Trà Vinh

Trà Vinh là một tỉnh ven biển ở đồng bằng sông Cửu Long, miền Nam Việt Nam.

Trước đây vùng đất Trà Vinh còn được gọi là xứ Trà Vang. Tên Trà Vang vốn có nguồn gốc từ ngôn ngữ Môn-Khmer cổ mà dân gian thường gọi là Trah Păng. Tên gọi ấy phản ánh đặc điểm cảnh quan thuở xa xưa của một vùng đất mới được bồi đắp ở ven sông, ven biển, có nhiều vùng trũng, đầm lầy,... Vì vậy, Trà Vinh là tỉnh còn tương đối non trẻ.

Tỉnh lỵ là thành phố Trà Vinh, nằm trên Quốc lộ 53, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 130 km và cách thành phố Cần Thơ 100 km. Thành phố Trà Vinh có quyết định thành lập đặc khu trên cơ sở toàn bộ tỉnh Trà Vinh và thị xã Trà Vinh từ tháng 3 năm 2010.

Trà Vinh

Tỉnh
Logo Tra Vinh
Biểu trưng
Ao Bà Om
Ao Bà Om ở thành phố Trà Vinh
Hành chính
VùngĐồng bằng sông Cửu Long
Trụ sở UBNDSố 242 Lê Lợi, phường 1, thành phố Trà Vinh
Phân chia hành chính1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện
Thành lập2010
Đại biểu quốc hội6
Chính quyền
Chủ tịch UBNDĐồng Văn Lâm
Chủ tịch HĐNDTrần Trí Dũng
Chánh án TANDLê Văn Việt
Viện trưởng VKSNDPhan Hoàng Hải
Bí thư Tỉnh ủyTrần Trí Dũng
Địa lý
Tọa độ: 9°48′50″B 106°17′56″Đ / 9,813946°B 106,298904°ĐTọa độ: 9°48′50″B 106°17′56″Đ / 9,813946°B 106,298904°Đ
Diện tích2.358,2 km²[1]
Dân số (1/4/2019)
Tổng cộng1.009.168 người[1]
Thành thị173.689 người (17,2%)
Nông thôn835.479 người (82,8%)
Mật độ443 người/km²
Dân tộcViệt, Hoa, Khmer
Khác
Mã hành chínhVN-51
Mã bưu chính94xxxx
Mã điện thoại294
Biển số xe84
Websitehttp://www.travinh.gov.vn/

Địa lý

Vị trí địa lý

Trà Vinh là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long; vị trí địa lý giới hạn từ 9°31'46" đến 10°4'5" vĩ độ Bắc và từ 105°57'16" đến 106°36'04" kinh độ Đông. Trà Vinh cách thành phố Hồ Chí Minh 200 km đi bằng quốc lộ 53 qua tỉnh Vĩnh Long, khoảng cách rút ngắn thời gian chỉ còn 130 km nếu đi bằng quốc lộ 60 qua tỉnh Bến Tre, cách thành phố Cần Thơ 95 km. Được bao bọc bởi sông Tiền, sông Hậu với 02 cửa Cung HầuĐịnh An nên giao thông đường thủy có điều kiện phát triển[2].

Trà Vinh là tỉnh duyên hải Đồng bằng sông Cửu Long, phía Đông giáp Biển Đông, phía Tây giáp Vĩnh Long, phía Nam giáp Sóc Trăng, phía Bắc giáp tỉnh Bến Tre, có 65 km bờ biển[2].

Địa hình

Trà Vinh nằm ở phần cuối cù lao kẹp giữa sông Tiềnsông Hậu. Địa hình chủ yếu là những khu đất bằng phẳng với độ cao trên dưới 1m so với mặt biển. ở vùng đồng bằng ven biển nên có các giồng cát, chạy liên tục theo bình vòng cung và song song với bờ biển. Càng về phía biển, các giồng này càng cao và rộng lớn.

Do sự chia cắt bởi các giồng và hệ thống trục lộ, kinh rạch chằng chịt, địa hình toàn vùng khá phức tạp. Các vùng trũng xen kẹp với các giồng cao, xu thế độ dốc chỉ thể hiện trên từng cánh đồng. Riêng phần phía nam tỉnh là vùng đất thấp, bị các giống cát hình cánh cung chia cắt thành nhiều vùng trũng cục bộ, nhiều nơi chỉ ở độ cao 0,5-0,8 m nên hàng năm thường bị ngập mặn 0,4-0,8 m trong thời gian 3-5 tháng.

Sông ngòi

Kênh Trà Vinh
Kênh trong thành phố Trà Vinh

Trên địa bàn Trà Vinh có hệ thống sông chính với tổng chiều dài 578 km, trong đó có các sông lớn là sông Hậusông Cổ Chiên. Các sông ngòi, kênh rạch trên địa bàn Trà Vinh hợp lưu đổ ra biển chủ yếu qua hai cửa sông chính là cửa Cổ Chiên hay còn gọi là cửa Cung Hầu và cửa Định An.

Khí hậu

Nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Trà Vinh cũng có những thuận lợi chung như: có điều kiện ánh sáng bức xạ dồi dào, nhiệt độ cao và ổn định, Tuy nhiên, do đặc thù của vùng khí hậu ven biển tỉnh Trà Vinh có một số hạn chế về mặt khí tượng như gió chướng mạnh, bốc hơi cao, mưa ít. Trà Vinh nằm trong vùng nhiệt đới có khí hậu ôn hòa, nhiệt độ trung bình từ 26 - 27OC, độ ẩm trung bình 80 - 85%/năm, ít bị ảnh hưởng bởi bão, lũ. mùa mưa từ tháng 5 - tháng 11, mùa khô từ tháng 12 - tháng 4 năm sau, lượng mưa trung bình từ 1.400 - 1.600 mm có điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư sản xuất, kinh doanhdu lịch[2].

Hàng năm Hạn hán thường xảy ra gây khó khăn cho sản xuất với số ngày không mưa liên tục từ 10 đến 18 ngày, trong đó các huyện như Cầu Kè, Càng Long, Trà Cú là các huyện ít bị hạn. Huyện Tiểu Cần hạn đầu vụ khoảng tháng 6 và tháng 7 là quan trọng trong khi các huyện còn lại như Châu Thành, Cầu Ngang, Duyên Hải hạn giữa vụ nhưng tháng 7 và 8 thường nghiêm trọng hơn.

Trà Vinh cũng gặp một khó khăn hiện nay đó chính là bị ngập mặn vào một số mùa khô trong năm.

Lịch sử

Bảo tàng Khmer ở Trà Vinh
Bảo tàng văn hóa dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh

Thời nhà Nguyễn độc lập

Thời nhà Nguyễn, Trà Vinh là tên 1 huyện (trước đó là phủ) thuộc phủ Lạc Hóa, tỉnh Vĩnh Long được lập ra năm 1832.

Vùng đất và tên gọi "Trà Vang"[3], tiền thân của tỉnh Trà Vinh sau này đã có từ trước khi Chúa Nguyễn lập Châu Định Viễn, dựng Dinh Long Hồ vào năm 1732. Như vậy, lúc bấy giờ đất Trà Vinh thuộc Châu Định Viễn.

Năm 1802, sau khi lên ngôi, vua Gia Long bắt tay ngay vào việc sắp xếp và phân định lại ranh giới các đơn vị hành chính trên toàn quốc. Từ đó, Gia Định phủ được đổi thành Gia Định Trấn. Lãnh thổ Gia Định Trấn được phân chia thành 4 dinh và 1 trấn phụ, vùng đất Trà Vinh lúc này thuộc Dinh Vĩnh Trấn.

Năm 1803, vua Gia Long cho lập địa đồ các dinh thuộc Gia Định Trấn và đổi Dinh Vĩnh Trấn thành Dinh Hoằng Trấn. Vùng đất Trà Vinh lúc này thuộc Dinh Hoằng Trấn.

Năm 1808, Gia Long đổi Gia Định Trấn thành Gia Định Thành, Dinh Vĩnh Trấn được đổi thành Trấn Vĩnh Thanh. Lúc bấy giờ, vùng đất Trà Vinh thuộc Trấn Vĩnh Thanh.

Năm 1825, vùng đất Trà Vinh được Vua Minh Mạng lập thành Phủ Lạc Hóa trực thuộc Gia Định Thành gồm hai huyện Trà Vinh và Tuân Mỹ.

Đến năm 1832, Trấn Vĩnh Thanh được đổi tên là Trấn Vĩnh Long. Sau đó, Vua Minh Mạng cho đổi các trấn thành tỉnh. Vùng đất Nam Bộ được chia thành sáu tỉnh, gọi là "Nam Kỳ lục tỉnh" gồm: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Lúc này, Trà Vinh là một huyện thuộc Phủ Lạc Hóa tỉnh Vĩnh Long.

Thời Pháp thuộc

Năm 1876, Thống đốc Nam Kỳ ra nghị định phân chia toàn bộ Nam Kỳ thành 4 khu vực hành chính lớn. Trên cơ sở phân chia đó, khu vực hành chính lớn Vĩnh Long gồm 4 tiểu khu: Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, Sa Đéc. Tiểu khu Trà Vinh là tiền thân của tỉnh Trà Vinh sau này.

Trà Vinh được thành lập theo Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của Toàn quyền Đông Dương trên cơ sở đổi tên gọi tiểu khu hay hạt tham biện (arrondissement) thành tỉnh (province) kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1900. Tỉnh Trà Vinh là một trong 20 tỉnh ở Nam Kỳ lúc bấy giờ.

Năm 1917, tỉnh Trà Vinh có năm quận là Châu Thành, Bắc Trang, Bàng Đa, Càn Long (ban đầu chữ Càn Long được viết như vậy) và Ô Lắc.

Tháng 8 năm 1928, Thống đốc Nam kỳ ra Nghị định phân chia lại địa giới hành chính. Theo đó, tỉnh Trà Vinh bãi bỏ quận Bàng Đa (nhập vào quận Châu Thành) - lỵ sở đặt tại làng Minh Đức, đổi thành Long Đức); đổi tên quận Ô Lắc thành quận Cầu Ngan (ban đầu chữ Cầu Ngan viết như vậy) - lỵ sở dời từ Ô Lắc về làng Minh Thuận; lập quận Tiểu Cần, lỵ sở đặt tại làng Tiểu Cần; dời lỵ sở quận Bắc Trang từ Bắc Trang về Thanh Xuyên; lỵ sở của quận Càng Long đặt tại An Trường (phần đất này nay thuộc thị trấn Càng Long).

Tháng 11 năm 1940, Thống đốc Nam kỳ lại có Nghị định đổi tên quận Bắc Trang thành quận Trà Cú.

Ngày 27 tháng 6 năm 1951, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ thuộc chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định nhập 2 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh thành một tỉnh có tên là tỉnh Vĩnh Trà. Huyện Tiểu Cần được nhập vào huyện Càng Long. Tuy nhiên, tên gọi tỉnh Vĩnh Trà không được chính quyền Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại và chính quyền Việt Nam Cộng hòa công nhận. Tỉnh Vĩnh Trà tồn tại đến năm 1954, sau đó lại trả về tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh như cũ.

Thời Việt Nam Cộng hòa

Sau năm 1954, theo phân cấp hành chính của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, tỉnh Trà Vinh vẫn gồm 5 huyện là: Càng Long, Châu Thành, Cầu Ngang, Tiểu CầnTrà Cú. Trong khi đó, theo sự phân chia hành chính của chính quyền kháng chiến ngoài 5 huyện này, tỉnh Trà Vinh lại có thêm thị xã Trà Vinh.

Ngày 9 tháng 2 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ban hành Sắc lệnh 16-NV thành lập tỉnh Tam Cần trên cơ sở các quận Vũng Liêm, Trà Ôn, Cầu Kè của tỉnh Vĩnh Long (Trà Ôn, Cầu Kè được tách ra từ tỉnh Cần Thơ và nhập về tỉnh Vĩnh Long từ năm 1948) và quận Tiểu Cần của tỉnh Trà Vinh.

Ngày 21 tháng 7 năm 1956, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa thành lập quận Long Toàn thuộc tỉnh Trà Vinh, quận lỵ đặt tại xã Long Toàn.

Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ra Sắc lệnh 143-NV về việc giải thể và sáp nhập tỉnh Tam Cần vào tỉnh Trà Vinh, đồng thời đổi tên tỉnh Trà Vinh thành tỉnh Vĩnh Bình; đổi tên xã Long Đức thành xã Phú Vinh và chọn làm lỵ sở của quận Châu Thành, tỉnh Vĩnh Bình. Theo đó, Vĩnh Bình là một trong 43 tỉnh của "lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa" và là một trong 22 tỉnh của Nam phần Việt Nam Cộng hòa. Lúc này, tỉnh lỵ tỉnh Vĩnh Bình cũng bị đổi tên tên là "Phú Vinh", do lấy theo tên xã Phú Vinh thuộc quận Châu Thành là nơi đặt tỉnh lỵ.

Năm 1957, tỉnh Vĩnh Bình (Trà Vinh) có 9 quận là Trà Ôn, Vũng Liêm, Càng Long, Cầu Kè, Châu Thành, Tiểu Cần, Trà Cú, Cầu Ngang và Long Toàn. Đến ngày 14 tháng 1 năm 1967 theo sắc lệnh số 06/SL/ĐUHC chính quyền Đệ Nhị Cộng hoà, tách hai quận Vũng LiêmTrà Ôn ra khỏi tỉnh Vĩnh Bình để nhập vào tỉnh Vĩnh Long, do đó tỉnh Vĩnh Bình cho đến năm 1975 chỉ còn lại bảy quận: Càng Long, Cầu Kè, Châu Thành, Tiểu Cần, Trà Cú, Cầu NgangLong Toàn. Đồng thời, tỉnh lỵ tỉnh Vĩnh Bình vẫn giữ nguyên tên là "Phú Vinh" cho đến năm 1975.

Tuy nhiên, chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cùng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không công nhận tên gọi tỉnh Vĩnh Bình mà vẫn gọi theo tên cũ là tỉnh Trà Vinh.

Tháng 4 năm 1957, xuất phát từ yêu cầu củng cố lực lượng cho cuộc kháng chiến lâu dài, Tỉnh ủy Trà Vinh quyết định sáp nhập huyện Tiểu Cần vào huyện Cầu Kè. Tháng 2 năm 1961, Tỉnh ủy Trà Vinh quyết định tách xã Long Đức (chính quyền Việt Nam Cộng Hòa gọi là xã Phú Vinh) ra khỏi huyện Châu Thành để nhập vào thị xã Trà Vinh. Tháng 2 năm 1962, Tỉnh ủy Trà Vinh quyết định thành lập huyện Duyên Hải có địa giới trùng với quận Long Toàn của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Năm 1967, Liên Tỉnh ủy Miền Tây cũng quyết định tách hai huyện Vũng LiêmTrà Ôn từ tỉnh Trà Vinh để nhập về tỉnh Vĩnh Long. Từ giai đoạn này, tỉnh Trà Vinh cơ bản có địa giới hành chính trùng với hiện nay, bao gồm 8 đơn vị hành chính cấp huyện là thị xã Trà Vinh và 7 huyện: Cầu Kè, Càng Long, Châu Thành, Tiểu Cần, Trà Cú, Cầu Ngang và Duyên Hải.

Thời Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam vẫn duy trì tỉnh Trà Vinh cho đến đầu năm 1976.

Tháng 2 năm 1976, Chính phủ Việt Nam quyết định hợp nhất tỉnh Trà Vinh và tỉnh Vĩnh Long để thành lập một tỉnh mới có tên là tỉnh Cửu Long, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Vĩnh Long. Năm 1986, sau nhiều lần sáp nhập và chia tách, tỉnh Cửu Long bao gồm thị xã Vĩnh Long (tỉnh lỵ tỉnh Cửu Long), thị xã Trà Vinh và 12 huyện: Bình Minh, Cầu Kè, Cầu Ngang, Càng Long, Châu Thành, Duyên Hải, Long Hồ, Tam Bình, Tiểu Cần, Trà Cú, Trà Ôn, Vũng Liêm.

Ngày 26 tháng 12 năm 1991, kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa VIII ra nghị quyết giải thể tỉnh Cửu Long để tái lập tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh như cũ. Khi tách ra, tỉnh Trà Vinh có diện tích 2363,03 km², dân số 961.638 người, bao gồm thị xã Trà Vinh và 7 huyện: Càng Long, Cầu Kè, Cầu Ngang, Châu Thành, Duyên Hải, Tiểu Cần, Trà Cú..

Ngày 4 tháng 3 năm 2010, chuyển thị xã Trà Vinh thành thành phố Trà Vinh trực thuộc tỉnh Trà Vinh[4].

Ngày 15 tháng 5 năm 2015, thành lập thị xã Duyên Hải trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và dân số của huyện Duyên Hải[5].

Ngày 15 tháng 2 năm 2016, thành phố Trà Vinh được công nhận là đô thị loại II[6].

Tỉnh Trà Vinh có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm thành phố Trà Vinh, thị xã Duyên Hải và các huyện: Càng Long, Cầu Kè, Cầu Ngang, Châu Thành, Duyên Hải, Tiểu Cần, Trà Cú.

Dân cư

Trên địa bàn Trà Vinh có 3 dân tộc, đó là người Kinh (69%) và người Khmer (29%) và người Hoa chiếm phần còn lại[7].

Dân số Trà Vinh là 1.009.168 người, chiếm 5,84% Đồng bằng sông Cửu Long (theo điều tra dân số năm 2019), trong đó 17,2% dân số sống ở khu vực đô thị và 82,8% dân số sống ở khu vực nông thôn. Mật độ dân số 414 người/km², tỷ lệ tăng dân số năm 2019 là 0,06.

Theo tài liệu tổng điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 1999, trên địa bàn Trà Vinh có trên 290,9 nghìn người Khmer, chiếm 30,1% dân số toàn tỉnh và chiếm 27,6% số người Khmer của cả nước[8].

Đây là địa bàn cư trú lâu đời của cộng đồng dân tộc người Khmer có nền văn hóa dân tộc đặc trưng tiếng nói, chữ viết, món ăn và đặc biệt là hệ thống chùa rất đặc thù[7].

*Ngôn ngữ phổ biến ở Trà Vinh là tiếng Việt, mặc dù có các dân tộc khác nhưng tiếng nói chung vẫn là tiếng Việt.

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh có 12 tôn giáo khác nhau đạt 569.999 người, nhiều nhất là Phật giáo có 498.930 người, tiếp theo là Công giáo đạt 54.370 người, đạo Cao Đài có 15.366 người, đạo Tin Lành có 634 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 318 người, Hồi giáo chiếm 195 người, Phật giáo Hòa Hảo đạt 142 người. Còn lại các tôn giáo khác như Bửu Sơn Kỳ Hương có 19 người, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có 16 người, Minh Sư Đạo có bảy người Minh Lý ĐạoBaha'i giáo mỗi đạo chỉ có một người.[9]

Giáo dục

Hiện tại toàn tỉnh Trà Vinh có tổng cộng 402 trường học các cấp phổ thông. Trong đó có 184 trường Tiểu học, 143 trường THCS, 75 trường THPT, ngoài ra còn có 223 trường mẫu giáo, 1 trường liên cấp. Với hệ thống trường học như thế thì nền giáo dục trên địa bàn tỉnh Trà Vinh cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần làm giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bản tỉnh. Dưới đây là danh sách các trường Đại học, Cao đẳng và một số trường nổi tiếng tại Trà Vinh:

  • Trường Tiểu học Lê Văn Tám
  • Trường Trung học Cơ sở Lý Tự Trọng
  • Trường Thực hành Sư phạm Trà Vinh (287, Đường Phạm Ngũ Lão, Phường 1, TP. Trà Vinh, Trà Vinh)
  • Trường Trung học Phổ thông Phạm Thái Bường
  • Trường THPT chuyên Nguyễn Thiện Thành
  • Trường Đại học Trà Vinh
  • Trường Cao đẳng Sư phạm Trà Vinh (Lê Lợi, phường 1, tp. Trà Vinh, Trà Vinh)
  • Trường Cao đẳng Y tế Trà Vinh (07 Nguyễn Thiện Thành, phường 5, tp. Trà Vinh, Trà Vinh)
  • Trường Cao đẳng Nghề Trà Vinh ( Long Đức, Trà Vinh, Trà Vinh)

Hành chính

Tỉnh Trà Vinh có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện; chia làm 85 xã, 11 phường và 10 thị trấn.

Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Trà Vinh
Tên Dân số (người)2019 Hành chính
Thành phố (1)
1. Trà Vinh 160.310 9 phường, 1 xã
Thị xã (1)
2. Duyên Hải 56.241 2 phường, 5 xã
Huyện (7)
3. Càng Long 287.955 1 thị trấn, 13 xã
Tên Dân số (người)2015 Hành chính
4. Cầu Kè 125.969 1 thị trấn, 10 xã
5. Cầu Ngang 132.514 2 thị trấn, 13 xã
6. Châu Thành 148.000 1 thị trấn, 13 xã
7. Duyên Hải 94.925 1 thị trấn, 6 xã
8. Tiểu Cần 59.034 2 thị trấn, 9 xã
9. Trà Cú 167.637 2 thị trấn, 15 xã

Kinh tế

Chợ Trà Vinh
Chợ Trà Vinh tại thành phố Trà Vinh

Năm 2012, tỉnh đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 13,5% trở lên. Trong đó, giá trị nông nghiệp tăng 2%, lâm nghiệp tăng 5,7%, thủy sản tăng 9%, công nghiệp tăng 15%, xây dựng tăng 27,3% và dịch vụ tăng 20%[10].

Thu nhập bình quân đầu người đạt 19,325 triệu đồng, tương đương 920 USD. Giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 200 triệu USD, tăng 15,4% so với năm 2011. Thu ngân sách 827 tỷ đồng, tăng 27,2% so năm 2011. Tổng chi ngân sách 4.169 tỷ đồng. Huy động vốn đầu tư toàn xã hội 8.700 tỷ đồng[10].

Ngoài ra, tỉnh đặt mục tiêu một số chỉ tiêu xã hội như tạo việc làm mới cho 22.000 lao động, trong đó có 200 lao động đi làm việc ở nước ngoài. Tỷ lệ lao động qua đào tạo, bồi dưỡng chiếm 35%. Phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo 3%, trong đồng bào dân tộc Khmer 4%[10]...

  • Biển Trà Vinh là một trong những ngư trường lớn của Việt Nam với trữ lượng 1,2 triệu tấn hải sản các loại, cho phép đánh bắt 63 vạn tấn/năm.

Tài nguyên thiên nhiên

Tỉnh Trà Vinh có khoảng 24.000 ha diện tích rừng và đất rừng, chủ yếu nằm dọc bờ biển tại các huyện Duyên Hải, Cầu NgangTrà Cú với các loại cây như bần, đước, mắm, dừa nước, chà là,… đất bãi bồi có diện tích 1.138 ha[2].

Diện tích đất 229.200 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 186.170 ha, đất lâm nghiệp chiếm 6.922 ha, đất chuyên dùng chỉ có 9.936 ha, còn lại là đất ở nông thôn chiếm 3.108 ha, đất ở thành thị chiếm 586 ha, đất chưa sử dụng chiếm 85 ha,...

Trà Vinh có 3 nhóm đất chính trong đó đất cát giồng chiếm 6,65%, đất phù sa chiếm 58,29% và đất phèn chiếm 24,44%. Diện tích nuôi trồng thủy sản chiếm 62.000 ha trong đó diện tích nuôi tôm sú 25.000 ha. Hiện nay sản lượng nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản của tỉnh có bước phát triển, nên nhu cầu về đầu tư nhà máy chế biến thủy hải sản xuất khẩu rất cần thiết.

  • Tổng sản lượng thủy, hải sản bình quân đạt 157.000 tấn/năm. Trong đó, sản lượng hải sản khai thác 54.000 tấn, nuôi trồng 90.000 tấn, khai thác nội đồng 12.000 tấn, Sản lượng tôm sú toàn tỉnh đạt trên 19.000 tấn/năm, tôm càng xanh, tôm thẻ chân trắng 3.000 tấn/năm.
  • Sản lượng đạt 52.000 tấn/ năm. Trong đó cá da trơn 30.000 tấn/năm. Sản lượng Cua đạt tổng 5.200 tấn/năm, sản lượng Nghêu đạt sản lượng 3.800 tấn/năm[2].

Khoáng sản chủ yếu của tỉnh Trà Vinh là những loại cát dùng trong công nghiệpxây dựng. Trong đó, trữ lượng cát sông đạt 151.574.000 m3. Đất Sét gạch ngói được Phân viện nghiên cứu địa chất công nhận là đạt yêu cầu dùng trong xây dựng, phục vụ cho công nghiệp chế biến vật liệu xây dựng. Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có Mỏ nước khoáng đạt tiêu chuẩn khoáng cấp quốc gia, nhiệt độ 38,5OC, khả năng khai thác cấp trữ lượng 211 đạt sản lượng 240 m3/ngày, cấp tài nguyên 333 đạt 19.119 m3/ngày phân bổ tại thị trấn Long Toàn, huyện Duyên Hải[2].

Văn hóa

Chùa Ông Mẹt
Chùa Kompong Ksan ở trung tâm thành phố Trà Vinh

Tuy là vùng đất trẻ nhưng Trà Vinh có kho tàng văn hoá đa dạng, đặc biệt là văn hoá vật thể và phi vật thể của người Khmer. Người Khmer có chữ viết riêng, các lễ hội truyền thống như Chol chnam thmay (mừng năm mới), Dolta (lễ cúng ông bà), Ok Om Bok (lễ cúng trăng), Dâng bông, Dâng phước và các phong tục tập quán có giá trị văn hoá khác của người Kinh, người Hoa như Lễ hội nghinh Ông tại Mỹ Long (lễ hội nghinh ông diễn ra vào ngày 10 đến 12 tháng 5 hằng năm), Vu lan thắng hội, Tiết Trùng Cửu,...

Người Khmer còn xây dựng trên địa bàn Trà Vinh nhiều chùa có kiến trúc độc đáo và hoà quyện thiên nhiên, tiêu biểu là chùa Âng, toạ lạc tên khu đất rộng 4 ha, trong thắng cảnh Ao Bà Om.Theo thống kê trên địa bàn Trà Vinh có tới 142 chùa Khmer, vượt xa số lượng của người Kinh, người Hoa và của các dân tộc khác hiện có trên địa bàn Trà Vinh cộng lại.

Chùa Hang ở Trà Vinh
Chùa Kompông Chrây (chùa Hang) ở huyện Châu Thành, Trà Vinh

Ngoài ra có chùa Hang, ở khu đất 10 ha với những cây cổ thụ xum xuê rộn tiếng chim gọi bầy; chùa Nôdol còn gọi là chùa Cò vì trên khuôn viên chùa rộng 3 ha đã hơn 100 năm nay trở thành nơi cư trú của hàng ngàn con cò và nhiều loại con chim quý khác; chùa Samrônge, tương truyền được xây dựng lần đầu vào năm 642 và xây dựng lại năm 1850 với nhiều biểu tượng bằng đá quý và những tấm bia cổ khắc chữ Khmer.

Lễ hội cúng ông (Phúc Đức Chính Thần, địa phương gọi là "ông Bổn", tiếng Hoa là Bửng Thào Côn) của người Hoa gốc Triều Châu vào rằm tháng 7 hàng năm tại huyện Cầu Kè.

Vài nơi tập trung khu xóm theo Thiên Chúa Giáo như Bãi San, Đức Mỹ... Nhà thờ tại thành phố Trà vinh có kiến trúc đẹp và cổ điển. Giáo xứ Nhị Long huyện Càng Long có Cha cố rất trẻ thụ phong Linh mục lúc 28 tuổi (Cha Sơn).

Giao thông

Giao thông đường bộ

Đường phố ở TX.Trà Vinh
Đường Lê Thánh Tôn một trong những đoạn đường có nhiều cây xanh nhất Trà Vinh

Toàn tỉnh có 03 quốc lộ chính là 53, 54 và 60 hiện nay đã được nâng cấp lên cấp 3 đồng bằng nối Trà Vinh với TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

Từ tỉnh lỵ Trà Vinh đi đường bộ đến thành phố Hồ Chí Minh 200 km, đến thành phố Cần Thơ 100 km, đến khu du lịch Biển Ba Động 60 km. Quốc lộ 53 nối liền các thị trấn trong tỉnh với Thành phố Trà Vinhthành phố Vĩnh Long. Đây là tuyến đường bộ duy nhất từ Trà Vinh với các tỉnh thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam[7].

Giao thông đường thủy

Trà Vinh có bờ biển dài trên 65 km, được bao bọc bởi sông Tiền, sông Hậu với 02 cửa Cổ Chiên và Cung Hầu rất thuận lợi để phát triển giao thông đường thủy. Từ Trà Vinh đi Bến Tre, Tiền Giang, TP. Hồ Chí Minh theo tuyến sông Tiền rất thuận lợi, từ biển Đông đi qua kênh đào Trà Vinh đến cảng Cần Thơ là tuyến vận tải đường thủy chính của cả khu vực đồng bằng sông Cửu Long để thông thương với quốc tế[7].

Đặc sản ẩm thực

Trà Vinh có một số đồ ăn thức uống đã trở thành các đặc sản địa phương như cốm dẹp trộn dừa kiểu Khmer; các món đuông như đuông chà là, đuông đất và đuông dừa; mắm rươi; rượu Xuân Thạnh, bánh tét Trà Cuôn, bánh tráng ba se, mắm kho, bún nước lèo, lươn um lá cách, cá cháy Cầu Quan, tôm càng nấu lẩu chua cơm mẻ, chuột đồng khìa nước dừa, vọp chong nướng lụi, bánh xèo, bánh ống, bánh canh Bến Có;Bánh tráng nướng Giáo Loan (Bánh tráng béo nước cốt dừa) tọa lạc Ấp Bến Có xã Nguyệt Hóa huyện Châu Thành (Giáp quán Hải Đăng);Tôm khô Vinh Kim, Dừa sáp Cầu Kè v.v...

Tỉnh kết nghĩa

Biển số xe cơ giới trong tỉnh

Biển kiểm soát xe môtô

Ảnh

Đường Phạm Ngũ Lão ở Trà Vinh

Đường Phạm Ngũ Lão ở trung tâm thành phố Trà Vinh.

Về chùa

Sư trở về chùa Hang sau khi đi khất thực.

Cổng chùa Watsamrongek, Trà Vinh

Cổng chùa Watsamrongek, Trà Vinh.

Quốc lộ 60, Trà Vinh đi Sóc Trăng

Quốc lộ 60, Trà Vinh đi Sóc Trăng.

Đò máy từ Trà Vinh đi Cù Lao Dung

Đò máy từ Trà Vinh đi Cù Lao Dung

Chú thích

  1. ^ a ă “Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 phân theo địa phương”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập 30 tháng 9 năm 2012.
  2. ^ a ă â b c d Điều kiện tự nhiên của Tỉnh Trà Vinh, Theo cổng thông tin điện tử Trà Vinh.
  3. ^ Trà Vang hoặc Trà Vinh xuất âm Khmer /Préah Trapéang/ nơi có nghĩa là tìm được tượng Phật bằng đá trong ao nước. Sự tích này không biết có từ bao giờ, năm đó, trong một trận nước lụt dân làng thấy một tượng Phật trôi tấp vào bờ ao, liền rước về một gò cao, cạnh đó xây chùa thờ phượng. Chùa được đặt tên Bodhisalareaj, nay gọi là chùa Ông Mẹt, tên vị sư cả đầu tiên. /Trapéang/ được Hán Việt hóa thành âm /Trà Văn/, sau bị nói trại thành Trà Vinh. Trong Monographie de la Province de Trà Vinh (1903) ở trang 6 và trang 34, có chép chuyện ao tên Préah Trapéang. Có một ông hoàng Chân Lạp chạy nạn, đến đây thuyền bị chìm, nhờ Phật độ nên thoát hiểm. Quốc vương lập chùa thờ Phật để tạ ơn, trong chùa có một cái ao to. Ao này nay vẫn còn ở xã Đôn Hóa (làng Lương Sa/ Luông Sa).
  4. ^ Nghị quyết 11/NQ-CP năm 2010 thành lập thành phố Trà Vinh thuộc tỉnh Trà Vinh
  5. ^ “Nghị quyết 934/NQ-UBTVQH13 điều chỉnh địa giới hành chính huyện Trà Cú, huyện Duyên Hải để thành lập thị xã Duyên Hải và 02 phường thuộc thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh”.
  6. ^ “Quyết định 241/QĐ-TTg công nhận thành phố Trà Vinh là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Trà Vinh”.
  7. ^ a ă â b Tiềm năng - triển vọng đầu tư của Tỉnh Trà Vinh, Theo Cổng thông tin điện tử Trà Vinh.
  8. ^ “Mã số đơn vị hành chính Việt Nam”. Bộ Thông tin & Truyền thông. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012.
  9. ^ Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng cục Thống kê Việt Nam.
  10. ^ a ă â Trà Vinh mục tiêu GDP 2012 tăng tối thiểu 13,5%, Theo Trung tâm Nghiên cứu và Phân tích dữ liệu tài chính Gafin.

Liên kết ngoài

Châu Thành, Trà Vinh

Châu Thành là một huyện nằm ở phía bắc tỉnh Trà Vinh, phía bắc là thành phố Trà Vinh và con sông Cổ Chiên. Huyện có diện tích 348 km2 và dân số là 148.000 người. Huyện lỵ là thị trấn Châu Thành nằm trên Quốc lộ 54 cách thành phố Trà Vinh 10 km về hướng nam.

Huyện thành lập ngày 29 tháng 9 năm 1981 trên cơ sở nhập 5 xã của huyện Cầu Ngang với 5 xã huyện Càng Long thuộc tỉnh Cửu Long; các xã này thuộc huyện Châu Thành Đông cũ. Từ ngày 26 tháng 12 năm 1991 huyện thuộc tỉnh Trà Vinh.

Càng Long

Càng Long là một huyện nằm ở phía bắc của tỉnh Trà Vinh.Trung tâm của huyện nằm ven Quốc lộ 53, nối liền hai tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long, cách thành phố Trà Vinh khoảng 21 km, cách Vĩnh Long 43 km. Càng Long được xem là cửa ngõ giao lưu kinh tế – văn hóa – xã hội của Trà Vinh với các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Cầu Kè

Cầu Kè là huyện thuộc tỉnh Trà Vinh, Việt Nam.

Cầu Ngang

Cầu Ngang là huyện nằm ở phía đông tỉnh Trà Vinh, phía đông là cửa Cung Hầu nơi con sông Cổ Chiên đổ ra, phía nam là huyện Duyên Hải và Trà Cú.

Duyên Hải (thị xã)

Duyên Hải là một thị xã nằm ở phía đông nam tỉnh Trà Vinh.

Gia Long

Gia Long (chữ Hán: 嘉隆 8 tháng 2 năm 1762 – 3 tháng 2 năm 1820), húy là Nguyễn Phúc Ánh (阮福暎), thường được gọi tắt là Nguyễn Ánh (阮暎), là vị vua sáng lập nhà Nguyễn, Triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì từ năm 1802 đến khi qua đời năm 1820, được truy tôn miếu hiệu là Nguyễn Thế Tổ (阮世祖), thụy hiệu Cao Hoàng Đế (世祖 高皇帝)

Nguyễn Ánh là cháu nội của chúa Nguyễn Phúc Khoát, vị chúa Nguyễn áp chót ở Đàng Trong. Sau khi gia tộc chúa Nguyễn bị quân Tây Sơn lật đổ vào năm 1777, ông trốn chạy và bắt đầu cuộc chiến 25 năm với Tây Sơn để khôi phục triều đại. Ban đầu Nguyễn Ánh chịu nhiều thất bại lớn, phải cầu viện quân Xiêm La và hứa cắt lãnh thổ đất nước cho Pháp để 2 nước này xuất quân sang đánh Tây Sơn, ông cũng từng hỗ trợ 50 vạn cân gạo cho quân Thanh khi đội quân này kéo sang nước Việt đánh nhà Tây Sơn. Nguyễn Ánh cùng với Lê Chiêu Thống là 2 ông vua duy nhất trong lịch sử Việt Nam đã dẫn đường cho quân đội ngoại quốc đánh vào lãnh thổ đất nước. Việc cầu viện ngoại xâm vì tham vọng cá nhân đã khiến ông bị giới sử học sau này chỉ trích gay gắt.

Về sau, nhân lúc Tây Sơn suy yếu sau cái chết đột ngột của vua Quang Trung, ông đã giữ vững được Nam Hà và đến năm 1802 thì đánh bại Tây Sơn, lên ngôi hoàng đế, lập ra nhà Nguyễn, kết thúc nhiều thế kỷ nội chiến ở Việt Nam. Triều đại của Gia Long đã chính thức sử dụng quốc hiệu Việt Nam. Ông cũng quyết định đóng kinh đô tại Phú Xuân (Huế) dù vùng này khá chật hẹp và ít dân, một phần vì lo ngại người dân phía Bắc vẫn còn muốn khôi phục nhà Hậu Lê. Lãnh thổ nước Việt thời Gia Long về cơ bản được định hình giống như ngày nay, kéo dài từ biên giới với Trung Quốc tới vịnh Thái Lan, bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tuy nhiên diện tích miền Trung đã bị thu hẹp lại do Gia Long đã đem vùng Trấn Ninh (rộng khoảng 45.000 km²) cắt cho vương quốc Vạn Tượng để lôi kéo sự ủng hộ của họ (vùng này ngày nay là lãnh thổ của Lào). Với việc cắt Trấn Ninh cho Lào, Gia Long là ông vua trao lãnh thổ đất nước cho ngoại quốc nhiều thứ 2 trong lịch sử Việt Nam (chỉ kém việc chắt nội của ông là Tự Đức đã cắt cả Nam Kỳ Lục tỉnh cho thực dân Pháp).

Về đối ngoại, ông là người mở đường cho sự can thiệp của người Pháp ở Việt Nam qua việc mời sỹ quan Pháp giúp xây dựng các thành trì lớn, huấn luyện quân đội và khoan thứ cho việc truyền đạo Công giáo tại Việt Nam. Về mặt đối nội, nước Việt thời Gia Long không được ổn định, do Gia Long tăng thuế khóa và lao dịch quá nặng nên bị người dân bất bình, chỉ trong 18 năm đã có khoảng 90 cuộc khởi nghĩa nổ ra trên cả nước. Gia Long cũng xóa bỏ các cải cách tiến bộ của triều Tây Sơn để thay bằng việc áp dụng các chính sách cai trị phong kiến khá bảo thủ, tiêu biểu là việc cấm thương nhân người Việt buôn bán với ngoại quốc, soạn Hoàng triều luật lệ (còn gọi là "luật Gia Long"), gần như chép nguyên mẫu từ luật của nhà Thanh (Trung Quốc) nên khá khắc nghiệt và không được tiến bộ như bộ luật Hồng Đức của nhà Hậu Lê. Lương Đức Thiệp nhận xét rằng việc Nguyễn Ánh thi hành chính sách bảo thủ, xóa bỏ các cải cách tiến bộ của triều Tây Sơn đã khiến "dân tộc Việt Nam vẫn cứ đứng lỳ trên một nấc tiến hóa với cái kỹ thuật canh tác không thay đổi" Các chính sách này là nguyên nhân khiến nước Việt thời nhà Nguyễn dần trở nên trì trệ, lạc hậu, không thích ứng kịp với thời đại mới và bị đế quốc Pháp xâm chiếm vào nửa thế kỷ sau.

Hàm Giang

Hàm Giang là một xã thuộc huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, Việt Nam.

Khánh Hòa

Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam, giáp với tỉnh Phú Yên về phía Bắc, tỉnh Đắk Lắk về phía Tây Bắc, tỉnh Lâm Đồng về phía Tây Nam, tỉnh Ninh Thuận về phía Nam, và Biển Đông về phía Đông.

Khánh Hòa ngày nay là phần đất cũ của xứ Kauthara thuộc vương quốc Chăm Pa. Năm 1653, lấy cớ vua Chiêm Thành là Bà Tấm quấy nhiễu dân Việt ở Phú Yên, Chúa Nguyễn Phúc Tần sai quan cai cơ Hùng Lộc đem quân sang đánh chiếm được vùng đất Phan Rang trở ra đến Phú Yên. Năm 1831, Vua Minh Mạng thành lập tỉnh Khánh Hòa trên cơ sở trấn Bình Hòa). Sau lần hợp nhất vào năm 1975, đến năm 1989, Quốc hội lại chia tỉnh Phú Khánh thành hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa cho đến ngày nay.

Khánh Hòa hiện nay bao gồm 2 thành phố trực thuộc tỉnh (Nha Trang và Cam Ranh), 1 thị xã (Ninh Hòa) và 6 huyện (Vạn Ninh, Diên Khánh, Khánh Vĩnh, Khánh Sơn, Cam Lâm và huyện Trường Sa) với tổng diện tích 5217,6 km². Một phần quần đảo Trường Sa (huyện Trường Sa) nằm dưới sự quản lý của tỉnh Khánh Hòa, nhưng bị tranh chấp về chủ quyền bởi một số quốc gia khác.

Khánh Hòa có bờ biển dài hơn 200 km và gần 200 hòn đảo lớn nhỏ cùng nhiều vịnh biển đẹp như Vân Phong, Nha Trang, Cam Ranh..., với khí hậu ôn hòa, nhiệt độ trung bình 26⁰C, có hơn 300 ngày nắng trong năm, và nhiều di tích lịch sử văn hóa khác. Với những lợi thế đó Khánh Hòa đã trở thành một trong những trung tâm du lịch lớn của Việt Nam.

Tỉnh lỵ của Khánh Hòa đặt tại Nha Trang, một thành phố du lịch và sự kiện. Nha Trang là nơi từng diễn ra nhiều sự kiện lớn như Festival Biển, hay các cuộc thi sắc đẹp lớn như Hoa hậu Việt Nam 2006, Hoa hậu Thế giới người Việt 2007 và 2010, Hoa hậu Hoàn vũ 2008, Hoa hậu Trái Đất 2010, Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam 2015.

Philípphê Nguyễn Kim Điền

Philipphê Nguyễn Kim Điền (1921 - 1988) là một Giám mục của Giáo hội Công giáo Rôma tại Việt Nam. Ông nguyên là Giám mục chính tòa Tiên khởi Giáo phận Cần Thơ và nguyên Tổng giám mục đô thành Tổng Giáo phận Huế. Khẩu hiệu Giám mục của ông là "Nên mọi sự cho mọi người".Tổng giám mục Nguyễn Kim Điền sinh tại Trà Vinh và lớn lên tại Sài Gòn. Sau khi trở thành linh mục một khoảng thời gian ngắn, ông trở thành giám đốc chủng viện tại Sài Gòn nhưng quyết định từ bỏ để gia nhập dòng Tiểu Đệ, lấy đời sống khó nghèo làm mục tiêu. Trong thời gian là linh mục dòng Tiểu Đệ, ông lao động, mưu sinh bằng các công việc như khuân vác, đạp xích lô đồng thời thực hiện công việc truyền giáo. Năm 1960, linh mục Điền được chọn làm Giám mục Cần Thơ rồi thăng Tổng giám mục, Giám quản Tông Tòa Tổng giáo phận Huế vào năm 1964 trước khi chính thức trở thành Tổng giám mục đô thành Huế bốn năm sau đó.

Tổng giám mục Điền có cách xử lí tế nhị với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, ông quyết định phân tách Giáo hội khỏi sự ảnh hưởng của chính quyền. Sau chiến tranh Việt Nam, ông nhiều lần lên tiếng bàn luận về các quyền tự do, không những trong tôn giáo và còn về nhiều vấn đề khác. Chính quyền mới đánh giá tổng giám mục Điền là gián điệp của thế lực ngoại bang cài cắm tại Việt Nam, phần tử chống Cộng quyết liệt. Phía Công giáo, giáo hoàng Gioan Phaolô II gọi ông là vị tổng giám mục anh dũng, báo chí Tây phương gọi ông là giám mục kiên cường.Nguyễn Kim Điền qua đời ngày 8 tháng 6 năm 1988 tại bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí Minh. Cái chết đột ngột của giám mục Điền khiến nhiều nguồn tin cho rằng ông đã bị đầu độc. Hiện nay, hàng ngày vẫn có giáo dân đến viếng, cầu nguyện trước mộ phần cố tổng giám mục Điền. Đối với đa số giáo dân Huế, ông là một vị thánh tử đạo.Tổng giám mục Nguyễn Kim Điền cũng chính là tác giả lời dịch tiếng Việt của Kinh Hòa Bình, sau này được linh mục nhạc sĩ Kim Long phổ nhạc năm 1960. Ngoài việc quản lý các giáo phận, ông từng đảm trách Caritas Việt Nam (1968 - 1972) và Tổng thư ký Hội đồng Giám mục Miền Nam Việt Nam. Sau khi Việt Nam thống nhất, ông đảm nhận vai trò phó chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam trong 3 nhiệm kỳ đầu tiên, từ năm 1980 đến năm 1989.

Quốc lộ 53

Quốc lộ 53 dài 168 km, nối liền 2 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh, với điểm xuất phát tại ngã ba giao nối quốc lộ 1A thuộc phường 9, thành phố Vĩnh Long, đi qua thành phố Trà Vinh, đến huyện Duyên Hải rồi vòng ngược lại huyện Trà Cú để tận cùng tại giao nối với quốc lộ 54 tại xã Tập Sơn.

Trước đây quốc lộ 53 được tính từ ngã ba bến xe mới (giao với đường Đinh Tiên Hoàng (quốc lộ 1A)), phường 8, thành phố Vĩnh Long; đoạn qua thành phố Vĩnh Long có tên là đường Phó Cơ Điều. Quốc lộ 53 nối dài gồm đoạn từ điểm giao với đường Đinh Tiên Hoàng (quốc lộ 1A) đến nhánh rẽ ra phường 9 còn có tên gọi là đường Lộ Mới; từ đầu nhánh rẽ đến điểm giao ra đường Phạm Hùng (quốc lộ 1A) có tên gọi là đường Lộ Bờ Gòn. Đoạn qua Thành phố Trà Vinh gồm hai đoạn, đoạn đầu là đường Võ Nguyên Giáp tính từ tượng đài chiến thắng đến ngã ba giao với đường Nguyễn Đáng, đoạn thứ hai là đường Nguyễn Đáng và đường Nguyễn Thiện Thành tính từ ngã tư giao với đường Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Nguyên Giáp đến ngã ba cây dầu lớn.

Đường nối quốc lộ 53 từ Long Vĩnh, huyện Duyên Hải đến Tập Sơn, Trà Cú, Trà Vinh là các đường 913 và 914.

Đoạn trong địa phận tỉnh Vĩnh Long dài khoảng 40 km, đi qua các huyện thị:

Thành phố Vĩnh Long

Huyện Long Hồ

Huyện Mang Thít

Huyện Tam Bình

Huyện Vũng LiêmĐoạn thuộc địa phận tỉnh Trà Vinh dài 126 km, đi qua các huyện thị:

Huyện Càng Long

Huyện Châu Thành

Thành phố Trà Vinh

Huyện Cầu Ngang

Thị xã Duyên Hải

Huyện Duyên Hải

Huyện Trà CúQuốc lộ 53 cắt một số tuyến đường như:

Quốc lộ 57 tại TP.Vĩnh Long

Quốc lộ 60 và 54 tại TP.Trà VinhĐộ dài một số tuyến trên quốc lộ 53:

Thành phố Vĩnh Long - thành phố Trà Vinh: 64 km

Thành phố Vĩnh Long - Long Toàn: 114 km

Thành phố Vĩnh Long - Long Vĩnh: 139 kmHiện nay, tuyến Quốc lộ 53 đoạn đi qua tỉnh Trà Vinh đang được nâng cấp và mở rộng với quy mô 6 làn xe.

Quốc lộ 54

Quốc lộ 54 có chiều dài 155 km, nằm cặp sông Hậu, nối liền Đồng Tháp, Vĩnh Long và Trà Vinh. Quốc lộ 54 bắt đầu (km 0) tại Vàm Cống và kết thúc tại thành phố Trà Vinh (km 155)

Quốc lộ 60

Quốc lộ 60 bắt đầu từ ngã ba Trung Lương, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, đi qua các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh và kết thúc tại thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, với chiều dài khoảng 115 km.

Quốc lộ 60 giúp rút ngắn đường đi từ Mỹ Tho đến Sóc Trăng trên 50 km so với đi theo quốc lộ 1A; rút ngắn đường đi từ Mỹ Tho đến Trà Vinh 60 km so với đi theo quốc lộ 1A và quốc lộ 53 (trên 130 km).

Quốc lộ 60 bắt đầu từ Quốc lộ 1 tại ngã ba Trung Lương giao với quốc lộ 57 tại thị trấn Mỏ Cày, với quốc lộ 53 tại thành phố Trà Vinh, với quốc lộ 54 tại thị trấn Tiểu Cần, với tuyến đường Nam Sông Hậu tại Đại Ngãi và kết thúc tại thành phố Sóc Trăng tại điểm quốc lộ 1A thành phố Sóc Trăng vào đường Sóc Vồ, tạo liên thông 6 tỉnh Tiền Giang Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Hậu Giang và Kiên Giang.Quốc lộ 60 qua các cầu:

Cầu Rạch Miễu: qua sông Tiền, nối thành phố Mỹ Tho và huyện Châu Thành, Bến Tre

Cầu Ba Lai: qua sông Ba Lai

Cầu Hàm Luông: qua sông Hàm Luông, nối thành phố Bến Tre và huyện Mỏ Cày Bắc

Cầu Cổ Chiên: qua sông Cổ Chiên, nối huyện Mỏ Cày Nam và huyện Càng Long, Trà Vinh.

Cầu Đại Ngãi (sắp được đầu tư xây dựng): qua sông Hậu, nối huyện Tiểu Cần và huyện Long Phú, Sóc Trăng.Các bến phà, bến đò trên quốc lộ 60:

Bến phà Rạch Miễu: nối thành phố Mỹ Tho và huyện Châu Thành, Bến Tre - chấm dứt hoạt động năm 2009.

Bến phà Hàm Luông: nối thành phố Bến Tre và huyện Mỏ Cày Bắc - chấm dứt hoạt động năm 2010

Bến phà Cổ Chiên: nối huyện Mỏ Cày Nam (tỉnh Bến Tre) và huyện Càng Long (tỉnh Trà Vinh) - chấm dứt hoạt động từ ngày 16/05/2015.

Bến phà Đại Ngãi: nối xã An Thạnh Nhứt, huyện Cù Lao Dung và xã Đại Ngãi, huyện Long Phú, Sóc Trăng.Hiện nay, đã xây dựng xong và đưa vào hoạt động bến phà Đại Ngãi nối liền Trà Vinh và Sóc Trăng từ năm 2013. Như vậy xe ô tô có thể đi thẳng từ Trà Vinh sang Sóc Trăng mà không cần đi vòng qua quốc lộ 1A,đã thay vì trên Quốc lộ 91C.đã ngừng hoạt động

Độ dài một số tuyến trên quốc lộ 60 (số liệu tương đối):

Mỹ Tho - cầu Rạch Miễu: 5,55 km

Mỹ Tho - Bến Tre: 14 km

Mỹ Tho - Trà Vinh: 60 km

Cầu Cổ Chiên - quốc lộ 53 (ngã ba Bình Phú): 12 km

Cầu Cổ Chiên - bến phà Cầu Quan: 55 km

Đoạn trên Cù Lao Dung: 2 km

Đại Ngãi - Sóc Trăng: 19 km.

Sân bay Trà Vinh

Sân bay Trà Vinh tọa lạc tại phường 7 thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh, được xây dựng dưới thời Việt Nam Cộng Hòa.Đây là sân bay thứ hai của tỉnh Trà Vinh sau Sân bay Long Toàn. Chiều dài đường băng khoảng 700m. Hiện đang xây dựng khu dân cư và hành chính mới của tỉnh Trà Vinh. Tỉnh sẽ xây sân bay trên cơ sở xây dựng lại sân bay Long Toàn, huyện Duyên Hải.

Sông Hậu

Sông Hậu, hay Hậu Giang, là một trong hai phân lưu của sông Mê Kông. Phân lưu còn lại là sông Tiền. Mê Kông tách ra thành sông Tiền và sông Hậu tại lãnh thổ Campuchia. Ở Campuchia, sông Hậu được gọi là sông Bassac (Tonlé Bassac theo tiếng Khmer). Vì thế nó còn có tên gọi nữa là sông Ba Thắc.

Sông Tiền

Sông Tiền hay Tiền Giang là nhánh hạ lưu bên trái (tả ngạn) của sông Mê Kông, chảy từ đất Campuchia vào đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, qua các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre, rồi đổ ra biển Đông .Sông Tiền có tổng chiều dài chính thức là hơn 234 km.

Trà Cú

Trà Cú là một huyện duyên hải thuộc tỉnh Trà Vinh. Huyện có đông đồng bào Khmer đông nhất tỉnh, chiếm 60% dân số so với dân số toàn huyện, chủ yếu sinh sống ở các xã vùng sâu, vùng xa.

Trà Vinh (thành phố)

Trà Vinh là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Trà Vinh, Việt Nam.

Thành phố Trà Vinh nằm bên bờ sông Tiền, trên Quốc lộ 53 và cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 202 km và cách thành phố Cần Thơ 100 km, cách bờ biển Đông 40 km, với hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy khá hoàn chỉnh thuận tiện để phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và là vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh.

Tôma Nguyễn Văn Tân

Tôma Nguyễn Văn Tân (1940 – 2013) là một Giám mục người Việt Nam của Giáo hội Công giáo Rôma. Ông từng đảm trách vai trò Giám mục chính tòa Giáo phận Vĩnh Long từ năm 2001 đến khi qua đời. Trước đó, ông đảm nhận vai trò giám mục phó giáo phận Vĩnh Long từ năm 2000. Khẩu hiệu Giám mục của Tôma Nguyễn Văn Tân là Hành trình trong Đức Ái.

Nguyễn Văn Tân sinh ra ở Trà Vinh trong một gia đình nông dân. Con đường tu trì bắt đầu từ năm 13 tuổi, khi cậu bé Tân vào Tiểu chủng viện Vĩnh Long, sau đó học tại Giáo hoàng học viện Thánh Piô Đà Lạt và được thụ phong linh mục năm 1969. Sau khi được truyền chức, Nguyễn Văn Tân làm Giáo sư Tiểu Chủng viện Vĩnh Long trong thời gian ngắn và đến Rôma tu học tốt nghiệp Tiến sĩ Thần học và trở về nước năm 1974. Trong thời gian tại Việt Nam, ông lần lượt thực hiện việc mục vụ trong giáo phận Vĩnh Long: giáo sư môn Thần học Luân lý, phụ trách nhà thờ chủng viện, phụ trách các lớp Tiền Chủng viện của giáo phận Vĩnh Long.

Năm 2000, giáo hoàng Gioan Phaolô II bổ nhiệm linh mục Tôma Nguyễn Văn Tân làm giám mục phó giáo phận Vĩnh Long, thay thế giám mục phó Raphael Nguyễn Văn Diệp về hưu. Tháng 7 năm 2001, giám mục chính tòa Nguyễn Văn Mầu từ chức, giám mục Tân kế vị chức giám mục chính tòa giáo phận Vĩnh Long.

Ngày 17 tháng 8 năm 2013, giám mục Tôma Nguyễn Văn Tân qua đời sau một cơn đột quỵ, vì chưa có giám mục phó nên giáo phận Vĩnh Long trống tòa. Hội đồng linh mục bầu linh mục Phêrô Dương Văn Thạnh làm giám quản. Tháng 10 năm 2015, giáo hoàng Phanxicô bổ nhiệm linh mục Phêrô Huỳnh Văn Hai làm tân giám mục Vĩnh Long.

Điện mặt trời Trung Nam Trà Vinh

Nhà máy Điện mặt trời Trung Nam Trà Vinh, tên giao dịch tiếng Anh là Trungnam Trà Vinh Solar Power, là nhà máy điện mặt trời xây dựng trên vùng đất xã Dân Thành huyện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh .

Điện mặt trời Trung Nam Trà Vinh có tổng công suất lắp máy 165 MWp, sản lượng điện hàng năm khoảng 250 triệu kWh, khởi công tháng 1/2019, dự kiến hoàn thành quý 2/2019. Nhà máy có diện tích hoạt động 171 ha, với hơn 440 nghìn tấm pin mặt trời .

Tại tỉnh Trà Vinh lượng bức xạ trung bình năm đo được tại khu vực duyên hải đạt từ 1700 – 1900 kWh/m2, bức xạ ngày trung bình hơn 4.9 kWh/m2. Địa thế nhiều giồng cát hình cánh cung làm cho vùng duyên hải Trà Vinh có điều kiện thuận lợi cho phát triển các dự án năng lượng mặt trời.

Vị trí Trà Vinh trên bản đồ Việt Nam
Tra Vinh in Vietnam

Vùng lãnh thổ Trà Vinh
Thành phố trực
thuộc trung ương (5)
Tỉnh (58)

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.