalco, trước đó đã chiếm ưu thế ở lưu vực sông Mêhicô. Ngay sau đó Texcoco và Tlacopan trở thành đối tác thứ yếu trong liên minh, và Mexica của Tenochtitlan trở thành lãnh đạo trên thực tế. Đế chế mở rộng quyền lực của mình bằng sự kết hợp giữa sự chinh phục thương mại và quân sự. Aztec không bao giờ là một đế chế thực sự kiểm soát lãnh thổ với các tiền đồn quân sự lớn trong các tỉnh đã chinh phục, mà dùng cách kiểm soát các quốc gia chư hầu của họ thông qua tạo ra các nhà cai trị thân thiện trong các thành phố chinh phục bằng cách xây dựng các liên minh hôn nhân giữa các triều đại cầm quyền và mở rộng hệ tư tưởng đế quốc tới các thành phố đã chinh phục được. Các thành phố chư hầu nộp cống cho hoàng đế Aztec, Huey Tlatoani, theo một chiến lược kinh tế hạn chế giao tiếp và thương mại, khiến cho các chư hầu phải phụ thuộc vào trung tâm đế chế để có được các hàng xa xỉ phẩm. Mối quan hệ chính trị của đế chế đã tiến xa về phía nam Trung Bộ châu Mỹ, chinh phục các thành phố ở phía Nam như Chiapas và Guatemala và kéo dài từ Thái Bình Dương đến Đại Tây Dương. Đế chế này đã đạt tới cực thịnh vào năm 1519, ngay trước khi những kẻ chinh phục Tây Ban Nha dưới sự lãnh đạo của Hernán Cortés, người đã lật đổ đế chế Aztec bằng cách liên minh với kẻ thù truyền thống của người Aztec, Tlaxcalteca. Sau đó, người Tây Ban Nha lập nên điểm dân cư mới (Thành phố Mexico) trên thủ đô hoang tàn của Aztec, từ đó tiếp tục tiến trình thuộc địa hóa châu Mỹ.

Văn hóa và lịch sử Aztec được nghiên cứu từ các chứng cứ khảo cổ tìm thấy ở những điểm khai quật như Templo Mayor tại Thành phố Mexico; từ những quyển bản thảo Aztec; từ sự chứng kiến tận mắt của những conquistador như Hernán Cortés và Bernal Díaz del Castillo; đặc biệt từ những mô tả về văn hoá và lịch sử Aztec của thế kỷ 16 và thế kỷ 17 được các nhà truyền giáo Tây Ban Nha hoặc người Nahuatl viết bằng tiếng Tây Ban Nha hoặc tiếng Nahuatl, chẳng hạn như quy tắc Florentine nổi tiếng do linh mục dòng Phan Sinh Bernardino de Sahagún biên soạn với sự giúp đỡ của người Aztec. Ở thời điểm cực thịnh của nó, nền văn hoá Aztec có truyền thống thần thoại và tôn giáo phong phú, phức tạp, cũng như đạt được những thành tựu kiến trúc và nghệ thuật đáng chú ý.

Brosimum alicastrum

Brosimum alicastrum là một loài thực vật có hoa trong họ Moraceae. Loài này được Sw. mô tả khoa học đầu tiên năm 1788.

Bán đảo Yucatán

Bán đảo Yucatán (tiếng Tây Ban Nha: Península de Yucatán), nằm tại đông nam México, tách biệt biển Caribe với vịnh México, bờ biển phía bắc của bán đảo nằm bên eo biển Yucatán. Bán đảo nhằm ở phía đông của eo đất Tehuantepec, một phân vùng địa lý chia tách Trung Mỹ với phần còn lại của đại lục Bắc Mỹ.

Bán đảo bao gồm lãnh thổ các bang Yucatán, Campeche, và Quintana Roo của México; phần phía bắc của đất nước Belize; và phần phía bắc tỉnh Petén của đất nước Guatemala.

Bột mì

Bột mì là một loại bột thực vật được làm bằng cách nghiền ngũ cốc thô, rễ, đậu, quả hạch hoặc hạt giống và được sử dụng để làm nhiều loại thực phẩm khác nhau. Bột ngũ cốc là thành phần chính của bánh mì, là thực phẩm chính cho hầu hết các nền văn hóa.

Bột mì là một trong những nguyên liệu quan trọng nhất trong các nền văn hóa Đại Dương, Châu Âu, Nam Mỹ, Bắc Mỹ, Trung Đông, Bắc Ấn Độ và Bắc Phi và là thành phần xác định trong phong cách bánh mì và bánh ngọt của họ. Lúa mì là nguyên liệu phổ biến nhất làm bột mì. Bột ngô đã rất quan trọng trong ẩm thực Trung Bộ châu Mỹ từ thời cổ đại và vẫn là một mặt hàng chủ lực ở châu Mỹ. Bột lúa mạch đen là một thành phần của bánh mì ở Trung Âu.

Bột ngũ cốc bao gồm một trong hai loại nội nhũ, mầm và cám với nhau (bột ngũ cốc nguyên hạt) hoặc của nội nhũ đơn thuần (bột tinh chế). Từ "meal" có thể khác nghĩa với "flour" là có kích thước hạt hơi thô (mức độ bắt đầu) hoặc đồng nghĩa với "flour"; từ này được sử dụng cả hai cách. Ví dụ, từ "cornmeal" (bột bắp) mang nghĩa chỉ kết cấu thô hơn trong khi "corn flour" (tinh bột bắp) có nghĩa là bột mịn, dù không có ký hiệu đường phân chia được mã hóa.

Chi Vông đồng

Chi Vông đồng (danh pháp khoa học: Hura) là một chi thực vật có hoa thuộc họ Đại kích được Carolus Linnaeus mô tả khoa học năm 1753. Chúng có nguồn gốc từ khu vực nhiệt đới Nam Mỹ, Trung Bộ châu Mỹ và Đông Ấn Độ.

Ngữ hệ Maya

Ngữ hệ Maya là một ngữ hệ được nói tại Trung Bộ châu Mỹ và miền bắc Trung Mỹ. Các ngôn ngữ Maya được nói bởi ít nhất 6 triệu người, thuộc các dân tộc Maya, chủ yếu tại Guatemala, México, Belize và Honduras. Năm 1996, Guatemala chính thức công nhận 21 ngôn ngữ Maya, và México công nhận thêm tám ngôn ngữ nữa trong biên giới của họ.Ngữ hệ Maya là một trong những ngữ hệ được ghi nhận và nghiên cứu nhiều nhất châu Mỹ. Các ngôn ngữ Maya hiện đại đều xuất phát từ ngôn ngữ Maya nguyên thủy, được cho là từng được nói cách đây ít nhất 5,000 năm, và đã được tái dựng bằng phương thức so sánh. Ngôn ngữ Maya nguyên thủy đã phát triển thành ít nhất sáu nhánh con: Huastec, Quiche, Yucatec, Q'anjobal, Mam và Ch'ol-Tzeltal.

Các ngôn ngữ Maya tạo nên một phần của vùng ngôn ngữ Trung Bộ châu Mỹ, một khu vực hội tụ ngôn ngữ phát triển qua hàng nghìn năm tiếp xúc giữa các tộc người tại đây. Tất cả ngôn ngữ Maya thể hiện các nét cơ bản của vùng ngôn ngữ này. Ví dụ, tất cả đều dùng danh từ quan hệ thay vì giới từ để thể hiện mối quan hệ không gian. Chúng cũng sở hữu những đặc điểm ngữ pháp và loại hình tách biệt chúng khỏi các ngôn ngữ khác tại vùng Trung Bộ châu Mỹ, như việc sử dụng tác thông cách (ergative) với động từ và chủ ngữ-tân ngữ của chúng, những thể loại biến tố riêng biệt với động từ, và một lớp từ cho "các vị trí" điển hình trong cả hệ Maya.

Trong thời kỳ tiền Colombo của lịch sử Trung Bộ châu Mỹ, một vài ngôn ngữ Maya được viết bằng hệ thống chữ Maya tượng hình. Việc sử dụng loại chữ này phổ biến trong suốt thời kỳ Cổ điển của nền văn minh Maya (khoảng 250–900). Một tập hợp gồm 10.000 bản ghi của người Maya còn tồn tại đến nay, nằm trên các kiến trúc, công trình, đồ gốm và bản thảo, kết hợp với nền văn học giàu có thời hậu thuộc địa, viết bằng chữ Latinh, đã cung cấp cơ sở cho việc nghiên cứu lịch sử châu Mỹ thời tiền Colombo.

Ngữ hệ Mixe–Zoque

Ngữ hệ Mixe–Zoque là một ngữ hệ gồm những thứ tiếng được nói ở trong và quanh eo đất Tehuantepec, México. Chính phủ México công nhận ba ngôn ngữ Mixe–Zoque: Mixe (ayook) với 188.000 người nói, Zoque (o'de püt) với 88.000 người nói, và Popoluca (mà thực ra là tên gọi chung cho những ngôn ngữ Mixe và Zoque nhỏ khác nhau) với 69.000 người nói. Trên thực tế, sự đa dạng bên trong của hệ là khá lớn: Ethnologue liệt kê đến 17 ngôn ngữ khác nhau, còn hệ thống phân loại của Wichmann (1995) xác định 12 ngôn ngữ và 11 "phương ngữ". Có một ngôn ngữ tuyệt chủng hiện được xếp vào hệ Mixe–Zoque là tiếng Tapachultec, từng có mặt ở vùng bờ biển đông nam Chiapas.

Ngữ hệ Ute-Aztec

Ngữ hệ Ute-Aztec hay Ngữ hệ Ute-Aztek là một ngữ hệ bản địa châu Mỹ gồm hơn 30 ngôn ngữ. Các ngôn ngữ Ute-Aztec hiện diện tại Tây Hoa Kỳ và Mexico. Tên của ngữ hệ này là sự kết hợp giữa tiếng Ute tại Utah và các ngôn ngữ Aztec tại Mexico.

Ute-Aztec là một trong những ngữ hệ lớn nhất châu Mỹ về số người nói, số ngôn ngữ, và phạm vi phân bố địa lý. Ngôn ngữ nằm xa nhất về phía bắc trong hệ là tiếng Shoshone, được nói tại Salmon, Idaho, còn xa nhất về phía nam là tiếng Pipil tại El Salvador. Ethnologue cho rằng tổng số ngôn ngữ trong hệ là 61, và tổng số người nói là 1.900.412. Trong đó, người nói tiếng Nahuatl chiếm gần bốn phần năm (78,9%).

Có thể chia Ute-Aztec ra làm hai nhánh: nhánh bắc gồm các ngôn ngữ tại Hoa Kỳ và nhánh nam gồm các ngôn ngữ tại Mexico, dù có thể xem đây là một cách phân loại mang tính địa lý.

Nơi bắt nguồn của hệ nhiều khả năng là Tây Nam Hoa Kỳ-Tây Bắc México. Đề xuất cho rằng hệ này xuất phát từ Nam México, trong vùng ngôn ngữ Trung Bộ châu Mỹ, nhận nhiều ý kiến trái chiều từ các học giả.

Opuntia

Opuntia là một chi xương rồng thuộc họ, Cactaceae.

Taco

Taco ( hoặc UK: ) là món ăn truyền thống của người Mexico được làm từ bột ngô hoặc bột mỳ cho lớp vỏ giòn rụm bên ngoài, trong khi nhân bên trong với nhiều lựa chọn khác nhau. Với người Mexico, bánh Tacos được coi là món ăn truyền thống dân dã và nhanh chóng.

Thanh long (thực vật)

Thanh long một loài cây được trồng chủ yếu để lấy quả và cũng là tên của một vài chi của họ xương rồng. Thanh long là loài thực vật bản địa tại México, các nước Trung Mỹ và Nam Mỹ. Hiện nay, các loài cây này cũng được trồng ở các nước trong khu vực Đông Nam Á như Việt Nam, Malaysia, Thái Lan, Philippines, Indonesia (đặc biệt là ở miền tây đảo Java); miền nam Trung Quốc, Đài Loan và một số khu vực khác.

Thung lũng Oaxaca

Thung lũng Trung tâm (tiếng Tây Ban Nha: Valles Centrales) của Oaxaca, cũng được gọi đơn giản là Thung lũng Oaxaca là một vùng địa lý nằm trong bang Oaxaca hiện đại ở miền nam Mexico. Về mặt hành chính, nó bao gồm các huyện Etla, Centro, Zaachila, Zimatlán, Ocotlán, Tlacolula và Ejutla. Thung lũng nằm trong dãy Sierra Madre de Oaxaca, là dãy núi có hình dạng chữ Y, bị bóp méo và gần như lộn ngược với cánh phía tây bắc tại Etla, đông ở Tlacolula và trung nam ở Valle Grande. Thung lũng là nơi sinh sống của nền văn minh Zapotec, một trong những tổ chức xã hội phức tạp sớm nhất tại Trung Bộ châu Mỹ và nền văn hóa Mixtec sau này. Một số địa điểm khảo cổ trong thung lũng này gồm Monte Albán, San José Mogote, Mitla, Yagul. Ngày nay, thủ phủ của bang Oaxaca là thành phố Oaxaca nằm tại trung tâm thung lũng.

Tiếng K’iche’

Tiếng K’iche’ ([kʼiˈtʃeʔ], cũng gọi là Qatzijob'al "tiếng của ta"), hay tiếng Quiché, là một ngôn ngữ Maya tại Guatemala, được nói bởi người K'iche' ở miền cao nguyên trung tâm. Với hơn một triệu người nói (khoảng 7% dân số Guatemala), tiếng K'iche' là ngôn ngữ phổ biến thứ nhì tại đây sau tiếng Tây Ban Nha, ngôn ngữ này cũng hiện diện trong một số cộng đồng người K'iche' ở México. Đa số người nói tiếng K'iche' cũng biết tiếng Tây Ban Nha.

Phương ngữ Trung được sử dụng phổ biến nhất trong truyền thông và giáo dục. Tỉ lệ biết chữ ở người nói tiếng K'iche' không cao, nhưng ngôn ngữ này đang ngày một được giảng dạy phổ biến và được sử dụng trên radio. Tác phẩm nổi tiếng nhất viết bằng tiếng K'iche' cổ điển là Popol Vuh (Popol Wu'uj trong cách viết hiện đại).

Tiếng Nahuatl

Nahuatl (Phát âm Nahuatl: [ˈnaːwatɬ] ()) là một ngôn ngữ thuộc nhánh Nahua của hệ ngôn ngữ Ute-Aztec. Các "phương ngữ" và biến thể của tiếng Nahuatl được 1,5 triệu người Nahua sử dụng; phần lớn số người này sống tại miền trung México, một số sống ở El Salvador và được gọi là người Pipil. Tất cả các ngôn ngữ Nahua đều là ngôn ngữ bản địa của Trung Bộ châu Mỹ.

Tiếng Nahuatl đã được dùng ở Trung México ít nhất là từ thế kỷ 7. Nó là ngôn ngữ của người Aztec - những người sống phổ biến ở miền trung México ở giai đoạn Hậu Cổ điển Muộn trong lịch sử Trung Bộ châu Mỹ. Trong những thế kỷ trước khi bị Tây Ban Nha xâm lược, Đế quốc Aztec đã mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình trên một vùng rộng lớn ở miền trung México. Tầm ảnh hưởng của đế quốc đã khiến loại biến thể tiếng Nahuatl mà cư dân Tenochtitlan sử dụng trở thành phương ngữ uy tín (prestige dialect) ở Trung Bộ châu Mỹ. Khi thực dân phương Tây mang đến bảng chữ cái Latinh, tiếng Nahuatl trở thành một ngôn ngữ văn học; thời kỳ thế kỷ 16-17, có nhiều tác phẩm thi ca, biên niên sử, văn bản hành chính,... được viết bằng tiếng Nahuatl. Loại ngôn ngữ viết dựa trên phương ngữ Tenochtitlan này được gọi là tiếng Nahuatl cổ điển, là một trong những ngôn ngữ được nghiên cứu nhiều nhất và được ghi chép lại trong tài liệu một cách tốt nhất ở châu Mỹ.Ngày nay, các dạng của tiếng Nahuatl vẫn còn được sử dụng trong một số cộng đồng sống rải rác ở vùng nông thôn khắp miền trung México và dọc bờ biển. Giữa các biến thể này có sự khác biệt đáng kể; một số không thể hiểu được lẫn nhau khi giao tiếp. Tiếng Nahuatl Huasteca - với hơn một triệu người nói - là biến thể tiếng Nahuatl được nói nhiều nhất. Tất cả các biến thể Nahuatl đều chịu ảnh hưởng của tiếng Tây Ban Nha ở các mức độ khác nhau. Dù không có biến thể hiện đại nào còn giống với tiếng Nahuatl cổ điển nữa, song nói chung thứ tiếng Nahuatl dùng ở trong và ven thung lũng México là gần giống nhất với Nahuatl cổ điển. Theo Luật tổng quát về quyền ngôn ngữ của người bản địa (tiếng Tây Ban Nha: Ley General de Derechos Lingüísticos de los Pueblos Indígenas) do México ban hành năm 2003 thì tiếng Nahuatl cùng với 63 thứ tiếng bản địa khác đều được công nhận là ngôn ngữ quốc gia (lenguas nacionales) ở những vùng sử dụng thứ tiếng đó, đồng thời có quyền bình đẳng với tiếng Tây Ban Nha ở địa phương đó.Tiếng Nahuatl có hình thái học phức tạp, đặc trưng bởi tính hỗn nhập và chắp dính. Qua hàng thế kỷ cùng tồn tại song song với các ngôn ngữ bản địa khác của Trung Bộ châu Mỹ, tiếng Nahuatl chịu nhiều ảnh hưởng và trở thành một phần của Khu vực ngôn ngữ Trung Bộ châu Mỹ.

Nhiều từ trong tiếng Nahuatl đã được tiếng Tây Ban Nha vay mượn, từ đó tiếp tục được hàng trăm ngôn ngữ khác vay mượn. Nhiều từ mượn có nội dung về những thứ bản địa của miền trung México do người Tây Ban Nha lần đầu tiên nghe thấy chúng qua tiếng Nahuatl, chẳng hạn "aguacate" (trái bơ), "chayote" (cây su su), "jitomate" (cà chua),...

Tiếng Purépecha

Tiếng Purépecha hay tiếng P'urhépecha [pʰuˈɽepet͡ʃa] (Phorhé, Phorhépecha), cũng thường gọi là tiếng Tarascan (tiếng Tây Ban Nha: Tarasco), là một ngôn ngữ tách biệt hoặc một hệ ngôn ngữ nhỏ được nói bởi hơn một trăm nghìn người Purépecha tại vùng núi cao của bang Michoacán, México.

Tiếng Purépecha từng là ngôn ngữ chính của nhà nước Tarascan (một quốc gia thời kỳ tiền Colombo) và từng phổ biến khắp vùng tây nam México vào thời kỳ hoàn kim (khoảng 1400–1521).

Dù được nói trong biên giới vùng Trung Bộ châu Mỹ, tiếng Purépecha không chia sẻ nhiều đặc điểm với các ngôn ngữ Trung Bộ châu Mỹ khác.

Tiếng Q'eqchi'

Tiếng Q'eqchi' (cũng được viết là Kekchi, K'ekchi', hay Kekchí) là một ngôn ngữ Maya, được các cộng đồng người Q'eqchi' tại Guatemala và Belize sử dụng.

Vani

Vani (hay vanilla) là một hương liệu được chiết xuất từ những loài lan thuộc chi Vanilla, nhưng chủ yếu là từ loài V. planifolia bắt nguồn từ México. Từ vanilla có xuất xứ từ tiếng Tây Ban Nha vaina, đơn giản có nghĩa là "quả đậu nhỏ". Cư dân vùng Trung Bộ châu Mỹ thời kì tiền Colombo đã biết trồng lan vani. Người Aztec gọi chúng là tlilxochitl. Chinh tướng Tây Ban Nha Hernán Cortés được xem là người mang vani và sô cô la đến châu Âu vào thập niên 1520.Muốn có vani thì phải có quả lan, do vậy phải tiến hành thụ phấn cho cây. Năm 1837, nhà thực vật học người Bỉ Charles François Antoine Morren đi tiên phong với phương pháp thụ phấn nhân tạo cho loại lan vani này. Tuy nhiên, phương pháp của ông không khả thi về mặt thương mại. Năm 1841, Edmond Albius (một cậu bé nô lệ 12 tuổi sống trên đảo Réunion, Ấn Độ Dương) khám phá ra rằng có thể dùng cách thụ phấn thủ công cho cây. Phương pháp này cho phép trồng và khai thác vani trên phạm vi toàn cầu.Hiện nay trên thế giới người ta trồng ba loại lan chính để lấy vani, cả ba loài này đều khởi thủy từ Trung Bộ châu Mỹ, từ những miền đất mà ngày nay thuộc đất nước México. Số lượng phân loài rất đa dạng, có thể kể ra đây như Vanilla planifolia (danh pháp đồng nghĩa: V. fragrans) trồng ở Madagascar, Réunion và các miền nhiệt đới dọc bờ Ấn Độ Dương; V. tahitensis trồng ở Nam Thái Bình Dương, và V. pompona trồng ở Tây Ấn, Trung Mỹ và Nam Mỹ. Đa phần nguồn vani trên thế giới là được sản xuất từ loài lan V. planifolia được trồng ở các đảo nhiệt đới thuộc Ấn Độ Dương, do đó loại vani này còn được gọi là vani Bourbon (tên cũ của đảo Réunion là đảo Bourbon) hoặc vani Madagascar (được sản xuất ở Madagascar và các đảo lân cận ở tây nam Ấn Độ Dương và Indonesia). Ở Nam Mỹ, người ta dùng hoa và quả của lan Leptotes bicolor để thay cho lan vani.

Vani là loại gia vị đắt tiền thứ hai trên thế giới - chỉ xếp sau gia vị saffron từ cây nghệ tây - bởi phải mất nhiều công sức lao động. Dù không hề rẻ nhưng vani được đánh giá cao nhờ hương thơm "tinh khiết, hăng và tinh tế" như lời của tác giả Frederic Rosengarten, Jr. trong quyển The Book of Spices. Con người sử dụng rộng rãi vani trong sản xuất thực phẩm, nước hoa và trong trị liệu dùng hương thơm.

Đế quốc Aztec

Đế quốc Aztec, hay Tam Đồng Minh (Nahuatl languages: Ēxcān Tlahtōlōyān, [ˈjéːʃkaːn̥ t͡ɬaʔtoːˈlóːjaːn̥]), khởi đầu như một liên minh của ba "altepetl" (thành bang) người Nahua: México-Tenochtitlan, México-Texcoco, và México-Tlacopan. Ba thành bang này thống trị vùng trong và xung quanh thung lũng México từ năm 1428 cho tới khi bị đánh bại bởi lực lượng hợp sức giữa conquistador Tây Ban Nha và đồng minh dưới sự chỉ huy của Hernán Cortés năm 1521.

Tam Đồng Minh được thành lập từ một cuộc nội chiến giữa Azcapotzalco và những thành bang chư hầu. Dù ban đầu là một liên minh của ba thành bang tự trị, Tenochtitlan nhánh chóng chiếm ưu thế về quân sự. Khi người Tây Ban Nha đến năm 1519, lãnh thổ Tam Đồng Minh được cai trị từ Tenochtitlan, trong khi những thành bang còn lại chỉ có vai trò hỗ trợ.

Tam Đồng Minh gây chiến và mở rộng nhanh chóng sau khi hình thành. Khi ở đỉnh cao, Tam Đồng Minh quản lý đa phần miền trung México và vài lãnh thổ xa hơn ở Trung Bộ châu Mỹ, như tỉnh Xoconochco, nằm gần biên giới Guatemala ngày nay. Sự thống trị của Aztec được các học giả mô tả là "mang tính lãnh đạo" và "không trực tiếp". Aztec cho phép vua của các thành bang bị chinh phục duy trì quyền lực miễn là họ đồng ý cống nạp nửa năm một lần, cũng như cung cấp lực lượng quân sự cho Aztec khi cần thiết. Ngược lại, Tam Đồng Minh sẽ bảo vệ và giữ ổn định chính trị cho họ.

Đa thần giáo Aztec là quốc giáo của đế chế này. Những vị thần được thờ cúng nhiều sẽ được thể hiện trong đền thờ trung tâm ở Tenochtitlan. Ví dụ, một trong những thần nổi tiếng nhất là Huitzilopochtli, một vị thần bảo trợ hiếu chiến. Người dân ở vùng đất bị chinh phục được phép duy trì tôn giáo cũ của họ, chỉ cần họ thêm thần Huitzilopochtli vào những đền thờ địa phương.

Ẩm thực México

Ẩm thực México là một trường phái ẩm thực đến từ nước México, được biết tới với hương vị đa dạng, bày biện thức ăn đầy màu sắc cùng với việc sử dụng một số lượng lớn các gia vị và nguyên liệu, hầu hết đều là nguyên liệu bản địa của nước này. Nền ẩm thực México đã được phát triển qua hàng ngàn năm, là kết quả của sự kết hợp giữa ẩm thực thời kỳ tiền Columbus của thổ dân, sau này tiếp nhận thêm các yếu tố nước ngoài (sau thế kỷ 16). Vào năm 2010, ẩm thực México được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể của nhân loại.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.