Thung lũng tách giãn Lớn

Thung lũng tách giãn lớn tiếng Anh là Great Rift Valley là tên được nhà thám hiểm Anh John Walter Gregory đặt vào cuối thế kỷ 19 cho một địa hình dạng máng kéo dài liên tục khoảng 6.000 km2 từ phía bắc Syria, tây nam châu Á đến trung tâm Mozambique, đông Phi. Ngày nay, thuật ngữ này thường được sử dụng để chỉ thung lũng của Đông Phi, là một ranh giới mảng tách giãn kéo dài từ nối ba Afar về phía nam băng qua đông Phi, và là một quá trình chia tách mảng châu Phi thành hai mảng mới. Các nhà địa chất học gọi các mảng này là vi mảng NubiaSomalia.

Đây là một hệ thống vực sâu khoảng 100m, rộng từ 35 km đến 1000 km, dài khoảng 7 nghìn cây số chạy dọc theo hướng Bắc-Nam ở Đông Phi. Có ba vực tất cả, gọi là vực phía đông, vực phía tây và vực phía nam. Dưới vực có vô số suối nước nóng và rất nhiều hồ nhỏ có cá và các loại tảo. Hàng triệu loài chim họp đàn bay về đây tìm thức ăn.

Greatrift
bán đảo Sinai ở trung tâm và biển Chết và thung lũng sông Jordan ở trên

Lịch sử

Cách đây 20 triệu năm, vỏ Trái Đất còn yếu, đã tách tạo ra một vết nứt từ tây nam châu Á chạy dài đến Đông Phi. Trên lục địa châu Phi, vết nứt trải dài hàng nghìn cây số từ bờ tây nam Hồng Hải xuyên qua các quốc gia Ethiopia, Kenya, Tanzania, Malawi, đến hạ lưu sông Zambezi ở thung lũng Mozambique. Có nơi thung lũng này rộng hơn 100 km, nơi hẹp nhất là 45 km, hai bên là vách núi lởm chởm đá tai mèo. Có nơi vách núi cao gần 2.000 m, nơi thấp nhất cũng gần 600 m.

Hệ thống hồ trong thung lũng tách giãn Lớn
UNESCO logo.svg Welterbe.svg
Di sản thế giới của UNESCO
Flickr - Rainbirder - Born of Fire
Thông tin khái quát
Quốc gia Kenya
KiểuThiên nhiên
Tiêu chuẩnvii, ix, x
Tham khảo1060
Vùng UNESCOchâu Phi
Lịch sử công nhận
Công nhận2011 (kỳ họp thứ 35)

Hệ thống hồ trong thung lũng tách giãn Lớn là một di sản thiên nhiên nổi bật gồm ba hồ là: Hồ Bogoria, Hồ Nakuru và Hồ Elementaita với tổng diện tích 32.034 ha. Khu vực có sự đa dạng về các loài chim, là nơi cư trú của 13 loài chim quan trọng, đang bị đe dọa trên toàn cầu bao gồm: các loài cò, bồ nông trắng, hạc...Ngoài ra, nơi đây cũng là nơi sinh sống của nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm khác như tê giác đen, hươu cao cổ Rothschild, sư tử, báo đốm, linh cẩungựa vằn..

Hệ thống hồ và cảnh quan trong thung lũng được hình thành qua các quá trình kiến tạo địa chất và núi lửa phun trào, gồm 3 hồ nước là: Hồ Bogoria, 10.700 ha, Hồ Nakuru, 18.800 ha và Hồ Elementaita, 2.534 ha. Xung quanh là các vách đá dốc, các suối nước nóng, mạch nước phun cùng với một hệ động vật hoang dã sinh sống, kiếm ăn vô cùng ấn tượng. Khu vực là nơi làm tổ của loài bồ nông trắng, các loài cò, hạc, nhiều loài động vật có vú quan trọng cùng với 100 loài chim di trú: chim cộc trắng cổ đen, chim Avocet cẳng dài...

Đọc thêm

  • Africa's Great Rift Valley, 2001, ISBN 0-8109-0602-3
  • Tribes of the Great Rift Valley, 2007, ISBN 978-0-8109-9411-9
  • East African Rift Valley lakes, 2006, OCLC 76876862
  • Photographic atlas of the Mid-Atlantic Ridge Rift Valley, 1977, ISBN 0-387-90247-3
  • Rift Valley fever: an emerging human and animal problem, 1982, ISBN 92-4-170063-7

Xem thêm

Liên kết ngoài

Baalbek

Baalbek (), đúng là Baʿalbek (tiếng Ả Rập: بعلبك‎, chuyển tự Ba’labakk, Syriac-Aramaic: ܒܥܠܒܟ) hoặc Balbec, Baalbec còn được gọi là Baalbeck, là một thành phố nằm ở phía đông sông Litani trong Thung lũng Beqaa của Liban, cách thủ đô Beirut 85 km (53 mi) về phía đông bắc. Nó là thủ phủ của tỉnh Baalbek-Hermel. Vào thời Hy Lạp và La Mã, Baalbek còn được gọi là Heliopolis. Năm 1998, Baalbek có dân số 82.608 người, chủ yếu là người Hồi giáo Shia, sau đó là Hồi giáo Sunni và Kitô giáo.Đây là nơi có quần thể đền thờ Baalbek bao gồm hai trong số những tàn tích đền thờ La Mã lớn nhất và vĩ đại nhất là Đền thờ Bacchus và Đền thờ Jupiter. Nó được UNESCO công nhận là Di sản thế giới từ năm 1984.

Bujumbura

Bujumbura, tên trước đây là Usumbura, là thành phố lớn nhất và cựu thủ đô của Burundi và tỉnh lỵ của tỉnh Bujumbura Mairie, nằm góc đông bắc của hồ Tanganyika. Bujumbura là một trung tâm thương mại và giao thông với tuyến phà nối với Kigoma, Tanzania. Thành phố này có Sân bay quốc tế Bujumbura nằm cách 11 km về phía tây bắc. Bujumbura nằm trong khu vực trồng bông vải, với các ngành kinh tế chính gồm: chế biến bông vải, chế biến cá, cà phê, bia, dược phẩm. Đại học Burundi tọa lạc tại thành phố được thành lập năm 1960.

Những nhà thám hiểm David Livingstone và Henry Morton Stanley đã viến thăm Usumbura năm 1871. Khu vực định cư này sau đó đã trở thành một trại lính quan trọng ở Đông Phi thuộc Đức. Năm 1923, Usumbura trở thành thủ đô của xứ Ruanda-Urundi thuộc Bỉ. Tên thành phố đã được đổi thành Bujumbura khi nó trở thành thủ đô của Burundi độc lập năm 1962. Các xung đột sắc tộc giữa người Tutsi và Hutu ở Bujumbura đã nổ ra năm 1962, 1972, 1988, và 1991. Sau khi tổng thống Burundi Melchior Ndadaye bị ám sát năm 1993 trong một cuộc đảo chính, xung đột Hutu-Tutsi lại leo thang. Hàng ngàn người Hutu đã bỏ thủ đô này ra đi vì đây là khu vực chủ yếu là dân Tutsi. Bạo động tiếp diễn đến năm 1996.

Dãy núi Rwenzori

Dãy núi Rwenzori, trước đây được gọi là dãy Ruwenzori (thay đổi chính tả khoảng 1980 cho phù hợp chặt chẽ với tên gọi địa phương "Rwenjura") và đôi khi còn gọi là núi mặt trăng, là một dãy núi phía đông xích đạo châu Phi, nằm trên biên giới giữa Uganda và Cộng hòa Dân chủ Congo. Dãy núi Rwenzori khởi nguồn cho các sông băng và là một trong những nguồn sông Nile.

Dãy núi Rwenzori đạt độ cao lên đến 5.109 m (16.761 ft). Đỉnh núi cao nhất của Rwenzori vĩnh viễn phủ tuyết trắng và cùng với núi Kilimanjaro và núi Kenya chỉ tọa lạc ở xích đạo châu Phi. Công viên quốc gia dãy núi Rwenzori và công viên quốc gia Virunga nằm trong phạm vi dãy núi.

En Esur

En Esur (tiếng Hebrew: עין אסור‎, "suối cấm") hay Ein Asawir là một khu định cư Canaan thời đại đồ đồng ở miền nam Levant và đã trở thành một thành phố lớn trong khu vực này vào khoảng 5.000 năm trước. Các nhà khảo cổ học đã công bố phát hiện ra thành phố vào năm 2019, cùng với một ngôi đền 7.000 năm tuổi nằm trong thành phố. En Esur sẽ là một trong những thành phố lớn nhất thời bấy giờ trong khu vực. Địa điểm này ngày nay nằm ở quận Haifa thuộc miền bắc Israel.

Hồ Bogoria

Hồ Bogoria là một hồ muối, kiềm nằm trong một khu vực núi lửa trong bồn địa bán địa hào phía nam hồ Baringo, Kenya. Hồ Bogoria cũng như các hồ Nakuru, Elmenteita, và Magadi xa hơn về phía nam của Thung lũng Tách giãn Lớn, cũng như hồ Logipi ở phía bắc, là nơi trú ẩn theo mùa của quần thể hồng hạc nhỏ lớn nhất thế giới. Hồ Bogoria là một khu Ramsar và cũng là khu bảo tồn quốc gia kể từ ngày 29 tháng 11 năm 1973. Hồ Bogoria là hồ nông, cạn (với độ sâu chỉ khoảng 10 mét). Nó có chiều dài 3,5 km và rộng khoảng 34 km, với một lưu vực là 700 km².

Điểm đặc trưng chính của hồ này là đầm lầy Kesubo nằm về phía bắc của hồ và vách đá Siracho nằm ở phía đông, tất cả đều nằm trong khu bảo tồn. Bogoria cũng nổi tiếng với các mạch nước phun và suối nước nóng dọc theo bờ hồ và trong hồ. Tại bốn địa điểm quan sát quanh hồ, có thể thấy ít nhất 10 mạch nước phun, trong đó có những mạch nước phun cao tới 5 mét. Tuy nhiên, hoạt động của các mạch nước này lại chịu ảnh hưởng của lượng nước trong hồ, khi nó làm ngập hay để lộ ra các lỗ phun.

Hồ Bogoria chứa nồng độ cao các ion Na+, HCO3− và CO32−. Chúng bắt nguồn từ dòng chảy vào của sông Waseges (sông Sandai) và sông Emsos. Tại 3 địa điểm trên bờ hồ (Loburu, Chemurkeu và nhóm phía nam gồm Ng'wasis, Koibobei, Losaramat) có khoảng 200 suối nước nóng. Bogoria cũng là nơi có mật độ mạch nước phun thực sự cao nhất châu Phi (ít nhất 18 mạch nước phun được biết đến). Hồ có tính kiềm, với độ pH là 10,5 và là hồ nước mặn với lượng muối lên tới 100 g muối/lít nước hòa tan. Do quanh hồ không có các dòng thoát nước nên nước trở thành mặn là do quá trình bay hơi cao trong khu vực bán khô cằn này. Ngoài ra, Bogoria cũng là một hồ phân tầng, với nước bề mặt ít mặn và nhẹ hơn so với nước phía dưới đáy. Mặc dù là siêu mặn, nhưng hồ có mật độ cao loài tảo lam (Arthrospira fusiformis) là nguồn thức ăn của chim hồng hạc. Có rất ít các loài sinh vật khác trong hồ, như loài luân trùng Brachionus sp. Austria.

Khu vực hồ là quê hương truyền thống của người Endorois, những người đã bị buộc phải rời khỏi khu vực này vào thập niên 1970. Năm 2011, cùng với hồ Nakuru và Elmenteita, Bogoria trở thành một phần của hệ thống các hồ Kenya trong Thung lũng Tách giãn Lớn được công nhận là Di sản thế giới của UNESCO.

Hồ Edward

Hồ Edward hay Edward Nyanza là hồ nhỏ nhất trong các Hồ Lớn châu Phi. Hồ nằm trên Đới tách giãn Albertine, nhánh phía tây của Đới tách giãn Đông Phi, trên biên giới giữa Cộng hòa Dân chủ Congo và Uganda, bờ phía bắc của hồ chỉ cách xích đạo vài kilômét. Hồ được nhà thám hiểm Henry Morton Stanley đặt tên để tỏ lòng kính trọng Hoàng tử Albert Edward, Hoàng tử xứ Wales, người về sau trở thành Vua Edward VII.

Stanley thấy hồ lần đầu tiên vào năm 1875, và nghĩ rằng nó là một phần của hồ Albert, và đã đặt tên cho nó là vịnh Beatrice. Trong chuyến viếng thăm lần thứ 2 từ 1888 đến 1889, ông nhận ra rằng đây là hai hồ riêng biệt và đặt cho nó cái tên như hiện nay. Năm 1973, Uganda và Zaire (CHDC Congo) renamed đã đổi tên hồ thành Idi Amin hay Idi Amin Dada theo tên nhà độc tài Uganda Idi Amin. Sau khi ông ta bị lật đổ vào năm 1979, tên hồ được đổi lại thành Edward.

Hồ Edward lies nằm trên độ cao 920 mét, hồ dài 77 km và rộng 40 km ở những điểm cực đại, và có tổng diện tích bề mặt là 2.325 km2 (898 sq mi), và là hồ lớn thứ 15 tại lục địa. Hồ được cung cấp nước nhờ các sông Nyamugasani, Ishasha, Rutshuru, Ntungwe River và Rwindi. Hồ thoát nước ra phía bắc qua sông Semliki, sông này đổ nước vào hồ Albert. Hồ George ở phía đông bắc trút nước vào hồ Edward qua kênh Kazinga.

Phần dốc đứng của thung lũng Tách giãn Lớn nổi lên với chiều cao 2000 m trên mực nước biển nằm ở bờ phía tây của hồ. Bờ hồ phía đông và nam là vùng đồng bằng dung nham bằng phẳng. Dãy núi Ruwenzori nằm cách 20 km về phía bắc của hồ.

Hồ Elementaita

Hồ Elementaita là một hồ nước ngọt nằm trong Thung lũng Tách giãn Lớn, cách khoảng 120 km về phía tây bắc của Nairobi, Kenya.

Hồ Lớn châu Phi

Hồ Lớn châu Phi hay Đại Hồ châu Phi là một chuỗi các hồ tạo thành một phần của các hồ Thung lũng Đứt gãy nằm tại và xung quanh Đới tách giãn Đông Phi. Chúng bao gồm hồ Victoria, hồ nước ngọt lớn thứ hai thế giới về diện tích bề mặt; và hồ Tanganyika, hồ lớn thứ hai thế giới về dung tích và cũng là hồ sâu thứ hai thế giới. Thuật ngữ Hồ Lớn cũng được sử dụng, nhưng ít phổ biến.

Các Hồ Lớn châu Phi nằm trong ba lưu vực sông khác nhau, và một số, chẳng hạn như hồ Turkana, có hệ thống thoát nước nội bộ. Các hồ được sắp xếp từ lớn nhất đến nhỏ nhất, có mặt trong hầu hết danh sách về các Hồ Lớn châu Phi:

Hồ Victoria

Hồ Tanganyika

Hồ Malawi

Hồ Turkana

Hồ Albert

Hồ Kivu

Hồ EdwardMột số cho rằng các Hồ Lớn châu Phi chỉ có bao gồm hồ Victoria, hồ Albert, và hồ Edward, chúng là ba hồ duy nhất thuộc lưu vực sông Nin Trắng. Hồ Kyoga là một phần của hệ thống Hồ Lớn, song nó lại không được coi là một phần của Hồ Lớn do kích thước của nó. Hồ Tanganyika và hồ Kivu đều thuộc lưu vực sông Congo, trong khi hồ Malawi đổ nước vào sông Shire tới Zambezi. Hồ Turkana không có dòng thoát nước ra.

Hai hồ khác gần hồ Tanganyika không xuất hiện trong danh sách mặc dù chúng lớn hơn Edward và Kivu: hồ Rukwa và hồ Mweru.

Bởi thuật ngữ này không rõ ràng, nên nhiều khi các thuật ngữ như Các Hồ Thung lũng Đứt gãy châu Phi hay các Hồ Đông Phi được sử dụng.

Hồ Mweru

Hồ Mweru là một hồ nước ngọt trên nhánh sông dài thứ hai của châu Phi, Congo. Nằm trên biên giới giữa Zambia và Cộng hòa Dân chủ Congo, hồ chiếm tới 110 km trên tổng chiều dài của Congo, nằm giữa hai đoạn sông Luapula và sông Luvua.

Hồ Nakuru

Hồ Nakuru là một trong số các hồ soda Thung lũng Tách giãn Lớn nằm ở độ cao 1.754 mét so với mực nước biển. Hồ nước nằm ở phía nam thành phố Nakuru, trong thung lũng Tách giãn Lớn ở Kenya. Nó được bảo vệ bởi Vườn quốc gia Hồ Nakuru thành lập năm 1961.

Nhờ có sự phong phú của tảo trong lòng hồ khiến nó trở thành một nơi thu hút số lượng lớn loài hồng hạc cùng một số loài chim khác. Nó cũng là nơi có nhiều loài sinh sống quanh và tới đây uống nước như khỉ đầu chó, lợn bướu và nhiều loài động vật có vú lớn khác. Tại vườn quốc gia cũng là nơi có số lượng nhỏ cá thể tê giác trắng và tê giác đen.

Trong những năm 1990, lượng nước trong hồ đã giảm đáng kể nhưng đang có xu hướng hồi phục. Năm 2013, lượng nước thấp trong ngưỡng báo động khiến loài hồng hạc di cư tới hồ Bogoria để tìm kiếm nguồn thức ăn.Vườn quốc gia Nakuru được thành lập năm 1961 bảo vệ hồ nước cùng với vùng núi lân cận và đồng cỏ thảo nguyên. Nakuru trong ngôn ngữ Maasai có nghĩa là "nơi bụi rậm". Hồ Nakuru là một vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế theo Công ước Ramsar, đồng thời cũng là một trong số tám hồ nước trong Thung lũng Tách giãn Lớn và là một trong ba hồ được UNESCO công nhận là Di sản thế giới vào năm 2011.

Kampala

Kampala là thủ đô của Uganda và là thành phố lớn nhất nước này với dân số 1.208.544 người (2002). Thành phố nằm ở quận Kampala với độ cao 1.190 m trên mực nước biển. Thành phố Kampala được chia thành năm khu vực: Central, Kawempe, Makindye, Nakawa và Rubaga.

Trước khi người Anh đến, Mutesa I của Kabaka đã chọn khu vực mà ngày nay là Kampala làm một trong những nơi săn bắn của mình. Khu vực này gồm nhiều đồi và đầm lầy.

Kigali

Kigali (tiếng Rwanda: [ciɡɑlí]) là thủ đô và thành phố lớn nhất của Rwanda. Nó tọa lạc gần điểm trung tâm địa lý của đất nước. Thành phố đã là trung tâm kinh tế, văn hóa, và giao thương của Rwanda từ khi nó trở thành thủ đô năm 1962 khi Rwanda giành độc lập. Nơi ở và làm việc của tổng thống Rwanda, cũng như các tòa nhà chính phủ, tọa lạc trong thành phố. Tỉnh Kigali thiết lập năm 2006, như một phần của kế hoạch tái tổ chức đất nước. Nội thành Kigali chiếm trọn tỉnh, và cả hai được thống nhất vào nhau. Khu đô thị của thành phố chiếm 70% diện tích tỉnh.

Kigoma

Kigoma là thị xã và cảng hồ ở phía tây Tanzania, bên bờ đông hồ Tanganyika và gần với biên giới với Burundi. Thị xã là thủ phủ của vùng Kigoma xung quanh và có dân số 135.234 (điều tra năm 2007) và độ cao 775 m.

Thị xã mậu dịch lịch sử Ujiji có cự ly 6 km về phía đông nam Kigoma.

Kira, Uganda

Kira là một thành phố Uganda. Thành phố Kira thuộc huyện Wakiso trong vùng Trung Uganda. Dân số ước tính năm 2011 là 179.800 người. Đây là thành phố lớn thứ nhì Uganda, sau thủ đô Kampala.

Kira giáp Gayaza về phía bắc, Mukono về phía đông, hồ Victoria về phía nam, Kampala về phía tây và khu tự quản Kasangati về phía tây bắc. Thành phố có cự ly khoảng 17 kilômét (11 mi) về phía đông bắc quận trung tâm của Kampala. Thành phố có diện tích 98,83 km2.

Mbarara

Mbarara là một thành phố ở Tây Uganda. Đây là trung tâm chính về thành thị, hành chính và thương mại của huyện Mbarara và là nơi đóng trụ sở chính của huyện. Nó cũng là trung tâm đô thị lớn nhất ở Tây Uganda.

Mbarara có khoảng cách khoảng 290 km (180 dặm Anh) bằng đường bộ về phía tây nam của Kampala, thủ đô và là thành phố lớn nhất Uganda. Mbarara là một trung tâm giao thông quan trọng, nằm phía tây của Masaka trên đường đến Kabale, gần vườn quốc gia hồ Mburo.

Cái tên 'Mbarara' có nguồn gốc tự sự phát âm sai của thực dân Anh đối với loại cỏ Mburara'a, một yêu thích cho những con bò. Mbarara trước đây là thủ phủ của với khu vực phía Nam.

Mbarara chủ yếu chia thành ba đơn vị là Kamukuzi, Nyamitanga và Kakoba. Nó được chia thành sáu đơn vị nhỏ hơn Ruharo, Nyamitanga, Nyamityobora, Kamukuzi, Kakoba và Lutti.

Thành phố Mbarara có số lượng lớn nhất của các nhà máy chế biến sữa ở Uganda. Đa số chế biến sữa được vận chuyển đến Kampala và các thành phố lớn khác ở Uganda.

Mbarara là nhà của Đại học Khoa học và Công nghệ Mbarara được thành lập vào năm 1989.

Mwanza

Mwanza là thành phố ở phía Bắc Tanzania, thủ phủ của vùng Mwanza, là một thành phố cảng bên Hồ Victoria. Thành phố là nơi thực hiện các giao dịch mậu dịch giữa Tanzania với Kenya và Uganda và nó đồng thời cũng là trung tâm hành chính của vùng Tây Bắc. Thành phố Mwanza có các ngành: dệt vải, đánh cá, chế biến thực phẩm. Thành phố được nối với Dodoma và Dar es Salaam bằng đường sắt. Ở đây có Viện nghiên cứu Y khoa Đông Phi.

Pseudocrenilabrinae

Pseudocrenilabrinae là một phân họ cá hoàng đế bao gồm tất cả các loài cá hoàng đế sống ở châu Phi và Trung Đông trừ các loài Heterochromis multidens và Malagasy. Trước đây một số tác giả xếp thêm các phân họ ở châu Phi như Tilapiinae (Hoedeman, 1947), Tylochrominae (Poll, 1986), Heterochrominae (Kullander, 1998) hay Boulengerochrominae (Tawil, 2001).

Các loài khác trong họ này thuộc các hồ đông Phi lớn hơn như Mbuna ở Hồ Malawi, và các loài khác trong Hồ Victoria và Hồ Tanganyika.

Các tông trong phân họ Pseudocrenilabrinae như Haplochromini và Tilapiini phân bố rộng rãi ở châu Phi; các tông khác phân bố có tính địa phương, đặc biệt là trong các hồ ở thung lũng tách giãn lớn.

Thung lũng Tách giãn Lớn, Kenya

Thung lũng Tách giãn Lớn là một phần của hệ thống núi nội lục chạy hướng Bắc - Nam tại Kenya. Nó là một phần của Đới tách giãn Gregory, nhánh phía đông của Đới tách giãn Đông Phi, bắt đầu từ Tanzania ở phía nam tới Ethiopia ở phía bắc. Nó được hình thành trên "Kenya Dome" một kiến tạo địa chất được tạo nên bởi ba mảng kiến tạo chính là Ả Rập, Nubian và Somalia. Trong quá khứ, nó được xem là một phần của Thung lũng tách giãn Lớn chạy từ Madagascar đến Syria. Hầu hết thung lũng Tách giãn Lớn nằm trong tỉnh cũ Rift Valley.

Khu vực này bao gồm Cherangani Hills và chuỗi các núi lửa, một trong số đó vẫn còn hoạt động. Tại đây có khí hậu ôn hòa, nhiệt độ thường không quá 28 °C (82 °F). Hầu hết lượng mưa là vào tháng 6 và tháng 10-11. Tugen Hills ở phía tây của hồ Baringo là nơi chứa các hóa thạch được bảo quản trong các dòng dung nham có niên đại 14-4.000.000 năm trước. Đó chính là các hóa thạch của vượn nhân, tổ tiên của con người hiện đại.

Đới tách giãn Đông Phi

Đới tách giãn Đông Phi (tiếng Anh: East African Rift), một phần của Thung lũng tách giãn Lớn, là một ranh giới mảng tách giãn đang phát triển. Nó đang chia tách mảng châu Phi thành 2 mảng nhỏ là mảng Nubi và Somali. Đới tách giãn này kéo dài từ ngã ba Afar ở miền võng Afar xuyên qua miền đông châu Phi về phía nam. Người ta tin rằng nó chạy ở ngoài khơi bờ biển Mozambique dọc theo đới tách giãn hay địa hào Kerimba và Lacerda. Nó kết thúc ở đới đứt gãy Andrew Bain; vị trí này được xem là một phần của nối ba này với sống núi tây nam Ấn Độ.Đới tách giãn Đông Phi là một đới tách giãn có hoạt động bất thường trên vỏ đại dương trên thế giới, và hầu hết nằm dưới biển. Bên cạnh đó đới tách giãn Baikal nhỏ hơn nằm ở phía đông Nga và xa hơn, đới tách giãn tây Nam Cực bị băng phủ là ví dụ duy nhất về tách giãn trên lục địa đang hoạt động trên Trái Đất.

Đới tách giãn Đông Phi bao gồm hai nhánh chính được gọi là thung lũng tách giãn phía Đông và thung lũng tách giãn phía Tây. Các kết quả nghiên cứu về hoạt động của các đứt gãy thuận cắm sâu cho thấy đây là loại đới tách giãn kiến tạo đặc biệt.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.