Tiểu lục địa Ấn Độ

Tiểu lục địa Ấn Độ là một khu vực của châu Á nằm chủ yếu trên Mảng Ấn Độ.

Tiểu lục địa Ấn Độ
Geographical map of the Indian subcontinent.
Diện tích4,4 triệu km² (1,7 triệu mi²)
Dân số~1,6 tỉ
Tên gọi dân cưTiểu lục địa
Quốc giaBangladesh
Bhutan
Ấn Độ
Maldives
Nepal
Pakistan
Sri Lanka

Định nghĩa

Thuật ngữ "tiểu lục địa Ấn Độ" và "Nam Á" thường được dùng thay thế cho nhau.[1][2][3][4][5] Do sự nhạy cảm về chính trị, một số người dùng thuật ngữ "Tiểu lục địa Nam Á",[6][7] "Tiểu lục địa Ấn-Pak",[8] "Tiểu lục địa", hoặc là "Nam Á"[9] thay cho thuật ngữ "tiểu lục địa Ấn Độ". Theo các sử gia Sugata Bose và Ayesha Jalal, tiểu lục địa Ấn Độ được biết đến với tên gọi Nam Á "trong thời gian gần đây và cách nói trung lập hơn." Nhà Ấn Độ học Ronald B. Inden lập luận rằng việc sử dụng thuật ngữ "Nam Á" đang trở nên rộng rãi do phân biệt rõ ràng khu vực với Đông Á;[10] một số học giả cho rằng thuật ngữ "Nam Á" được sử dụng phổ biến ở châu Âu và Bắc Mỹ hơn thuật ngữ "Tiểu lục địa" hay "Tiểu lục địa Ấn Độ".[11][12]

Phạm vi

Định nghĩa về phạm vi địa lý của tiểu lục địa Ấn Độ là khác nhau. Lịch sử hình thành của toàn bộ Đại Ấn Độ, nay thường được coi là bao gồm các nước Ấn Độ, Pakistan, và Bangladesh;[13] trước năm 1947, ba nước này về mặt lịch sử tạo thành Ấn Độ thuộc Anh. Nó hầu như luôn luôn bao gồm cả Nepal, Bhutan, và quốc đảo Sri Lanka[14] và có thể cũng bao gồm Afghanistan và quốc đảo Maldives.[1][15][16] Khu vực cũng có thể bao gồm các lãnh thổ tranh chấp như Aksai Chin, là một phần của tiểu vương quốc Ấn Độ thuộc Anh Jammu và Kashmir, nhưng nay do khu tự trị Tân Cương của Trung Quốc quản lý.[17] Một cuốn sách do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ xuất bản năm 1959 thì Afghanistan, Ceylon (Sri Lanka), Ấn Độ, Nepal, và Pakistan (gồm cả Đông Pakistan, nay là Bangladesh) là những phần của "Tiểu lục địa Nam Á".[18] Khi thuật ngữ Tiểu lục địa Ấn Độ được sử dụng với ý nghĩa là Nam Á, các quốc đảo Sri Lanka và Maldives đôi khi không được liệt kê,[1] trong khi Tây Tạng và Nepal có khi lại được ghi vào[19] hoặc không[20]

Địa lý

Về mặt địa lý, tiểu lục địa Ấn Độ là một bán đảo tại Trung-Nam Á, hơn là một vùng có hình kim cương được giới hạn bởi dãy Himalayas ở phía bắc, Hindu Kush ở phía tây, và Arakanese ở phía đông,[21] và mở rộng về phía nam đến Ấn Độ Dương với biển Ả Rập ở phía tây nam và vịnh Bengal ở phía đông nam.[1][13] Với cả bảy quốc gia được liệt kê, diện tích của khu vực là khoảng 4,4 triệu km² (1,7 triệu mi²), chiếm 10% lục địa châu Á và 2,4% diện tích bề mặt đất liền thế giới. Tính toàn thể, tiểu lục địa chiếm khoảng 34% dân số châu Á (trên 16,5% dân số thế giới) và có nhiều dân tộc sinh sống.[22][23][24]

Hầu hết khu vực nằm trên mảng Ấn Độ và tách biệt khỏi phần còn lại của châu Á bằng các hàng rào núi non.[25][26] Mảng Ấn Độ bao phủ phần lớn Nam Á, tạo thành một vùng đất trải dài từ Himalaya thành một phần của bồn địa bên dưới Ấn Độ Dương, bao gồm nhiều vùng của Nam Trung Quốc và Đông Indonesia, cũng như các dãy Côn LônKarakoram,[27][28][29] và mở rộng đến song không bao gồm Ladakh, Kohistan, dãy Hindu KushBalochistan.[30][31][32]

Tham khảo

  1. ^ a ă â b John McLeod, The history of India, pages 1, Greenwood Publishing Group, 2002, ISBN 0313314594 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “McLeod” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  2. ^ Milton Walter Meyer, South Asia: A Short History of the Subcontinent, pages 1, Adams Littlefield, 1976, ISBN 082260034X
  3. ^ Jim Norwine & Alfonso González, The Third World: states of mind and being,‎ pages 209, Taylor & Francis, 1988, ISBN 0049101218
  4. ^ Boniface, Brian G.; Christopher P. Cooper (2005). Worldwide destinations - By Brian G. Boniface, Christopher P. Cooper Worldwide destinations: the geography of travel and tourism. Butterworth-Heinemann. ISBN 9780750659970.
  5. ^ Judith Schott & Alix Henley, Culture, Religion, and Childbearing in a Multiracial Society, pages 274, Elsevier Health Sciences, 1996, ISBN 0750620501
    Raj S. Bhopal, Ethnicity, race, and health in multicultural societies, pages 33, Oxford University Press, 2007, ISBN 0198568177
    Lucian W. Pye & Mary W. Pye, Asian Power and Politics, pages 133, Harvard University Press, 1985, ISBN 0674049799
    Mark Juergensmeyer, The Oxford handbook of global religions, pages 465, Oxford University Press US, 2006, ISBN 0195137981
    Sugata Bose & Ayesha Jalal, Modern South Asia, pages 3, Routledge, 2004, ISBN 0415307872
  6. ^ Lucian W. Pye & Mary W. Pye, Asian Power and Politics, pages 133, Harvard University Press, 1985, ISBN 0674049799
  7. ^ South Asian Subcontinent, Services and Solutions, International Air Transport Association
  8. ^ Mark Juergensmeyer, The Oxford handbook of global religions, pages 465, Oxford University Press US, 2006, ISBN 0195137981
  9. ^ Sugata Bose & Ayesha Jalal, Modern South Asia, pages 3, Routledge, 2004, ISBN 0415307872
  10. ^ Imagining India - By Ronald B. Inden
  11. ^ Judith Schott & Alix Henley, Culture, Religion, and Childbearing in a Multiracial Society, pages 274, Elsevier Health Sciences, 1996, ISBN 0750620501
  12. ^ Raj S. Bhopal, Ethnicity, race, and health in multicultural societies, pages 33, Oxford University Press, 2007, ISBN 0198568177
  13. ^ a ă "Indian subcontinent". New Oxford Dictionary of English (ISBN 0-19-860441-6) New York: Oxford University Press, 2001; p. 929: "the part of Asia south of the Himalayas which forms a peninsula extending into the Indian Ocean, between the Arabian Sea and the Bay of Bengal. Historically forming the whole territory of Greater India, the region is now divided between India, Pakistan, and Bangladesh." Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Oxford” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  14. ^ "Indian subcontinent" > Geology and Geography. The Columbia Electronic Encyclopedia, 6th ed. Columbia University Press, 2003: "region, S central Asia, comprising the countries of Pakistan, India, and Bangladesh and the Himalayan states of Nepal, and Bhutan. Sri Lanka, an island off the southeastern tip of the Indian peninsula, is often considered a part of the subcontinent."
  15. ^ Stephen Adolphe Wurm, Peter Mühlhäusler & Darrell T. Tryon, Atlas of languages of intercultural communication in the Pacific, Asia, and the Americas, pages 787, International Council for Philosophy and Humanistic Studies, Published by Walter de Gruyter, 1996, ISBN 3110134179
  16. ^ Haggett, Peter (2001). Encyclopedia of World Geography (Vol. 1). Marshall Cavendish. tr. 2710. ISBN 0761472894.
  17. ^ Dale Hoiberg and Indu Ramchandani, Students' Britannica India (vol. 1‎), page 45, Popular Prakashan, 2000, ISBN 9780852297605
  18. ^ Superintendent of Documents, United States Government Printing Office, The Subcontinent of South Asia: Afghanistan, Ceylon, India, Nepal and Pakistan, United States Department of State, Public Services Division, 1959
  19. ^ Harle, James C. (1994). The art and architecture of the Indian subcontinent. Yale University Press. tr. 214. ISBN 0300062176.
  20. ^ Hackin, Joseph; Couchoud, Paul Louis (1996). The Mythologies of the East: Indian Subcontinent, Middle East, Nepal and Tibet, Indo-China and Java. Aryan Books International. tr. 1. ISBN 817305018X.
  21. ^ Chapman, Graham P. & Baker, Kathleen M., eds. The changing geography of Asia. (ISBN 0-203-03862-2) New York: Taylor & Francis e-Library, 2002; p. 10: "This greater India is well defined in terms of topography; it is the Indian sub-continent, hemmed in by the Himalayas on the north, the Hindu Khush in the west and the Arakanese in the east."
  22. ^ Desai, Praful B. 2002. Cancer control efforts in the Indian subcontinent. Japanese Journal of Clinical Oncology. 32 (Supplement 1): S13-S16. "The Indian subcontinent in South Asia occupies 2.4% of the world land mass and is home to 16.5% of the world population...."
  23. ^ "Asia" > Overview. Encyclopædia Britannica. Encyclopædia Britannica Online, 2009: "The Indian subcontinent is home to a vast diversity of peoples, most of whom speak languages from the Indo-Aryan subgroup of the Indo-European family."
  24. ^ "Indian Subcontinent". Encyclopedia of Modern Asia. Macmillan Reference USA (Gale Group), 2006: "The area is divided between five major nation-states, Bangladesh, India, Nepal, Pakistan, and Sri Lanka, and includes as well the two small nations of Bhutan and the Maldives Republic... The total area can be estimated at 4.4 million square kilometers, or exactly 10 percent of the land surface of Asia... In 2000, the total population was about 22 percent of the world's population and 34 percent of the population of Asia."
  25. ^ "Asia" > Geology and Geography. The Columbia Electronic Encyclopedia, 6th ed. Columbia University Press, 2003: "Asia can be divided into six regions, each possessing distinctive physical, cultural, economic, and political characteristics... South Asia (Afghanistan and the nations of the Indian subcontinent) is isolated from the rest of Asia by great mountain barriers."
  26. ^ "Asia" > Geologic history - Tectonic framework. Encyclopædia Britannica. Encyclopædia Britannica Online, 2009: "The paleotectonic evolution of Asia terminated some 50 million years ago as a result of the collision of the Indian subcontinent with Eurasia. Asia’s subsequent neotectonic development has largely disrupted the continent’s preexisting fabric. The first-order neotectonic units of Asia are Stable Asia, the Arabian and Indian cratons, the Alpide plate boundary zone (along which the Arabian and Indian platforms have collided with the Eurasian continental plate), and the island arcs and marginal basins."
  27. ^ Sinvhal, Understanding Earthquake Disasters, page 52, Tata McGraw-Hill Education, 2010, ISBN 9780070144569
  28. ^ Harsh K. Gupta, Disaster management, page 85, Universities Press, 2003, ISBN 9788173714566
  29. ^ James R. Heirtzler, Indian ocean geology and biostratigraphy, page American Geophysical Union, 1977, ISBN 9780875902081
  30. ^ M. Asif Khan, Tectonics of the Nanga Parbat syntaxis and the Western Himalaya, page 375, Geological Society of London, 2000, ISBN 9781862390614
  31. ^ Srikrishna Prapnnachari, Concepts in Frame Design, page 152, Srikrishna Prapnnachari, ISBN 9789992952214
  32. ^ A. M. Celâl Şengör, Tectonic evolution of the Tethyan Region, Springer, 1989, ISBN 9780792300670
Acanthephippium

Acanthephippium là một chi lan với 12 loài thuộc họ Orchidaceae.

Loài sinh sống trên mặt đất này phân bố ở tiểu lục địa Ấn Độ nhiệt đới và cận nhiệt đới đến Trung Hoa và tây nam Thái Bình Dương.

Chúng có thân cao đến 80 cm. Chi này có liên kết với các chi Calanthe, Phaius, và Spathoglottis.

Arundinella

Arundinella là một chi thực vật trong họ Hoà thảo (Poaceae) phân bố rộng rãi, thường gặp ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.

Loài

trước đây nằm trong Arundinellaxem Alloteropsis Danthoniopsis Dilophotriche Jansenella Loudetia Trichopteryx

Babur

Babur (tiếng Ba Tư: بابر‎, chuyển tự Bābur, nguyên văn 'Hổ'; 14 tháng 2 năm 1483 – 26 tháng 12 năm 1530), tên thật là Ẓahīr-ud-Dīn Muhammad (tiếng Ba Tư: ظهیرالدین محمد‎, chuyển tự Zahīr ad-Dīn Muhammad), là một nhà chinh phạt từ Trung Á. Dù ban đầu ông đã nhiều lần gặp thất bại, nhưng cuối cùng ông đã đặt nền móng cho Triều đại Mogul tại tiểu lục địa Ấn Độ và trở thành hoàng đế khai quốc của triều đại này. Ông là hậu duệ trực hệ của nhà chinh phạt người Đột Quyết-Mông Cổ Thiếp Mộc Nhi (Tamurlane) của bộ tộc Barlas, và nếu tính theo mẫu hệ thì có thể xem như ông là con cháu của Thành Cát Tư Hãn. Ông bị thấm nhuần bởi nền văn hoá Ba Tư và điều này ảnh hưởng đến những việc làm của ông và những người kế nhiệm ông, qua đó dẫn đến việc truyền bá văn hóa Ba Tư rộng rãi ở tiểu Lục địa Ấn Độ.Babur là con trai cả của Umar Sheikh Mirza. Ông lên ngôi nối nghiệp cha tại Fergana vào năm 1495 lúc mới 12 tuổi và ngay lập tức đã phải đối mặt với những cuộc nổi loạn của những người họ hàng. Chỉ hai năm sau, ông đánh chiếm thành Samarkand, nhưng lại để mất thành Fergana không lâu sau đó. Khi cố gắng tái chiếm Fergana, ông lại đánh mất thành Samarkand. Năm 1501, những nỗ lực chiếm lại hai thành trì trên đã trở thành công cốc sau khi ông bị Muhammad Shaybani Khan đánh bại. Năm 1504, ông chiếm được Kabul, vốn đang nằm trong sự sở hữu của một đứa bé sơ sinh, hậu duệ của Ulugh Begh. Babur kết bang giao với vua Ismail I của nhà Safavid và chiếm lại khu vực Trung Á, bao gồm cả thành Samarkand. Tuy nhiên, ông lại đánh mất nó cùng với các vùng đất khác mới chiếm được vào tay người Uzbek.

Sau khi đánh mất thành Samarkand lần thứ ba, Babur chuyển sự chú ý để tạo ra đế chế của mình tại phía bắc Ấn Độ. Vào lúc này, khu vực đồng bằng Ấn-Hằng ở phía bắc của tiểu lục địa Ấn Độ đang nằm dưới sự cai trị của Ibrahim Lodi thuộc vương triều Lodi của người Afghan, trong khi khu vực Rajputana nằm dưới sự kiểm soát của Liên minh Rajput theo Ấn giáo, với Minh chủ là Rana Sanga của Mewar. Năm 1524, Daulat Khan Lodi, một thành viên của triều đại Lodhi, vì muốn tạo phản nên đã cho mời Babur đến để lật đổ Ibrahim và trở thành vua. Babur đánh bại Ibrahim Lodi trong trận Panipat lần thứ nhất vào năm 1526 và thành lập đế quốc Mogul. Tuy nhiên, Babur ngay lập tức phải đối mặt với sự chống đối, lần này là từ Rana Sanga của Mewar, người coi Babur là một kẻ ngoại tộc. Rana đã bị đánh bại trong trận Khanwa.

Babur đã kết hôn nhiều lần. Những người nổi tiếng nhất trong số các con của ông bao gồm Humayun, Kamran Mirza và Hindal Mirza. Babur mất năm 1530 và được kế vị bởi Humayun. Theo ước nguyện của Babur, di hài của ông được đem về an táng tại Bagh-e-Babur ở Kabul, Afghanistan. Là một hậu duệ của Thiếp Mộc Nhi, Babur luôn tự coi mình là một người Đột Quyết, mặc dù các tài liệu từ Uzbekistan tuyên bố ông là một người Uzbek. Babur được xem là một anh hùng dân tộc ở Uzbekistan và Kyrgyzstan. Nhiều bài thơ của ông cũng đã trở thành những bài hát dân ca phổ biến. Ông đã viết cuốn tự truyện của mình, Baburnama, bằng tiếng Sát Hợp Đài và được dịch sang tiếng Ba Tư dưới triều đại của cháu nội ông là Akbar.

Caulokaempferia

Caulokaempferia là danh pháp khoa học từng được coi là của một chi thực vật trong họ Zingiberaceae, được mô tả năm 1964. Năm 2014, phân tích phát sinh chủng loài của Mood J. D. et al. cho thấy chi này là đa ngành và đã định nghĩa lại chi Monolophus để chứa phần lớn các loài của Caulokaempferia, đồng thời chuyển 5 loài của Caulokaempferia sang chi Boesenbergia và phục hồi chi đơn loài Pyrgophyllum.

Các loài xếp trong chi này là bản địa khu vực Trung Quốc, Himalaya, Đông Dương (đặc biệt là Thái Lan).

Chi Một dược

Chi Một dược (danh pháp khoa học: Commiphora) là một chi trong thực vật có hoa. Nó bao gồm khoảng 185 loài cây gỗ và cây bụi, thường có gai, có nguồn gốc ở châu Phi, bán đảo Arabia và tiểu lục địa Ấn Độ. Chi này được một số văn bản khoa học bằng tiếng Trung gọi là 裂榄 (liệt lãm).

Chi Sa nhân

Chi Sa nhân (danh pháp khoa học: Amomum) là một chi thực vật một lá mầm, với các loài đậu khấu, thảo quả, sa nhân. Chi này thuộc về họ Gừng (Zingiberaceae). Các loài của chi này là bản địa Trung Quốc, tiểu lục địa Ấn Độ, Đông Nam Á, New Guinea và Queensland, đáng chú ý vì vị hăng và mùi thơm của chúng.

Chi Ánh lệ

Chi Ánh lệ (danh pháp khoa học: Ainsliaea) là một chi thực vật có hoa trong họ Cúc (Asteraceae).Ainsliaea là bản địa khu vực Đông Á, tiểu lục địa Ấn Độ và Đông Nam Á.

Globba

Globba hay còn gọi chi Gừng vũ nữ là một chi thực vật thuộc họ Gừng được mô tả đầu tiên bởi Carl Linnaeus. Chúng gồm khoảng gần 100 loài nguyên xuất từ các vùng Trung Quốc, Tiểu lục địa Ấn Độ, Đông Nam Á, New Guinea, Quần đảo Bismarck và Queensland.

Gongronema

Gongronema là chi thực vật có hoa trong họ Apocynaceae.Chi này phân bố từ tiểu lục địa Ấn Độ tới miền nam Trung Quốc và tây Malesia.

Kashmir

Kashmir (Tiếng Kashmir: کشیر / कॅशीर; Tiếng Hindi: कश्मीर; Tiếng Urdu: کشمیر; Tiếng Duy Ngô Nhĩ: كەشمىر; Tiếng Shina: کشمیر) là khu vực phía tây bắc của tiểu lục địa Ấn Độ. Cho đến giữa thế kỷ 19, thuật ngữ Kashmir dùng để chỉ thung lũng giữa dãy Himalaya lớn và dãy Pir Panjal. Ngày nay, địa danh này biểu thị một khu vực lớn hơn bao gồm các vùng được Ấn Độ quản lý như Jammu và Kashmir (trong đó bao gồm Jammu, Thung lũng Kashmir, và Khu vực Ladakh), các vùng lãnh thổ Pakistan quản lý: Azad Kashmir và Gilgit-Baltistan, và khu vực được Trung Quốc quản lý: Aksai Chin và Trans-Karakoram Tract.

Kashmir trở thành bang hoàng lớn thứ hai tại Ấn Độ thuộc Anh, được tạo ra sau sự thất bại của người Sikh ở cuộc chiến tranh Anglo-Sikh lần thứ nhất. Hiệp ước Amritsar được ký kết năm 1846, người Anh chính thức hóa việc bán lại vùng Kashmir cho Gulab Singh với giá 7.500.000 rupee. Gulab Singh, đã trở thành nhà lãnh đạo mới của Kashmir. Sự cai trị của con cháu ông sau này, dưới sự giám hộ của Hoàng gia Anh, kéo dài cho đến năm 1947, sau đó Kashmir đã trở thành một lãnh thổ tranh chấp, nay do ba nước: Ấn Độ, Pakistan, và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa kiểm soát và tuyên bố chủ quyền.

Kulfi

Kulfi hay Qulfi là một món tráng miệng sữa đông lạnh phổ biến có nguồn gốc từ tiểu lục địa Ấn Độ có thời Đế quốc Mogul. Nó thường được mô tả là "kem truyền thống của Ấn Độ." Nó phổ biến khắp Ấn Độ, Sri Lanka, Pakistan, Bangladesh, Nepal, Myanmar và Trung Đông, và có mặt rộng rãi trong các nhà hàng phục vụ ẩm thực từ tiểu lục địa Ấn Độ đến khắp thế giới.

Kulfi có những điểm tương đồng với kem về vẻ ngoài và hương vị; tuy nhiên, nó đậm đặc hơn và nhiều kem hơn. Nó có nhiều hương vị khác nhau. Những loại truyền thống hơn như là kem (malai), hoa hồng, xoài, cardamom (elaichi), saffron (kesar hay zafran), và quả hồ trăn. Có những loại mới hơn như táo, cam, dâu, đậu phộng và bơ. Không giống như kem, kulfi không được đánh đều, kết quả của việc đông đặc, dẫn đến một món tráng miệng đông lạnh, dày đặc tương tự như kem sữa trứng truyền thống. Vì vậy, đôi khi nó được coi là một loại khác nhau của món tráng miệng dựa trên sữa đông lạnh. Do mật độ đậm đặc của nó, kulfi mất nhiều thời gian để tan chảy hơn kem của phương Tây.

Mảng Á-Âu

Mảng Á-Âu là một mảng kiến tạo bao gồm phần lớn đại lục Á-Âu (vùng đất rộng lớn bao gồm hai châu lục là châu Âu và châu Á), với các biệt lệ lớn đáng chú ý là trừ đi tiểu lục địa Ấn Độ, tiểu lục địa Ả Rập, cũng như khu vực ở phía đông của dãy núi Chersky tại Đông Siberi. Nó còn bao gồm cả một phần lớp vỏ đại dương trải dài về phía tây tới tận sống núi ngầm giữa Đại Tây Dương và về phía bắc tới sống núi ngầm Gakkel.

Rìa phía đông của nó là ranh giới với mảng Bắc Mỹ ở phía bắc và ranh giới với mảng Philippin ở phía nam, và có thể là với mảng Okhotsk cũng như là với mảng Amur (nếu hai mảng này được coi là tách biệt). Rìa phía nam là ranh giới với mảng châu Phi ở phía tây, mảng Ả Rập ở đoạn giữa và mảng Ấn-Úc ở phía đông. Rìa phía tây là ranh giới phân kỳ với mảng Bắc Mỹ để hình thành nên phần đầu phía bắc của sống núi ngầm giữa Đại Tây Dương, với đảo đáng chú ý nhất nằm trên đó chính là Iceland.

Nam Á

Nam Á (còn gọi là tiểu lục địa Ấn Độ) là thuật ngữ dùng để chỉ khu vực miền nam của châu Á, gồm các quốc gia hạ Himalaya và lân cận. Về mặt địa hình, mảng Ấn Độ chi phối Nam Á, nằm về phía nam dãy Himalaya và Hindu Kush. Nam Á có Ấn Độ Dương bao quanh ở phía nam, còn trên đất liền thì giáp với Tây Á, Trung Á, Đông Á và Đông Nam Á.

Nam Á bao gồm các lãnh thổ hiện tại của Afghanistan, Ấn Độ, Bangladesh, Bhutan, Maldives, Nepal, Pakistan và Sri Lanka. Hiệp hội Nam Á vì sự Hợp tác Khu vực (SAARC) là một tổ chức hợp tác kinh tế trong khu vực, cơ cấu này được thành lập vào năm 1985 và bao gồm toàn bộ tám quốc gia thuộc Nam Á.Nam Á có diện tích khoảng 5,2 triệu km², chiếm 11,71% diện tích châu Á và chiếm 3,5% diện tích bề mặt đất liền của Trái đất. Dân số Nam Á là khoảng 1,749 tỉ người vào năm 2013, chiếm khoảng một phần tư dân số thế giới, và đây là khu vực địa lý đông dân nhất cũng như có mật độ dân số cao nhất trên thế giới. Về tổng thể, Nam Á chiếm khoảng 39,49% dân số châu Á, hơn 24% dân số thế giới, và có nhiều dân tộc.Năm 2010, Nam Á đứng đầu thế giới về số lượng tín đồ Ấn Độ giáo, Jaina giáo và Sikh giáo. Khu vực cũng là nơi có số lượng tín đồ Hồi giáo đông đảo nhất tại châu Á-Thái Bình Dương, ngoài ra còn có hơn 35 triệu tín đồ Cơ Đốc giáo và 25 triệu tín đồ Phật giáo tại Nam Á.

Ngữ chi Ấn-Arya

Ngữ chi Indo-Arya (hay Ấn-Iran) là nhóm các ngôn ngữ chính của tiểu lục địa Ấn Độ, được nói phần lớn bởi những người Indo-Arya. Chúng tạo thành một chi nhánh của ngữ tộc Indo-Iran trong hệ ngôn ngữ Ấn-Âu. Những người nói tiếng Indo-Arya chiếm khoảng một nửa trong số tất cả người nói tiếng Ấn-Âu, khoảng 1,5 trong 3 tỷ. Ngôn ngữ Indo-Arya cũng chiếm hơn một nửa trong số các ngôn ngữ Ấn-Âu được Ethnologue ghi nhận.

Turdoides striata

Turdoides striata là một loài chim trong họ Leiothrichidae.

Loài này được tìm thấy ở Tiểu lục địa Ấn Độ. Loài này là loài chim thường trú phổ biến ở hầu hết các vùng của tiểu lục địa Ấn Độ và thường được nhìn thấy trong khu vườn trong thành phố lớn cũng như ở các khu vực có rừng.

Vahlia

Vahlia (đồng nghĩa Bistella) là danh pháp khoa học của một chi cây thân thảo và cây bụi nhỏ, sinh sống tại châu Phi (bao gồm cả Madagascar) và tiểu lục địa Ấn Độ. Chi này chứa khoảng 8 loài.

Chi này được đặt một mình trong họ Vahliaceae. Họ này trước đây được đặt trong bộ Tai hùm (Saxifragales), nhưng hiện tại không đặt trong bộ nào và chỉ thuộc nhánh Cúc (asterids).

Đế quốc Anh

Đế quốc Anh (tiếng Anh: British Empire) bao gồm các quốc gia tự trị, các thuộc địa, các lãnh thổ bảo hộ, các lãnh thổ ủy thác và các lãnh thổ khác do Anh cai trị và quản lý. Đế quốc Anh khởi nguồn với các thuộc địa và trạm mậu dịch hải ngoại do Anh thiết lập từ cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVIII. Vào giai đoạn đỉnh cao của nó, đây là đế quốc hùng mạnh nhất trong lịch sử và là thế lực đứng đầu toàn cầu trong hơn một thế kỷ. Đến năm 1913, Đế quốc Anh cai trị khoảng 412,2 triệu người, chiếm 23% dân số thế giới lúc đó và bao phủ diện tích hơn 35.500.000 km², gần một phần tư tổng diện tích toàn cầu. Do vậy, những di sản về văn hóa, ngôn ngữ, luật pháp của Đế quốc Anh được truyền bá rộng rãi. Vào thời điểm nó đạt tới đỉnh cao của quyền lực, Đế quốc Anh thường được ví với câu nói "đế quốc có mặt trời không bao giờ lặn" bởi vì sự mở rộng cương thổ ra toàn địa cầu đồng nghĩa với việc mặt trời luôn chiếu sáng trên ít nhất một trong những vùng lãnh thổ của nó.

Trong suốt Thời đại Khám phá vào thế kỷ XV và XVI, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là hai quốc gia châu Âu đi tiên phong trong phong trào thám hiểm thế giới và trong quá trình đó họ đã thiết lập các đế quốc hải ngoại lớn. Đố kỵ với sự thịnh vượng vô cùng lớn mà hai đế quốc thực dân này giành được, các nước Anh, Pháp và Hà Lan bắt đầu thiết lập các thuộc địa và các mạng lưới mậu dịch của họ tại châu Mỹ và châu Á. Một loạt cuộc chiến với Pháp và Hà Lan trong thế kỷ XVII và XVIII đã giúp Anh trở thành một cường quốc chi phối thống trị tại Bắc Mỹ và Ấn Độ. Nhưng đồng thời, uy thế của nước Anh (và cả Pháp) bị hạn chế tại châu Âu sau năm 1763, trước sự phát triển lớn mạnh của các cường quốc phía Đông như Phổ, Áo và Nga.Sự kiện Mười ba thuộc địa tại Bắc Mỹ giành được độc lập vào năm 1783 sau cuộc Chiến tranh Cách mạng Mỹ khiến cho nước Anh mất đi một số thuộc địa lâu đời nhất và đông dân nhất của mình. Ngay sau đó nước Anh nhanh chóng chuyển sự quan tâm sang châu Phi, châu Á và Thái Bình Dương. Sau thất bại của nước Pháp trong cuộc chiến tranh Cách mạng Pháp và chiến tranh Napoléon (1792 – 1815), nước Anh tận hưởng một thế kỷ thống trị hầu như không có đối thủ, và mở rộng phạm vi trên khắp toàn cầu. Địa vị thống trị của Anh sau này được ca ngợi như là Pax Britannica (Thái bình Anh Quốc), một giai đoạn mà châu Âu và thế giới tương đối thái bình (1815 – 1914), đây là thời điểm mà nước Anh nắm quyền bá chủ toàn cầu và trở thành người canh giữ cho hoà bình thế giới. Vào đầu thể kỷ 19, cuộc Cách mạng công nghiệp bắt đẩu biến đổi nước Anh; tại thời điểm diễn ra cuộc "Đại Triển Lãm" vào năm 1851, nước Anh được ca ngợi như là "công xưởng của thế giới". Đế quốc Anh còn bành trướng đến Ấn Độ, phần lớn Châu Phi và nhiều khu vực khác trên thế giới. Cùng với sự kiểm soát chính thức của nước Anh đối với các thuộc địa riêng của mình, nó còn thống trị gần như toàn bộ nền thương mại của thế giới đồng nghĩa với việc là nó kiểm soát nền kinh tế của nhiều khu vực khác như châu Á và Mỹ Latinh.Tại nước Anh, những quan điểm chính trị đã thay đổi theo hướng ủng hộ chính sách tự do thương mại cùng chính sách tự do và phổ cập hoá đặc quyền bầu cử. Vào thế kỷ XIX, dân số của nước Anh đã gia tăng một cách mạnh mẽ, cùng với đó quá trình đô thị hoá nhanh chóng mà gây nên những căng thẳng nghiêm trọng về cả kinh tế cũng như xã hội. Để tìm kiếm các thị trường và các nguồn tài nguyên mới, Đảng Bảo thủ dưới thời Benjamin Disraeli đã khởi động một kỷ nguyên mới của chủ nghĩa bành trướng đế quốc tại Ai Cập, Nam Phi và nhiều nơi khác. Nhiều thuộc địa như Canada, Úc và New Zealand được trao quyền tự trị, một vài trong số đó được tái phân loại là quốc gia tự trị.Đến đầu thế kỷ XX, sự phát triển lớn mạnh của Đức và Hoa Kỳ làm xói mòi phần nào vị thế dẫn đầu về kinh tế của nước Anh. Chính sách đối ngoại của Anh quốc tập trung vào mối quan hệ hợp tác chặt chẽ và hữu nghị với Hoa Kỳ, nhưng những căng thẳng về vấn đề ngoại giao và quân sự khiến quan hệ với nước Đức ngày càng trở nên xấu đi và là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Trong thời kỳ diễn ra cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, nước Anh đã phải dựa nhiều vào đế quốc của mình về mặt nhân sự cũng như lương thực. Cuộc chiến này đã tạo ra một gánh nặng to lớn cả về mặt quân sự, tài chính và nguồn nhân lực cho nước Anh. Mặc dù sau cuộc chiến này, cương thổ của Đế quốc Anh đã được mở rộng lên tới cực điểm, bản thân nó đã không còn giữ được vị thế như là một cường quốc vô song về quân sự và công nghiệp được nữa. Trong Chiến tranh thế giới lần hai, các thuộc địa của Anh tại Đông Nam Á đã bị Nhật Bản chiếm đóng, điều này đã làm cho uy tín của đế quốc Anh bị suy giảm nghiêm trọng và đẩy nhanh quá trình sụp đổ của đế quốc này. Sau chiến tranh, Anh phải trao quyền độc lập cho thuộc địa đông dân và giá trị nhất là Ấn Độ. Trong những năm còn lại của thế kỷ XX, phần lớn những thuộc địa của Đế quốc Anh giành được độc lập như một phần của phong trào phi thuộc địa hóa từ các cường quốc châu Âu, kết thúc với việc chuyển giao Hồng Kông cho Trung Quốc vào năm 1997. 14 lãnh thổ ở hải ngoại hiện vẫn thuộc chủ quyền của Anh.

Sau độc lập, nhiều cựu thuộc địa của Anh gia nhập Thịnh vượng chung các Quốc gia, một hiệp hội tự do của các quốc gia độc lập. 16 quốc gia có chung một nguyên thủ, Nữ vương Elizabeth II, đó là Vương quốc Khối thịnh vượng chung.

Ấn hóa

Ấn hóa hay Ấn Độ hóa có thể là:

Sự lan tỏa văn hóa Ấn Độ vượt ra ngoài tiểu lục địa Ấn Độ trong lịch sử:

Văn hóa quyển Ấn Độ

Phạn hóa

Vương quốc Ấn hóa

Ấn Độ giáo ở Đông Nam Á

Sự truyền bá Phật giáo qua Con đường tơ lụa

Ấn Độ

Ấn Độ (tiếng Hindi: भारत, chuyển tự Bhārata, tiếng Anh: India), tên gọi chính thức là Cộng hòa Ấn Độ (tiếng Hindi: भारत गणराज्य, chuyển tự Bhārat Gaṇarājya, tiếng Anh: Republic of India), là một quốc gia tại Nam Á. Đây là quốc gia lớn thứ bảy về diện tích, và đông dân thứ nhì trên thế giới với trên 1,33 tỷ người. Ấn Độ tiếp giáp với Ấn Độ Dương ở phía Nam, biển Ả Rập ở phía Tây – Nam và vịnh Bengal ở phía Đông – Nam; có biên giới trên bộ với Pakistan ở phía Tây; với Trung Quốc, Nepal, và Bhutan ở phía Đông – Bắc; và Myanmar cùng Bangladesh ở phía Đông. Trên Ấn Độ Dương, Ấn Độ lân cận với Sri Lanka và Maldives; thêm vào đó, Quần đảo Andaman và Nicobar của Ấn Độ có chung đường biên giới trên biển với Thái Lan và Indonesia.

Tiểu lục địa Ấn Độ là nơi xuất hiện văn minh lưu vực sông Ấn cổ đại, có các tuyến đường mậu dịch mang tính lịch sử cùng những đế quốc rộng lớn, và trở nên giàu có về thương mại và văn hóa trong hầu hết lịch sử lâu dài của mình. Đây cũng là nơi bắt nguồn của bốn tôn giáo lớn: Ấn Độ giáo, Phật giáo, Jaina giáo và Sikh giáo; trong khi Do Thái giáo, Hỏa giáo, Cơ Đốc giáo và Hồi giáo được truyền đến vào thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên và cũng giúp hình thành nền văn hóa đa dạng của khu vực. Khu vực dần bị thôn tính và chuyển sang nằm dưới quyền quản lý của Công ty Đông Ấn Anh từ đầu thế kỷ XVIII, rồi nằm dưới quyền quản lý trực tiếp của Anh Quốc từ giữa thế kỷ XIX. Ấn Độ trở thành một quốc gia độc lập vào năm 1947 sau một cuộc đấu tranh giành độc lập dưới hình thức đấu tranh bất bạo động do Mahatma Gandhi lãnh đạo.

Nền kinh tế Ấn Độ lớn thứ 5 thế giới xét theo GDP danh nghĩa (năm 2018), được dự báo trở thành nền kinh tế thứ 4 thế giới vào năm 2021, hiện tại là nền kinh tế lớn thứ ba thế giới xét theo sức mua tương đương (PPP). Sau các cải cách kinh tế dựa trên cơ sở thị trường vào năm 1991, Ấn Độ trở thành một trong số các nền kinh tế lớn có mức tăng trưởng nhanh; và được nhận định là một nước công nghiệp mới. Tuy nhiên, quốc gia này vẫn tiếp tục phải đối diện với những thách thức từ nghèo đói, nạn tham nhũng, tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em nông thôn, giáo dục và y tế công thiếu thốn, và chủ nghĩa khủng bố. Ấn Độ là một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân và là một cường quốc trong khu vực, có quân đội thường trực lớn thứ ba và xếp hạng tám về chi tiêu quân sự trên thế giới, đồng thời được đánh giá là một siêu cường tiềm năng. Ấn Độ là một nước cộng hòa lập hiến liên bang theo thể chế nghị viện, gồm có 29 bang và 7 lãnh thổ liên bang. Ấn Độ là một xã hội đa nguyên, đa ngôn ngữ và đa dân tộc. Đây cũng là nơi có sự đa dạng về loài hoang dã trong nhiều khu vực được bảo vệ.

Các khu vực trên thế giới

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.