Trung Ai Cập

Trung Ai Cập (tiếng Ả Rập: مصر الوسطىMisr al-Wista) là một phần đất giữa Hạ Ai Cập (châu thổ sông Nin) và Thượng Ai Cập, kéo dài từ thượng nguồn sông Nin phía bắc thành phố Cairo đến phía nam của Memphis, Ai Cập.[1] Vào lúc đó, Ai Cập cổ đại chỉ chia thành hai vùng đất là Hạ và Thượng Ai Cập, vì Trung Ai Cập được cho là một tiểu khu của Thượng Ai Cập. Nó đã không được công nhận cho đến thế kỷ 19, khi các nhà khảo cổ cảm thấy cần phải chia Thượng Ai Cập lại thành hai vùng. Kết quả là họ đặt ra thuật ngữ "Trung Ai cập" cho vùng giữa sông Nin, Cairo và Khúc cong Qena.[2]

Các thị trấn lớn

  • Thành phố 6 tháng Mười 
  • Beni Suef
  • Cairo
  • Giza
  • Fayoum

Ghi chú

  1. ^ Baines, John, Ở Málek, và Graham Lo.
  2. ^ Richardson, Dan và Jacobs, Daniel (2003) hướng dẫn đến Ai cập, hướng Dẫn, London, trang 295, VÀ 1-84353-050-3

Tham khảo

  • M. Cappozzo, Il Cristianesimo nel Medio Egitto, Todi 2007 (Tau Editore, ISBN 978-88-6244-010-3).

Xem thêm

Ai Cập cổ đại

Ai Cập cổ đại là một nền văn minh cổ đại nằm ở Đông Bắc châu Phi, tập trung dọc theo hạ lưu của sông Nile thuộc khu vực ngày nay là đất nước Ai Cập. Đây là một trong sáu nền văn minh phát sinh một cách độc lập trên thế giới. Nền văn minh Ai Cập được thống nhất lại vào năm 3150 TCN (theo trình tự thời gian của bảng niên đại Ai Cập) với sự thống nhất chính trị của Thượng và Hạ Ai Cập dưới thời vị pharaon đầu tiên (Narmer, thường được gọi là Menes). Lịch sử của Ai Cập cổ đại đã trải qua một loạt các thời kỳ vương quốc ổn định, và các giai đoạn hỗn loạn giữa chúng được gọi là các giai đoạn chuyển tiếp: Cổ Vương quốc thời kỳ Sơ kỳ Đồ đồng, Trung Vương quốc tương ứng giai đoạn Trung kỳ Đồ Đồng và Tân Vương quốc ứng với Hậu kỳ Đồ đồng.

Ai Cập đạt đến đỉnh cao của quyền lực vào giai đoạn Tân Vương quốc, trong thời kỳ Ramesside, vào thời điểm đó nó sánh ngang với đế quốc Hittite, đế quốc Assyria và đế chế Mitanni, trước khi bước vào giai đoạn dần suy yếu. Ai Cập đã bị xâm chiếm hoặc chinh phục bởi một loạt các cường quốc nước ngoài, chẳng hạn như người Canaan/Hyksos, Lybia, người Nubia, Assyria, Babylon, Ba Tư dưới triều đại Achaemenid, và người Macedonia trong Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Ba và cuối thời kỳ Ai Cập cổ đại. Sau khi Alexander Đại Đế qua đời, một trong những tướng lĩnh của ông, Ptolemy I Soter, đã tuyên bố ông là vị vua mới của Ai Cập. Triều đại Ptolemy gốc Hy Lạp này đã cai trị Ai Cập cho đến năm 30 TCN khi nó rơi vào tay đế quốc La Mã và trở thành một tỉnh La Mã.Sự thành công của nền văn minh Ai Cập cổ đại một phần đến từ khả năng thích ứng của nó với các điều kiện của thung lũng sông Nile cho sản xuất nông nghiệp. Từ việc có thể dự đoán trước lũ lụt và việc điều tiết thủy lợi ở khu vực thung lũng màu mỡ đã tạo ra nhiều nông sản dư thừa, giúp nuôi dưỡng một lượng dân số đông hơn, tạo điều kiện phát triển xã hội và văn hóa. Với việc có nhiều nguồn lực dư thừa, nhà nước đã tập trung vào việc khai thác khoáng sản ở các thung lũng và các khu vực sa mạc xung quanh, cũng như việc sớm phát triển một hệ thống chữ viết độc lập, tổ chức xây dựng tập thể và các dự án nông nghiệp, thương mại với khu vực xung quanh, và xây dựng một đội quân nhằm mục đích đánh bại kẻ thù nước ngoài và khẳng định sự thống trị của Ai Cập. Thúc đẩy và tổ chức những hoạt động này là một bộ máy quan lại gồm các ký lục ưu tú, những nhà lãnh đạo tôn giáo, và các quan lại dưới sự kiểm soát của một pharaon, người đảm bảo sự hợp tác và đoàn kết của toàn thể người dân Ai Cập dưới một hệ thống tín điều tôn giáo tinh vi.Những thành tựu của người Ai Cập cổ đại bao gồm khai thác đá, khảo sát và kỹ thuật xây dựng hỗ trợ cho việc xây dựng các công trình kim tự tháp, đền thờ, và cột tháp tưởng niệm; một hệ thống toán học, một hệ thống thực hành y học hiệu quả, hệ thống thủy lợi và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, những tàu thủy đầu tiên được biết đến trên thế giới, công nghệ gốm sứ và thủy tinh của Ai Cập, những thể loại văn học mới, và các hiệp ước hòa bình được biết đến sớm nhất, được ký kết với người Hittite. Ai Cập đã để lại một di sản lâu dài. Nghệ thuật và kiến ​​trúc của nó đã được sao chép rộng rãi, và các cổ vật của nó còn được đưa tới khắp mọi nơi trên thế giới. Những tàn tích hùng vĩ của nó đã truyền cảm hứng cho trí tưởng tượng của du khách và nhà văn trong nhiều thế kỷ. Sự quan tâm mới hình thành dành cho những cổ vật và các cuộc khai quật trong thời kỳ cận đại ở châu Âu và Ai Cập dẫn đến việc khai sinh ra ngành Ai Cập học để nghiên cứu nền văn minh Ai Cập và một sự đánh giá đúng đắn hơn đối với di sản văn hóa của nó.

Asyut

Asyut (tiếng Ả Rập: أسيوط‎ Asyūṭ phát âm [ʔɑsˈjuːtˤ]) là thành phố ở miền trung Ai Cập, thủ phủ của tỉnh Asyut, bên bờ sông Nin. Thành phố này có khoảng 400.000 dân. Asyūţ nằm ở điểm cuối phía nam của con đường vượt sa mạc Libya cũ. Đoạn hạ lưu của sông bên dưới Asyūţ là một con đập ngăn sông Nin, còn tại phía cuối phía tây là nơi khởi đầu của kênh đào Al Ibrāhīmīyah dài gần 322 km cung cấp nước cho Trung Ai Cập và vùng Al Fayyūm. Trong các ngọn đồi đá vôi sau thành phố này là các mộ đá Ai Cập cổ. Asyūţ nổi tiếng là nơi sản xuất đồ gốm sứ đỏ và đen cũng như sản phẩm gỗ chạm khắc và ngà voi. Các khu vực xung quanh thành phố này sản xuất mía đường, ngũ cốc. Thành phố này có Đại học Asyut (thành lập năm 1957) và nhiều trường tôn giáo khác.

Hakor

Hakor hay Hagar, còn được biết đến trong tiếng Hy Lạp là Achoris hoặc Hakoris, là một pharaon thuộc vương triều thứ 29 của Ai Cập cổ đại. Triều đại của ông là giai đoạn đỉnh cao của vương triều yếu ớt và ngắn ngủi này, ông đã cai trị trong 13 năm- nhiều hơn một nửa thời gian tồn tại của triều đại này.

Intef II

Wahankh Intef II (cũng là Inyotef II và Antef II) là vị vua thứ 3 thuộc Vương triều thứ Mười Một của Ai Cập trong thời kỳ Chuyển tiếp thứ Nhất. Ông đã trị vì trong gần 50 năm từ năm 2112 TCN tới năm 2063 TCN. Kinh đô của ông nằm tại Thebes. Trong thời kỳ trị vì của ông, Ai Cập đã bị chia cắt giữa một vài triều đại địa phương. Ông đã được mai táng trong một ngôi mộ saff tại El-Tarif.

Kamose

Kamose là vị pharaon cuối cùng của Vương triều thứ 17 của Ai Cập cổ đại thuộc thành Thebes (Ai Cập) vào thời kì chiến tranh với người Hyksos, lúc đó là Vương triều thứ 15 ở vùng Hạ Ai Cập.

Kamose có thể là con của pharaoh Seqenenre Tao và nữ hoàng Ahhotep I. Nếu như vậy thì ông là anh em ruột với pharaoh Ahmose I. Vợ ông được cho là hoàng hậu Ahhotep II và con gái của 2 người là Ahmose-Sitkamose. Sitkamose lấy Ahmose I, người được xem là chú/bác ruột hay anh em họ của công chúa. Bà cũng nhận danh hiệu "Người vợ hoàng gia vĩ đại", sau Chính thất hoàng hậu Ahmose-Nefertari.

Ông lên ngôi (trị vì: khoảng 1554-1549 TCN) sau khi vua cha ngã xuống trong trận chiến với người Hyksos. Cũng như vua cha, Kamose chiến thắng nhiều trận nhưng bị quân Hyksos giết tại trận. Sau khi ông mất, em trai ông, Ahmose I, đã giành được độc lập cho Ai Cập thoát khỏi tay người Hyksos.

Khui

Khui là một vị pharaon của Ai Cập cổ đại trong giai đoạn đầu thời kỳ Chuyển tiếp thứ nhất. Jürgen von Beckerath quy cho ông thuộc về vương triều thứ Tám.

Merkawre Sobekhotep

Merkawre Sobekhotep (còn được biết đến là Sobekhotep VII) là vị pharaon thứ 37 của vương triều thứ 13 trong thời kỳ Chuyển tiếp thứ Hai. Ông có lẽ đã cai trị toàn bộ miền Trung Ai Cập và có thể là cả Thượng Ai Cập vào giai đoạn giữa thế kỷ thứ XVII TCN từ năm 1664 TCN cho đến năm 1663 TCN. Ngoài ra, nhà Ai Cập học người Đức Thomas Schneider xác định niên đại cho triều đại của vị vua cai trị ngắn ngủi này là từ năm 1646 TCN cho tới năm 1644 TCN

Nebmaatre

Nebmaatre tên prenomen của một vị vua được chứng thực nghèo nàn thuộc thời kỳ Chuyển tiếp thứ Hai của Ai Cập cổ đại. Nebmaatre có thể là một thành viên thuộc giai đoạn đầu của vương triều thứ 17 và như vậy sẽ cai trị vùng đất Thebes. Mặt khác, Jürgen von Beckerath tin rằng Nebmaatre là một vị vua thuộc giai đoạn cuối của vương triều thứ 16.

Ngày 6 tháng 10 (tỉnh)

Tỉnh Ngày 6 tháng 10 (tiếng Ả Rập: ‏محافظة السادس من أكتوبر‎ Muḥāfaẓat as Sādis min Uktūbar) là một tỉnh của Ai Cập. Tỉnh nằm ở Trung Ai Cập, phía tây Thung lũng sông Nin.

Osorkon IV

Usermaatre Osorkon IV là pharaon cuối cùng của Vương triều thứ 22 trong lịch sử Ai Cập cổ đại. Thời gian trị vì của ông gắn liền với những biến động đầy hỗn loạn, khi vua Piye của vương quốc Kush và đế quốc Tân Assyria tranh nhau xâu xé Ai Cập. Niên đại của Osorkon IV kéo dài khoảng 15 năm.

Pantjeny

Sekhemrekhutawy Pantjeny là một pharaon Ai Cập trong thời kỳ Chuyển tiếp thứ Hai. Theo các nhà Ai Cập học Kim Ryholt và Darrell Baker, ông là một vị vua thuộc về vương triều Abydos, mặc dù vậy họ vẫn chưa xác định rõ vị trí của ông trong triều đại này. Ngoài ra, Pantjeny có thể là một vị vua thuộc về giai đoạn cuối của vương triều thứ 16.

Theo Jürgen von Beckerath, Pantjeny sẽ được đồng nhất với Sekhemrekhutawy Khabaw, người được ông ta coi là vị vua thứ ba của vương triều thứ 13.

Sewahenre Senebmiu

Sewahenre Senebmiu (còn là Sonbmiu) là một vị pharaoh Ai Cập được chứng thực nghèo nàn thuộc vương triều thứ 13 trong Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Hai. Theo nhà Ai Cập học Jürgen von Beckerath, ông là vị vua thứ 41 của vương triều thứ 13. Mặt khác, Darrell Baker đề xuất rằng ông là vị vua thứ 57 của nó. Kim Ryholt chỉ xác định rằng triều đại ngắn ngủi của Senebmiu nằm trong giai đoạn giữa năm 1660 TCN 1649 TCN.

Snaaib

Menkhaure Snaaiblà một pharaon Ai Cập trong thời kỳ Chuyển tiếp thứ Hai. Theo các nhà Ai Cập học Kim Ryholt và Darrell Baker, ông là vua của vương triều Abydos, mặc dù vậy họ lại không xác định vị trí của ông trong vương triều này. Mặt khác, Jürgen von Beckerath coi Snaaib là một vị vua cai trị vào giai đoạn gần cuối của vương triều thứ 13.

Sobekhotep IV

Khaneferre Sobekhotep IV là một trong số những vị vua Ai Cập hùng mạnh thuộc vương triều thứ 13 (khoảng từ 1803 TCN tới khoảng năm 1649 TCN), ông đã trị vì ít nhất tám năm. Những người anh của ông, Neferhotep I và Sihathor là các tiên vương của ông và người sau chỉ cai trị như là nhiếp chính trong vài tháng.

Sobekhotep tuyên bố trên một tấm bia đá tìm thấy tại ngôi đền Amun ở Karnak rằng ông được sinh ra ở Thebes. Nhà vua được tin là đã cai trị trong khoảng 10 năm. Ông được biết đến nhờ vào một số lượng tương đối lớn các công trình kỷ niệm, bao gồm các tấm bia đá, các bức tượng, nhiều con dấu và các đồ vật nhỏ khác. Ngoài ra còn có các chứng thực cho những công trình xây dựng tại Abydos và Karnak.

Thượng Ai Cập

Thượng Ai Cập (tiếng Ả Rập: صعيد مصر‎ Sa'id Misr) là dải đất liền, trên cả hai mặt của thung lũng sông Nile, kéo dài từ Nubia, và ở phía hạ lưu (phía bắc) Hạ Ai Cập.

Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Hai của Ai Cập

Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Hai của Ai Cập là một thời đại của lịch sử Ai Cập, đánh dấu một khoảng thời gian khi Vương quốc Ai Cập bị rơi vào tình trạng hỗn loạn và dẫn đến sự kết thúc của Trung Vương quốc Ai Cập. Sau Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Hai là sự bắt đầu của thời kỳ mới, Tân Vương quốc.

Giai đoạn này được biết đến như là lúc mà người Hyksos xuất hiện ở Ai Cập và họ đã cai trị Vương triều thứ Mười lăm.

Vương triều Abydos

Vương triều Abydos (ký hiệu: Triều Abydos) là một vương triều ngắn ngủi đã cai trị ở một phần địa phương của Thượng Ai cập, thuộc Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Hai của Ai Cập cổ đại. Vương triều Abydos tồn tại đương thời với Vương triều thứ Mười lăm và Mười sáu. Nó bắt đầu từ khoảng năm 1650 đến 1600 trước Công nguyên.

Vương triều Ayyub

Vương triều Ayyub (tiếng Ả Rập: الأيوبيون‎ al-‘Ayyūbiyyūn) là một vương triều Hồi giáo của người Kurd do Ṣalāḥ al-Dīn Yūsuf ibn Ayyūb sáng lập ở miền Trung Ai Cập. Vương triều này từng thống trị vùng Trung Đông hồi thế kỷ 12 và 13. Sau khi vị Hồi vương sáng lập qua đời, các con của ông đã xung đột với nhau để tranh giành ngôi báu. Điều này mở đầu thời kỳ suy thoái của triều Ayyub. Đến giữa thế kỷ 13, nhiều vùng đất vốn dưới sự thống trị của Ayyub đã giành được độc lập. Các chiến binh Mamluk từng phục vụ vương triều Ayyub về sau lại dần nắm hết quyền lực và loại bỏ gia tộc Ayyub. Trong thời kỳ cai trị ngắn ngủi, vương triều Ayyub đã làm cho lãnh thổ của mình thịnh vượng và có nhiều tiến bộ về tri thức. Vương triều Ayyub góp phần đáng kể thúc đẩy sự phát triển của dòng Hồi giáo Sunni thông qua việc lập rất nhiều trường madrasa.

Wepwawetemsaf

Sekhemraneferkhau Wepwawetemsaf là một pharaon Ai Cập trong thời kỳ Chuyển tiếp thứ Hai. Theo các nhà Ai Cập học Kim Ryholt và Darrell Baker, ông là một vị vua thuộc vương triều Abydos, mặc dù vậy vị trí của ông nằm trong vương triều này vẫn chưa được xác định. Mặt khác, nhà Ai Cập học Jürgen von Beckerath coi Wepwawetemsaf như là một vị vua thuộc giai đoạn cuối vương triều thứ 13, trong khi Marcel Marée đề xuất rằng ông là một vị vua thuộc giai đoạn cuối của vương triều 16.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.