Tiếng Hebrew

Tiếng Hebrew (phiên âm tiếng Việt: Híp-ri, Hê-brơ, Hi-bru, hoặc Hy-bá-lai), cũng được gọi một cách đại khái là "tiếng Do Thái", là một ngôn ngữ bản địa tại Israel, được sử dụng bởi hơn 9 triệu người trên toàn cầu, trong đó 5 triệu ở Israel.[3][5] Về mặt lịch sử, đây là ngôn ngữ của người Israel cổ đại và tổ tiên họ, dù nó không được gọi là "Hebrew" trong Tanakh.[note 2] Những mẫu viết chữ Cổ Hebrew cổ nhất có niên đại từ thế kỷ 10 Trước Công Nguyên.[7] Tiếng Hebrew thuộc về nhánh Semit của ngữ hệ Phi-Á. Tiếng Hebrew được viết và đọc từ phải sang trái, giống tiếng Ả Rập và tiếng Ba Tư.

Tiếng Hebrew biến mất như một ngôn ngữ nói hàng ngày từ khoảng năm 200 đến 400, do hậu quả của khởi nghĩa Bar Kokhba.[1][2][note 3] Tiếng Aram và (ở mức độ thấp hơn) tiếng Hy Lạp lúc đó được sử dụng như lingua franca, đặc biệt trong giới thượng lưu và dân nhập cư.[9] Nó tồn tại qua thời kỳ trung cổ như ngôn ngữ dùng trong phụng vụ Do Thái giáo và văn học giáo đoàn. Sau đó, vào thế kỷ 19, nó được hồi sinh như một ngôn ngữ nói và viết, và, theo Ethnologue, trở thành ngôn ngữ của 5 triệu người toàn cầu vào năm 1998. Sau Israel, Hoa Kỳ có số người nói tiếng Hebrew đông thứ nhì, với 220.000 người nói thành thạo,[10] đa số đến từ Israel.

Tiếng Hebrew hiện đại là một trong hai ngôn ngữ chính thức của Nhà nước Israel (ngôn ngữ còn lại là tiếng Ả Rập chuẩn hiện đại), còn tiếng Hebrew tiền hiện đại được dùng khi cầu nguyện và nghiên cứu trong các cộng đồng người Do Thái hiện nay. Tiếng Hebrew cổ đại cũng là ngôn ngữ phụng vụ của người Samaria. Như một ngoại ngữ, nó được đa phần người Do Thái và các nghiên cứu sinh Do Thái giáo và Israel, các nhà khảo cổ và ngôn ngữ học chuyên về Trung Đông và các nền văn minh của nó, học và nghiên cứu.

Ngũ Thư (Torah) và hầu hết phần còn lại của Kinh Thánh Hebrew (Tanakh) được viết bằng tiếng Hebrew Cổ điển (hay tiếng Hebrew Kinh Thánh). Vì lý do này, từ thời cổ đại tiếng Hebrew đã được người Do Thái gọi là Leshon HaKodesh, "Thánh ngữ".

Tiếng Hebrew

עברית, Ivrit
Temple Scroll
Một phần của cuộn sách Temple, một trong những cuộn dài nhất của Biển Chết được phát hiện tại Qumran
Phát âm[(ʔ)ivˈʁit] - [(ʔ)ivˈɾit][note 1]
Sử dụng tạiIsrael
Khu vựcVùng đất Israel
Tuyệt chủngTiếng Hebrew cổ đại tuyệt chủng khoảng năm 400 CN, tồn tại như một ngôn ngữ phụng vụ trong Do Thái giáo[1][2]
Phục hồi9,0 triệu người nói tiếng Hebrew hiện đại trong đó 5 triệu ở Israel. (2016)[3]
Dân tộcNgười Israel cổ đại; người Do Thái & người Samaria
Phân loạiPhi-Á
  • Semit
    • Trung Semit
      • Tây Bắc Semit
        • Canaan
          • Tiếng Hebrew
Ngôn ngữ tiền thân
Tiếng Hebrew Kinh Thánh
  • Tiếng Hebrew Mishnah
    • Tiếng Hebrew trung cổ
      • Tiếng Hebrew
Dạng chuẩn
Tiếng Hebrew hiện đại
Hệ chữ viếtChữ Hebrew
Địa vị chính thức
Ngôn ngữ chính thức tại
 Israel (dưới dạng tiếng Hebrew hiện đại)
Quy định bởiViện hàn lâm Ngôn ngữ Hebrew
האקדמיה ללשון העברית (HaAkademia LaLashon HaʿIvrit)
Mã ngôn ngữ
ISO 639-1he
ISO 639-2heb
ISO 639-3tùy trường hợp:
heb – Tiếng Hebrew hiện đại
hbo – Tiếng Hebrew cổ điển (phụng vụ)
smp – Tiếng Hebrew Samaria (phụng vụ)
none – Ammon (tuyệt chủng)
obm – Moab (tuyệt chủng)
xdm – Edom (tuyệt chủng)
Glottologhebr1246[4]
Linguasphere12-AAB-a
Idioma hebreo
Vùng nói tiếng Hebrew:
  vùng nơi tiếng Hebrew là ngôn ngữ chính (Israel)
  vùng nơi tiếng Hebrew là ngôn ngữ thiểu số đáng kể (Bờ TâyCao nguyên Golan)

Từ nguyên

Từ hiện đại "Hebrew" bắt nguồn từ chữ "Ibri" (số nhiều "Ibrim"), một trong những tên gọi người Israel cổ đại. Nó thường được hiểu là một tính từ dựa vào tên của tổ tiên của Abraham, Eber ("Ebr" עבר trong tiếng Hebrew), được đề cập đến trong Sáng thế ký 10:21. Tên này có thể dựa trên gốc từ "ʕ-b-r" (עבר) có nghĩa là "vượt qua". Cách giải thích của thuật ngữ "ʕibrim" liên kết nó với động từ này; vượt qua và hoặc những người vượt qua sông Euphrates.[11]

Trong Kinh Thánh, tiếng Hebrew còn được gọi là Yәhudit (יהודית) vì Judah (Yәhuda) là vương quốc còn tồn tại tại thời điểm nhắc đến (cuối thế kỷ thứ 8 TCN (Is 36, 2 Kings 18)). Trong Ê-sai 19:18, nó còn được gọi là "Ngôn ngữ của Canaan" (שפת כנען).

Ghi chú

  1. ^ Sephard [ʕivˈɾit]; Iraq [ʕibˈriːθ]; Yemen [ʕivˈriːθ]; Ashkenaz [iv'ʀis] hoặc [iv'ris]
  2. ^ Trong Tanakh (Kinh Thánh Do Thái), tiếng Hebrew được gọi là Yehudit "ngôn ngữ của Judah" hay səpaṯ kəna‘an "ngôn ngữ của Canaan".[1][6] Sau đó Josephus và Phúc Âm Gioan dùng thuật ngữ Hebraisti để chỉ cả tiếng Hebrew và tiếng Aram.[1]
  3. ^ Sáenz-Badillos, Ángel and John Elwolde: "There is general agreement that two main periods of RH (Rabbinical Hebrew) can be distinguished. The first, which lasted until the close of the Tannaitic era (around 200 CE), is characterized by RH as a spoken language gradually developing into a literary medium in which the Mishnah, Tosefta, baraitot and Tannaitic midrashim would be composed. The second stage begins with the Amoraim and sees RH being replaced by Aramaic as the spoken vernacular, surviving only as a literary language. Then it continued to be used in later rabbinic writings until the tenth century in, for example, the Hebrew portions of the two Talmuds and in midrashic and haggadic literature."[8]

Chú thích

  1. ^ a ă â b “A History of the Hebrew Language”. google.co.uk.
  2. ^ a ă "Hebrew" in The Oxford Dictionary of the Christian Church, edit. F.L. Cross, first edition (Oxford, 1958), 3rd edition (Oxford 1997). The Oxford Dictionary of the Christian Church which once said, in 1958 in its first edition, that Hebrew "ceased to be a spoken language around the fourth century BCE", now says, in its 1997 (third) edition, that Hebrew "continued to be used as a spoken and written language in the New Testament period".
  3. ^ a ă About World Languages - Hebrew
  4. ^ Nordhoff, Sebastian; Hammarström, Harald; Forkel, Robert và đồng nghiệp biên tập (2013). “Hebrewic”. Glottolog. Leipzig: Max Planck Institute for Evolutionary Anthropology.
  5. ^ Nachman Gur, Behadrey Haredim. “Kometz Aleph – Au• How many Hebrew speakers are there in the world?”. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2013.
  6. ^ Rick Aschmann, “Hebrew” in Genesis
  7. ^ “Most ancient Hebrew biblical inscription deciphered”. Physorg.com. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2013.
  8. ^ Sáenz-Badillos, Ángel and John Elwolde. 1996. A history of the Hebrew language. P.170-171
  9. ^ "If you couldn't speak Greek by say the time of early Christianity you couldn't get a job. You wouldn't get a good job. a professional job. You had to know Greek in addition to your own language. And so you were getting to a point where Jews...the Jewish community in say Egypt and large cities like Alexandria didn't know Hebrew anymore they only knew Greek. And so you need a Greek version in the synagogue." -- Josheph Blankinsopp, Professor of Biblical Studies University of Notre Dame in A&E's Who Wrote the Bible
  10. ^ “Table 53. Languages Spoken At Home by Language: 2009”, The 2012 Statistical Abstract (U.S. Census Bureau), truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2011
  11. ^ “הספריה של מט"ח”. Lib.cet.ac.il. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2013.

Sách tham khảo

  • Hoffman, Joel M, 2006. In the Beginning: A Short History of the Hebrew Language. New York: NYU Press. ISBN 0-8147-3654-8.
  • Izre'el, Shlomo, 2001. "The emergence of Spoken Israeli Hebrew", in: Benjamin Hary (ed.), The Corpus of Spoken Israeli Hebrew (CoSIH): Working Papers I.
  • Kuzar, Ron, 2001. Hebrew and Zionism: A Discourse Analytic Cultural Study. Berlin & New York: Mouton de Gruyter. ISBN 3-11-016993-2 / ISBN 3-11-016992-4.
  • Laufer, Asher, 1999. "Hebrew", in: Handbook of the International Phonetic Association. Cambridge University Press. ISBN 0-521-65236-7, ISBN 0-521-63751-1.
  • Sáenz-Badillos, Angel, 1993. A History of the Hebrew Language (trans. John Elwolde). Cambridge, England: Cambridge University Press. ISBN 0-521-55634-1
  • Zuckermann, Ghil'ad, 2003. Language Contact and Lexical Enrichment in Israeli Hebrew. Palgrave Macmillan. ISBN 9781403917232 / ISBN 9781403938695.

Liên kết ngoài

General
Courses, tutorials, dictionaries
Miscellaneous
Ada Yonath

Ada E. Yonath (sinh 1939) (tiếng Hebrew: עדה יונת‎, phát âm [ˈada joˈnat]) là một nhà tinh thể hoc người Israel được biết đến nhờ các công trình nghiên cứu về cấu trúc và chức năng của ribosome. Hiện nay bà là giám đốc của Helen and Milton A. Kimmelman Center for Biomolecular Structure and Assembly thuộc Viện khoa học Weizmann.

Ada E. Yonath tốt nghiệp đại học và cao học ở Đại học Jerusalem. Sau đó bà hoàn thành luận án tiến sĩ về X-ray tinh thể học tại Viện nghiên cứu khoa học Weizmann. Năm 2009, bà được trao giải Nobel hóa học cùng với hai nhà khoa học khác là Venkatraman Ramakrishnan và Thomas A. Steitz. Ada E. Yonath là nữ khoa học gia đầu tiên đoạt giải Nobel Hóa học kể từ năm 1964 và là người phụ nữ thứ tư trong lịch sử đoạt giải Nobel Hóa học.Yonath là người Israel thứ chín chiếm một giải Nobel và là phụ nữ thứ tư chiếm giải Nobel Hóa học và là người đầu tiên kể từ năm 1964, khi bà Dorothy Crowfoot Hodgkin của Anh được tặng giải thưởng này.

Beit Shemesh

Beit Shemesh (tiếng Hebrew: בֵּית שֶׁמֶשׁ,; tiếng Hy Lạp: Βαιθσαμυς; tiếng Latinh: Bethsames) là một thành phố của Israel. Thành phố Beit Shemesh thuộc quận Jerusalem. Thành phố này có diện tích km2, dân số là 80.000 người Lịch sử Beit Shemesh có từ thời tiền sử còn thành phố Beit Shemesh được thành lập năm 1950.

Bob Dylan

Robert Allen Zimmerman (sinh ngày 24 tháng 5 năm 1941, tiếng Hebrew רוברט אלן צימרמאן‎, tên Hebrew שבתאי זיסל בן אברהם [Shabtai Zisl ben Avraham), được biết đến với nghệ danh Bob Dylan, là ca sĩ, nhạc sĩ, diễn viên, họa sĩ, nhà văn và nhà biên kịch người Mỹ. Ông là một trong những nghệ sĩ có ảnh hưởng nhất tới nền âm nhạc nói riêng và văn hóa thế giới nói chung trong suốt năm thập kỷ trở lại đây. Những thành tựu lớn nhất của ông chủ yếu có được trong thập niên 1960 khi ông trực tiếp là người khởi xướng và đi đầu trong những phong trào xã hội. Rất nhiều ca khúc những ngày đầu của Dylan, tiêu biểu là "Blowin' in the Wind" và "The Times They Are a-Changin'", đã trở thành thánh ca của các hoạt động nhân quyền và phản đối chiến tranh. Bỏ lại sau lưng sự phục hưng của dòng nhạc folk vốn là bệ phóng ban đầu của ông, đĩa đơn "Like a Rolling Stone" (1965) đã trực tiếp thay đổi bộ mặt nền âm nhạc đại chúng lúc bấy giờ. Những sản phẩm của ông kể từ giữa thập niên 1960, hợp tác với nhiều nghệ sĩ rock đương thời, đều có được vị trí cao tại các bảng xếp hạng của Mỹ, đồng thời nhận được nhiều thái độ chê bai và gièm pha từ làn sóng nhạc folk.

Ca từ của Dylan là sự kết hợp phức tạp giữa tính chính trị, xã hội, triết học và cả văn học. Nội dung của chúng trái hoàn toàn với thứ nhạc pop thông thường và là tiền đề cho phong trào phản văn hóa. Vốn ngưỡng mộ phong thái của Little Richard và cách viết nhạc của những Woody Guthrie, Robert Johnson và Hank Williams, Dylan đã cộng hưởng và tạo nên phong cách của riêng mình. Sự nghiệp thu âm kéo dài tới hơn 50 năm của ông là sự trải nghiệm của rất nhiều phong cách truyền thống đa dạng của nước Mỹ, từ folk, blues và nhạc đồng quê cho tới nhạc phúc âm, rock 'n' roll và rockabilly cũng như nhạc folk từ Anh, Scotland và Ireland, đôi lúc pha trộn với jazz và swing. Thương hiệu trình diễn của Dylan là sử dụng harmonica, guitar và keyboard. Cho dù thay đổi rất nhiều nhạc sĩ cộng tác, ông vẫn đi lưu diễn đều đặn kể từ cuối thập niên 1980 mà sau này ông đặt tên Never Ending Tour. Sự dung hòa giữa hình ảnh nghệ sĩ trình diễn và nghệ sĩ thu âm chính là điểm nhấn trong sự nghiệp của Dylan, song những đóng góp lớn nhất của ông vẫn là dưới vai trò người viết nhạc.

Kể từ năm 1994, Dylan đã cho phát hành 6 cuốn sách về những tác phẩm hội họa của mình và rất nhiều trong số chúng đã được trưng bày tại các triển lãm lớn nhỏ. Trong vai trò nhạc sĩ, ông đã bán được ít nhất 100 triệu đĩa nhạc, điều này giúp ông trở thành một trong số những nghệ sĩ có số đĩa bán chạy nhất mọi thời đại, ngoài ra ông cũng đạt được vô số danh hiệu và giải thưởng, trong đó có thể kể tới giải Grammy, giải Quả cầu vàng và giải Oscar; ông cũng được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll, Đại sảnh Danh vọng âm nhạc Minnesota, Đại sảnh Danh vọng nhạc sĩ Nashville và Đại sảnh Danh vọng nhạc sĩ. Dylan cũng được trao giải Pulitzer báo chí năm 2008 cho "những đóng góp đặc biệt của ông cho âm nhạc và văn hóa, chủ yếu với những ca từ phức tạp kết hợp với sức mạnh đặc biệt của thi ca". Năm 2004, ông được tạp chí danh tiếng Rolling Stone bình chọn là nghệ sĩ vĩ đại thứ 2 mọi thời đại, chỉ sau ban nhạc The Beatles. Tháng 5 năm 2012, ông được Tổng thống Mỹ Barack Obama trao Huân chương Tự do. Năm 2016, ông nhận giải Nobel Văn học vì "đã tạo ra những sự diễn đạt thi vị theo cách mới trong truyền thống ca khúc tuyệt vời của Mỹ".

Druze

Druze (tiếng Ả Rập: درزي‎ derzī hay durzī, số nhiều دروز durūz; tiếng Hebrew: דרוזי‎ drūzī số nhiều דרוזים, druzim) là nhóm tôn giáo-sắc tộc nói tiếng Ả Rập, bắt nguồn từ Tây Á, tự nhận là những người theo thuyết nhất thể (Al-Muwaḥḥidūn/Muwahhidun). Ngoài ra, Druze còn là một tôn giáo không chính thức.

Givatayim

Giv'atayim (tiếng Hebrew: גִּבְעָתַיִם, nghĩa là "hai ngọn đồi") là một thành phố của Israel. Thành phố Giv'atayim thuộc quận. Thành phố này có diện tích km2, dân số là 53.000 người. Giv'atayim nằm ở phía đông của Tel Aviv ở Israel. Nó là một phần của khu vực đô thị được gọi là Gush Dan. Givatayim được thành lập vào năm 1922 bởi những người tiên phong của Aliyah thứ hai.

Kitô giáo

Kitô giáo (thuật ngữ phiên âm) hay Cơ Đốc giáo (thuật ngữ Hán Việt) là một trong các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham, đặt nền tảng trên giáo huấn, sự chết trên thập tự giá và sự sống lại của Giêsu Kitô như được ký thuật trong Kinh thánh Tân Ước. Kitô hữu (Cơ Đốc nhân) tin rằng Giêsu là Con của Thiên Chúa và là Đấng Messiah của người Do Thái như đã được tiên báo trong Kinh thánh Cựu Ước. Thuộc tôn giáo độc thần, hầu hết Kitô hữu tin rằng chỉ có một Thiên Chúa duy nhất hiện hữu trong ba thân vị (tiếng Hy Lạp: hypostasis) gọi là Ba Ngôi. Kitô giáo đóng một vai trò quan trọng trong nền văn hóa và văn minh phương Tây.

Trải qua hai thiên niên kỷ, các bất đồng về thần học và giáo hội học đã hình thành các hệ phái Kitô giáo khác nhau. Bốn nhánh chính hiện nay của Kitô giáo là Công giáo Rôma, Kháng Cách (Tin Lành), Chính Thống giáo Đông phương, và Chính Thống giáo Cựu Đông phương. Công giáo Tây phương, Chính Thống giáo Đông phương và Chính thống giáo Cựu Đông phương cắt đứt hiệp thông với nhau trong cuộc Ly giáo Đông–Tây năm 1054 và cuộc Ly giáo Chalcedon khởi đầu năm 451. Kháng Cách (cũng thường gọi là Tin Lành), không phải là một hệ phái đơn nhất nhưng là thuật từ nhóm hợp, phát sinh từ cuộc Cải cách Kháng nghị thế kỷ 16. Tính chung, Kitô giáo là tôn giáo lớn nhất thế giới với khoảng 2,3 tỉ tín hữu, chiếm hơn 31% dân số thế giới (năm 2015).Từ nguyên của "Kitô" là Χριστός (Khristos) trong tiếng Hy Lạp, nghĩa là "Đấng được xức dầu", dịch theo danh hiệu Messiah trong tiếng Hebrew. Trong tiếng Việt, người Công giáo dùng từ "Kitô" để gọi danh hiệu này của Giêsu, trong khi người Tin Lành thường dùng từ "Christ". Bên cạnh từ "Kitô" phiên âm qua tiếng Bồ Đào Nha được sử dụng bởi tín hữu Công giáo, còn có từ "Cơ Đốc" xuất phát từ chữ Nho (基督) và thường được tín hữu Tin Lành sử dụng. Ngoài ra, một số người cũng dùng cách gọi Thiên Chúa giáo để chỉ Công giáo nói riêng và Kitô giáo nói chung.

Maria

Maria (từ tiếng Latinh; tiếng Hebrew: מרים‎, chuyển tự Miriam), thường còn được gọi là Đức Mẹ hay bà Mary (xem thêm), là một phụ nữ người Do Thái quê ở Nazareth, thuộc xứ Galilea, sống trong khoảng những năm cuối thế kỷ I TCN đến đầu thế kỷ I CN. Theo Tân Ước và kinh Qur'an bà là mẹ của Giê-su. Các Kitô hữu coi Giêsu con trai bà là "Đấng Kitô" (nghĩa là Người được xức dầu), Con Thiên Chúa, Ngôi Lời nhập thể, trong khi người Hồi giáo coi Giêsu là Đấng Messiah, là vị tiên tri quan trọng nhất của Thiên Chúa gửi đến cho dân tộc Israel và là tiên tri cao trọng thứ hai sau tiên tri Muhammad.

Trong Phúc âm Matthew và Phúc âm Luke, Maria được mô tả là một trinh nữ (tiếng Hy Lạp: παρθένος, parthénos. Theo truyền thống, các tín đồ Kitô hữu tin rằng bà mang thai và sinh ra Giêsu là do quyền năng của Chúa Thánh Thần. Người Hồi giáo tin rằng bà được thụ thai theo lời phán của Thiên Chúa. Việc mang thai này xảy ra khi bà - lúc đó còn là một thiếu nữ khoảng 14 tuổi (theo Cựu ước) - đã đính hôn với Giuse, và ông bà đang trong thời gian chờ hoàn thiện nghi thức kết hôn theo tập tục của người Do Thái. Sau khi biết mình có thai, bà và Giuse cùng chuyển đến vùng Bethlehem, tại đây bà đã hạ sinh Giêsu.

Những lời đầu tiên mà kinh Tân Ước tường thuật về cuộc đời của bà Maria là biến cố truyền tin, theo đó, sứ thần Gabriel đã hiện ra với bà để báo tin rằng bà được Thiên Chúa chọn để làm mẹ của Giêsu. Sau này, Tân Ước có một đôi lần nhắc đến người mẹ Giêsu trong một vài sự kiện khác. Một số truyền thuyết trong các giáo hội Kitô giáo còn cho rằng cha mẹ của Maria là Gioakim và Anna. Một số nguồn thông tin khác không thuộc quy điển Kinh Thánh có viết về sự qua đời và hồn xác lên trời của bà Maria.

Bà Maria đã sớm được tôn kính trong đức tin của Kitô giáo, đặc biệt là trong Giáo hội Công giáo Rôma và Chính Thống giáo Đông Phương. Họ gọi bà là Đức Mẹ. Trong Tin Lành và Hồi Giáo, Maria cũng được nhìn nhận với một vị trí đặc biệt. Trong một thời gian dài, bà Maria là chủ đề được ưa thích trong các tác phẩm hội họa, âm nhạc và văn học Kitô giáo. Ngày lễ mừng kính bà được Công giáo Rôma, Chính thống giáo Đông phương và Anh giáo đồng cử hành là ngày 8 tháng 9. Ngoài ra, còn có thêm rất nhiều ngày lễ suy tôn bà Maria, tính theo những tước hiệu và sự kiện, được Giáo hội Công giáo mừng kính vào các ngày khác trong năm.

Modi'in-Maccabim-Re'ut

Modi'in-Maccabim-Re'ut (tiếng Do Thái: מודיעין-מכבים-רעות, tiếng Ả Rập: موديعين مكابيم ريعوت) là một thành phố của Israel. Thành phố Modi'in-Maccabim-Re'ut thuộc quận Trung tâm. Thành phố Modi'in-Maccabim-Re'ut có diện tích km2, dân số là 74.300 người (năm 2010). Thành phố nằm gần như trung độ giữa Tel Aviv và Jerusalem. Thành phố được lập năm 2003 thông qua sự hợp nhất Modi'in và Maccabim-Re'ut.

Petah Tikva

Petah Tikva (tiếng Hebrew: פֶּתַח תִּקְוָה) là một thành phố của Israel. Thành phố Petah Tikva thuộc quận Trung tâm. Thành phố Petah Tikva có diện tích 35,9 km2, dân số là 209.600 người (cuối năm 2009). Thành phố có cự ly 10,6 km (6,59 mi) về phía đông của Tel Aviv.

Quận Haifa

Quận Haifa (tiếng Hebrew: מחוז חיפה‎, Mehoz Ḥeifa; tiếng Ả Rập: منطقة حيفا‎) là một quận hành chính bao quanh thành phố Haifa, Israel. Đây là một trong sáu quận hành chính của Israel, và thủ phủ của quận là Haifa. Diện tích của quận là 864 km² (299,3 mi²).Theo Cục Thống kê Trung ương Israel, và cuối năm 2005, dân số của quận ở mức 858.000, trong đó 71,27% là người Do Thái, 18,81% là người Ả Rập Hồi giáo, 1,78% là người Ả Rập Kitô hữu, 2,52% là người Druze, và 4.9% không xác định theo tôn giáo, tăng trưởng dân số hàng năm là 0,8%.

Quận Trung (Israel)

Quận Trung (tiếng Hebrew: מחוז המרכז‎, Meḥoz haMerkaz) là một trong sáu quận hành chính của Israel, bao gồm hầu hết vùng Sharon. Thủ phủ của quận là Ramla. Nó được chia tiếp thành 4 phó quận: Petah Tikva, Ramla, Sharon và Rehovot. Thành phố lớn nhất quận là Rishon LeZion. Tổng dân số của quận vào năm 2008 là 1.730.500 người. Theo số liệu Của Cục Thống kê Trung ương Israel 88% dân số quận là người Do Thái, 8,2% là người Ả Rập, và 4% không phận loại, và hầu hết là những người nhập cư từ các nước thuộc Liên Xô cũ có một phần nguồn gốc Do Thái hoặc có quan hệ gia đình với người Do Thái.

Rehovot

Rehovot (tiếng Do Thái: רחובות, tiếng Ả Rập: رحوبوت/رحوفوت) là một thành phố của Israel. Thành phố Rehovot thuộc quận Trung tâm, cự y 20 km về phía nam Tel Aviv. Thành phố Rehovot có diện tích 23,044 km2, dân số là 112.700 người (năm 2009).

Rishon LeZion

Rishon LeZion (tiếng Hebrew: רִאשׁוֹן לְצִיּוֹן, tiếng Ả Rập:) là một thành phố lớn thứ tư của Israel, nằm ở đồng bằng duyên hải Israel 12 km về phía nam Tel Aviv. Thành phố này thuộc vùng đô thị Gush Dan. Thành phố Rishon LeZion thuộc quận quận. Thành phố Rishon LeZion có diện tích km2, dân số là 228.200 người (năm 2009). Được thành lập bởi những người di cư Do Thái ở châu Âu, đây là thuộc địa nông trại thứ nhì của Do Thái ở Đất Israel vào thế kỷ 19, sau Petah Tikva.

Sân bay Eilat

Sân bay Eilat (tiếng Hebrew: נמל התעופה אילת‎, Namal HaTe'ufa Eilat), còn được gọi là gọi là Sân bay J. Hozman (IATA: ETH, ICAO: LLET), là một sân bay tọa lạc ở thành phố Eilat, Israel và được đặt tên theo người sáng lập hãng hàng không Arkia Airlines là Yakov Hozman (Jacob Housman). Sân bay này nằm ở khu vực trung tâm thành phố, trên Quốc lộ 90. Sân bay Eilat chủ yếu phục vụ các chuyến bay nội địa tới Tel Aviv và Haifa và chuyến bay quốc tế tới Sân bay quốc tế Ovda, một số các chuyến bay quốc tế có thể hạ cánh ở đường băng ngắn cũng sử dụng sân bay Eilat.

Sân bay có thể ngừng các hoạt động khai thác hàng không dân sự để trở thành sân bay quân sự khi sân bay mới của thành phố Eilat là Sân bay Timna đi vào hoạt động vào năm 2017.

Tel Aviv

Tel Aviv-Yafo (tiếng Hebrew: תֵּל־אָבִיב-יָפוֹ), thường gọi là Tel Aviv, là thành phố đông dân thứ hai của Israel, với một dân số 382.500 người. Tel Aviv tọa lạc tại bờ biển Địa Trung Hải của Israel trên một diện tích 50.553 dunam tức 19,5 dặm vuông Anh (50,5 km2). Đây là thành phố chính của vùng đô thị đông dân nhất ở Israel, Gush Dan (Dan Bloc), có dân số đạt 3,04 triệu người vào năm 2005. Tel Aviv được công nhận là một ứng cử viên mạnh cho danh hiệu thành phố toàn cầu, và đã được mệnh danh là thành phố có cuộc sống đắt đỏ nhất ở vùng Trung Đông.

Thành phố Tel Aviv ban đầu được thành lập vào năm 1909 bởi những người nhập cư Do Thái làm một nơi thay thế cho khu vực có nhà ở đắt đỏ ở thành phố cảng lịch sử lân cận Jaffa (tiếng Hebrew: יפו, Yafo; tiếng Ả Rập: يافا, Yafa). Sự tăng trưởng mau chóng của Tel Aviv cuối cùng đã khiến nó vượt qua thành phố láng giềng có đa số dân Ả Rập và hai thành phố đã được hợp nhất để tạo thành đô thị Tel Aviv-Yafo vào năm 1950, hai năm sau thành lập nhà nước Israel. Tel Aviv ngày nay được xem như là trung tâm của nền kinh tế định hướng toàn cầu của Israel, và là nơi nương tựa của một khu vực được người ta gọi là "Silicon Wadi". Nó cũng được xem là thủ đô văn hóa của Israel do tính cách thành phố quốc tế, hiện đại và sôi nổi của nó. Thành phố Trắng của Tel Aviv theo kiến trúc Bauhaus đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới năm 2003.

Tel Aviv là một trung tâm kinh tế, nơi có Sở giao dịch chứng khoảng Tel Aviv, văn phòng các công ty và trung tâm nghiên cứu và phát triển. Thành phố là thủ đô tài chính của đất nước và nghệ thuật biểu diễn và trung tâm thương mại lớn. Thành phố Tel Aviv có nền kinh tế thành phố lớn thứ nhì thứ hai ở Trung Đông sau Dubai, và là thành phố đắt đỏ thứ 31 trên thế giới. Với 2,5 triệu du khách quốc tế mỗi năm, Tel Aviv là thành phố được khách tham quan nhiều thứ năm ở Trung Đông và châu Phi. Tel Aviv được gọi là "thành phố không bao giờ ngủ" và một "thủ đô tiệc tùng" do cuộc sống về đêm phát triển mạnh mẽ của nó, bầu không khí trẻ và nổi tiếng văn hóa 24 giờ.

Tiếng Nhật

Tiếng Nhật Bản, Tiếng Nhật hay Nhật ngữ (日本語 (にほんご) (Nhật Bản ngữ), Nihongo, [ɲihoŋɡo] () hoặc [ɲihoŋŋo]) là một ngôn ngữ Đông Á được hơn 130 triệu người sử dụng ở Nhật Bản và những cộng đồng dân di cư Nhật Bản khắp thế giới. Nó là một ngôn ngữ chắp dính (khác biệt với tiếng Việt vốn thuộc vào loại ngôn ngữ đơn lập phân tích cao) và nổi bật với một hệ thống các nghi thức nghiêm ngặt và rành mạch, đặc biệt là hệ thống kính ngữ phức tạp thể hiện bản chất thứ bậc của xã hội Nhật Bản, với những dạng biến đổi động từ và sự kết hợp một số từ vựng để chỉ mối quan hệ giữa người nói, người nghe và người được nói đến trong cuộc hội thoại. Kho ngữ âm của tiếng Nhật khá nhỏ, với một hệ thống ngữ điệu rõ rệt theo từ. Tiếng Nhật cổ nhất được biết đến chủ yếu dựa vào trạng thái của nó vào thế kỷ thứ VIII, khi ba tác phẩm chủ yếu của tiếng Nhật cổ được dịch (hai bộ sử Kojiki (古事記 (こじき) (Cổ sự ký), Kojiki), Nihon Shoki (日本書紀 (にほんしょき) (Nhật Bản thư kỷ), Nihon Shoki), và thi tập Man'yoshu (万葉集 (まんようしゅう) (Vạn diệp tập), Man'yoshu)); nhưng một số lượng tài liệu ít hơn, chủ yếu là chữ khắc, còn cổ hơn. Những chứng thực về tiếng Nhật cổ nhất có thể được tìm thấy trong một số tư liệu thành văn của Trung Quốc từ năm 252.

Tiếng Nhật được viết trong sự phối hợp ba kiểu chữ: kanji (漢字 (かんじ) (Hán tự), kanji "chữ Hán" kiểu Nhật Bản, có một số khác biệt so với Trung Quốc) và hai kiểu chữ tượng thanh (ghi âm tiết) - kana (仮名 (かな) (giả danh), kana) gồm kiểu chữ nét mềm hiragana (平仮名 (ひらがな) (bình giả danh), hiragana) và kiểu chữ nét cứng katakana (片仮名 (カタカナ) (phiến giả danh), katakana). Kanji dùng để viết các từ Hán (mượn của Trung Quốc) hoặc các từ người Nhật dùng chữ Hán để thể hiện rõ nghĩa. Hiragana dùng để ghi các từ gốc Nhật và các thành tố ngữ pháp như trợ từ, trợ động từ, đuôi động từ, tính từ... Katakana dùng để phiên âm từ vựng nước ngoài (kể cả tiếng Trung, tuy có chữ Hán nhưng Katakana vẫn được dùng để phiên âm tiếng Quan Thoại, ví dụ như Thượng Hải 上海, tiếng Nhật dùng "シャンハイ (Shanhai) " để phiên âm từ bính âm là "Shànghăi ", ít khi họ dùng từ Hán-Nhật là "じょうかい" Joukai), và có lúc thay Hiragana để nhấn mạnh từ gốc Nhật (vd như "Kimi" (bạn/cậu), có lúc dùng キミ để nhấn mạnh cho 君 (きみ), giống như trong tiếng Việt ta nhấn mạnh bằng cách cho vào "ngoặc kép" hay VIẾT IN HOA). Bảng ký tự Latinh Rōmaji cũng được dùng trong tiếng Nhật hiện đại, đặc biệt là ở tên và biểu trưng của các công ty, quảng cáo, nhãn hiệu hàng hoá, khi nhập tiếng Nhật vào máy vi tính và được dạy ở cấp tiểu học nhưng chỉ có tính thí điểm. Số Ả Rập theo kiểu phương Tây được dùng để ghi số, nhưng cách viết số theo Kanji như "一二三" ("nhất nhị tam") cũng rất phổ biến.

Từ vựng Nhật chịu ảnh hưởng lớn bởi những từ mượn từ các ngôn ngữ khác. Một số lượng khổng lồ các từ vựng mượn từ tiếng Hán, hoặc được tạo ra theo kiểu của tiếng Hán, tồn tại qua giai đoạn ít nhất 1.500 năm. Từ cuối thế kỷ XIX, tiếng Nhật đã mượn một lượng từ vựng đáng kể từ ngữ hệ Ấn-Âu, chủ yếu là tiếng Anh. Do mối quan hệ thương mại đặc biệt giữa Nhật Bản và Hà Lan vào thế kỷ thứ XVII, tiếng Hà Lan cũng có ảnh hưởng, với những từ như bīru (từ bier; "bia") và kōhī (từ koffie; "cà phê").

Umm al-Fahm

Kiryat Motzkin (tiếng Hebrew: אום אל-פחם, tiếng Ả Rập: أم الفحم) là một thành phố Israel. Thành phố thuộc quận Haifa. Thành phố có diện tích 22,253 km2, dân số năm 2009 là 46.100 người.

Thành phố này nằm trên dãy núi Umm al-Fahm, điểm cao nhất trong số đó là núi Iskander (522 mét so với mực nước biển), nhìn ra Wadi Ara. Umm al-Fahm là trung tâm xã hội, văn hóa và kinh tế cho cư dân của khu vực Wadi Ara và Triangle.

Wikipedia tiếng Hebrew

Wikipedia tiếng Hebrew là một phiên bản Wikipedia, một bách khoa toàn thư mở.

Đội tuyển Fed Cup Israel

Đội tuyển Fed Cup Israel (tiếng Hebrew: נבחרת ישראל בגביע הפדרציה‎) là đội tuyển quốc gia đại diện của Israel ở giải đấu Fed Cup. Ở Fed Cup 2007, họ vào đến Nhóm Thế giới II và Play-off Nhóm Thế giới để vào được Nhóm Thế giới lần đầu tiên trong lịch sử.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.