Thụy Sĩ

Thụy Sĩ (hay còn gọi là Thụy Sỹ), tên chính thức Liên bang Thụy Sĩ, là một nước cộng hòa liên bang tại châu Âu. Quốc gia này gồm có 26 bang, và thành phố Bern là nơi đặt trụ sở nhà đương cục liên bang.[1][2][note 4] Quốc gia này nằm tại TâyTrung Âu, có biên giới với Ý về phía nam, với Pháp về phía tây, với Đức về phía bắc, và với Áo cùng Liechtenstein về phía đông. Thụy Sĩ là quốc gia không giáp biển, có tổng diện tích 41.285 km² và về địa lý bao gồm dãy Alps, cao nguyên Thụy Sĩ và dãy Jura. Mặc dù dãy Alps chiếm phần lớn diện tích lãnh thổ quốc gia, song khoảng 8 triệu dân Thụy Sĩ hầu hết tập trung tại khu vực cao nguyên. Các thành phố lớn nhất toàn quốc cũng nằm tại khu vực cao nguyên, trong đó có hai thành phố toàn cầu và trung tâm kinh tế là ZurichGeneva.

Mốc thành lập Liên bang Thụy Sĩ Cũ là vào thời kỳ Trung Cổ, là kết quả từ một loạt thắng lợi quân sự chống lại ÁoBurgandy. Thụy Sĩ được chính thức công nhận độc lập từ Thánh chế La Mã theo Hòa ước Westfalen vào năm 1648. Thụy Sĩ có lịch sử trung lập về quân sự từ thời kỳ Cải cách Tin Lành; quốc gia này không nằm trong tình trạng chiến tranh trên bình diện quốc tế từ năm 1815 và không gia nhập Liên Hiệp Quốc cho đến năm 2002. Tuy thế, Thụy Sĩ theo đuổi chính sách đối ngoại tích cực và thường xuyên tham gia vào các tiến trình kiến tạo hòa bình trên toàn cầu.[9] Thụy Sĩ là nơi khai sinh của tổ chức Chữ thập đỏ, là nơi đặt trụ sở của nhiều tổ chức quốc tế, trong đó có văn phòng lớn thứ nhì của Liên Hiệp Quốc. Trên cấp độ châu Âu, Thụy Sĩ là một thành viên sáng lập của Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu, song không phải là thành viên của Liên minh châu ÂuKhu vực kinh tế châu Âu. Tuy nhiên, Thụy Sĩ tham gia Khu vực Schengen và Thị trường chung châu Âu thông qua các hiệp định song phương.

Thụy Sĩ nằm tại nơi giao nhau của châu Âu German và châu Âu La Tinh, có bốn khu vực ngôn ngữ và văn hóa: Đức, Pháp, ÝRomansh. Đa số dân chúng nói tiếng Đức, song bản sắc dân tộc Thụy Sĩ bắt nguồn từ một bối cảnh lịch sử chung, chia sẻ các giá trị như chủ nghĩa liên bang và dân chủ trực tiếp,[10] và chủ nghĩa tượng trưng Alpes.[11][12] Do đa dạng về ngôn ngữ, Thụy Sĩ có nhiều tên gọi bản địa: Schweiz [ˈʃvaɪts] (tiếng Đức);[note 5] Suisse [sɥis(ə)] (tiếng Pháp); Svizzera [ˈzvittsera] (tiếng Ý); và Svizra [ˈʒviːtsrɐ] hoặc [ˈʒviːtsʁːɐ] (Romansh).[note 6] Trên tiền xu và tem bưu chính, tên gọi trong tiếng Latinh (thường được rút ngắn thành "Helvetia") được sử dụng thay vì bốn ngôn ngữ chính thức.

Thụy Sĩ nằm trong số các quốc gia phát triển nhất trên thế giới, có của cải bình quân cao nhất (2010) và GDP PPP bình quân cao thứ 8 theo IMF (2011).[13][14] Thụy Sĩ nằm vào hàng đứng đầu toàn cầu trên một vài số liệu về thành tựu quốc gia, bao gồm tính minh bạch chính phủ, tự do dân sự, chất lượng sinh hoạt, tính cạnh tranh kinh tế và phát triển con người. Zürich và Genève nằm trong số các thành phố đứng đầu thế giới về chất lượng sinh hoạt, theo Mercer năm 2009.[15]

Liên bang Thụy Sĩ
Quốc huy Thụy Sĩ
Quốc huy

Tiêu ngữUnus pro omnibus, omnes pro uno
(tiếng Latinh: Một người vì mọi người, mọi người vì một người)

Tổng quan
Vị trí Thụy Sĩ (xanh) trên thế giới
Vị trí Thụy Sĩ (xanh) trên thế giới
Location of Thụy Sĩ
Thủ đôKhông (pháp lý)
Bern (thực tế)[note 1][1][2]
46°57′B 7°27′Đ / 46,95°B 7,45°Đ
Thành phố lớn nhấtZürich
Ngôn ngữ chính thứcTiếng Đức, Pháp, Ý, và Romansh
Chính trị
Chính phủLiên bang dân chủ bán trực tiếp
cộng hòa đại nghị
• Hội đồng liên bang
• Thủ tướng
Walter Thurnherr
Lập phápHội đồng Liên bang
Hội đồng Các bang
Hội đồng Quốc gia
Lịch sử
Độc lập
• Quốc gia hình thành
k. 1300[note 2] (1 tháng 8 năm 1291 theo truyền thống)
24 tháng 10 năm 1648
• Khôi phục
7 tháng 8 năm 1815
• Quốc gia liên bang
12 tháng 9 năm 1848[note 3][3]
Địa lý
Diện tích
• Tổng cộng
41,285 km2 (hạng 132)
16 mi2
• Mặt nước (%)
4,2
Dân số
• Ước lượng 2016
8.401.120[4] (hạng 99)
• Điều tra 2015
8.327.126[5]
202/km2 (hạng 63)
523,2/mi2
Kinh tế
59.150 USD[6] (hạng 9)
GDP  (danh nghĩa)Ước lượng 2016
• Tổng số
651.770 tỷ USD[6] (hạng 19)
• Bình quân đầu người
78.179 USD[6] (hạng 2)
Đơn vị tiền tệFranc Thụy Sĩ (SFr.) (CHF)
Thông tin khác
Gini? (2016)Giảm theo hướng tích cực 29,4[7]
thấp
HDI? (2017)Tăng 0,944[8]
rất cao · hạng 2
Múi giờUTCCEST (CET)
• Mùa hè (DST)
UTC+2
Giao thông bênphải
Mã điện thoại+41
Mã ISO 3166CH
Tên miền Internet.ch, .swiss

Tên gọi

Tên gọi của Thụy Sĩ trong tiếng Việt bắt nguồn từ tiếng Trung. Quốc hiệu trong tiếng Pháp của Thụy Sĩ là "Suisse". Bằng tiếng Trung, "Suisse" được phiên âm là “瑞士” (pinyin: "Ruìshì"). “瑞士” có âm Hán Việt là “Thụy Sĩ”.[16]

Địa danh Schwyz được chứng thực lần đầu vào năm 972 với dạng tiếng Thượng Đức Cổ Suittes, rốt cuộc có lẽ liên quan đến suedan "đốt cháy", ám chỉ khu rừng bị đốt và phát quang để xây dựng.[17] Tên gọi này được mở rộng ra khu vực do bang này thống trị, và sau Chiến tranh Schwaben năm 1499 thì dần được sử dụng cho toàn liên bang.[18][19] Tên tiếng Đức-Thụy Sĩ của quốc gia là Schwiiz tuy đồng âm với Schwyz song được phân biệt nhờ sử dụng mạo từ xác định ('d'Schwiiz để chỉ liên bang,[20] song chỉ là Schwyz để chỉ bang và thị trấn).[21]

Tên tiếng Latinh Confoederatio Helvetica được tân từ hóa và được đưa vào dần sau khi thành lập liên bang năm 1848, gợi lại Cộng hòa Helvetii của Napoleón, xuất hiện trên tiền xu từ năm 1879, được ghi trong Cung điện liên bang vào năm 1902 và sau năm 1948 được sử dụng trong con dấu chính thức.[22] (Mã ngân hàng ISO "CHF" cho franc Thụy Sĩ bắt nguồn từ tên Latinh của liên bang). Helvetica bắt nguồn từ Helvetii, một bộ lạc sống trên cao nguyên Thụy Sĩ trước thời kỳ La Mã.

Helvetia xuất hiện với thân phận nhân cách hóa quốc gia của Liên bang Thụy Sĩ trong thế kỷ XVII theo một vở kịch vào năm 1672 của Johann Caspar Weissenbach.[23]

Lịch sử

Lịch sử sơ khởi

Dấu tích cổ nhất về sự hiện diện của họ Người tại Thụy Sĩ có niên đại khoảng 150.000 năm trước.[24] Các khu định cư nông nghiệp cổ nhất được biết đến tại Thụy Sĩ nằm tại Gächlingen và có niên đại khoảng 5300 TCN.[24]

Theater Kaiseraugst
Augusta Raurica được Lucius Munatius Plancus thành lập vào năm 44 TCN, là khu định cư La Mã đầu tiên ven sông Rhine và nay nằm trong số các di chỉ khảo cổ học quan trọng nhất tại Thụy Sĩ.[25]

Các "bộ lạc văn hóa" sớm nhất được biết đến là thành viên của văn hóa Hallstatt và La Tène. Văn hóa La Tène phát triển và thịnh vượng vào cuối thời đại đồ sắt từ khoảng năm 450 TCN,[24] có thể là dưới một số ảnh hưởng từ văn minh Hy Lạpvăn minh Etrusca (tại Ý ngày nay). Helvetii là một trong số các nhóm bộ lạc quan trọng nhất tại khu vực nay là Thụy Sĩ. Do thường xuyên bị các bộ lạc German quấy nhiễu, đến năm 58 TCN người Helvetii quyết định từ bỏ cao nguyên Thụy Sĩ và di cư đến miền tây Gallia, song quân đội của Julius Caesar truy kích và đánh bại họ trong trận Bibracte tại miền đông của Pháp ngày nay, buộc bộ lạc này chuyển về quê hương ban đầu của họ.[24] Năm 15 TCN, Hoàng đế La Mã tương lai Tiberius cùng em trai là Drusus chinh phục dãy Alpes, hợp nhất khu vực này vào Đế quốc La Mã. Khu vực do người Helvetii chiếm giữ đầu tiên trở thành bộ phận của tỉnh Gallia Belgica thuộc La Mã, sau đó thuộc tỉnh Thượng Germania của đế quốc, trong khi phần miền đông của Thụy Sĩ ngày nay được hợp nhất vào tỉnh Raetia của đế quốc.

Trong thế kỷ thứ nhất và thứ hai, cư dân sống trên cao nguyên Thụy Sĩ được hưởng một thời kỳ thịnh vượng. Một số đô thị như Aventicum, Iulia Equestris và Augusta Raurica đạt đến quy mô đáng kể, có hàng trăm bất động sản nông nghiệp (Villae rusticae) được phát hiện tại vùng nông thôn. Khoảng năm 260, khu vực Agri Decumates phía bắc sông Rhine thất thủ khiến Thụy Sĩ lúc này trở thành vùng biên giới của Đế quốc La Mã. Các vụ tập kích lặp đi lặp lại của các bộ lạc Alamanni khiến các đô thị và kinh tế Lã Mã bị tàn phá, buộc cư dân phải tìm nơi trú ẩn gần các công sự La Mã. Đế quốc cho xây dựng một tuyến phòng thủ khác tại biên giới phía bắc (được gọi là Donau-Iller-Rhine-Limes), song đến cuối thế kỷ IV thì áp lực gia tăng từ người German buộc người La Mã từ bỏ quan niệm phòng thủ theo tuyến, và cao nguyên Thụy Sĩ cuối cùng mở ra cho các khu định cư của người German.

Đến Sơ kỳ Trung Cổ, từ cuối thế kỷ IV, miền tây của Thụy Sĩ ngày nay là bộ phận lãnh thổ của Vương quốc Bourgogne. Người Alemanni định cư tại Cao nguyên Thụy Sĩ vào thế kỷ V và tại các thung lũng thuộc dãy Alpes trong thế kỷ VIII, hình thành Alemannia. Lãnh thổ Thụy Sĩ ngày nay vào lúc đó bị phân chia giữa hai vương quốc này.[24] Trong thế kỷ VI, sau chiến thắng của Clovis I trước người Alemanni tại Tolbiac vào năm 504 và rồi người Frank thống trị người Bourgogne, toàn thể khu vực trở thành bộ phận của Đế quốc Frank.[26][27]

Trong phần còn lại của thế kỷ VI, trong thế kỷ VII và VIII khu vực Thụy Sĩ tiếp tục nắm dưới quyền bá chủ của Frank (các triều đại MerovingCaroling). Tuy nhiên, sau khi bành trướng dưới thời Charlemagne, Đế quốc Frank bị phân chia theo Hiệp ước Verdun vào năm 843.[24] Khu vực nay là Thụy Sĩ bị phân chia giữa Trung FrankĐông Frank cho đến khi thống nhất dưới quyền Thánh chế La Mã (một tập hợp các lãnh địa) vào khoảng năm 1000.[24]

Đến năm 1200, cao nguyên Thụy Sĩ gồm các lãnh địa của các gia tộc Savoy, Zähringer, Habsburg và Kyburg.[24] Một số khu vực (Uri, Schwyz, Unterwalden sau gọi là Waldstätten) do thánh chế trực tiếp quản lý. Do không có hậu duệ theo dòng nam giới vào năm 1263, Triều đại Kyburg sụp đổ vào năm 1264; sau đó Gia tộc Habsburg dưới quyền Quốc vương Rudolph I (Hoàng đế Thánh chế vào năm 1273) đưa ra yêu sách đối với đất của nhà Kyburg và sáp nhập chúng để bành trướng lãnh thổ của họ đến miền đông cao nguyên Thụy Sĩ.[26]

Liên bang Thụy Sĩ Cũ

Bundesbrief
Hiến chương Liên bang 1291
Old Swiss Confederation
Liên bang Thụy Sĩ Cũ từ năm 1291 (lục đậm) đến thế kỷ XVI (lục nhạt).

Liên bang Thụy Sĩ Cũ là một liên minh giữa các cộng đồng trong thung lũng tại miền trung dãy Alpes. Liên minh tạo thuận tiện cho quản lý các lợi ích chung và đảm bảo hòa bình trên các tuyến mậu dịch miền núi quan trọng. Hiến chương Liên bang năm 1291 được đồng thuận giữa các công xã nông thôn Uri, Schwyz và Unterwalden, được cho là văn kiện hình thành liên bang, mặc dù các liên minh tương tự có vẻ tồn tại từ nhiều thập niên trước đó.[28][29]

Đến năm 1353, liên minh tiếp nhận thêm các bang Glarus, Zug và các thành bang Lucerne, ZürichBern để hình thành "Liên bang Cũ" gồm tám bang và tồn tại cho đến cuối thế kỷ XV. Việc mở rộng này làm gia tăng quyền lực và thịnh vượng cho liên bang.[29] Đến năm 1460, liên bang kiểm soát hầu hết lãnh thổ nằm về phía nam và phía tây của Sông Rhine cho đến dãy Alpes và dãy Jura, đặc biệt là sau các chiến thắng trước Vương triều Habsburg tại Áo, trước Charles Dũng cảm của Bourgogne trong thập niên 1470, và thành công của các lính đánh thuê Thụy Sĩ. Chiến thắng của Thụy Sĩ trong Chiến tranh Schwaben trước Liên minh Schwaben dưới quyền Hoàng đế Thánh chế La Mã Maximilian I vào năm 1499 giúp đem lại độc lập thực tế cho Thụy Sĩ trong Thánh chế La Mã.[29]

Liên bang Thụy Sĩ Cũ có được danh tiếng bất khả chiến bại trong các cuộc chiến ban đầu này, song việc mở rộng liên bang gặp phải một bước lùi vào năm 1515 khi Thụy Sĩ thất bại trong trận Marignano trước Pháp và Venezia. Chiến tranh kết thúc điều được gọi là kỷ "anh hùng" trong lịch sử Thụy Sĩ.[29] Cải cách Tin Lành dưới quyền lãnh đạo của Zwingli thành công tại một số bang, song dẫn đến xung đột tôn giáo giữa các bang vào năm 1529 và năm 1531. Đến năm 1648, theo Hòa ước Westfalen, các quốc gia châu Âu công nhận Thụy Sĩ độc lập từ Thánh chế La Mã và tính chất trung lập của nước này.[26][27]

Trong thời kỳ cận đại của lịch sử Thụy Sĩ, chủ nghĩa chuyên chế của các gia đình quý tộc phát triển, kết hợp với một cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Chiến tranh Ba mươi Năm dẫn đến nông dân khởi nghĩa vào năm 1653. Trong bối cảnh cuộc đấu tranh này, xung đột giữa các bang Công giáo La Mã và Tin Lành vẫn dai dẳng, bùng phát thành bạo lực hơn nữa trong Chiến tranh Villmergen lần thứ nhất vào năm 1656, và Chiến tranh Toggenburg (Chiến tranh Villmergen lần thứ hai) vào năm 1712.[29]

Thời đại Napoléon

Năm 1798, chính phủ Cách mạng Pháp xâm chiếm Thụy Sĩ và áp đặt một hiến pháp thống nhất mới.[29] Đây là hành động nhằm trung ương tập quyền hóa chính phủ quốc gia, bãi bỏ các bang trên thực tế. Ngoài ra, Mülhausen gia nhập Pháp còn thung lũng Valtellina gia nhập Cộng hòa Cisalpina (nay thuộc Ý). Chế độ mới mang tên Cộng hòa Helvetii, song rất không được lòng dân. Nó do quân đội ngoại quốc xâm lược áp đặt và phá hoại truyền thống từ nhiều thế kỷ, biến Thụy Sĩ thành một quốc gia vệ tinh của Pháp.

Khi chiến tranh bùng phát giữa Pháp với các kình địch của họ, quân của Nga và Áo xâm chiếm Thụy Sĩ. Người Thụy Sĩ từ chối chiến đấu bên phía Pháp nhân danh Cộng hòa Helvetii. Năm 1803, Napoléon tổ chức một hội nghị gồm các chính trị gia hàng đầu Thụy Sĩ từ cả hai bên tại Paris. Kết quả là Đạo luật Điều giải, theo đó khôi phục phần lớn quyền tự trị của Thụy Sĩ và đưa lại một Liên bang gồm 19 bang.[29] Từ đó về sau, chính trường Thụy Sĩ phần lớn liên quan đến cân bằng giữa truyền thống tự trị của các bang và nhu cầu về một chính phủ trung ương.

Năm 1815, Đại hội Wien tái lập hoàn toàn nền độc lập của Thụy Sĩ và các cường quốc châu Âu đồng ý công nhận vĩnh viễn tính chất trung lập của Thụy Sĩ.[26][27][29] Hiệp định cho phép Thụy Sĩ gia tăng lãnh thổ của mình, với việc tiếp nhận các bang Valais, NeuchâtelGenève. Biên giới Thụy Sĩ không thay đổi kể từ đó, ngoại trừ một số điều chỉnh nhỏ.[30]

Quốc gia liên bang

Bern, Federal Palace, 1857
Cung điện Liên bang đầu tiên, tại Bern (1857). Một trong ba bang chủ trì Tagsatzung (hội đồng lập pháp và hành pháp cũ), Bern được chọn làm thủ đô liên bang vào năm 1848, chủ yếu là do gần gũi với khu vực nói tiếng Pháp.[1]

Khôi phục quyền lực cho giai cấp quý tộc chỉ là tạm thời. Sau một giai đoạn bất ổn với các xung đột bạo lực liên tiếp, nội chiến (Sonderbundskrieg) bùng phát vào năm 1847 khi một số bang Công giáo La Mã nỗ lực lập một liên minh riêng biệt (Sonderbund).[29] Chiến tranh kéo dài trong chưa đến một tháng, có ít hơn 100 người thiệt mạng. Mặc dù có quy mô nhỏ so với các náo loạn và chiến tranh khác tại châu Âu trong thế kỷ XIX, tuy thế nội chiến này có tác động lớn đến tâm lý và xã hội Thụy Sĩ. Chiến tranh thuyết phục hầu hết người Thụy Sĩ về tính cần thiết của việc đoàn kết và sức mạnh trước các láng giềng. Người Thụy Sĩ từ tất cả tầng lớp xã hội, theo Công giáo La Mã hay Tin Lành, từ khuynh hướng tự do đến bảo thủ, nhận thấy rằng các bang sẽ có lợi hơn nếu các lợi ích kinh tế và tôn giáo của họ được hợp nhất.

Do đó, trong khi phần còn lại của châu Âu xảy ra các cuộc khởi nghĩa cách mạng, thì người Thụy Sĩ lập ra một hiến pháp đề ra bố cục liên bang, phần lớn được lấy cảm hứng từ mô hình Hoa Kỳ. Hiến pháp này tạo ra một nhà đương cục trung ương, trong khi để lại cho các bang quyền tự quản về các vấn đề địa phương. Quốc hội được chia thành một thượng viện (Hội đồng Các bang, mỗi bang có hai đại biểu) và một hạ viện (Hội đồng Quốc gia, có đại biểu được bầu từ toàn quốc). Bắt buộc phải trưng cầu dân ý để sửa đổi bất kỳ nội dung nào trong hiến pháp này.[27]

Gotthard Eröffnungszug Bellinzona
Đường hầm xe lửa Gotthard được khánh thành vào năm 1882, giữ kỷ lục thế giới vào đương thời về chiều dài.[31]

Một hệ thống cân và đo lường duy nhất được định ra và đến năm 1850 franc Thụy Sĩ trở thành đơn vị tiền tệ duy nhất của quốc gia. Điều 11 của hiến pháp ngăn cấm đưa binh sĩ đi phục vụ tại ngoại quốc. Một điều khoản quan trọng trong hiến pháp là nó có thể được soạn lại hoàn toàn nếu được cho là cần thiết, do đó cho phép việc phát triển toàn thể thay vì sửa đổi một phần tại một thời điểm.[32] Điều này nhanh chóng chứng minh tính cần thiết khi dân số gia tăng và cách mạng công nghiệp tiếp sau đó dẫn đến các yêu cầu thay đổi hiến pháp cho phù hợp. Một dự thảo ban đầu bị dân chúng bác bỏ vào năm 1872 song bản sửa đổi được thông qua vào năm 1874.[29] Nó xác định trưng cầu dân ý không cưỡng bách đối với pháp luật tại cấp độ liên bang. Nó cũng xác định liên bang chịu trách nhiệm về các sự vụ phòng thủ, mậu dịch và lập pháp.

Năm 1891, hiến pháp được điều chỉnh với các yếu tố dân chủ trực tiếp mạnh mẽ khác thường, điều này vẫn còn là độc nhất thế giới cho đến ngày nay.[29]

Lịch sử hiện đại

Ulrich Wille
Tướng quân Ulrich Wille là tổng tư lệnh của Lục quân Thụy Sĩ trong Chiến tranh thế giới thứ nhất

Thụy Sĩ không bị xâm chiếm trong hai đại chiến thế giới. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Thụy Sĩ là nơi Vladimir Lenin sống lưu vong cho đến năm 1917.[33] Tính trung lập của Thụy Sĩ bị nghi ngờ nghiêm trọng do một chính trị gia Thụy Sĩ tên là Robert Grimm thương lượng hòa bình giữa Đức và Nga vào năm 1917. Năm 1920, Thụy Sĩ gia nhập Hội Quốc Liên có trụ sở tại Genève, với điều kiện là họ được miễn bất kỳ yêu cầu quân sự nào.

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, người Đức soạn thảo các kế hoạch xâm lược chi tiết đối với Thụy Sĩ,[34] song nước này chưa từng bị tấn công.[29] Thụy Sĩ có thể duy trì độc lập nhờ kết hợp răn đe quân sự, nhượng bộ với Đức, và may mắn do các sự kiện lớn hơn trong chiến tranh khiến Đức trì hoãn xâm lược.[27][35] Chiến lược về quân sự của Thụy Sĩ thay đổi từ phòng thủ chiến lược tại biên giới để bảo vệ khu trung tâm kinh tế, sang chiến lược mang tên Reduit nhằm tiêu hao địch lâu dài có tổ chức và triệt thoái đến các vị trí cao kiên cố, có đủ dự trữ trên dãy Alpes. Thụy Sĩ là một căn cứ quan trọng về hoạt động tình báo đối với cả hai phe xung đột và thường làm trung gian giao thiệp giữa lực lượng Phe TrụcĐồng Minh.[35]

Trong suốt cuộc chiến, Thụy Sĩ giam giữ trên 300.000 người tị nạn[36]Chữ thập đỏ quốc tế có trụ sở tại Genève giữ vai trò quan trọng trong xung đột. Các chính sách nhập cư và tị nạn nghiêm ngặt cũng như quan hệ tài chính với Đức Quốc xã gây ra tranh luận, song chúng không kéo dài đến cuối thế kỷ XX.[37]

Sau chiến tranh, chính phủ Thụy Sĩ xuất khẩu tín dụng thông qua quỹ từ thiện mang tên Schweizerspende và cũng đóng góp cho Kế hoạch Marshall nhằm giúp châu Âu phục hồi, các nỗ lực này cuối cùng cũng làm lợi cho kinh tế Thụy Sĩ.[38]

Trong Chiến tranh Lạnh, nhà đương cục Thụy Sĩ từng xem xét chế tạo một bom hạt nhân.[39] Các nhà vật lý học hạt nhân hàng đầu tại Viện Công nghệ Liên bang Zürich biến điều này trở thành khả thi. Tuy nhiên, các vấn đề tài chính và ngân sách quốc phòng ngăn cản cung cấp lượng kinh phí đáng kể, và Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân năm 1968 được cho là một lựa chọn có giá trị. Toàn bộ các kế hoạch còn lại về phát triển vũ khí hạt nhân bị dừng vào năm 1988.[40]

Bundesrat der Schweiz 2003
Năm 2003, với việc trao cho Đảng Nhân dân Thụy Sĩ ghế thứ nhì trong nội các cầm quyền, Quốc hội thay đổi liên minh chi phối chính trường Thụy Sĩ kể từ năm 1959.

Thụy Sĩ là nước cộng hòa phương Tây cuối cùng trao quyền tuyển cử cho nữ giới. Một số bang của Thụy Sĩ phê chuẩn quyền này vào năm 1959, còn ở cấp liên bang là vào năm 1971.[29][41] Sau khi giành được quyền đi bầu ở cấp độ liên bang, tầm quan trọng chính trị của nữ giới nhanh chóng nổi lên, nữ giới đầu tiên trong Hội đồng Liên bang là Elisabeth Kopp, có nhiệm kỳ 1984–1989,[29] và nữ tổng thống đầu tiên là Ruth Dreifuss vào năm 1999.

Thụy Sĩ gia nhập Ủy hội châu Âu vào năm 1963.[27] Năm 1979, một số khu vực của bang Bern giành được độc lập và hình thành bang Jura. Ngày 18 tháng 4 năm 1989, dân chúng Thụy Sĩ và các bang bỏ phiếu tán thành thay đổi hoàn toàn hiến pháp liên bang.[29]

Năm 2002, Thụy Sĩ trở thành một thành viên đầy đủ của Liên Hiệp Quốc. Thụy Sĩ là một thành viên sáng lập của Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu, song không phải là thành viên của Khu vực kinh tế châu Âu. Đơn xin làm thành viên Liên minh châu Âu được gửi đi vào tháng 5 năm 1992, song không có tiến bộ từ khi dân chúng bác bỏ Khu vực Kinh tế châu Âu vào tháng 12 năm 1992.[29] Từ đó có một số cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề Liên minh châu Âu; do phản ứng khác nhau từ dân chúng nên đơn xin làm thành viên bị đóng băng. Tuy thế, pháp luật Thụy Sĩ dần được điều chỉnh để phù hợp với pháp luật Liên minh châu Âu, và chính phủ ký kết một số thỏa thuận song phương với tổ chức này. Ngày 5 tháng 6 năm 2005, cử tri Thụy Sĩ chấp thuận tham gia Hiệp ước Schengen.[27]

Địa lý

Reliefkarte Schweiz
Bản đồ địa hình Thụy Sĩ
Switzerland Köppen
Các kiểu phân loại khí hậu Köppen của Thụy Sĩ

Thụy Sĩ trải dài qua sườn phía bắc và phía nam của Dãy Alpes tại Tây-Trung Âu, có sự đa dạng lớn về cảnh quan và khí hậu trong một diện tích hạn chế là 41.285 kilômét vuông (15.940 sq mi).[42] Dân số toàn quốc khoảng 8 triệu, khiến mật độ dân số bình quân là khoảng 195 người/km².[42][43] Nửa phía nam có địa hình núi non hơn, và có dân cư thưa thớt hơn rất nhiều so với nửa phía bắc.[42] Bang lớn nhất là Graubünden nằm hoàn toàn trên Dãy Alpes, có mật độ dân số là 27 người/km².[44]

Thụy Sĩ nằm giữa các vĩ tuyến 45° và 48° Bắc, và các kinh tuyến 5° và 11° Đ. Quốc gia này gồm có ba khu vực địa hình cơ bản: Dãy Alpes Thụy Sĩ về phía nam, cao nguyên Thụy Sĩ hay cao nguyên Trung tâm, và dãy Jura về phía tây. Dãy Alpes là một dãy núi cao chạy dọc trung-nam của quốc gia, chiếm khoảng 60% diện tích toàn quốc. Đa số dân chúng Thụy Sĩ cư trú tại cao nguyên Thụy Sĩ. Trong số các thung lũng cao của dãy Alpes Thụy Sĩ, có nhiều sông băng với tổng diện tích là 1.063 kilômét vuông (410 sq mi). Chúng là đầu nguồn của một số sông lớn, chẳng hạn như Rhine, Inn, Ticino và Rhône, chúng chảy theo bốn hướng cơ bản ra toàn châu Âu. Mạng lưới thủy văn học bao gồm một số thực thể nước ngọt vào hàng lớn nhất tại Trung-Tây Âu, như hồ Genève, Bodenseehồ Maggiore. Thụy Sĩ có trên 1500 hồ và chứa 6% tài nguyên nước ngọt của châu Âu. Các hồ và sông băng chiếm khoảng 6% diện tích quốc gia. Sông Rhône chảy ra Địa Trung Hải tại vùng Camargue của Pháp còn sông Rhine chảy ra biển Bắc tại Rotterdam thuộc Hà Lan, cách nhau khoảng 1.000 kilômét (620 dặm), song dòng chảy của chúng chỉ cách nhau khoảng 22 kilômét (14 dặm) trên dãy Alpes Thụy Sĩ.[42][45]

Haute route, panorama version
Núi Matterhorn là một biểu tượng của dãy Alpes Thụy Sĩ
View from Pilatus, retouched
Cảnh quan hồ Lucerne/Vierwaldstätter nhìn từ núi Pilatus

Thụy Sĩ có 48 núi cao từ 4.000 mét (13.000 ft) trở lên so với mực nước biển.[42] Monte Rosa là núi cao nhất với 4.634 m (15.203 ft), song núi Matterhorn với độ cao (4.478 m hoặc 14.692 ft) thường được cho là nổi tiếng nhất. Cả hai đều nằm trên dãy Alpes Pennines thuộc bang Valais, trên biên giới với Ý. Đoạn dãy Alpes Bern nằm ở trên thung lũng Lauterbrunnen gồm có 72 thác nước, được biết nhiều với các núi Jungfrau (4.158 m hoặc 13.642 ft) Eiger và Mönch, cùng nhiều thung lũng đẹp như họa trong khu vực. Tại phía đông nam có thung lũng Engadin trải dài, gồm khu vực St. Moritz của bang Graubünden, cũng nổi tiếng; đỉnh cao nhất tại dãy Alpes Bernina là Piz Bernina (4.049 m hoặc 13.284 ft).[42]

Phần miền bắc đông dân hơn của Thụy Sĩ chiếm khoảng 30% tổng diện tích, được gọi là cao nguyên Thụy Sĩ. Nó có cảnh quan rộng mở và đồi núi, một phần là rừng, một phần là thảo nguyên rộng thường dùng để chăn thả gia súc, hoặc để trồng rau và quả, song vẫn có nhiều đồi. Tại đó có các hồ nước lớn và các thành phố lớn nhất Thụy Sĩ.[42]

Khí hậu

Khí hậu Thụy Sĩ về tổng thể là ôn đới, song có thể khác biệt lớn giữa các địa phương,[46] từ tình trạng băng giá trên các đỉnh núi, đến thường êm dịu tương tự khí hậu Địa Trung Hải tại mũi phía nam của Thụy Sĩ. Có một số khu vực thung lũng nằm tại phần phía nam của Thụy Sĩ, tại đó có một số cây cọ chịu lạnh. Mùa hè có xu hướng ấm và ẩm cùng các cơn mưa định kỳ, thích hợp cho đồng cỏ và gia súc. Mùa đông trên các dãy núi có ít ẩm hơn, có thể ổn định trong một thời gian dài nhiều tuần, trong khi tại các vùng thấp có xu hướng nghịch ôn trong các giai đoạn này, do đó không có Mặt trời trong nhiều tuần.

Một hiện tượng thời tiết gọi là phơn có thể xảy ra tại bất kỳ lúc nào trong năm và mang đặc điểm là gió ấm bất ngờ, khiến không khí có độ ẩm tương đối rất thấp tại phía bắc của Alpes trong các giai đoạn mưa tại sườn nam của Alpes. Hiện tượng này xảy ra theo cả hai hướng qua Dãy Alpes, song phổ biến hơn là gió thổi từ miền nam. Tình trạng khô hạn nhất tồn tại trong toàn bộ các thung lũng núi cao nội địa, chúng nhận được mưa ít hơn do các đám mây mất đi phần lớn lượng ẩm khi vượt qua các dãy núi trước khi tiếp cận đến chúng. Các khu vực núi cao lớn như Graubünden vẫn khô hạn hơn các khu vực trước núi cao và như tại thung lũng chính của Valais các loại nho được trồng để làm rượu vang.[47]

Tình trạng ẩm nhất tồn tại trên vùng núi Alpes cao và tại bang Ticino, tại đó có nhiều ánh nắng gây các cơn mưa lớn. Giáng thủy có xu hướng trải vừa phải quanh năm với đỉnh điểm vào mùa hè. Mùa thu là mùa khô hạn nhất, mùa đông có ít giáng thủy hơn mùa hè, song mô hình thời tiết tại Thụy Sĩ không phải là một hệ thống ổn định và có thể biến thiên từ năm này sang năm khác.

Khí hậu tương phản giữa khu vực băng giá nhất tại miền tây Á-Âu (Sông băng Aletsch),[48] Dãy Jura có thời tiết ôn đới lạnh (Vallée de Joux), bang miền nam Ticino (hồ Lugano), và bang miền tây Vaud có các ruộng nho bậc thang (hồ Genève)

Aletschhorn from Konkordiaplatz
Joux
Lago di Lugano3
Vine Terraces of Lavaux and the Leman lake in Switzerland

Môi trường

Hệ sinh thái của Thụy Sĩ có thể đặc biệt dễ tổn thương, do nhiều thung lũng nhạy cảm bị các núi cao chia cắt nên thường tạo thành hệ sinh thái duy nhất. Các khu vực núi non cũng dễ bị tổn thương, có đa dạng về thực vật không tìm thấy tại các độ cao khác, và trải qua một số áp lực từ du khách và gia súc. Các điều kiện khí hậu, địa chất và địa hình của khu vực núi cao tạo nên một hệ sinh thái rất mong manh, đặc biệt nhạy cảm với biến đổi khí hậu.[46][49] Tuy thế, theo Chỉ số Thành tựu Môi trường 2014, Thụy Sĩ xếp thứ nhất trong số 132 quốc gia về bảo vệ môi trường, do có điểm số cao về y tế công cộng môi trường, phụ thuộc nhiều vào nguồn năng lượng tái tạo (thủy điện và địa nhiệt), và kiểm soát phát thải khí nhà kính.[50]

Chính trị

Hiến pháp Liên bang được thông qua vào năm 1848 là căn cứ pháp lý của nhà nước liên bang hiện đại. Nó nằm trong số các hiến pháp lâu năm nhất của thế giới.[51] Một hiến pháp mới được phê chuẩn vào năm 1999, song không tiến hành các biến đổi đáng kể về cấu trúc liên bang. Nó phác thảo các quyền lợi cơ bản và chính trị của các cá nhân và tham gia của công dân vào công vụ, phân chia quyền lực giữa liên bang và các bang, và xác định thẩm quyền và quyền hạn của liên bang. Có ba cơ cấu quản lý chính tại cấp độ liên bang:[52] lưỡng viện quốc hội (lập pháp), Hội đồng Liên bang (hành pháp) và Tòa án Liên bang (tư pháp).

Bern 104
Cung điện Liên bang là trụ sở của Nghị viện Liên bang và Hội đồng Liên bang.

Nghị viện Thụy Sĩ gồm có hai viện: Hội đồng Các bang gồm có 46 đại biểu (mỗi bang hai đại biểu và mỗi bán bang có 1 đại biểu), họ được bầu theo hệ thống riêng do mỗi bang xác định, và Hội đồng Quốc gia gồm 200 thành viên được bầu theo một hệ thống đại diện tỷ lệ, tùy theo dân số của mỗi bang. Thành viên của hai viện phục vụ trong bốn năm và chỉ phục vụ bán thời gian (gọi là "Milizsystem" hay cơ quan tư pháp công dân).[53] Khi cả hai viện họp chung, họ được gọi là Nghị hội Liên bang. Thông qua trưng cầu dân ý, công dân có thể thách thức bất kỳ luật nào do nghị viện thông qua, và thông qua xướng nghị có thể đưa các sửa đổi vào hiến pháp liên bang, do đó biến Thụy Sĩ thành một nền dân chủ trực tiếp.[51]

Hội đồng Liên bang gồm có chính phủ liên bang, chỉ đạo chính quyền liên bang và đóng vai trò là cơ quan cao nhất của quốc gia. Đây là một cơ cấu hiệp nghị gồm bảy thành viên, được Nghị hội Liên bang bầu ra theo nhiệm kỳ ủy thác bốn năm, Nghị hội Liên bang cũng thực thi giám sát Hội đồng. Tổng thống Liên bang được Nghị hội Liên bang bầu ra từ bảy thành viên này, theo truyền thống chức vụ này được luân phiên và có nhiệm kỳ một năm; Tổng thống chủ trì chính phủ và đảm nhiệm các chức năng tượng trưng. Tuy nhiên, tổng thống là một người đứng đầu bình đẳng, không có thêm quyền lực, và duy trì là người đứng đầu một cơ quan trong chính quyền.

Chính phủ Thụy Sĩ là một liên minh của bốn chính đảng lớn kể từ năm 1959, mỗi đảng có một số lượng ghế trong nghị viện, chúng phản ánh đại thể tỷ lệ cử tri và đại diện của họ trong nghị viện liên bang. Phân bổ kiểu cũ là 2 thành viên CVP/PDC, 2 thành viên SPS/PSS, 2 thành viên FDP/PRD và 1 thành viên SVP/UDC tồn tại từ năm 1959 đến năm 2003 và được gọi là "công thức ma thuật". Sau bầu cử Hội đồng Liên bang năm 2015, bảy ghế trong hội đồng được phân bổ như sau:

1 ghế của Đảng Nhân dân Dân chủ Cơ Đốc giáo (CVP/PDC),
2 ghế của Đảng Dân chủ Tự do (FDP/PRD),
2 ghế của Đảng Dân chủ Xã hội (SPS/PSS),
2 ghế của Đảng Nhân dân Thụy Sĩ (SVP/UDC).

Chức năng của Tòa án Tối cao Liên bang là phân xử kháng án phán quyết của các tòa án cấp bang và liên bang. Các thẩm phán được Nghị hội Liên bang bầu ra, có nhiệm kỳ sáu năm.[54]

Dân chủ trực tiếp

Landsgemeinde auf dem Zaunplatz in Glarus, Kanton Glarus - 19308273920
Landsgemeinde (bỏ phiếu công khai) là một hình thức cũ của dân chủ trực tiếp. Nó hiện vẫn được thực hiện tại hai bang.

Dân chủ trực tiếp và chủ nghĩa liên bang là các điểm nổi bật của hệ thống chính trị Thụy Sĩ.[55] Công dân Thụy Sĩ là đối tượng của ba quyền lực tư pháp: tại cấp khu tự quản, bang và liên bang. Hiến pháp 1848/1999 xác định một hệ thống dân chủ trực tiếp (thỉnh thoảng gọi là bán trực tiếp hay dân chủ trực tiếp đại diện). Các công cụ của hệ thống này tại cấp độ liên bang, được gọi là quyền dân chúng (tiếng Đức: Volksrechte, tiếng Pháp: droits populaires, tiếng Ý: Diritti popolari),[56] bao gồm quyền đệ trình một "xướng nghị liên bang" và một "trưng cầu dân ý", cả hai đều có thể lật đổ các quyết định của nghị viện.[57]

Bằng cách yêu cầu một cuộc "trưng cầu dân ý" liên bang, một nhóm công dân có thể thách thức một luật do nghị viện thông qua nếu họ thu thập được 50.000 chữ ký chống lại luật trong vòng 100 ngày. Nếu vậy, một cuộc bỏ phiếu toàn quốc được lên kế hoạch để các cử tri quyết định theo thể thức đa số giản đơn về việc chấp thuận hay bác bỏ luật. Tập hợp gồm tám bang bất kỳ cũng có thể yêu cầu trưng cầu hiến pháp về một luật của liên bang.

Tương tự, "xướng nghị hiến pháp" liên bang cho phép công dân đưa một sửa đổi hiến pháp ra bỏ phiếu toàn dân, nếu như trong vòng 18 tháng có 100.000 cử tri ký tên vào sửa đổi được đề xuất.[note 7] Hội đồng Liên bang và Nghị hội Liên bang có thể bổ sung sửa đổi được đề xuất bằng một phản đề án, và sau đó cử tri cần phải cho biết họ ưu tiên gì hơn trong trường hợp hai đề xuất được chấp thuận. Do đó, các sửa đổi hiến pháp bất kể tiến hành dựa theo xướng nghị hoặc tại nghị viện, cần phải được chấp thuận bởi đa số kép theo phiếu phổ thông quốc gia và phiếu phổ thông cấp bang.[note 8][55]

Đơn vị hành chính

Liên bang Thụy Sĩ gồm có 20 bang và 6 bán bang:[51][58]

Suisse cantons
Bang Thủ phủ Bang Thủ phủ
Wappen Aargau matt.svg Aargau Aarau Wappen Nidwalden matt.svg *Nidwalden Stans
Wappen Appenzell Ausserrhoden matt.svg *Appenzell Ausserrhoden Herisau Wappen Obwalden matt.svg *Obwalden Sarnen
Wappen Appenzell Innerrhoden matt.svg *Appenzell Innerrhoden Appenzell Wappen Schaffhausen matt.svg Schaffhausen Schaffhausen
Coat of arms of Kanton Basel-Landschaft.svg *Basel-Landschaft Liestal Wappen des Kantons Schwyz.svg Schwyz Schwyz
Wappen Basel-Stadt matt.svg *Basel-Stadt Basel Wappen Solothurn matt.svg Solothurn Solothurn
Wappen Bern matt.svg Bern Bern Coat of arms of canton of St. Gallen.svg St. Gallen St. Gallen
Wappen Freiburg matt.svg Fribourg Fribourg Wappen Thurgau matt.svg Thurgau Frauenfeld
Wappen Genf matt.svg Genève Genève Wappen Tessin matt.svg Ticino Bellinzona
Wappen Glarus matt.svg Glarus Glarus Wappen Uri matt.svg Uri Altdorf
Wappen Graubünden matt.svg Graubünden Chur Wappen Wallis matt.svg Valais Sion
Wappen Jura matt.svg Jura Delémont Wappen Waadt matt.svg Vaud Lausanne
Wappen Luzern matt.svg Luzern Luzern Wappen Zug matt.svg Zug Zug
Wappen Neuenburg matt.svg Neuchâtel Neuchâtel Wappen Zürich matt.svg Zürich Zürich

*<Nhỏ>Các bang được xem là bán bang và do đó chỉ có một ủy viên (thay vì hai) trong Hội đồng Các bang.</Nhỏ>

Các bang có một địa vị hiến pháp vĩnh viễn, và so với tình hình tại các quốc gia khác thì chúng có mức độ độc lập cao. Theo Hiến pháp Liên bang, toàn bộ 26 bang đều bình đẳng về địa vị. Mỗi bang có hiến pháp riêng, cùng nghị viện, chính phủ và tòa án riêng.[58] Tuy nhiên, có khác biệt đáng kể giữa các bang, quan trọng nhất là về dân số và diện tích. Dân số các bang dao động từ 15.000 (Appenzell Innerrhoden) đến 1.253.500 (Zürich), và diện tích dao động từ 37 km2 (14 sq mi) (Basel-Stadt) đến 7.105 km2 (2.743 sq mi) (Graubünden). Các bang gồm có tổng cộng 2.485 khu tự quản. Tại Thụy Sĩ có hai vùng đất lọt vào: Büsingen thuộc về Đức, Campione d'Italia thuộc về Ý.[59]

Ngoại giao và tổ chức quốc tế

Thụy Sĩ có truyền thống tránh các liên minh có thể yêu cầu quân sự, chính trị và hành động kinh tế trực tiếp, và là nước trung lập kể từ khi kết thúc mở rộng vào năm 1515. Chính sách trung lập của họ được quốc tế công nhận trong Đại hội Wien năm 1815.[60][61] Phải đến năm 2002 Thụy Sĩ mới trở thành một thành viên đầy đủ của Liên Hiệp Quốc[60] và là quốc gia đầu tiên gia nhập tổ chức này theo trưng cầu dân ý. Thụy Sĩ duy trì quan hệ ngoại giao với hầu như toàn bộ các quốc gia và theo truyền thống đóng vai trò là một bên trung gian giữa các quốc gia khác.[60] Thụy Sĩ không phải là thành viên của Liên minh châu Âu; người Thụy Sĩ kiên trì bác bỏ tư cách thành viên của tổ chức này kể từ đầu thập niên 1990.[60] Tuy nhiên, Thụy Sĩ tham gia Khu vực Schengen.[62]

Flag of the Red Cross
Đảo nghịch đơn sắc quốc kỳ Thụy Sĩ trở thành biểu trưng của Phong trào Chữ thập đỏ,[41] được Henri Dunant thành lập vào năm 1863.[63]

Một lượng lớn các tổ chức quốc tế đặt trụ sở của họ tại Thụy Sĩ, một phần là do chính sách trung lập của nước này. Genève là nơi khai sinh của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏCông ước Genève, và từ năm 2006 là nơi đặt trụ sở Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Mặc dù Thụy Sĩ là một trong số các nước mới nhất gia nhập Liên Hiệp Quốc, song Cung các Quốc gia tại Genève là trung tâm lớn thứ nhì của Liên Hiệp Quốc sau trụ sở tại New York, và Thụy Sĩ là một thành viên sáng lập và là nơi đặt trụ sở của Hội Quốc Liên trước đây.

Ngoài trụ sở của Liên Hiệp Quốc, Thụy Sĩ còn là chủ nhà của nhiều cơ quan Liên Hiệp Quốc, như Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU), Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn (UNHCR) và khoảng 200 tổ chức quốc tế khác, trong đó có Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO).[60] Các hội nghị thường niên của Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại Davos có sự tham gia của các lãnh đạo doanh nghiệp và chính trị quốc tế nhằm thảo luận các vấn đề quan trọng của thế giới, trong đó có y tế và môi trường. Ngoài ra, trụ sở của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) đặt tại Basel từ năm 1930.

Hơn nữa, nhiều liên đoàn và tổ chức thể thao đặt tại khắp Thụy Sĩ, như Liên đoàn bóng rổ quốc tế tại Genève, Liên đoàn bóng đá châu Âu (UEFA) tại Nyon, Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA) và Liên đoàn khúc côn cầu trên băng quốc tế đặt tại Zürich, Liên đoàn Xe đạp Quốc tế tại Aigle, và Ủy ban Olympic Quốc tế tại Lausanne.[64]

Quân sự

Switzerland - Air Force McDonnell Douglas FA-18C Hornet - cropped
Một chiếc F/A-18 Hornet của Không quân Thụy Sĩ

Lực lượng vũ trang Thụy Sĩ gồm có Lục quân và Không quân, gồm chủ yếu là các binh sĩ nghĩa vụ từ các nam công dân tuổi từ 20 đến 34 (trong trường hợp đặc biệt lên đến 50). Do là một quốc gia nội lục, Thụy Sĩ không có hải quân song trên các hồ biên giới có sử dụng các tàu kiểm soát quân sự có vũ trang. Công dân Thụy Sĩ bị cấm phục vụ trong quân đội ngoại quốc, ngoại trừ Đội cận vệ Thụy Sĩ của Vatican, hoặc nếu họ có quốc tịch kép của một nước khác và cư trú tại đó.

Cấu trúc của hệ thống dân quân Thụy Sĩ quy định rằng các binh sĩ giữ thiết bị mà Quân đội phát cho tại nhà, bao gồm toàn bộ vũ khí cá nhân. Một số tổ chức và chính đảng tranh luận về thực tiễn này[65] Nghĩa vụ quân sự áp dụng cho toàn bộ nam công dân Thụy Sĩ; nữ giới có thể phục vụ tự nguyện. Nam giới thường nhận lệnh huấn luyện nghĩa vụ quân sự vào năm 18 tuổi.[66] Khoảng hai phần ba thanh niên Thụy Sĩ phù hợp để phục vụ; có một số hình thức phục vụ thay thế đối với những người được đánh giá là không phù hợp.[67] Mỗi năm có khoảng 20.000 người được huấn luyện tại các trung tâm tuyển quân trong khoảng thời gian từ 18 đến 21 tuần lễ. Cải cách "Lục quân XXI" được dân chúng thông qua vào năm 2003, thay thế mô hình "Lục quân 95" trước đó, giảm chiến binh từ 400.000 xuống khoảng 200.000. Trong đó, 120.000 người tại ngũ trong thời kỳ huấn luyện và 80.000 binh sĩ dự bị phi huấn luyện.[68]

Tổng thể, Thụy Sĩ từng ba lần tuyên bố tổng động viên nhằm đảm bảo tính toàn vẹn và tính trung lập của Thụy Sĩ. Lần đầu tiên nhằm ứng phó với Chiến tranh Pháp-Phổ 1870-1871. Lần thứ hai là nhằm ứng phó với bùng phát Chiến tranh thế giới thứ nhất vào tháng 8 năm 1914. Lần thứ ba diễn ra vào tháng 9 năm 1939 nhằm ứng phó trước việc Đức xâm lược Ba Lan; Henri Guisan được bầu làm tổng tư lệnh.

Do có chính sách trung lập, quân đội Thụy Sĩ hiện không tham gia các xung đột quân sự tại nước ngoài, song nằm trong một số sứ mệnh duy trì hòa bình khắp thế giới. Kể từ năm 2000 cơ quan lực lượng vũ trang cũng duy trì hệ thống thu thập tình báo Onyx nhằm theo dõi truyền thông vệ tinh.[69]

Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, có một số nỗ lực nhằm hạn chế hoạt động quân sự hoặc thậm chí là bãi bỏ lực lượng vũ trang. Một cuộc trưng cầu dân ý đáng chú ý về vấn đề này được một nhóm chống quân phiệt phát động, được tổ chức vào năm 1989. Kết quả là thất bại khi hai phần ba cử tri bác bỏ đề xuất.[70][71] Một cuộc trưng cầu dân ý tương tự được tổ chức không lâu sau Sự kiện 11 tháng 9 tại Hoa Kỳ có kết quả là 78% cử tri bác bỏ[72]

Thụy Sĩ có chính sách về súng độc nhất tại châu Âu do có tỷ lệ tương đối lớn (29%) công dân có vũ trang hợp pháp. Đa số lớn vũ khí được giữ tại nhà là loại được phát cho dân quân, song đạn dược không được phát.[73][74]

Kinh tế

Vintage Omega Speedmaster 145.012-67
Omega Speedmaster được mang lên Mặt trăng trong sứ mệnh Apollo. Xét theo giá trị, Thụy Sĩ sản xuất một nửa lượng đồng hồ của thế giới.[41][75]

Thụy Sĩ có một nền kinh tế ổn định, thịnh vượng và công nghệ cao, có được của cải lớn. Năm 2011, quốc gia này được xếp hạng giàu có nhất thế giới về bình quân đầu người ("giàu" được xác định bao gồm tài sản tài chính và phi tài chính), trong khi Báo cáo Của cải Toàn cầu Credit Suisse 2013 cho thấy rằng Thụy Sĩ có lượng của cải bình quân đầu người cao nhất trong năm đó.[76][77][78] Thụy Sĩ là nền kinh tế lớn thứ 19 theo GDP danh nghĩa và lớn thứ 11 theo sức mua tương đương (2016). Đây là nước xuất khẩu lớn thứ 18 thế giới (2015) dù có kích thước nhỏ. Thụy Sĩ được xếp hạng cao nhất châu Âu về Chỉ số Tự do Kinh tế năm 2010.[79] GDP danh nghĩa bình quân của Thụy Sĩ cao hơn của các nền kinh tế lớn tại Tây-Trung Âu và Nhật Bản.[80]

Báo cáo Cạnh tranh Toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới xếp hạng kinh tế Thụy Sĩ là cạnh tranh nhất toàn thế giới (2016-2017),[81] trong khi Liên minh châu Âu xếp hạng Thụy Sĩ là quốc gia sáng tạo nhất châu lục (2010).[82][83] Trong phần lớn thế kỷ XX, Thụy Sĩ là quốc gia giàu có nhất tại châu Âu với một khoảng cách đáng kể (theo GDP/người).[84] Năm 2007, thu nhập hộ gia đình trung bình tại Thụy Sĩ ước tính đạt 137.094 USD theo sức mua tương đương trong khi thu nhập trung bình là 95.824 USD.[85] Thụy Sĩ là một trong các quốc gia cân bằng tài khoản vãng lai lớn nhất theo tỷ lệ GDP.

Aerial view of Zurich
Khu vực Đại Zürich là nơi ở của 1,5 triệu cư dân và có 150.000 công ty, đây là một trong các trung tâm kinh tế quan trọng nhất trên thế giới.[86]

Thụy Sĩ có một số tập đoàn đa quốc gia lớn. Các công ty lớn nhất Thụy Sĩ theo doanh thu là Glencore, Gunvor, Nestlé, Novartis, Hoffmann-La Roche, ABB, Mercuria Energy Group và Adecco.[87] Ngoài ra, còn phải chú ý đến UBS AG, Zurich Financial Services, Credit Suisse, Barry Callebaut, Swiss Re, Tetra Pak, The Swatch Group và Swiss International Air Lines. Thụy Sĩ được xếp vào hàng các nền kinh tế mạnh nhất thế giới.[84]

Lĩnh vực kinh tế quan trọng nhất của Thụy Sĩ là chế tạo. Ngành chế tạo phần lớn gồm sản xuất các mặt hàng hóa chất, y dược chuyên biệt, các dụng cụ đo lường khoa học và chính xác, và nhạc cụ. Mặt hàng xuất khẩu lớn nhất là hóa chất, máy móc/đồ điện tử, và thiết bị/đồng hồ chính xác.[88] Xuất khẩu dịch vụ chiếm 1/3 tổng giá trị xuất khẩu.[88] Lĩnh vực dịch vụ, đặc biệt là ngân hàng, bảo hiểm, du lịch và các tổ chức quốc tế là một ngành quan trọng khác của Thụy Sĩ.

Khoảng hơn 5 triệu người làm việc tại Thụy Sĩ theo số liệu năm 2017,[89] khoảng 25% người lao động thuộc một tổ chức công đoàn vào năm 2004.[90] Thụy Sĩ có thị trường lao động linh hoạt hơn so với các quốc gia láng giềng và tỷ lệ thất nghiệp ở mức rất thấp. Tỷ lệ thất nghiệp tăng từ 1,7% trong tháng 6 năm 2000 lên đến đỉnh là 4,4% trong tháng 12 năm 2009.[91] Tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống 3,2% vào năm 2014 và không giảm thêm vào năm 2015 và 2016.[92][93] Tăng trưởng dân số bắt nguồn từ di cư thuần là khá cao, ở mức 0,52% dân số vào năm 2004.[88] Cư dân là công dân ngoại quốc chiếm 21,8% vào năm 2004,[88] tương đương với Úc. GDP theo giờ làm việc cao thứ 16 thế giới, với 49,46 dollar quốc tế vào năm 2012.[94]

Khu vực tư nhân chiếm áp đảo trong kinh tế Thụy Sĩ và mức thuế tại đây thấp theo tiêu chuẩn Phương Tây. Thụy Sĩ là quốc gia tương đối dễ dàng để kinh doanh, đứng thứ 26 về Chỉ số thuận lợi kinh doanh (2016). Thụy Sĩ trải qua tăng trưởng chậm trong thập niên 1990 và đầu thập niên 2000, tạo ra ủng hộ lớn hơn cho các cải cách kinh tế và hài hòa với Liên minh châu Âu.[95][96] Theo Credit Suisse, năm 2007 chỉ khoảng 37% cư dân sở hữu nhà ở, nằm vào hàng thấp nhất tại châu Âu. Giá nhà ở và thực phẩm cao hơn 171% và 145% so với các quốc gia EU vào năm 2007, tương đương với 113% và 104% so với Đức.[88]

Ngân sách liên bang Thụy Sĩ có quy mô 62,8 tỷ franc Thụy Sĩ vào năm 2010, tương đương 11,35% GDP quốc gia trong năm; tuy nhiên ngân sách khu vực (cấp bang) và ngân sách các khu tự quản không được tính vào trong ngân sách liên bang và tổng chi tiêu chính phủ là gần 33,8% GDP. Nguồn thu nhập chủ yếu của chính phủ liên bang là thuế giá trị gia tăng (33%) và thuế liên bang trực tiếp (29%) và chi tiêu chủ yếu nằm tại các khu vực phúc lợi xã hội và tài chính & thuế. Chi tiêu của Liên bang Thụy Sĩ tăng từ 7% GDP vào năm 1960 lên 9,7% vào năm 1990 và đến 10,7% vào năm 2010. Trong khi các lĩnh vực phúc lợi xã hội và tài chính & thuế tăng từ 35% vào năm 1990 lên 48,2% vào năm 2010, một sự suy giảm đáng kể chi tiêu đang diễn ra trong các lĩnh vực nông nghiệp và quốc phòng, từ 26,5% xuống 12,4% (ước tính vào năm 2015).[97][98]

Chủ nghĩa bảo hộ nông nghiệp là một ngoại lệ hiếm hoi trong chính sách mậu dịch tự do của Thụy Sĩ, nó góp phần khiến giá thực phẩm ở mức cao. Tự do hóa thị trường sản phẩm tụt hậu so với nhiều quốc gia EU theo đánh giá của OECD.[95] Tuy thế, sức mua nội địa nằm vào hàng tốt nhất thế giới.[99][100][101] Ngoài nông nghiệp, các hàng rào kinh tế và mậu dịch giữa Liên minh châu Âu và Thụy Sĩ là tối thiểu và Thụy Sĩ có các thỏa thuận mậu dịch tự do trên toàn cầu. Thụy Sĩ là một thành viên của Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA).

Giáo dục và khoa học

Giáo dục tại Thụy Sĩ rất đa dạng do Hiến pháp Thụy Sĩ ủy thác cho các bang giữ thẩm quyền về hệ thống trường học.[102] Tồn tại các trường học công lập và tư thục, trong đó có nhiều trường học quốc tế tư nhân. Tuổi tối thiểu đối với trường tiểu học là khoảng sáu tuổi tại toàn bộ các bang, song hầu hết các bang cung cấp một "trường học trẻ em" miễn phí bắt đầu từ năm 4 hoặc 5 tuổi.[102] Cấp tiểu học kéo dài đến lớp bốn, năm hoặc sáu, tùy theo trường học. Theo truyền thống, ngoại ngữ thứ nhất trong trường học luôn là một trong các ngôn ngữ chính thức khác của Thụy Sĩ, song gần đây tiếng Anh được đưa vào làm ngoại ngữ thứ nhất tại một số bang.[102]

Đến cuối cấp tiểu học (hoặc đầu cấp trung học), học sinh được phân loại theo khả năng của họ theo một vài (thường là ba) lĩnh vực. Những trẻ học nhanh hơn được dạy trong các lớp học tiên tiến để chuẩn bị cho học tập sâu hơn và kỳ thi tú tài,[102] còn những trẻ tiếp thu chậm hơn một chút được tiếp nhận giáo dục thích ứng hơn với nhu cầu của chúng.

Thụy Sĩ có 12 đại học, mười trường duy trì thuộc cấp bang và thường cung cấp lĩnh vực các môn học phi kỹ thuật. Đại học đầu tiên tại Thụy Sĩ được thành lập vào năm 1460 tại Basel (với một khoa y) và có truyền thống về nghiên cứu hóa học và y học tại Thụy Sĩ. Đại học lớn nhất tại Thụy Sĩ là Đại học Zürich với khoảng 25.000 sinh viên. Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ tại Zürich (ETHZ) và Đại học Zürich được xếp thứ 20 và 54 theo Xếp hạng Học thuật Đại học Thế giới 2015 của Đại học Giao thông Thượng Hải.[103]

Hai học viện được chính phủ liên bang tài trợ là Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ tại Zürich (ETHZ) thành lập vào năm 1855 và Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ tại Lausanne (EPFL) được thành lập vào năm 1969- trước đó là một viện liên kết với Đại học Lausanne.[note 9][104][105]

Ngoài ra, tồn tại một số đại học khoa học ứng dụng (Fachhochschule). Trong nghiên cứu kinh doanh và quản trị, Đại học St. Gallen được xếp hạng thứ 329 trong Bảng xếp hạng đại học thế giới QS[106] và xếp hạng nhất về chương trình mở toàn cầu theo Financial Times.[107] Thụy Sĩ có tỷ lệ cao thứ hai (gần 18% vào năm 2003) sinh viên ngoại quốc ở cấp đại học, sau Úc (hơn 18% một chút).[108][109]

Như để thích hợp với một quốc gia trong vai trò là nơi đặt trụ sở của nhiều tổ chức quốc tế, Viện Sau đại học Nghiên cứu Quốc tế và Phát triển (IHEID) đặt tại Genève là trường sau đại học nghiên cứu quốc tế và phát triển lâu năm nhất tại châu Âu lục địa, và được nhìn nhận phổ biến là một trong những trường uy tín nhất.[110][111]

Nhiều nhà khoa học Thụy Sĩ từng nhận được giải thưởng Nobel, trong đó có nhà vật lý học nổi tiếng thế giới Albert Einstein,[112] ông phát triển thuyết tương đối hẹp của mình trong thời gian làm việc tại Bern. Gần đây có các nhà khoa học Thụy Sĩ Vladimir Prelog, Heinrich Rohrer, Richard Ernst, Edmond Fischer, Rolf Zinkernagel và Kurt Wüthrich nhận giải Nobel. Tổng cộng, Thụy Sĩ giành hơn 100 giải Nobel trong toàn bộ các lĩnh vực[113] và Giải Nobel Hòa bình được trao chín lần cho các tổ chức có trụ sở tại Thụy Sĩ.[114]

LHC, CERN
Đường hầm LHC. CERN là phòng thí nghiệm lớn nhất thế giới và cũng là nơi khai sinh của World Wide Web.[115]

Genève và tỉnh Ain thuộc Pháp nằm kế bên cùng là nơi đặt phòng thí nghiệm lớn nhất thế giới là CERN,[116] dành cho nghiên cứu vật lý hạt. Viện Paul Scherrer là trung tâm nghiên cứu quan trọng khác. Các phát minh đáng chú ý gồm có thuốc ảo giác lysergic acid diethylamide (LSD), kính hiển vi quét xuyên hầm và Velcro. Một số công nghệ cho phép thám hiểm các thế giới mới như bóng áp lực của Auguste Piccard và Bathyscaphe, cho phép Jacques Piccard tiếp cận điểm sâu nhất của đại dương thế giới.

Văn phòng Không gian Thụy Sĩ tham gia một số công nghệ và chương trình không gian. Ngoài ra, họ còn là một trong 10 thể chế sáng lập Cơ quan Không gian châu Âu vào năm 1975 và đóng góp lớn thứ bảy cho ngân sách của cơ quan này. Trong khu vực tư nhân, một số công ty liên quan đến công nghiệp không gian như Oerlikon Space[117] hay Maxon Motors[118] họ cung cấp các cấu trúc tàu vũ trụ.

Năng lượng, hạ tầng và môi trường

Mauvoisin Dam
Thụy Sĩ có các đập nước cao nhất tại châu Âu, trong đó có Đập Mauvoisin trên dãy Alpes. Thủy điện là nguồn năng lượng nội địa quan trọng nhất của quốc gia.

56% điện năng tại Thụy Sĩ là từ thủy điện, và 39% là từ điện hạt nhân, kết quả là hệ thống phát điện gần như không thải CO2. Ngày 18 tháng 5 năm 2003, hai sáng kiến chống điện hạt nhân bị bác bỏ: Moratorium Plus nhằm mục tiêu cấm chỉ xây dựng nhà máy điện hạt nhân mới,[119] và Điện năng Không Hạt nhân.[120] Tuy nhiên, do tác động từ sự cố hạt nhân Fukushima tại Nhật Bản, Chính phủ Thụy Sĩ vào năm 2011 công bố rằng có kế hoạch kết thúc sử dụng năng lượng hạt nhân trong vòng hai hoặc ba thập niên tới.[121] Tháng 11 năm 2016, cử tri Thụy Sĩ bác bỏ một đề xuất của Đảng Xanh về đẩy nhanh thôi dần năng lượng hạt nhân.[122] Văn phòng Năng lượng Liên bang Thụy Sĩ (SFOE) chịu trách nhiệm về toàn bộ các vấn đề liên quan đến cung ứng năng lượng và sử dụng năng lượng. Cơ quan này ủng hộ sáng kiến xã hội 2.000 W (trung bình một người dùng không quá 48 KWh mỗi ngày) nhằm cắt giảm sử dụng năng lượng quốc gia xuống hơn một nửa vào năm 2050.[123]

Thụy Sĩ có mạng lưới đường sắt dày đặc nhất tại châu Âu,[41] gồm 5.250 kilômét (3.260 mi) chuyên chở 596 triệu lượt hành khách mỗi năm (tính đến 2015).[124] Năm 2015, mỗi công dân Thụy Sĩ đi trung bình 2.550 kilômét (1.580 mi) bằng tàu hỏa, do đó là những người sử dụng đường sắt nhiều nhất.[124] Gần như 100% mạng lưới được điện khí hóa. Đa số (60%) hệ thống do Đường sắt Liên bang Thụy Sĩ (SBB CFF FFS) điều hành. BLS AG vận hành đường sắt khổ tiêu chuẩn lớn thứ nhì, hai công ty đường sắt khác vận hành mạng lưới khổ nhỏ là Đường sắt Rhaetian (RhB) tại bang đông nam Graubünden, trong đó có một số đoạn là di sản thế giới,[125] và Matterhorn Gotthard Bahn (MGB) đồng vận hành cùng RhB đối với Glacier Express giữa Zermatt và St. Moritz/Davos. Ngày 31 tháng 5 năm 2016, Đường hầm Gotthard qua dãy Alpes được khai thông, là đường hầm đường sắt dài nhất và sâu nhất thế giới với chiều dài 57,1 kilômét long (35,5 mi).

Mạng lưới đường bộ Thụy Sĩ được quản lý kết hợp công-tư, quỹ lấy từ phí đường bộ và thuế xe. Hệ thống xa lộ cao tốc Thụy Sĩ yêu cầu mua một tem thuế có giá 40 franc Thụy Sĩ mỗi năm theo lịch để sử dụng đường, áp dụng với cả xe chở khách và chở hàng. Hệ thống xa lộ cao tốc Thụy Sĩ có tổng chiều dài 1.638 km (1.018 mi) (tính đến năm 2000), và so với diện tích toàn quốc là 41.290 km2 (15.940 sq mi) thì đây cũng là một trong những hệ thống xa lộ dày đặc nhất thế giới.[126] Sân bay Zürich là cửa ngõ hàng không quốc tế lớn nhất của Thụy Sĩ, chuyên chở 22,8 triệu lượt hành khách vào năm 2012.[127] Các sân bay quốc tế khác là Sân bay Genève (13,9 triệu hành khách vào năm 2012),[128] EuroAirport Basel-Mulhouse-Freiburg trên lãnh thổ Pháp, Sân bay Bern, Sân bay Lugano, Sân bay St. Gallen-Altenrhein và Sân bay Sion. Swiss International Air Lines là hãng hàng không quốc gia của Thụy Sĩ, có trung tâm chính là Zürich.

Thụy Sĩ nằm trong số các quốc gia phát triển có thành tựu môi trường tốt nhất;[129] Thụy Sĩ ký kết Nghị định thư Kyoto vào năm 1998 và phê chuẩn nó vào năm 2003. Cùng với MexicoHàn Quốc tạo thành Tổ chức Toàn vẹn Môi trường (EIG).[130] Thụy Sĩ rất tích cực trong các quy định tái chế và chống xả rác, và là một trong những nước tái chế hàng đầu trên thế giới, với 66-96% vật liệu có thể tái chế đã được tái chế vào năm 2010, tùy theo khu vực.[131] Chỉ số Kinh tế Xanh Toàn cầu 2014 xếp hạng Thụy Sĩ nằm trong 10 nền kinh tế xanh hàng đầu thế giới.[132]

Nhân khẩu

Bevölkerungsdichte der Schweiz 2019
Mật độ dân số tại Thụy Sĩ (2019)

Năm 2012, dân số Thụy Sĩ vượt qua tám triệu. Tương tự như các quốc gia phát triển khác, dân số Thụy Sĩ gia tăng nhanh chóng trong thời kỳ công nghiệp hóa, tăng bốn lần từ năm 1800 đến năm 1990. Tăng trưởng từ đó ổn định, và như hầu hết châu Âu, Thụy Sĩ hiện phải đối diện với kết cấu dân số lão hóa, song được dự báo tăng trưởng liên tục hàng năm cho đến năm 2035 phần lớn là do nhập cư và tỷ suất sinh gần đến mức thay thế.[133]

Tính đến năm 2012, cư dân là người ngoại quốc chiếm 23,3% dân số, một trong các tỷ lệ cao nhất tại thế giới phát triển.[134] Hầu hết trong số họ (64%) đến từ Liên minh châu Âu hoặc các quốc gia EFTA.[135] Người Ý là dân tộc đơn lẻ lớn nhất trong số người ngoại quốc với tỷ lệ 15,6% trong nhóm này, tiếp đến là người Đức (15,2%), di dân từ Bồ Đào Nha (12,7%), Pháp (5,6%), Serbia (5,3%), Thổ Nhĩ Kỳ (3,8%), Tây Ban Nha (3,7%), và Áo (2%). Di dân Sri Lanka với hầu hết là người tị nạn Tamil là nhóm lớn nhất trong những người gốc Á.[135]

Ngoài ra, số liệu từ năm 2012 cho thấy 34,7% dân số thường trú từ 15 tuổi trở lên tại Thụy Sĩ (tức khoảng 2,33 triệu người) có một xuất thân nhập cư. Một phần ba trong số đó (853.000) giữ quyền công dân Thụy Sĩ. Bốn phần năm số người có một xuất thân nhập cư là người nhập cư; còn một phần năm sinh tại Thụy Sĩ.[136]

Trong thập niên 2000, các tổ chức nội địa và quốc tế bày tỏ lo ngại về điều được nhìn nhận là gia tăng bài ngoại, đặc biệt là trong một số chiến dịch chính trị. Phản ứng trước một báo cáo phê phán, Hội đồng Liên bang lưu ý rằng "chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc đáng tiếc là hiện diện tại Thụy Sĩ", song phát biểu rằng tỷ lệ cao công dân ngoại quốc tại đây, cũng như việc người ngoại quốc hội nhập nhìn chung là không có vấn đề cho thấy sự cởi mở của Thụy Sĩ.[137]

Ngôn ngữ

Karte Schweizer Sprachgebiete 2017
Phân bổ ngôn ngữ tại Thụy Sĩ (2017):
  Tiếng Đức (63,5%)
  Tiếng Pháp (22,5%)
  Tiếng Ý (8,1%)
  Tiếng Romansh (0,5%)

Thụy Sĩ có bốn ngôn ngữ chính thức: Tiếng Đức chiếm đa số (63,3% dân số nói vào năm 2014); tiếng Pháp (22,7%) tại miền tây; và tiếng Ý (8,1%) tại miền nam.[138] Ngôn ngữ thứ tư là tiếng Romansh (0,5%), đây là một ngôn ngữ thuộc hệ Latinh và được nói ở quy mô địa phương tại bang Graubünden thuộc miền đông nam. Tuy nhiên, pháp luật liên bang và các đạo luật chính thức khác không cần thiết được ban hành bằng tiếng Romansh.

Năm 2013, các ngôn ngữ được nói nhiều nhất tại nhà trong số cư dân thường trú từ 15 tuổi trở lên là tiếng Đức-Thụy Sĩ (60,1%), tiếng Pháp (23,4%), tiếng Đức tiêu chuẩn (10,1%), và tiếng Ý (8,4%). Trên hai phần năm (42,6%) cư dân thường trú biểu thị thường xuyên nói hơn một ngôn ngữ. Các ngôn ngữ khác được nói tại nhà gồm có tiếng Anh (4,6%), tiếng Bồ Đào Nha (3,5%), tiếng Albania (2.6%), tiếng Serbia và Croatia (2,5%), tiếng Tây Ban Nha (2,2%), và tiếng Thổ Nhĩ Kỳ (1,3%).[138]

Chính phủ liên bang có nghĩa vụ giao thiệp bằng các ngôn ngữ chính thức, và trong nghị viện liên bang các bản dịch đồng thời được cung cấp giữa tiếng Đức, Pháp và Ý.[139]

Ngoài dạng chính thức, bốn khu vực ngôn ngữ của Thụy Sĩ cũng có dạng phương ngữ của mình. Vai trò của phương ngữ trong mỗi khu vực ngôn ngữ khác biệt đáng kể: Tại các khu vực nói tiếng Đức, tiếng Đức-Thụy Sĩ ngày càng trở nên thịnh hành hơn kể từ nửa cuối thế kỷ XX, đặc biệt là trong truyền thông, và được sử dụng làm ngôn ngữ thường nhật, trong khi giao thiệp bằng văn bản hầu như luôn sử dụng dạng tiếng Đức tiêu chuẩn của Thụy Sĩ.[140] Tương phản, tại các khu vực nói tiếng Pháp, phương ngữ bản địa hầu như đã biến mất, trong khi các phương ngữ tại các khu vực nói tiếng Ý hầu như bị hạn chế trong bối cảnh gia đình và đàm thoại bình thường.[140]

Học một trong các ngôn ngữ quốc gia khác tại trường học là điều bắt buộc đối với toàn bộ học sinh Thụy Sĩ, do đó nhiều người Thụy Sĩ được giả định ít nhất là song ngữ, đặc biệt là những người thuộc các nhóm thiểu số ngôn ngữ.[141]

Y tế

Toàn thể công dân Thụy Sĩ được yêu cầu mua bảo hiểm y tế từ các công ty bảo hiểm tư nhân, ngược lại các công ty được yêu cầu chấp nhận bất kỳ người nào nộp đơn. Chi phí của hệ thống y tế Thụy Sĩ nằm vào hàng cao nhất, song có kết quả tốt so với các quốc gia châu Âu khác; các bệnh nhân là công dân Thụy Sĩ được báo cáo nhìn chung là hài lòng cao độ với hệ thống.[142][143][144] Năm 2012, tuổi thọ dự tính khi sinh là 80,4 đối với nam giới và 84,7 đối với nữ giới[145] — là con số cao nhất thế giới.[146][147] Chi tiêu vào y tế đặc biệt cao với 11,4% GDP (2010), song ngang hàng với Đức và Pháp (11,6%) cùng các quốc gia châu Âu khác, và thấp hơn đáng kể chi tiêu tại Hoa Kỳ (17,6%).[148] Từ năm 1990, ghi nhận được có tình trạng tăng dần chi phí, phản ánh chi phí cao của các dịch vụ được cung ứng.[149] Do dân số đang lão hóa và các kỹ thuật y tế mới, chi tiêu cho y tế dường như sẽ tiếp tục tăng lên.[149]

Đô thị hóa

Từ hai phần ba đến ba phần tư dân số cư trú tại các khu vực đô thị.[150][151] Thụy Sĩ biến đổi từ một quốc gia phần lớn cư dân sống tại nông thôn sang một quốc gia phần lớn cư dân sống tại đô thị trong vòng 70 năm. Tình trạng mở rộng đô thị này không chỉ tác động đến cao nguyên Thụy Sĩ mà còn đến dãy Jura và chân núi Alpes[152] và có lo ngại gia tăng về sử dụng đất.[153] Tuy nhiên, từ đầu thế kỷ XXI, tăng trưởng dân số tại khu vực đô thị cao hơn tại khu vực nông thôn.[151]

Thụy Sĩ có một mạng lưới thành phố dày đặc, có các thành phố cỡ lớn, vừa và nhỏ bổ khuyết cho nhau.[151] Cao nguyên Thụy Sĩ có mật độ dân số rất cao với khoảng 450 người/km² và cảnh quan liên tục biểu thị dấu hiệu con người hiện diện.[154] Sức nặng của các đại đô thị là Zürich, GenèveLausanne, BaselBern có xu hướng gia tăng.[151] Theo so sánh quốc tế, tầm quan trọng của các khu vực đô thị này mạnh hơn so với số lượng cư dân của chúng.[151] Ngoài ra, hai trung tâm chính là Zürich và Genève được công nhận có chất lượng sinh hoạt đặc biệt cao.[155]

Tôn giáo

Thụy Sĩ không có quốc giáo, song hầu hết các bang (ngoại trừ GenèveNeuchâtel) công nhận các giáo hội chính thức, là Giáo hội Công giáo La Mã hoặc Giáo hội Cải cách Thụy Sĩ. Các giáo hội này, và tại một số bang còn có các giáo đoàn Công giáo Cổ và Do Thái giáo, được tài trợ bằng thuế chính thức từ các tín đồ.[157]

Cơ Đốc giáo là tôn giáo chủ yếu của Thụy Sĩ (khoảng 71% cư dân[158] và 75% công dân Thụy Sĩ[159]), bị phân chia giữa Công giáo La Mã (38,21% dân số), Giáo hội Cải cách Thụy Sĩ (26,93%), các giáo hội Tin Lành khác (2,89%) và các giáo phái Cơ Đốc khác (2,79%). Gần đây có sự nổi lên của phái Phúc Âm.[160] Sự nhập cư lập nên các cộng đồng tôn giáo thiểu số đáng kể, như Hồi giáo (4,95%) và Chính thống giáo Đông phương (khoảng 2%).[158] Theo một trưng cầu vào năm 2015 của Gallup International, 12% dân chúng Thụy Sĩ tự xác định là "người vô thần xác tín."[161]

Theo điều tra nhân khẩu năm 2000, các cộng đồng thiểu số Cơ Đốc khác gồm có Tân Mộ đạo (Pietism) (0,44%), Ngũ Tuần (0,28%), Giám Lý (0.13%), Tân Tông đồ (0,45%), Nhân Chứng Giê-hô-va (0,28%), giáo phái Tin Lành khác (0,20%), Công giáo Cổ (0,18%), các giáo phái Cơ Đốc khác (0,20%). Các tôn giáo phi Cơ Đốc là Ấn Độ giáo (0,38%), Phật giáo (0,29%), Do Thái giáo (0,25%) và khác (0,11%); 4,3% không tuyên bố. 21,4% vào năm 2012 tự tuyên bố là không giáo phái, tức không liên kết với bất kỳ giáo hội hoặc cơ cấu tôn giáo nào.[158][162]

Quốc gia có lịch sử cân bằng ngang nhau giữa Công giáo và Tin Lành, có sự đan xen phức tạp về phái chiếm đa số tại hầu hết lãnh thổ. Genève cải sang Tin Lành vào năm 1536, ngay trước khi John Calvin đến đó. Nơi này được quốc tế gọi là "Roma Tin Lành" do là căn cứ của nhiều nhà cải cách như Theodore Beza hay William Farel. Zürich trở thành một thành trì Tin Lành khác khoảng cùng thời điểm, khi Huldrych Zwingli và Heinrich Bullinger nắm quyền lãnh đạo tại đó. Có một bang là Appenzell bị phân chia chính thức giữa các phái Công giáo và Tin Lành vào năm 1597. Các thành phố lớn và bang mà chúng thuộc về (Bern, Genève, Lausanne, Zürich và Basel) là nơi Tin Lành chiếm ưu thế. Trung Thụy Sĩ cùng với Valais, Ticino, Appenzell Innerrhodes,JuraFribourg có truyền thống Công giáo. Hiến pháp Thụy Sĩ 1848 do ảnh hưởng từ xung đột giữa các bang Công giáo và Tin Lành đương thời nên cố ý xác định một tình trạng hiệp thương, cho phép Công giáo và Tin Lành cùng tồn tại hòa bình. Một sáng kiến vào năm 1980 kêu gọi hoàn toàn tách biệt giáo hội và nhà nước đã bị 78,9% cử tri bác bỏ.[163] Một số bang và thành phố có truyền thống Tin Lành ngày nay có một đa số nhỏ Công giáo, không phải vì phái này có tín đồ tăng lên, mà chỉ là vì từ khoảng năm 1970 có sự gia tăng dần lượng người không liên kết với bất kỳ giáo hội hoặc cơ cấu tôn giáo khác, đặc biệt là tại các khu vực truyền thống Tin Lành như thành phố Basel (42%), bang Neuchâtel (38%), bang Genève (35%), bang Vaud (26%), hay thành phố Zürich (>25%%).[164]

Văn hóa

Vals06
Buổi hòa nhạc kèn Alphorn tại Vals

Văn hóa Thụy Sĩ mang đặc điểm là đa dạng, phản ánh thông qua phạm vi rộng các phong tục truyền thống.[165] Một khu vực có thể bằng một số cách thức để giữ liên kết mạnh với quốc gia láng giềng chia sẻ cùng ngôn ngữ với họ, bản thân Thụy Sĩ có gốc là văn hóa Tây Âu.[166] Văn hóa Romash cô lập về ngôn ngữ tại bang Graubünden là ngoại lệ, nó tồn tại chỉ trên các thung lũng cao thuộc lưu vực sông Rhine và Inn và phấn đấu duy trì truyền thống ngôn ngữ hiếm của mình.

Thụy Sĩ có nhiều cư dân có đóng góp nổi bật cho văn học, nghệ thuật, kiến trúc, âm nhạc và khoa học. Ngoài ra quốc gia này còn thu hút một số cá nhân sáng tạo trong thời kỳ bất ổn hoặc chiến tranh tại châu Âu.[167] Thụy Sĩ có khoảng 1000 bảo tàng, được phân bổ trên toàn quốc; số lượng tăng gấp ba lần kể từ năm 1950.[168] Trong số các cuộc trình diễn văn hóa quan trọng nhất được tổ chức thường niên có Lễ hội Paléo, Lễ hội Lucerne,[169] Lễ hội Jazz Montreux,[170] Liên hoan Phim Quốc tế Locarno và Art Basel.[171]

Chủ nghĩa biểu tượng Alpes đóng vai trò thiết yếu trong hình thành lịch sử quốc gia và bản sắc dân tộc Thụy Sĩ.[11][172] Ngày nay một số vùng núi tập trung có văn hóa nghỉ dưỡng trượt tuyết sôi nổi vào mùa đông, và văn hóa đi bộ đường dài hoặc xe đạp leo núi vào mùa hè. Các khu vực khác trong suốt năm có văn hóa giải trí phục vụ cho du lịch, song mùa xuân và mùa thu vắng vẻ hơn do ít du khách hơn. Văn hóa nông dân và mục dân truyền thống cũng chi phối tại nhiều khu vực, các nông trại nhỏ hiện diện khắp nơi khi ra khỏi các thành phố. Nghệ thuật dân gian được duy trì tồn tại trong các tổ chức khắp Thụy Sĩ, chủ yếu được thể hiện bằng âm nhạc, vũ đạo, thơ, khắc gỗ và thêu. Alphorn là một nhạc cụ giống như trumpet làm bằng gỗ, nó cùng với lối hát yodelphong cầm là khái quát của âm nhạc truyền thống Thụy Sĩ.[173][174]

Văn học

Rousseau Geneve
Jean-Jacques Rousseau không chỉ là một nhà văn mà còn là một nhà triết học có ảnh hưởng vào thế kỷ XVIII.[175]

Với tư cách liên bang, hình thành từ năm 1291 và khi đó hầu như chỉ bao gồm các khu vực nói tiếng Đức, dạng văn học sớm nhất của Thụy Sĩ được viết bằng tiếng Đức. Đến thế kỷ XVIII, tiếng Pháp trở thành ngôn ngữ thời thượng tại Bern và nơi khác, với ảnh hưởng của các đồng minh và lãnh thổ lệ thuộc nói tiếng Pháp trở nên rõ ràng hơn.[176]

Trong số tác giả kinh điển của văn học tiếng Đức tại Thụy Sĩ có Jeremias Gotthelf (1797–1854) và Gottfried Keller (1819–1890). Các nhân vật phi thường của văn học Thụy Sĩ trong thế kỷ XX là Max Frisch (1911–1991) và Friedrich Dürrenmatt (1921–1990), có các tiết mục Die Physiker (Các nhà vật lý học) và Das Versprechen (Thề nguyện), được Hollywood dựng phim và phát hành vào năm 2001.[177]

Các nhà văn tiếng Pháp xuất chúng là Jean-Jacques Rousseau (1712–1778) và Germaine de Staël (1766–1817). Các tác giả gần đây hơn là Charles Ferdinand Ramuz (1878–1947) và Blaise Cendrars (1887–1961).[177]

Có lẽ sáng tạo văn học nổi tiếng nhất của Thụy Sĩ là Heidi, một câu chuyện về cô bé mồ côi sống với ông trên dãy Alpes, đây là một trong số các sách thiếu nhi nổi tiếng nhất cho đến nay và trở thành một tượng trưng của Thụy Sĩ. Tác giả của truyện là Johanna Spyri (1827–1901), bà còn viết một số sách khác về đề tài tương tự.[177]

Truyền thông

Tự do báo chí và quyền tự do biểu đạt được đảm bảo trong hiến pháp liên bang của Thụy Sĩ.[178] Thống tấn xã Thụy Sĩ (SNA) phát thông tin mỗi giờ bằng ba trong bốn ngôn ngữ chính thức về chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa. SNA cũng cấp tin tức cho hầu như toàn bộ truyền thông Thụy Sĩ và hàng chục dịch vụ truyền thông ngoại quốc.[178]

Thụy Sĩ có số đầu báo phát hành lớn nhất xét theo tỷ lệ với dân số và kích thước.[179] Các báo có ảnh hưởng nhất là Tages-Anzeiger và Neue Zürcher Zeitung (NZZ) viết bằng tiếng Đức, và Le Temps viết bằng tiếng Pháp, song hầu như mỗi thành phố đều có ít nhất một báo địa phương. Sự đa dạng văn hóa giải thích việc có số lượng lớn báo chí.[179]

Chính phủ áp dụng kiểm soát nhiều hơn đối với truyền thông phát sóng so với truyền thông in ấn, đặc biệt là tài chính và cấp phép.[179] Tập đoàn Phát sóng Thụy Sĩ SRG SSR chịu trách nhiệm sản xuất và phát sóng các chương trình phát thanh và truyền hình. Các phòng thu của SRG SSR được phân bố khắp các khu vực ngôn ngữ. Nội dung phát thanh được sản xuất tại sáu phòng thu trung ương và bốn phòng thu khu vực, trong khi các chương trình truyền hình được sản xuất tại Genève, ZürichLugano. Một mạng lưới cáp quy mô rộng cũng cho phép hầu hết người Thụy Sĩ tiếp cận với các chương trình từ các quốc gia láng giềng.[179]

Kiến trúc

Kiến trúc ở Thụy Sĩ có truyền thống lâu đời. Phong cách Romanesque của thế kỷ 12 có thể được tìm thấy trong các nhà thờBasel, Sion, Chur, GenevaLausanne. Phong cách này, rất phong phú về biểu hiện, cũng có thể được tìm thấy ở nhiều lâu đài và pháo đài khắp đất nước, nhiều trong số đó vẫn còn ở trong tình trạng tốt. Các nhà thờ ở Schaffhausen, ZugZürich có phong cách Gothic, và các nhà thờ của EinsiedelnSt. Gallen có phong cách Baroque.

Thể thao

Allalinhorn 4027 2007 04 17
Khu trượt tuyết trên sông băng tại Saas-Fee

Trượt tuyết, trượt ván trên tuyếtleo núi nằm trong số các môn thể thao phổ biến nhất tại Thụy Sĩ, đặc điểm tự nhiên của quốc gia này đặc biệt thích hợp cho các hoạt động như vậy.[180] Thể thao mùa đông được cư dân bản địa và du khách luyện tập kể từ nửa sau thế kỷ XIX khi phát minh xe trượt băng tại St. Moritz.[181] Các giải vô địch trượt tuyết thế giới đầu tiên được tổ chức tại Mürren (1931) và St. Moritz (1934). St. Moritz còn từng đăng cai Thế vận hội Mùa đông lần thứ 2 vào năm 1928lần thứ năm vào năm 1948.

Các môn thể thao được theo dõi nhiều nhất tại Thụy Sĩ là bóng đá, khúc côn cầu trên băng, trượt tuyết đổ đèo, vật dân tộc "Schwingen", và quần vợt.[182]

Trụ sở của Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA) và Liên đoàn khúc côn cầu trên băng thế giới (IIHF) đặt tại Zürich. Trên thực tế trụ sở của nhiều liên đoàn thể thao quốc tế khác cũng nằm tại Thụy Sĩ, như Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC), Bảo tàng Olympic và Tòa Trọng tài Thể thao (CAS) của IOC đặt tại Lausanne.

Thụy Sĩ từng đăng cai Giải bóng đá vô địch thế giới 1954, và cùng với Áo đăng cai Giải vô địch bóng đá châu Âu 2008. Giải Siêu hạng Thụy Sĩ là giải câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp của quốc gia. Sân bóng đá cao nhất châu Âu với độ cao 2.000 mét (6.600 ft) trên mực nước biển nằm tại Thụy Sĩ và mang tên Sân vận động Ottmar Hitzfeld.[183]

Nhiều người Thụy Sĩ theo dõi khúc côn cầu trên băng và ủng hộ một trong 12 câu lạc bộ tại Giải hạng A, là giải đông đảo nhất tại châu Âu.[184] Năm 2009, Thụy Sĩ lần thứ 10 đăng cai Giải vô địch khúc côn cầu trên băng thế giới.[185] Do có nhiều hồ nên Thụy Sĩ là một nơi thu hút đối với môn thuyền buồm. Hồ lớn nhất Thụy Sĩ là hồ Genève là căn cứ của đội tuyển thuyền buồm Alinghi, là đội tuyển châu Âu đầu tiên giành chiến thắng Cúp châu Mỹ năm 2003 và bảo vệ được danh hiệu vào năm 2007. Quần vợt ngày càng trở nên phổ biến tại Thụy Sĩ, các vận động viên như Martina Hingis, Roger Federer, và Stanislas Wawrinka từng nhiều lần giành chiến thắng tại Grand Slam.

Đua ô tô và các sự kiện thể thao ô tô bị cấm chỉ tại Thụy Sĩ sau tai nạn Le Mans năm 1955 tại Pháp, ngoại lệ là các sự kiện như leo đồi tốc độ. Trong giai đoạn này, Thụy Sĩ vẫn sản sinh các tay đua thành công, và Thụy Sĩ cũng chiến thắng Giải vô địch thế giới thể thao ô tô công thức A1 mùa 2007-2008. Tháng 6 năm 2007, Hội đồng Quốc gia Thụy Sĩ bỏ phiếu bỏ lệnh cấm, song Hội đồng Các bang Thụy Sĩ bác bỏ thay đổi và lệnh cấm vẫn duy trì.[186][187]

Các môn thể thao truyền thống gồm có vật Thụy Sĩ hay "Schwingen". Đây là một truyền thống cổ xưa từ các bang miền trung nông thôn và được một số người nhìn nhận là môn thể thao quốc gia. Hornussen là môn thể thao bản địa Thụy Sĩ khác, giống như pha tạp giữa bóng chày và golf.[188] Steinstossen là biến thể Thụy Sĩ của môn đẩy đá, một cuộc tranh tài bằng cách ném một khối đá nặng. Nó vốn chỉ được tập luyện trong phạm vi cư dân vùng núi cao từ thời kỷ tiền sử, và được ghi nhận diễn ra tại Basel trong thế kỷ XIII. Đây là trung tâm của Lễ hội Unspunnenfest được tổ chức lần đầu vào năm 1805, với biểu tượng là hòn đá 83,5 kg mang tên Unspunnenstein.[189]

Ẩm thực

Full cheese fondue set - in Switzerland
Fondue là pho mát nấu chảy, bánh mì được nhúng vào

Ẩm thực Thụy Sĩ có nhiều khía cạnh, một số món như fondue, raclette hay rösti hiện diện trên toàn quốc, song mỗi bang phát triển nghệ thuật ẩm thực riêng của mình dựa theo khác biệt về khí hậungôn ngữ.[190] [191] Ẩm thực Thụy Sĩ truyền thống sử dụng các nguyên liệu tương tự như của các quốc gia châu Âu khác, cũng như các sản phẩm sữa và pho mát độc nhất như Gruyère hay Emmental, được sản xuất tại các thung lũng Gruyères và Emmental. Có nhiều cơ sở hảo hạng, đặc biệt là tại miền tây Thụy Sĩ.[192][193]

Sôcôla được sản xuất tại Thụy Sĩ từ thế kỷ XVIII, song đạt được danh tiếng vào cuối thế kỷ XIX khi phát minh các công nghệ hiện đại khiến sản phẩm có chất lượng cao. Một bước đột phá là phát minh sôcôla sữa đặc vào năm 1875 bởi Daniel Peter. Người Thụy Sĩ bình quân tiêu thụ sôcôla lớn nhất thế giới.[194][195]

Đồ uống có cồn phổ biến nhất tại Thụy Sĩ là rượu vang. Thụy Sĩ nổi tiếng vì trồng nhiều loại nho do khác biệt lớn về điều kiện đất, không khí, độ caoánh sáng. Rượu vang Thụy Sĩ được sản xuất chủ yếu tại Valais, Vaud (Lavaux), Genève và Ticino, với đa số nhỏ là rượu vang trắng. Các ruộng nho được canh tác tại Thụy Sĩ từ thời La Mã, thậm chí các dấu tích nhất định có thể cho thấy nguồn gốc cổ xưa hơn. Các loại phổ biến nhất là Chasselas (gọi là Fendant tại Valais) và Pinot noir. Merlot là loại chủ yếu được sản xuất tại Ticino.[196][197]

Chú thích

  1. ^ "Thành phố liên bang" về pháp lý, thủ đô trên thực tế. Do tính nhạy cảm chủ nghĩa liên bang lịch sử, pháp luật Thụy Sĩ không xác định một thủ đô chính thức; và một số tổ chức liên bang như các tòa án nằm tại các thành phố khác.
  2. ^ Mốc đầu tiên của lời tuyên thệ Rütlischwur là vào năm 1307 (Aegidius Tschudi ghi nhận vào thế kỷ XVI) và chỉ là một trong một số các hiệp ước trong giai đoạn này. Mốc hiến chương liên bang 1291 được lựa chọn vào năm 1891 nhằm kỷ niệm chính thức liên bang 600 năm.
  3. ^ Một tuyên ngôn trọng thể của Tagsatzung tuyên bố Hiến pháp Liên bang được thông qua vào ngày 12 tháng 9 năm 1848. Một nghị quyết của Tagsatzung vào ngày 14 tháng 9 năm 1848 xác định rằng quyền lực của các thể chế được cấp theo Hiệp định Liên bang 1815 kết thúc vào thời điểm hiến pháp của Hội đồng Liên bang có hiệu lực vào ngày 16 tháng 11 năm 1848.
  4. ^ Bern được gọi là "thành phố liên bang" (tiếng Đức: Bundesstadt, tiếng Pháp: Ville féderale, tiếng Ý: Capitale federale. Luật Thụy Sĩ không định rõ một thủ đô, song nghị viện và chính phủ liên bang đặt tại Bern, trong khi các tòa án liên bang nằm tại các thành phố khác.
  5. ^ Chính tả và phát âm tiếng Đức tiêu chuẩn Thụy Sĩ, Tên gọi tiếng Đức Thụy Sĩ đôi khi được viết là Schwyz hoặc Schwiiz [ˈʃʋiːt͡s]. Schwyz cũng là tên gọi tiếng Đức tiêu chuẩn (và quốc tế) của một bang tại Thụy Sĩ.
  6. ^ Phát âm thứ hai là cách phát âm phương ngữ Surselva thông dụng.
  7. ^ Kể từ năm 1999, một xướng nghị cũng có thể dưới dạng một đề xuất chung do Nghị viện soạn thảo, song do nó được cho là ít thu hút vì nhiều nguyên nhân, thể thức xướng nghị này chưa từng được sử dụng.
  8. ^ Được tán thành tại đa số trong số 23 bang bỏ phiếu, do kết quả về phiếu phổ thông tại sáu bán bang truyền thống được tính là một nửa giá trị so với các bang khác.
  9. ^ Năm 2008, ETH Zürich được xếp hạng 15 trong lĩnh vực Khoa học Tự nhiên và Toán học theo Bảng xếp hạng học thuật Đại học Thế giới của Đại học Giao thông Thượng Hải, còn EPFL tại Lausanne được xếp hạng 18 trong lĩnh vực Kỹ thuật/Công nghệ và Khoa học Máy tính trong bảng xếp hạng này.

Tham khảo

  1. ^ a ă â Georg Kreis: Federal city bằng các tiếng Đức, Pháp, và Ý trong quyển Từ điển lịch sử Thụy Sĩ. Phiên bản vào ngày ngày 20 tháng 3 năm 2015.
  2. ^ a ă Holenstein, André (2012). “Die Hauptstadt existiert nicht” (PDF) (scientific article). UniPress – Forschung und Wissenschaft an der Universität Bern (bằng tiếng Đức) (152: Sonderfall Hauptstatdtregion). Berne: Department Communication, University of Berne. tr. 16–19. doi:10.7892/boris.41280. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2015. Als 1848 ein politisch-administratives Zentrum für den neuen Bundesstaat zu bestimmen war, verzichteten die Verfassungsväter darauf, eine Hauptstadt der Schweiz zu bezeichnen und formulierten stattdessen in Artikel 108: «Alles, was sich auf den Sitz der Bundesbehörden bezieht, ist Gegenstand der Bundesgesetzgebung.» Die Bundesstadt ist also nicht mehr und nicht weniger als der Sitz der Bundesbehörden.
  3. ^ Andreas Kley: Federal constitution bằng các tiếng Đức, Pháp, và Ý trong quyển Từ điển lịch sử Thụy Sĩ. Phiên bản vào ngày ngày 3 tháng 5 năm 2011.
  4. ^ “Bevölkerungsbestand am Ende des 2. Quartals 2016” [Recent monthly and quarterly figures: provisional data] (XLS) (official statistics) (bằng tiếng Đức, Pháp, và Italy). Neuchâtel, Switzerland: Swiss Federal Statistical Office (FSO), Swiss Confederation. Ngày 6 tháng 10 năm 2016. 1155-1500. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2016.
  5. ^ Jacqueline Kucera, Athena Krummenacher biên tập (ngày 22 tháng 11 năm 2016). Switzerland's population 2015 (PDF) (official report). Swiss Statistics (01 Population). Neuchâtel, Switzerland: Swiss Federal Statistical Office (FSO), Swiss Confederation. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2016.
  6. ^ a ă â b “5. Report for Selected Countries and Subjects: Switzerland”. Washington, DC, U.S.: International Monetary Fund. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2016.
  7. ^ “Gini coefficient of equivalised disposable income - EU-SILC survey”. ec.europa.eu. Eurostat. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2019.
  8. ^ “Chỉ số phát triển con người 2018”. Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc. 2018. Truy cập 14 tháng 9 năm 2018.
  9. ^ Thomas Fleiner, Alexander Misic, Nicole Töpperwien (ngày 5 tháng 8 năm 2005). Swiss Constitutional Law. Kluwer Law International. tr. 28. ISBN 978-9041124043.
  10. ^ Prof. Dr. Adrian Vatter (2014). Das politische System der Schweiz [The Political System of Switzerland]. Studienkurs Politikwissenschaft (bằng tiếng Đức). Baden-Baden: UTB Verlag. ISBN 978-3-8252-4011-0.
  11. ^ a ă Zimmer, Oliver (ngày 12 tháng 1 năm 2004) [originally published: October 1998]. “In Search of Natural Identity: Alpine Landscape and the Reconstruction of the Swiss Nation”. Comparative Studies in Society and History (London: Society for Comparative Study of Society and History) 40 (4): 637–665. doi:10.1017/S0010417598001686 – qua Cambridge Journals.
  12. ^ Josef Lang (ngày 14 tháng 12 năm 2015). “Die Alpen als Ideologie”. Tages-Anzeiger (bằng tiếng Đức) (Zürich, Switzerland). Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2015.
  13. ^ Subir Ghosh (ngày 9 tháng 10 năm 2010). “US is still by far the richest country, China fastest growing”. Digital Journal. Canada. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2015.
  14. ^ Simon Bowers (ngày 19 tháng 10 năm 2011). “Franc's rise puts Swiss top of rich list”. The Guardian (London, UK). Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2015.
  15. ^ “Swiss and German cities dominate ranking of best cities in the world”. City Mayors. London, UK: Mercer Consulting. Ngày 28 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2010.
  16. ^ Trần Văn Chánh. Từ điển Hán-Việt — Hán ngữ cổ đại và hiện đại. Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa. Năm 2014. Trang 2430.
  17. ^ Room, Adrian (2003) Placenames of the World. London: MacFarland and Co., ISBN 0-7864-1814-1.
  18. ^ Switzerland, the Catholic Encyclopedia newadvent.org. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2010
  19. ^ On Schwyzers, Swiss and Helvetians Lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2010, tại Wayback Machine., Federal Department of Home Affairs, admin.ch.
  20. ^ Züritütsch, Schweizerdeutsch (p. 2) schweizerdeutsch.ch. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2010
  21. ^ Kanton Schwyz: Kurzer historischer Überblick sz.ch. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2010
  22. ^ Marco Marcacci, Confederatio helvetica (2002), Historical Lexicon of Switzerland.
  23. ^ Helvetia bằng các tiếng Đức, Pháp, và Ý trong quyển Từ điển lịch sử Thụy Sĩ.
  24. ^ a ă â b c d đ e History. swissworld.org. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2009
  25. ^ Switzerland's Roman heritage comes to life swissinfo.ch
  26. ^ a ă â b Switzerland history Nationsencyclopedia.com. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2009
  27. ^ a ă â b c d đ History of Switzerland Nationsonline.org. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2009
  28. ^ Schwabe & Co.: Geschichte der Schweiz und der Schweizer, Schwabe & Co 1986/2004. ISBN 3-7965-2067-7 (tiếng Đức)
  29. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n “A Brief Survey of Swiss History”. admin.ch. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2009.
  30. ^ Swiss border ("Les principales rectifications postérieures à 1815 concernent la vallée des Dappes en 1862 (frontière Vaud-France, env. 7,5 km2), la valle di Lei en 1952 (Grisons-Italie, 0,45 km2), l'Ellhorn en 1955 (colline revendiquée par la Suisse pour des raisons militaires, Grisons-Liechtenstein) et l'enclave allemande du Verenahof dans le canton de Schaffhouse en 1967.") bằng các tiếng Đức, Pháp, và Ý trong quyển Từ điển lịch sử Thụy Sĩ.
  31. ^ Tunnel Vision: Switzerland's AlpTransit Gotthard Tunnel Lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2010, tại Wayback Machine. inboundlogistics.com. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2010
  32. ^ Histoire de la Suisse, Éditions Fragnière, Fribourg, Switzerland
  33. ^ Lenin and the Swiss non-revolution swissinfo.ch. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2010
  34. ^ Urner, Klaus (2001) Let's Swallow Switzerland, Lexington Books, pp. 4, 7, ISBN 0739102559.
  35. ^ a ă Book review: Target Switzerland: Swiss Armed Neutrality in World War II, Halbrook, Stephen P. stonebooks.com. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2009
  36. ^ Asylum bằng các tiếng Đức, Pháp, và Ý trong quyển Từ điển lịch sử Thụy Sĩ.
  37. ^ Switzerland, National Socialism and the Second World War. Final Report of the Independent Commission of Experts Switzerland, Pendo Verlag GmbH, Zürich 2002, ISBN 3-85842-603-2, p. 498.
  38. ^ Switzerland, National Socialism and the Second World War. Final Report of the Independent Commission of Experts Switzerland, Pendo Verlag GmbH, Zürich 2002, ISBN 3-85842-603-2, p. 521.
  39. ^ 7.4 States Formerly Possessing or Pursuing Nuclear Weapons Retrieved ngày 6 tháng 3 năm 2014
  40. ^ Westberg, Gunnar (ngày 9 tháng 10 năm 2010). “Swiss Nuclear Bomb”. International Physicians for the Prevention of Nuclear War. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2014.
  41. ^ a ă â b Country profile: Switzerland. UK Foreign and Commonwealth Office (ngày 29 tháng 10 năm 2012).
  42. ^ a ă â b c d đ “Swiss Geography”. swissworld.org. Presence Switzerland, Federal Department of Foreign Affairs. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2014.
  43. ^ “map.search.ch” (online map). Map of Switzerland with route planner. TomTom, swisstopo, osm thiết kế bản đồ. search.ch / Tamedia. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2015.
  44. ^ “STAT-TAB: Die interaktive Statistikdatenbank” (bằng tiếng Đức và French). Neuchâtel, Switzerland: Swiss Federal Statistical Office. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2014.
  45. ^ “Map Gallery Switzerland: Physical Geography of Switzerland”. Neuchâtel, Switzerland: Swiss Federal Statistical Office. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2014.
  46. ^ a ă “Swiss Climate”. Swiss Federal Office of Meteorology and Climatology MeteoSwiss, Swiss Federal Department of Home Affairs FDHA, Swiss Confederation. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2014.
  47. ^ “Swiss climate maps”. Swiss Federal Office of Meteorology and Climatology MeteoSwiss, Swiss Federal Department of Home Affairs FDHA, Swiss Confederation. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2014.
  48. ^ “Swiss Alps Jungfrau-Aletsch”. UNESCO World Heritage Centre. 2007. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2015.
  49. ^ “Environment: Impact of climate change”. swissworld.org. Presence Switzerland, Federal Department of Foreign Affairs. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2014.
  50. ^ “2014 Environmental Performance Index”. epi.yale.edu/epi. Yale Center for Environmental Law & Policy, Yale University, and Center for International Earth Science Information Network, Columbia University. 2014. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2014.
  51. ^ a ă â “Switzerland's political system”. Berne, Switzerland: The Federal Council. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2016.
  52. ^ “Federalism”. Berne, Switzerland: The Federal Council. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2016.
  53. ^ “Die Legislative ist ein Miliz-Parlament – SWI swissinfo.ch”. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2016.
  54. ^ “The federal courts”. Berne, Switzerland: The Federal Council. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2016.
  55. ^ a ă Peter Knoepfel, Yannis Papadopoulos, Pascal Sciarini, Adrian Vatter, Silja Häusermann biên tập (2014). Handbuch der Schweizer Politik – Manuel de la politique suisse (bằng tiếng Đức và Pháp) (ấn bản 5). Zürich, Switzerland: Verlag Neue Zürcher Zeitung, NZZ libro. ISBN 978-3-03823-866-9.
  56. ^ Andreas Gross: Popular rights bằng các tiếng Đức, Pháp, và Ý trong quyển Từ điển lịch sử Thụy Sĩ. Phiên bản vào ngày ngày 22 tháng 4 năm 2015.
  57. ^ Kaufmann, Bruno (ngày 18 tháng 5 năm 2007). “How direct democracy makes Switzerland a better place”. The Telegraph (London, UK). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2009.
  58. ^ a ă “Addresses of administrative authorities”. Berne, Switzerland: ch.ch, A service of the Confederation, cantons and communes. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2016.
  59. ^ Enclaves of the world Lưu trữ ngày 18 tháng 9 năm 2009, tại Wayback Machine. enclaves.webs.com. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2009
  60. ^ a ă â b c Neutrality and isolationism swissworld.org, Retrieved on ngày 23 tháng 6 năm 2009
  61. ^ “Switzerland – Country history and economic development”. nationsencyclopedia.com. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2009.
  62. ^ “Schengen Visa Countries List – Schengen Area”. Schengen VISA Information (bằng tiếng en-US). Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2015.
  63. ^ Henri Dunant, the Nobel Peace Prize 1901 nobelprize.org. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2009
  64. ^ Sports directory Lưu trữ ngày 3 tháng 5 năm 2010, tại Wayback Machine. if-sportsguide.ch. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2010
  65. ^ An initiative to abandon this practice has been launched on ngày 4 tháng 9 năm 2007, and supported by GSoA, the Green Party of Switzerland and the Social Democratic Party of Switzerland as well as other organisations which are listed at Tragende und unterstützende Organisationen. schutz-vor-waffengewalt.ch
  66. ^ “Militärdiestpflicht” (bằng tiếng Đức, Pháp, và Ý). Swiss Federal Department of Defence, Civil Protection and Sport. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2014.
  67. ^ “Zwei Drittel der Rekruten diensttauglich (Schweiz, NZZ Online)”. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2009.
  68. ^ Die Armee in Zahlen – Truppenbestände. www.vbs.admin.ch (in German)
  69. ^ As context, according to Edwin Reischauer, "To be neutral you must be ready to be highly militarized, like Switzerland or Sweden." – see Chapin, Emerson. "Edwin Reischauer, Diplomat and Scholar, Dies at 79," New York Times. ngày 2 tháng 9 năm 1990.
  70. ^ Volksabstimmung vom 26. November 1989 admin.ch. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2010
  71. ^ L'évolution de la politique de sécurité de la Suisse ("Evolution of Swiss Security Policies") by Manfred Rôsch, NATO.int
  72. ^ Volksinitiative 'für eine glaubwürdige Sicherheitspolitik und eine Schweiz ohne Armee (tiếng Đức) admin.ch. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2009
  73. ^ “SR 514.101 Verordnung des VBS über die persönliche Ausrüstung der Armeeangehörigen (VPAA-VBS) vom 9. Dezember 2003 (Stand am 1. Januar 2015): Art. 7 Taschenmunition Ziff 1” (official site) (bằng tiếng Đức, Pháp, và Italy). Berne, Switzerland: The Swiss Federal Council. Ngày 21 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2016.
  74. ^ “Soldiers can keep guns at home but not ammo”. Swissinfo. Ngày 27 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2016.
  75. ^ “Watches”. Swissworld.org. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2012.
  76. ^ Credit Suisse: Global wealth has soared 14% since 2010 to USD 231 trillion with the strongest growth in emerging markets. Credit Suisse.
  77. ^ Table 2: Top 10 countries with the highest average wealth per adult in 2011. Credit Suisse.
  78. ^ Credit Suisse Research Institute (ngày 9 tháng 10 năm 2013). “Global Wealth Reaches New All-Time High”. The Financialist. Credit Suisse. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2013.
  79. ^ 2012 Index of Economic Freedom: Switzerland heritage.org. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2011
  80. ^ “CIA – The World Factbook”. Cia.gov. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2013.
  81. ^ “Global Competitiveness Report 2016-2017” (PDF). World Economic Forum.
  82. ^ The Innovation Union's performance scoreboard for Research and Innovation 2010. Maastricht Economic and social Research and training centre on Innovation and Technology, ngày 1 tháng 2 năm 2011.
  83. ^ “European Innovation Scoreboard – European Commission”. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2016.
  84. ^ a ă Western Europe. Routledge. 2002. tr. 645–646. ISBN 1-85743-152-9.
  85. ^ Comparative Agendas accessed ngày 12 tháng 7 năm 2013
  86. ^ The most powerful cities in the world citymayors.com. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2012
  87. ^ “Six Swiss companies make European Top 100”. swissinfo.ch. Ngày 18 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2008.
  88. ^ a ă â b c Swiss Statistical Yearbook 2008 by Swiss Federal Statistical Office
  89. ^ “Work and income”. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2017.
  90. ^ “Trade Unions – Switzerland”. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2012.
  91. ^ Swiss jobless reach 12-year high – a mere 4.4 pct. Associated Press (ngày 8 tháng 1 năm 2010).
  92. ^ The World Factbook
  93. ^ “Mehr Arbeitslose in der Schweiz – das ist nicht überraschend – News – SRF”. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2016.
  94. ^ “The Conference Board Total Economy Database – Output, Labor, and Labor Productivity, 1950 – 2012” (Excel). The Conference Board. Tháng 1 năm 2013. GDP per Hour, in 2012 EKS$.
  95. ^ a ă Policy Brief: Economic Survey of Switzerland, 2007 Lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2008, tại Wayback Machine. (326 KiB), OECD Lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2015, tại Wayback Machine.
  96. ^ Economic Policy Reforms: Going for Growth 2008 – Switzerland Country Note. Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD), 2008, ISBN 978-92-64-04284-1
  97. ^ Federal Department of Finance. (2012/1). p. 82.
  98. ^ “Archived copy” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2014.
  99. ^ Domestic purchasing power of wages (68 KiB)
  100. ^ Switzerland tops in buying power. Swiss News (ngày 1 tháng 5 năm 2005).
  101. ^ Want the world's best wages? Move to Switzerland reuters.com. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2010.
  102. ^ a ă â b The Swiss education system swissworld.org, Retrieved on ngày 23 tháng 6 năm 2009
  103. ^ Academic Ranking of World Universities 2015 Academic Ranking of World Universities. ShanghaiRanking Consultancy. 2015. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2016
  104. ^ “Shanghai Ranking 2008 Top 100 world universities in Natural Sciences and Mathematics”. Ed.sjtu.edu.cn. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2010.
  105. ^ Kim Thomas (ngày 1 tháng 10 năm 2014). “Why does Switzerland do so well in university rankings?”. The Guardian (London). Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2014.
  106. ^ Ranking by Top Universities
  107. ^ Financial Time Executive Education Rankings – Open Programs – 2015 Retrieved ngày 8 tháng 7 năm 2015
  108. ^ “Chart C3.1. Percentage of foreign students in tertiary education (1998, 2003) in Education at a Glance, OECD indicators 2005 – Executive Summary” (PDF). www.oecd.org/edu/eag2005 (Study). OECD. 2005. tr. 44. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2013.
  109. ^ Education at Glance 2005 by the OECD: Percentage of foreign students in tertiary education.
  110. ^ “Graduate Institute of International Studies Geneva Overview | Study Abroad Programs”. Studyihub.com. Ngày 13 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2013.
  111. ^ “e-Perspectives, Kendra Magraw ('10) Accepted at Geneva's Prestigious IHEID – U of MN Law School”. Law.umn.edu. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2013.
  112. ^ Snygg, John (2011). A New Approach to Differential Geometry Using Clifford's Geometric Algebra. Springer. tr. 38. ISBN 978-0-8176-8282-8.
  113. ^ Mueller, Roland. “Swiss Nobel Prize Winners / Nobel Prize Winners in Switzerland”. Muellerscience.com. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2011.
  114. ^ “Mueller Science – Spezialitaeten: Schweizer Nobelpreisträger”. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2008.
  115. ^ info.cern.ch Retrieved on ngày 30 tháng 4 năm 2010
  116. ^ “CERN - the largest laboratory in the world www.swissworld.org”. Swissworld.org. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2010.
  117. ^ Oerlikon Space at a Glance. www.oerlikon.com
  118. ^ “5 Years on Mars”. Maxonmotor.ch. Ngày 4 tháng 1 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2011.
  119. ^ “Vorlage Nr. 502: Übersicht: Volksinitiative 'Moratorium Plus – Für die Verlängerung des Atomkraftwerk-Baustopps und die Begrenzung des Atomrisikos (MoratoriumPlus)' (official site) (bằng tiếng Đức, Pháp, và Italy). Berne, Switzerland: Swiss Federal Chancellery. Ngày 18 tháng 5 năm 2003. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2016.
  120. ^ “Vorlage Nr. 501: Übersicht:Volksinitiative 'Strom ohne Atom – Für eine Energiewende und schrittweise Stilllegung der Atomkraftwerke (Strom ohne Atom)' (official site) (bằng tiếng Đức, Pháp, và Italy). Berne, Switzerland: Swiss Federal Chancellery. Ngày 18 tháng 5 năm 2003. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2016.
  121. ^ Martin Enserink (ngày 25 tháng 5 năm 2011). “Switzerland to Phase Out Nuclear Energy; E.U. Strikes Deal on 'Stress Tests'. Science (Washington DC, U.S.: American Association for the Advancement of Science). Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2016.
  122. ^ Urs Geiser. “Swiss nuclear plants to remain on grid”. SWI swissinfo.ch – the international service of the Swiss Broadcasting Corporation (SBC) (Zurich, Switzerland: Swiss Broadcasting Corporation (SBC)). Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2016.
  123. ^ “Federal government energy research”. Ngày 16 tháng 1 năm 2008.
  124. ^ a ă “Öffentlicher Verkehr – Zeitreihen” (XLS) (official site). Neuchâtel, Switzerland: Swiss Federal Statistical Office (FSO). Tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2016.
  125. ^ Rhaetian Railway in the Albula / Bernina Landscapes unesco.org
  126. ^ “Switzerland”. Xinhua. Ngày 1 tháng 4 năm 2003.
  127. ^ anna.aero European Airport Traffic Trends accessed ngày 12 tháng 7 năm 2013
  128. ^ Geneva Airport statistics accessed ngày 12 tháng 7 năm 2013
  129. ^ Swiss sit atop ranking of greenest nations msnbc.com. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2009
  130. ^ Party grouping unfccc.int. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2009
  131. ^ W3design. “Swiss Recycling”. Swissrecycling.ch. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2010.
  132. ^ “2014 Global Green Economy Index” (PDF). Dual Citizen LLC. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2014.
  133. ^ “Swiss population to grow 12.5 per cent by 2035”. SWI. SWI. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2016.
  134. ^ “Population – Key figures, 2012”. www.bfs.admin.ch (Statistics) (bằng tiếng Anh, German, French, và Italian). Neuchâtel: Swiss Federal Statistical Office, 2013. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2013.
  135. ^ a ă “Migration and integration – Data, indicators, Nationality, Foreign permanent resident population by nationality, 2012”. www.bfs.admin.ch (Statistics) (bằng tiếng Anh, German, French, và Italian). Neuchâtel: Swiss Federal Statistical Office, 2013. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2013.
  136. ^ “Migration and integration – Data, indicators, Nationality, Population with an immigration background, Permanent resident population aged 15 or over, by migration status, 2nd quarter 2012”. www.bfs.admin.ch (Statistics) (bằng tiếng Anh, German, French, và Italian). Neuchâtel: Swiss Federal Statistical Office, 2013. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2013.
  137. ^ Definitive report on racism in Switzerland by UN expert humanrights.ch
  138. ^ a ă “Languages” (bằng tiếng Đức, Pháp, và Italy). Neuchâtel: Swiss Federal Statistical Office. 2016. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2016.
  139. ^ “The Parliamentary Services”. Berne, Switzerland: The Federal Assembly. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2015.
  140. ^ a ă “Dialekte” (bằng tiếng Đức). Berne, Switzerland: Historisches Lexikon der Schweiz. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2015.
  141. ^ “Multilingualism”. Berne, Switzerland: Presence Switzerland, Federal Department of Foreign Affairs FDFA, The Federal Administration. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2015.
  142. ^ “Patients are very satisfied with "Hospital Switzerland"” [Patienten mit «Spital Schweiz» sehr zufrieden] (bằng tiếng Đức). Berne, Switzerland: ANQ Nationaler Verein für Qualitätsentwicklung in Spitälern und Kliniken. Ngày 5 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2015. Die Antworten erreichten auf einer Skala von 1 bis 10 durchschnittliche Werte zwischen 9 und 9,4.
  143. ^ “Zufriedenheit durch Vertrauen: Kurzbericht zur grossen Ärztestudie” (PDF) (bằng tiếng Đức). Berne, Switzerland: gfs.bern, 20 Minuten Online, comparis.ch. Ngày 10 tháng 10 năm 2012. tr. 9. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2015. Mehrheitliche 91 Prozent sind mit "ihrem" Hausarzt mehr oder weniger dezidiert zufrieden.
  144. ^ Rico Kütscher (ngày 28 tháng 6 năm 2014). “Kundenzufriedenheit: Krankenkassen sollten Effizienz und Image verbessern”. Neue Zürcher Zeitung, NZZ (bằng tiếng Đức) (Zürich, Switzerland). Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2015. Wie es um die Kundenzufriedenheit in der Branche generell steht, zeigt eine 2013 im Auftrag von «K-Tipp» durchgeführte repräsentative Umfrage unter Versicherten, die in den vergangenen zwei Jahren Leistungen von ihrer Krankenkasse in Anspruch genommen haben. Beim Testsieger Concordia waren rund 73% der Versicherten «sehr zufrieden». Bei grossen Krankenkassen wie der CSS und Helsana betrug dieser Anteil 70% beziehungsweise 63%. Groupe Mutuel erreichte rund 50%, und die Billigkasse Assura kam auf 44%. Dies illustriert, dass die Zufriedenheit durchaus hoch ist – dass es aber auch Potenzial für Effizienzsteigerungen bei Krankenkassen gibt.
  145. ^ “Components of population change – Data, indicators: Deaths, mortality and life expectancy”. Swiss Federal Statistical Office, Neuchâtel 2013. 2012. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2013.
  146. ^ “The Human Capital Report, Insight Report” (PDF). World Economic Forum. 2013. tr. 480,12,14,478–481. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2013.
  147. ^ “OECD.StatExtracts, Health, Health Status, Life expectancy, Total population at birth, 2011” (Online Statistics). stats.oecd.org/. OECD's iLibrary. 2013. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2013.
  148. ^ “Statistical Data on Health and Accident Insurance” (PDF). Swiss Federal Office of Public Health (FOPH) 2012 Edition (Flyer, A4, 2 pages). Ngày 19 tháng 12 năm 2012. tr. 2. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2013.
  149. ^ a ă OECD and WHO survey of Switzerland's health system oecd.org. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2009
  150. ^ Where people live swissworld.org. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2009
  151. ^ a ă â b c Städte und Agglomerationen unter der Lupe admin.ch. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2009
  152. ^ Swiss countryside succumbs to urban sprawl swissinfo.ch. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2009
  153. ^ Enquête représentative sur l'urbanisation de la Suisse (Pronatura) Lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2011, tại Wayback Machine. gfs-zh.ch. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2009
  154. ^ Swiss plateau swissworld.org. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2009
  155. ^ Quality of living mercer.com. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2009
  156. ^ “Erhebung zur Sprache, Religion und Kultur 2014: Religiöse und spirituelle Praktiken und Glaubensformen in der Schweiz” (PDF). www.bfs.admin.ch (Statistics) (bằng tiếng Đức). Neuchâtel; Switzerland: Swiss Federal Statistical Office. 2016. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2016.
  157. ^ “Die Kirchensteuern August 2013” (PDF). www.estv.admin.ch (Document) (bằng tiếng Đức, French, và Italian). Berne: Schweizerische Steuerkonferenz SSK, Swiss Federal Tax Administration FTA, Federal Depertment of Finance FDF. 2013. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2014.
  158. ^ a ă â “Ständige Wohnbevölkerung ab 15 Jahren nach Religions- / Konfessionszugehörigkeit, 2011–2013” (XLS). www.bfs.admin.ch (Statistics) (bằng tiếng Đức). Neuchâtel; Switzerland: Swiss Federal Statistical Office. 2015. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2015.
  159. ^ “Wohnbevölkerung nach Religionszugehörigkeit 1910–2013” (XLS). www.bfs.admin.ch (bằng tiếng Đức). Neuchâtel: Swiss Federal Statistical Office. 2015. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2015.
  160. ^ “Evangelical Churches Growing Fast in Switzerland”. Christian Post. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2015.
  161. ^ “Gallup International Religiosity Index” (PDF). Washington Post. WIN-Gallup International. Tháng 4 năm 2015.
  162. ^ Bovay, Claude; Broquet, Raphaël (ngày 30 tháng 9 năm 2005). Eidgenössische Volkszählung 2000: Religionslandschaft in der Schweiz (PDF) (Publication) (bằng tiếng Đức, French, và Italian). Neuchâtel: Swiss Federal Statistical Office, December 2004. tr. 122–129. ISBN 3-303-16073-2. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2013.
  163. ^ Volksabstimmung vom 2. März 1980 admin.ch. Truy cập 2010
  164. ^ “Ständige Wohnbevölkerung ab 15 Jahren nach Religions- / Konfessionszugehörigkeit, 2012” (XLS). www.bfs.admin.ch (Statistics) (bằng tiếng Đức, French, và Italian). Neuchâtel: Swiss Federal Statistical Office. 2014. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2014.
  165. ^ Swiss culture swissworld.org. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2009
  166. ^ European Year of Intercultural Dialogue Dr Michael Reiterer. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2009
  167. ^ Switzerland: culture traveldocs.com. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2009
  168. ^ Museums swissworld.org. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2009
  169. ^ Lucerne Festival nytimes.com. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2010
  170. ^ Montreux Jazz Festival Retrieved on 26 August 2013
  171. ^ Film festivals swissworld.org. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2009
  172. ^ Mountains and hedgehogs. swissworld.org. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2009
  173. ^ Folk music swissworld.org. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2009
  174. ^ Culture of Switzerland europe-cities.com. Truy cập 14 December 2009
  175. ^ Art in literature cp-pc.ca. Truy cập 14 December 2009
  176. ^ Từ Encyclopædia Britannica phiên bản thứ 11, Swiss literature
  177. ^ a ă â Literature swissworld.org, Retrieved on ngày 23 tháng 6 năm 2009
  178. ^ a ă Press and the media ch.ch. Truy cập 25 June 2009
  179. ^ a ă â b Press in Switzerland pressreference.com. Truy cập 25 June 2009
  180. ^ Sport in Switzerland europe-cities.com. Truy cập 14 December 2009
  181. ^ A brief history of bobsleigh Lưu trữ 13 May 2011 tại Wayback Machine. fibt.com. Truy cập 2 November 2009
  182. ^ “Meist gesehene Sendungen SRF seit 2011” (PDF) (bằng tiếng Đức). SRF. 1 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2016.
  183. ^ “The world's most amazing football pitches – in pictures”. The Guardian. Guardian News and Media Limited. 8 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2014.
  184. ^ Geering. “Hockeyarenas.net”. Hockeyarenas.net. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2011.
  185. ^ “IIHF World Championships 2009 official website”. Iihf.com. 10 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2010.
  186. ^ Wikinews:Switzerland lifts ban on motor racing
  187. ^ “Swiss vote against racing”. Grandprix.com. Inside F1, Inc. 10 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2014.
  188. ^ Hornussen swissroots.org. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2010
  189. ^ Tradition and history interlaken.ch. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2010
  190. ^ Zürcher Geschnetzeltes Zürcher Geschnetzeltes, engl.: sliced meat Zürich style
  191. ^ Flavors of Switzerland theworldwidegourmet.com. Truy cập 24 June 2009
  192. ^ Michelin Guide Switzerland 2010 attests to the high quality of gourmet cooking with one new 2 star restaurant and 8 new one star Press information, Michelin. Truy cập 14 December 2009
  193. ^ Swiss region serves up food with star power usatoday.com. Truy cập 14 December 2009
  194. ^ Chocolate swissworld.org. Truy cập 24 June 2009
  195. ^ Swiss Chocolate germanworldonline.com (4 December 2009). Truy cập 14 June 2010
  196. ^ Wine-producing Switzerland in short Lưu trữ 9 April 2009 tại Wayback Machine. swisswine.ch. Truy cập 24 June 2009
  197. ^ Table 38. Top wine consuming nations per capita, 2006 winebiz.com. Truy cập 14 June 2010

Đọc thêm

  • Church, Clive H. (2004) The Politics and Government of Switzerland. Palgrave Macmillan. ISBN 0-333-69277-2.
  • Dalton, O.M. (1927) The History of the Franks, by Gregory of Tours. Oxford: The Clarendon Press.
  • Fahrni, Dieter. (2003) An Outline History of Switzerland. From the Origins to the Present Day. 8th enlarged edition. Pro Helvetia, Zürich. ISBN 3-908102-61-8
  • Historical Dictionary of Switzerland (2002–). Published electronically and in print simultaneously in three national languages of Switzerland.

Liên kết ngoài

Audrey Hepburn

Audrey Hepburn (; tên khai sinh Audrey Kathleen Ruston; 4 tháng 5 năm 1929 – 20 tháng 1 năm 1993) là nữ diễn viên người Anh. Là biểu tượng của điện ảnh và thời trang, Hepburn hoạt động trong Thời Hoàng kim của Hollywood. Bà xếp ở vị trí thứ 3 trong danh sách những huyền thoại vĩ đại nhất lịch sử chiếu bóng Hoa Kỳ do Viện phim Mỹ bình chọn và được vinh danh tại Đại lộ Danh vọng Hollywood. Sinh ra tại Ixelles, một quận của Brussels, Hepburn trưởng thành tại Bỉ, Anh và Hà Lan, bao gồm khu vực Arnhem do Đức chiếm đóng trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nơi bà làm việc chuyển phát nhanh trong cuộc kháng chiến Hà Lan và hỗ trợ gây quỹ. Tại Amsterdam, bà theo học bộ môn kịch múa với Sonia Gaskell, trước khi chuyển đến Luân Đôn vào năm 1948 để tiếp tục chương trình luyện tập cùng Marie Rambert và hát bè tại các chương trình nhạc kịch West End.

Sau khi tham gia nhiều vai phụ trong các bộ phim, Hepburn được tiểu thuyết gia người Pháp Colette chú ý và sắm vai chính trong vở kịch Broadway Gigi (1951). Bà bứt phá bằng vai chính trong Roman Holiday (1953), đem lại cho bà giải Oscar, giải Quả cầu vàng và giải BAFTA. Cùng năm đó, Hepburn thắng giải Tony cho "Nữ diễn viên chính kịch xuất sắc nhất" với diễn xuất trong Ondine. Bà tiếp tục xuất hiện trong nhiều bộ phim thành công, như Sabrina (1954), The Nun's Story (1959), Breakfast at Tiffany's (1961), Charade (1963), My Fair Lady (1964) và Wait Until Dark (1967). Bà lập kỷ lục khi thắng 3 giải BAFTA cho "Nữ diễn viên chính Anh Quốc xuất sắc nhất". Trong sự nghiệp điện ảnh, bà được vinh danh bằng Giải BAFTA Thành tựu trọn đời, giải Quả cầu vàng Cecil B. DeMille, giải thưởng Thành tựu trọn đời của Hội Diễn viên Điện ảnh và giải thưởng Tony đặc biệt. Bà là một trong số ít nghệ sĩ đã giành giải Oscar, Emmy, Grammy và Tony.

Hepburn sau này ít tham gia diễn xuất mà cống hiến nhiều hơn cho UNICEF. Dù đóng góp cho tổ chức này từ năm 1954, bà chỉ mới làm việc tại những cộng đồng khó khăn nhất tại châu Phi, Nam Phi và châu Á giữa năm 1988 và 1992. Bà được phong tặng Huân chương Tự do Tổng thống để ghi nhận đóng góp dưới cương vị của một Đại sứ Thiện chí của UNICEF vào tháng 12 năm 1992. Một tháng sau, Hepburn qua đời vì căn bệnh ung thư ruột thừa tại tư gia ở Thụy Sĩ, khi bà 63 tuổi.

Bang của Thụy Sĩ

Thụy Sĩ là một quốc gia liên bang ở châu Âu. Có 26 bang ở Thụy Sĩ. Các ngôn ngữ ở Thụy Sĩ gọi bang là Kanton (tiếng Đức), Canton (tiếng Pháp), Catone (tiếng Ý), Chantun (tiếng Romansh), đúng nghĩa ra là tổng. Cách gọi này có từ thế kỷ XVI, khi liên bang Thụy Sĩ được thành lập và duy trì đến nay. Mỗi bang như một quốc gia có chủ quyền, có quân đội và đơn vị tiền tệ riêng cho đến khi quốc gia liên bang Thụy Sĩ được thành lập vào năm 1848.

Lúc thành lập liên bang, Thụy Sĩ có 13 bang. Về sau có sự chia tách và xuất hiện bang mới. Bang mới được thành lập gần đây nhất vào năm 1979 là bang Jura.

Các bang của Thụy Sĩ hiện nay có quyền tự trị rất cao. Mỗi bang có một hiến pháp riêng, một chính phủ riêng và có tòa án riêng. Các bang đều theo chế độ nghị viện một viện. Tùy theo mỗi bang, số lượng nghị viên có thể từ 58 đến 200 vị. Tùy theo dân số và diện tích mà chức năng hành chính phân cấp cho mỗi bang một khác.

Mỗi một bang được chia ra làm nhiều huyện. Huyện là một đơn vị hành chính giữa Bang và Xã. Thường thì huyện được gọi là

Bezirk, một số bang khác còn gọi là Verwaltungsregion, Verwaltungskreis, Wahlkreis, Amtei hay Amt, vùng nói tiếng Pháp district, vùng nói tiếng Ý distretto, vùng nói tiếng Romansh districts. Người đứng đầu của cơ quan huyện gọi là Bezirksammann, Bezirksamtmann, Statthalter hay Regierungsstatthalter.

Có 12 bang không có đơn vị hành chính huyện.

Bóng đá

Bóng đá hay Túc cầu (tiếng Anh-Anh: Football, tiếng Anh-Mỹ: Soccer) là môn thể thao đồng đội được chơi giữa hai đội với nhau, mỗi đội có 11 cầu thủ trên sân. Trò chơi này dùng một quả bóng và thường được chơi trên sân cỏ hình chữ nhật với hai khung thành ở hai đầu sân. Mục tiêu của trò chơi là ghi điểm bằng cách đưa bóng vào khung thành của đội đối địch. Ngoại trừ thủ môn, các cầu thủ khác đều không được cố ý dùng tay hoặc cánh tay để chơi bóng (trừ trường hợp ném biên). Đội chiến thắng là đội ghi được nhiều bàn thắng hơn khi kết thúc trận đấu. Bóng đá được mệnh danh là "môn thể thao vua", là môn thể thao được yêu thích nhất, được theo dõi nhiều nhất, được nhiều người chơi nhất thế giới.

Bóng đá được chơi ở đẳng cấp chuyên nghiệp trên thế giới. Hàng vạn người đến sân vận động để xem các trận thi đấu có đội bóng mà họ yêu thích, và hàng triệu người khác theo dõi qua tivi nếu không thể đến sân vận động. Ngoài ra, còn rất nhiều người chơi môn thể thao này ở đẳng cấp nghiệp dư.

Theo một cuộc khảo sát công bố vào năm 2001 của FIFA, tổ chức quản lý bóng đá trên thế giới, có hơn 240 triệu người thường xuyên chơi bóng đá ở hơn 200 quốc gia. Luật chơi đơn giản và dụng cụ thi đấu ít tốn kém giúp cho trò chơi này phát triển mạnh mẽ. Ở nhiều nước, bóng đá có vai trò quan trọng trong cuộc sống của người hâm mộ, trong cộng đồng địa phương hay cả quốc gia; do đó có thể nói đây là môn thể thao phổ biến nhất thế giới.

Bảng mã IOC

Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) sử dụng ba ký tự tiêu biểu cho mã quốc gia và chùm ký tự này sẽ đại diện cho các vận động viên trong các kì Đại hội Olympic. Mỗi chùm ký tự đại diện cho Ủy ban Olympic của các quốc gia; nhưng cũng có thể trong các sự kiện quá khứ nó được dùng để đại diện cho liên hiệp các quốc gia hay tập thể cá nhân không đại diện cho bất kì một quốc gia nào.

Bảng mã này có một vài điểm khác biệt so với bảng chuẩn ISO 3166-1 alpha-3. Trong một số tổ chức thể thao khác, chẳng hạn FIFA hay Liên đoàn Thịnh vượng chung Anh, dùng ký hiệu giống với bảng này.

Charlie Chaplin

Sir Charles Spencer "Charlie" Chaplin (16 tháng 4 năm 1889 – 25 tháng 12 năm 1977), thường được biết đến với tên Charlie Chaplin hay Vua hề Charlot (Sác-lô) là một diễn viên, đạo diễn phim hài người Anh trở nên nổi tiếng trong kỷ nguyên phim câm. Chaplin trở thành một hình tượng toàn cầu thông qua nhân vật Tramp (Gã lang thang, hay còn có tên là Charlot trong tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha và vài ngôn ngữ khác), thường được xem là một trong những nhân vật quan trọng nhất trong lịch sử ngành công nghiệp điện ảnh. Sự nghiệp của ông kéo dài trên 75 năm, từ tuổi thơ trong kỷ nguyên Victoria cho đến một năm trước khi qua đời ở tuổi 88, đem lại nhiều lời tán dương cũng như tranh cãi.

Tuổi thơ của Chaplin ở Luân Đôn cực kỳ khổ cực và nghèo đói, làm cho đường công danh về sau của ông trở thành "câu chuyện từ nghèo đói tới giàu sang kịch tính nhất từng được biết đến", theo người viết tiểu sử David Robinson. Cha mẹ ly thân năm ông 2 tuổi và cha bỏ mặc gia đình, để mẹ ông chật vật kiếm tiền, ông đã hai lần bị gửi vào trại tế bần trước khi lên 9. Năm Chaplin 14 tuổi mẹ ông phải vào trại tâm thần. Chaplin bắt đầu trình diễn khi còn nhỏ tuổi, lưu diễn ở các rạp hát và sau đó trở thành một diễn viên sân khấu, một nghệ sĩ hài. Ở tuổi 19 ông gia nhập công ty danh tiếng Fred Karno, và có chuyến đi đầu tiên tới Hoa Kỳ, nơi phát triển sự nghiệp của ông.

Chaplin bắt đầu tham gia đóng phim, và trình làng với phim Making a Living (1914) của Keystone Studios. Chaplin sớm hình thành nhân vật Tramp và tạo nên một lượng người hâm mộ lớn. Ông trở thành đạo diễn cho các bộ phim mình đóng, và ngày càng thành thục trong vai trò này khi chuyển tới các tập đoàn Essanay, Mutual, và First National. Đến năm 1918, Chaplin đã trở thành một trong những nhân vật nổi danh nhất trên thế giới.

Năm 1919, Chaplin đồng sáng lập công ty United Artists để kiểm soát hoàn toàn quy trình sản xuất phim của riêng mình. Phim thời lượng dài đầu tiên của ông là The Kid (1921), rồi đến A Woman of Paris (1923), The Gold Rush (1925), The Circus (1928). Ông từ chối chuyển sang làm phim có tiếng vào những năm 1930, thay vào đó tiếp tục sản xuất các phim câm City Lights (1931) và Modern Times (1936). Ông trở nên ngày càng quan tâm tới chính trị và phim tiếp đó của ông The Great Dictator (1940), nhắm vào đả kích Adolf Hitler.

Những năm 1940 là một thập niên đầy những tranh cãi đối với Chaplin, và danh tiếng của ông bị ảnh hưởng nặng nề. Ông bị cáo buộc là có cảm tình với cộng sản, trong khi những vấn đề xoay quanh hôn nhân với những phụ nữ ít tuổi hơn nhiều và nghĩa vụ làm cha của những đứa con với những phụ nữ này gây ra một loạt vụ bê bối. FBI mở một cuộc điều tra, và Chaplin buộc phải rời Hoa Kỳ để tới Thụy Sĩ định cư. Ông từ bỏ nhân vật Tramp trong các phim về sau, bao gồm Monsieur Verdoux (1947), Limelight (1952), A King in New York (1957), và A Countess from Hong Kong (1967).

Chaplin đã viết, đạo diễn, sản xuất, biên tập, diễn xuất và sáng tác nhạc cho hầu hết các phim ông tham gia. Ông là người cầu toàn, và sự độc lập tài chính cho phép ông dành nhiều năm để phát triển và sản xuất một bộ phim. Những bộ phim của ông thường đặc trưng bởi tính pha trò kết hợp với tính cảm động, thể hiện trong cuộc đấu tranh của Tramp chống lại sự thù địch bên ngoài. Nhiều phim chứa những chủ đề chính trị và xã hội, cũng như những yếu tố tự truyện. Năm 1972, như một phần của sự tái công nhận giá trị sự nghiệp của ông, Chaplin nhận giải Oscar danh dự cho "tác động không thể đo đếm được của ông trong việc đưa điện ảnh thành hình thức nghệ thuật của thế kỷ này". Ông tiếp tục được đánh giá cao tới tận ngày nay, với những tác phẩm như The Gold Rush, City Lights, Modern Times, và The Great Dictator được xếp vào danh sách những bộ phim xuất sắc nhất của mọi thời đại.

Céline Dion

Céline Marie Claudette Dion, CC OQ ChLD (; tiếng Pháp: [selin djɔ̃] ( nghe); sinh ngày 30 tháng 3 năm 1968) là nữ ca sĩ người Canada. Sinh ra trong một đại gia đình tại Charlemagne, tỉnh Québec, Dion nổi lên như một ngôi sao ở lứa tuổi thiếu niên trong cộng đồng Pháp ngữ sau khi người quản lý và đồng thời là chồng tương lai của cô, René Angélil cho vay nhà để chi trả đĩa nhạc đầu tiên của Dion. Dion lần đầu được biết đến vào thập niên 1980, khi giành chiến thắng tại hai cuộc thi World Popular Song Festival của Yamaha năm 1982 và đại diện cho đoàn Thụy Sĩ tham gia Eurovision Song Contest năm 1988. Vào năm 1990, cô phát hành album tiếng Anh mang tựa đề Unison, giúp cô trở thành nghệ sĩ nhạc pop có triển vọng tại Bắc Mỹ và các khu vực sử dụng tiếng Anh khác trên thế giới.

Trong thập niên 1990, với sự giúp đỡ của Angélil, danh tiếng của cô lan rộng toàn cầu khi hợp tác với hãng thu âm Epic Records và phát hành một vài album tiếng Anh xen kẽ với các album tiếng Pháp. Các album Falling into You (1996) và Let's Talk About Love (1997) đều đạt chứng nhận đĩa Kim cương ở Hoa Kỳ, trong khi D'eux (1995) là album tiếng Pháp bán chạy nhất mọi thời đại. Cô còn ra mắt một loạt đĩa đơn quán quân trên toàn cầu, bao gồm "The Power of Love", "Think Twice", "Because You Loved Me", "It's All Coming Back to Me Now", "My Heart Will Go On" và "I'm Your Angel". Khi đang ở đỉnh cao của sự nghiệp, Dion đột ngột tạm ngừng công tác trong ngành giải trí nhằm thu xếp công việc gia đình và dành thời gian chăm sóc người chồng được chẩn đoán mắc bệnh ung thư. Cô quay lại sự nghiệp âm nhạc vào năm 2002 và ký một hợp đồng tham gia biểu diễn trong A New Day... (2003–07), một chương trình kịch nghệ hằng đêm tại Caesars Palace, Paradise, Nevada. Đây là chương trình cố định thành công nhất mọi thời đại, thu về 385 triệu đô-la Mỹ.

Âm nhạc của Dion chịu ảnh hưởng bởi nhiều thể loại, trải dài từ rock và R&B cho đến nhạc Phúc âm và cổ điển. Cô chủ yếu thu âm bằng tiếng Pháp và tiếng Anh, cho dù có thể hát bằng tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ý, tiếng Đức, tiếng La Tinh, tiếng Nhật và Quan thoại. Dù tác phẩm của Dion thường nhận các ý kiến trái chiều từ giới phê bình, giọng ca của cô lại được ca ngợi nhờ kỹ năng thanh nhạc điêu luyện. Dion đã thắng 5 Giải Grammy, trong đó có giải "Album của năm" và "Thu âm của năm". Cô là nữ nghệ sĩ có doanh số đĩa nhạc lớn thứ hai tại Mỹ trong kỷ nguyên Nielsen SoundScan. Năm 2003, Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế (IFPI) công nhận Dion với 50 triệu đĩa nhạc bán ra ở châu Âu. Dion vẫn là nghệ sĩ gốc Canada có doanh số đĩa nhạc lớn nhất và là một trong những nghệ sĩ âm nhạc có số doanh thu lớn nhất mọi thời đại, với hơn 200 triệu album trên toàn thế giới.

Cộng hòa Séc

Séc (tiếng Séc: Česko), tên chính thức là Cộng hòa Séc (tiếng Séc: Česká republika, phát âm ), là một quốc gia thuộc khu vực Trung Âu và là nước không giáp biển. Cộng hòa Séc giáp Ba Lan về phía bắc, giáp Đức về phía tây, giáp Áo về phía nam và giáp Slovakia về phía đông. Thủ đô và thành phố lớn nhất của quốc gia là Praha, với hơn 1,3 triệu dân cư ngụ tại đây. Cộng hòa Séc là một quốc gia đa đảng theo chế độ cộng hòa đại nghị. Tổng thống là người đứng đầu nhà nước, còn thủ tướng là người đứng đầu chính phủ. Quốc hội có hai viện gồm thượng viện và hạ viện. Cộng hòa Séc đã gia nhập NATO vào năm 1999 và trở thành thành viên của Liên minh châu Âu từ năm 2004. Ngày 21 tháng 12 năm 2007, Cộng hòa Séc đã thông qua Hiệp ước Schengen, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại và du lịch vào nước này. Ngoài ra, Cộng hòa Séc hiện nay cũng là thành viên của các tổ chức OECD, OSCE, Ủy hội châu Âu và Nhóm Visegrád.

Lãnh thổ Cộng hòa Séc, ngày nay bao gồm các vùng đất đã từng tồn tại trong lịch sử là Bohemia, Morava và một phần Silesia. Séc trở thành một bộ phận của Đế quốc Áo và Đế quốc Áo-Hung trong nhiều thế kỉ cho đến năm 1918, khi Séc cùng với Slovakia tuyên bố thành lập nước Tiệp Khắc. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Tiệp Khắc bị phát xít Đức chiếm đóng. Sau đó, nước này trở thành một quốc gia xã hội chủ nghĩa cho đến năm 1989 khi cuộc Cách mạng Nhung yên bình diễn ra, đưa đất nước trở về tiến trình dân chủ. Ngày 1 tháng 1 năm 1993, một cuộc ly khai ôn hòa đã diễn ra, Tiệp Khắc lại tách thành hai quốc gia độc lập là Séc và Slovakia.

Danh sách album của Madonna

Ca sĩ người Mỹ Madonna đã phát hành 12 album phòng thu, 5 album tổng hợp, 3 album nhạc phim, 4 album trực tiếp, 11 đĩa mở rộng, 4 album phối khí lại và 21 bộ đĩa. Năm 1982, Madonna ký hợp đồng thu âm với Sire Records, một nhãn hiệu sở hữu bởi Warner Bros. Records. Album đầu tay cùng tên của bà ra mắt năm 1983, leo lên vị trí thứ 8 trên bảng xếp hạng Billboard 200 và 5 lần đạt đĩa Bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ (RIAA). Tiếp sau album đầu tiên, bà phát hành Like a Virgin (1984). Album đứng đầu bảng xếp hạng của nhiều quốc gia trên thế giới và được chứng nhận đĩa Kim cương bởi RIAA. True Blue (1986) bán hơn 25 triệu bản trên toàn thế giới và là nhà quán quân thứ ba của bà ở Mỹ. Năm 1987, bà phát hành hai tác phẩm đạt đĩa Bạch kim tại Mỹ: album nhạc phim Who's That Girl và album phối khí đầu tiên, You Can Dance. Album phòng thu thứ tư, Like a Prayer (1989) trở thành album quán quân thứ ba của bà trên Billboard 200, nhận 3 lần chứng nhận Bạch kim ở Mỹ.Madonna bước vào thập niên 1990 bằng album nhạc phim I'm Breathless (1990), chứa các bài hát lấy cảm hứng từ bộ phim Dick Tracy. Cùng năm đó, bà ra mắt album tuyển tập đầu tiên mang tên The Immaculate Collection, là album tuyển tập bán chạy nhất của một nghệ sĩ đơn ca với doanh số hơn 30 triệu bản. Tại Vương quốc Liên hiệp Anh, đây là album của nữ nghệ sĩ bán chạy nhất và là album thứ hai đạt chứng nhận Kim cương của bà ở Mỹ. Năm 1991, Madonna ký một hợp đồng thu âm và kinh doanh trị giá 60 triệu đô-la Mỹ với Warner Bros. và Time Warner. Bà đứng ra thành lập Maverick Records, sau này trở thành công ty thu âm chính của bà. Phát hành bởi Maverick là các album phòng thu Erotica (1992) và Bedtime Stories (1994), cùng với Something to Remember (1995), một tập hợp các bản ballad của bà. Tất cả đều giành chứng nhận đa Bạch kim tại Hoa Kỳ và gặt hái thành công thương mại. Album nhạc phim thứ ba của bà từ bộ phim nhạc kịch Evita, được phát hành năm 1996. Album kép này đạt 5 chứng nhận đĩa Bạch kim bởi RIAA, ghi nhận 2.5 triệu bản tiêu thụ tại thị trường Mỹ. Album phòng thu thứ bảy, Ray of Light (1998) bán hơn 16 triệu đĩa trên khắp thế giới.Năm 2000, Music trở thành album thứ tư của Madonna đạt vị trí quán quân trên Billboard 200; đây là album hạng nhất đầu tiên của bà trong vòng 11 năm, kể từ Like a Prayer. Music cũng đứng đầu bảng xếp hạng nhiều quốc gia tại châu Âu. American Life (2003) là album thứ tư của Madonna đạt vị trí quán quân trên Billboard 200. Confessions on a Dance Floor, phát hành năm 2005, được báo trước là sự trở lại của bà, mở đầu với vị trí quán quân tại Mỹ và tất cả các thị trường chính khác. Năm 2007, Madonna ký một hợp đồng kinh doanh và thu âm cùng 360 deal kéo dài 10 năm, trị giá 120 triệu đô la Mỹ với Live Nation. Hợp đồng của bà với Warner Bros. kết thúc bằng album phòng thu thứ 11, Hard Candy (2008), album quán quân thứ 7 của bà trên Billboard 200 và Celebration (2009), album tuyển tập thứ ba. Năm 2011, Madonna ký một hợp đồng gồm 3 album cùng Interscope Records, nơi hỗ trợ phân phối cùng hợp đồng của bà với Live Nation. Album phòng thu thứ 12, MDNA (2012) là nhà quán quân thứ 8 của bà ở Mỹ. Tháng 3 năm 2015, Madonna ra mắt album phòng thu thứ 13, Rebel Heart, đạt hạng hai ở Mỹ và Vương quốc Liên hiệp Anh.Với hơn 300 triệu đĩa thu âm đã tiêu thụ trên toàn cầu, Madonna được công nhận là nữ nghệ sĩ thu âm bán chạy nhất mọi thời đại bởi Sách Kỷ lục Guinness. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ (RIAA) xếp Madonna là nữ nghệ sĩ rock bán chạy nhất thế kỷ 20 và là nữ nghệ sĩ bán chạy thứ hai tại Hoa Kỳ, với 64.5 triệu chứng nhận album. Các album The Immaculate Collection, Like a Virgin và True Blue nằm trong số 100 album được chứng nhận hàng đầu, theo RIAA. Tại Vương quốc Liên hiệp Anh, bà trở thành nghệ sĩ đơn ca thành công nhất, với tổng cộng 12 album quán quân. Theo Công nghiệp Ghi âm Anh (BPI), Madonna là nghệ sĩ được chứng nhận nhiều nhất mọi thời đại tại Vương quốc Liên hiệp Anh, với 45 giải thưởng.

Danh sách người đoạt giải Nobel Hóa học

Giải Nobel hóa học (Tiếng Thụy Điển: Nobelpriset i kemi) là một giải thưởng thường niên của Viện Caroline (Karolinska Institutet). Đây là một trong năm giải Nobel do Alfred Nobel thành lập vào năm 1895 trao cho các lĩnh vực Vật lý, Văn học, Hòa bình, cùng Sinh lý học và Y khoa từ năm 1901. Theo lời của Nobel trong di chúc, Giải Nobel Hóa học do Quỹ Nobel quản lý và được trao bởi ủy ban gồm năm thành viên được lựa chọn từ Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển . Người nhận giải Nobel Hóa học đầu tiên là nhà khoa học người Hà Lan Jacobus Henricus van 't Hoff với công trình khám phá ra các định luật về động lực học hóa học và áp suất thẩm thấu trong các dung dịch . Mỗi nhà khoa học nhận được một huy chương, bằng chứng nhận và cùng với phần thưởng tài chính, số tiền thưởng hàng năm có thay đổi theo thời gian . Như năm 1901, Jacobus Henricus van 't Hoff nhận được phần thưởng trị giá 150.782 SEK, tính ra tương đương với 7.731.004 SEK với tỷ giá vào thời điểm tháng 12 năm 2008. Kể từ năm 2001, giải thưởng tài chính hàng năm là 10.000.000 SEK. Lễ trao giải thưởng diễn ra hàng năm ở Stockholm vào ngày 10 tháng 12, đúng vào ngày mất của Nobel .

Từ năm 1901 tới năm 2017, Ủy ban Nobel đã trao tặng 108 giải Nobel Hóa học cho 178 nhà khoa học trên khắp thế giới, trong đó chỉ có bốn người là phụ nữ, đó là: Marie Curie (1911), Irène Joliot-Curie (1935), Dorothy Hodgkin (1964) và Ada Yonath (2009) . Trong năm 2017, giải Nobel Hóa học được trao cho ba nhà khoa học: Jacques Dubochet, Joachim Frank và Richard Henderson cho nghiên cứu phát triển hiển vi điện tử lạnh giúp xác định cấu trúc với độ phân giải các phân tử sinh học trong dung dịch. Ba nhà khoa học nhận một giải thưởng trị giá 9.000.000 SEK, tương đương với 1 triệu € hay 1,1 triệu USD. Marie Curie và Dorothy Crowfoot Hodgkin là hai nhà nữ khoa học đã nhận giải Nobel Hóa học độc lập, không phải chia sẻ với ai. Trong số những nhà khoa học đoạt giải, 25 người có công trình nghiên cứu về hóa hữu cơ là lĩnh vực có nhiều giải Nobel hóa học nhất . Xét về tuổi tác, người đoạt giải Nobel Hóa học trẻ nhất là Koichi Tanaka vào năm 2002 khi 43 tuổi. Người đoạt giải Nobel lớn tuổi nhất là Charles J. Perdersen vào năm 1987 khi ông đã sang tuổi 83 . Nhà Curie có lẽ cũng là gia đình nhận giải Nobel nhiều nhất. Hai vợ chồng Marie Curie và Pierre Curie đã được trao giải Nobel Vật lý vào năm 1903. Marie Curie nhận giải Nobel Hóa học vào năm 1911. Con gái của họ là Irene Joliot-Curie được trao giải Nobel Hóa học vào năm 1935, cùng với chồng Frederic Joliot. Ngoài ra còn có Linus Carl Pauling được trao giải Nobel 2 lần trong hai lĩnh vực hóa học và hòa bình . Có 8 năm giải thưởng không được tổ chức: 1916, 1917, 1919, 1924, 1933, 1940, 1941, 1942. Có thể không trao giải do ảnh hưởng của thế chiến I và thế chiến II.

Danh sách đĩa nhạc của Christina Aguilera

Danh sách đĩa nhạc của nữ ca sĩ-nhạc sĩ người Mỹ Christina Aguilera bao gồm bảy album phòng thu, một album tổng hợp, một album thu thử, một đĩa mở rộng (EP), một album nhạc phim, 36 đĩa đơn và 32 video âm nhạc.

Năm 1997, cô thu âm bài hát "All I Wanna Do" cùng với Keizo Nakanishi trích từ album Spinning của Keizo. Năm 1998, cô thu âm bài hát "Reflection" cho album nhạc phim của phim hoạt hình Mộc Lan của hãng Walt Disney. Sau đó, Aguilera đăng ký hợp đồng với hãng thu âm RCA và phát hành album đầu tay mang tên chính mình vào ngày 24 tháng 8 năm 1999. Album là một thành công thương mại, đạt vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard 200 của Mỹ. Tổng cộng, album đã tiêu thụ được 8 triệu bản tại Mỹ và 17 triệu bản trên toàn thế giới. Cả bốn đĩa đơn "Genie in a Bottle", "What a Girl Wants", "I Turn to You" và "Come On Over Baby (All I Want Is You)" đều lọt vào tốp ba Billboard Hot 100. Năm 2000, Aguilera phát hành tiếp một album tiếng Tây Ban Nha, Mi Reflejo và một album Giáng sinh, My Kind of Christmas. Đầu năm 2001, Christina cùng với Ricky Martin hợp tác cùng nhau trong đĩa đơn "Nobody Wants to Be Lonely" trích từ album Sound Loaded của Martin. Sau đó, Aguilera tiếp tục hợp tác với ba ca sĩ khác là Lil' Kim, Mýa và Pink trong đĩa đơn "Lady Marmalade". Đây là ca khúc thành công nhất của Aguilera, đứng vị trí quán quân tại Mỹ, Úc, Đức, Ireland và rất nhiều quốc gia khác.

Ngày 29 tháng 10 năm 2002, album phòng thu thứ tư của Aguilera mang tên Stripped chính thức được phát hành. Từ một hình tượng ngây thơ trong album trước, cô lột xác với phong cách âm nhạc táo bạo và tự làm chủ hình ảnh của mình. Điển hình là khi "Dirrty" được phát hành, cô đã bị chỉ trích nặng nề ở Mỹ. Tuy nhiên bài hát lại cực kỳ thành công tại châu Âu. Đĩa đơn thứ hai trích từ album, "Beautiful" là một bản ballad với sự kết hợp nền nhạc piano của Linda Perry. "Beautiful" là một thành công thươg mại, lọt vào tốp 5 của rất nhiều quốc gia. Ba đĩa đơn tiếp theo trích từ album là "Fighter", "Can't Hold Us Down" và "The Voice Within". Tổng cộng, Stripped đã tiêu thụ được 12 triệu bản trên toàn thế giới. Năm 2006, Aguilera phát hành album Back to Basics với đậm âm hưởng nhạc jazz cổ điển nhưng cũng có chút ảnh hưởng của soul và blues. Trên thị trường âm nhạc, Back to Basics là một thành công lớn khi quán quân bảng xếp hạng Billboard 200 và rất nhiều quốc gia khác. Tổng cộng, Back to Basics đã tiêu thụ 1,7 triệu bản tại Mỹ và 4,5 triệu bản toàn thế giới. Năm đĩa đơn trích từ album là "Ain't No Other Man", "Hurt", "Candyman", "Slow Down Baby" và "Oh Mother". Năm 2008, để kỉ niệm 1 thập kỷ hoạt động, Aguilera phát hành tuyển tập hit mang tên Keeps Gettin' Better - A Decade of Hits bao gồm những ca khúc thành công nhất trong sự nghiệp từ những năm 1998 đến năm 2008 của cô.

Năm 2010, Aguilera phát hành album đậm chất nhạc điện tử mang tên Bionic. Mặc dù được đánh giá khá cao, song Bionic lại là một album bán không chạy do không có sự chuẩn bị kĩ kàng cho việc quảng bá album. Album phòng thu thứ bảy của Aguilera mang tên Lotus cũng gặp phải trường hợp tương tự khi doanh số khá thấp. Mặc dù thất bại, song Aguilera vẫn rất vui vì hai album đã thể hiện được chất giọng tốt của mình.

Trong hơn 10 năm sự nghiệp, cô đã có 2 album đạt vị trí số 1 tại bảng xếp hạng Billboard 200 và 5 đĩa đơn quán quân tại bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Tới nay, cô đã tiêu thụ được 50 triệu bản album trên toàn thế giới. Cô đồng thời là nghệ sĩ bán được đĩa đơn nhiều thứ nhì thập niên 2000, chỉ sau Madonna.

Danh sách đĩa đơn của Madonna

Ca sĩ người Mỹ Madonna đã phát hành 83 đĩa đơn, 13 đĩa đơn quảng bá và 14 bài hát khác. Năm 1982, Madonna ký kết hợp đồng thu âm với Sire Records, một nhãn hiệu sở hữu bởi Warner Bros. Records, đồng thời phát hành hai đĩa đơn trước khi tung ra album khởi nghiệp cùng tên. Đĩa đơn đầu tiên của bà xếp hạng trên Billboard Hot 100 là "Holiday", đứng hạng 16. Năm 1984, Madonna phát hành "Like a Virgin", đạt vị trí quán quân tại Canada, Úc và duy trì vị trí này trong 6 tuần liên tiếp tại Mỹ. Album Like a Virgin còn có thêm 3 đĩa đơn lọt vào top 5 tại Mỹ là "Material Girl", "Angel" và "Dress You Up". Năm 1985, Madonna phát hành đĩa đơn quán quân thứ hai tại Mỹ, "Crazy for You" và đĩa đầu bảng đầu tiên tại Vương quốc Liên hiệp Anh, "Into the Groove". Cả hai đĩa này đều trích từ album nhạc phim. Album phòng thu thứ 3 True Blue (1986) có thêm 3 đĩa đơn quán quân tại Mỹ, lần lượt là "Live to Tell", "Papa Don't Preach" và "Open Your Heart". Hai đĩa đơn còn lại là "True Blue" và "La Isla Bonita" đều lọt vào top 5. Năm 1987, bà gặt hái thêm một đĩa đầu bảng mang tên "Who's That Girl". Năm 1989, Madonna phát hành đĩa đơn đầu bảng Hot 100 thứ 7, "Like a Prayer" trích từ album cùng tên, giúp bà là nữ ca sĩ có nhiều bài hát quán quân trong thập niên 1980 (bên cạnh Whitney Houston).Năm 1990, Madonna phát hành "Vogue" trích từ album nhạc phim I'm Breathless, đứng đầu bảng xếp hạng tại các thị trường lớn. Ca khúc quán quân thứ 9 và 10 của cô tại Mỹ là "Justify My Love" và bản ballad "This Used to Be My Playground", lần lượt phát hành vào năm 1990 và 1992. Album phòng thu thứ 5, Erotica (1992) chỉ có đĩa đơn cùng tên và "Deeper and Deeper" lọt vào top 10. Năm 1995, Madonna phát hành album thứ 6 Bedtime Stories, xuất hiện 2 đĩa đơn top 5 Hoa Kỳ "Take a Bow" và "Secret". "Take a Bow" là đĩa đơn trụ hạng quán quân lâu nhất của bà tại Hot 100, trong khi "Secret" giúp Madonna là nghệ sĩ duy nhất tại Vương quốc Liên hiệp Anh có 35 đĩa đơn liên tiếp lọt vào top 10. Mở đầu cho album thứ bảy Ray of Light (1998), "Frozen" là đĩa đơn đầu tiên của Madonna đạt vị trí quán quân tại Vương quốc Liên hiệp Anh ngay trong tuần đầu tiên xếp hạng. Đây cũng là bài hát số một đầu tiên của nữ ca sĩ tại lãnh thổ này kể từ năm 1990, đánh dấu sự trở lại thành công của bà. Bài hát cùng tên lọt vào top 10 tại một số quốc gia như Mỹ, Anh, Canada, Úc và Ý.Năm 2000, Madonna phát hành đĩa đơn quán quân cuối cùng tại Mỹ, "Music" trích từ album cùng tên. Năm 2003, bà ra mắt album thứ 9 mang tên American Life, với các đĩa đơn của album không thu được thành công thương mại tại Mỹ. Năm 2005, Madonna phát hành "Hung Up", đĩa đơn đầu tiên trích từ album thứ 10 Confessions on a Dance Floor, là bài hát thành công nhất tính trên phạm vi toàn cầu của bà. Đĩa đơn đứng đầu bảng xếp hạng của hơn 45 quốc gia và được sách Kỷ lục Thế giới Guinness (2007) ghi nhận là bài hát đứng quán quân ở nhiều quốc gia hơn bất kỳ bài hát nào khác. Với việc "Hung Up" được chứng nhận đĩa Bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ (RIAA), Madonna vượt qua ban nhạc The Beatles với kỷ lục về số lượng đĩa đơn Vàng tại Mỹ. Đĩa đơn thứ hai, "Sorry" là bài hát đầu bảng thứ 12 của Madonna tại nước Anh. "4 Minutes", đĩa đơn hợp tác cùng Justin Timberlake và Timbaland từ album Hard Candy (2008), đạt hạng 3 tại Billboard Hot 100, giúp Madonna phá vỡ kỷ lục của Elvis Presley về danh hiệu nghệ sĩ sở hữu nhiều bài hát top 10 nhất trong lịch sử của bảng xếp hạng này. Bà mở rộng kỷ lục này với "Give Me All Your Luvin'", đĩa đơn từ album phòng thu MDNA (2012). Khi "Ghosttown" từ album phòng thu Rebel Heart (2015) dẫn đầu Billboard Dance Club Songs, Madonna trở thành nghệ sĩ có nhiều bài hát quán quân nhất trong một bảng xếp hạng Billboard còn hoạt động, phá vỡ kỷ lục 44 bài hát của George Strait trên Hot Country Songs.Madonna là nghệ sĩ có lượng đĩa đơn bán ra nhiều nhất thập niên 2000 tại Hoa Kỳ. Bà là nghệ sĩ đơn ca xếp hạng cao nhất trong danh sách "Billboard Hot 100 All-Time Top Artists" và là nữ nghệ sĩ có nhiều đĩa đơn quán quân nhất tại Vương quốc Liên hiệp Anh. Madonna có 157 đĩa đơn quán quân trên tất cả bảng xếp hạng Billboard, nhiều hơn bất kỳ nghệ sĩ nào khác. Tính đến tháng 2 năm 2008, bà đã bán hơn 115 triệu đĩa đơn trên toàn cầu.

Giuse Võ Đức Minh

Giuse Võ Đức Minh (sinh 1944) là một Giám mục của Giáo hội Công giáo tại Việt Nam. Ông hiện đảm trách vai trò Giám mục chính tòa Giáo phận Nha Trang và là giám mục thứ tư đảm trách chức vụ này. Ngoài ra, ông từng là Chủ tịch Ủy ban Kinh Thánh của Hội đồng Giám mục Việt Nam bốn nhiệm kỳ liên tiếp 2007 - 2010, 2010 - 2013, 2013 - 2016 và 2016 - 2019.

Võ Đức Minh sinh năm 1944 tại Quảng Bình trong một gia đình Công giáo. Từ thuở nhỏ, gia đình đã cho ông đi theo con đường tu học. Quá trình tu học kéo dài 15 năm kết thúc bằng việc Phó tế Võ Đức Minh được truyền chức linh mục tại Thụy Sĩ năm 1971. Sau khi trở thành linh mục, giám mục Giáo phận Đà Lạt cho linh mục Minh tiếp tục theo học về Kinh Thánh tại Học viện Kinh Thánh Giáo hoàng tại Rôma và tốt nghiệp tại đây năm 1974. Trong thời gian theo học này, linh mục Minh tham gia hỗ trợ mục vụ, đảm nhiệm nhiều vai trò của các giáo xứ ở Canada, Thụy Sĩ và Đức.

Trở về Việt Nam tháng 5 năm 1974, Võ Đức Minh trở thành giáo sư Đại chủng viện, dạy Kinh Thánh và Thần học. Trong suốt thời gian làm linh mục, ông từng đảm nhận các vai trò như Thư ký Tòa giám mục Đà Lạt, chính xứ nhà thờ chính tòa Đà Lạt và Tổng đại diện Giáo phận.

Cuối năm 2005, Tòa Thánh loan tin chọn linh mục Võ Đức Minh làm giám mục Phó Nha Trang. Ông chính thức kế vị trở thành Giám mục chính tòa Nha Trang vào tháng 7 năm 2009.

Trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, ông giữ vai trò Chủ tịch Uỷ ban Kinh Thánh trong 4 nhiệm kỳ liên tiếp, từ khi Uỷ ban này thành lập năm 2007 đến nay. Ngoài ra, ông cũng từng đảm nhận vai trò Phó Tổng thư ký nhiệm kỳ 2007 - 2010.

Giải vô địch bóng đá châu Âu 2012

Giải vô địch bóng đá châu Âu năm 2012 (hay còn gọi là Euro 2012) là giải bóng đá vô địch châu Âu lần thứ 14, do Liên đoàn bóng đá châu Âu (UEFA) tổ chức. Vòng chung kết được tổ chức tại Ba Lan và Ukraina từ ngày 8 tháng 6 đến 1 tháng 7 năm 2012. Đây là lần đầu tiên, hai quốc gia này đăng cai giải đấu sau khi được lựa chọn bởi Ủy ban điều hành UEFA vào năm 2007.Euro 2012 cũng là vòng chung kết cuối cùng có 16 đội tuyển tranh tài (kể từ Euro 2016 trở đi, sẽ có 24 đội vào vòng chung kết). Vòng sơ loại bao gồm 51 đội tuyển tham dự từ tháng 8 năm 2010 đến tháng 11 năm 2011. Giải được tổ chức tại 8 sân vận động, trong đó có 5 sân là được xây mới. Ngoài các sân vận động, hai nước chủ nhà còn đầu tư rất lớn vào việc cải thiện cơ sở hạ tầng, chẳng hạn như đường sắt và đường bộ, theo yêu cầu của UEFA.

Trận đấu mở màn của giải là trận hòa 1–1 giữa chủ nhà Ba Lan và Hy Lạp trên sân vận động quốc gia tại Warszawa vào ngày 8 tháng 6 còn trận đấu cuối cùng diễn ra trên sân vận động Olympic, Kiev, Ukraina, nơi Tây Ban Nha đã có chiến thắng 4–0 trước Ý. Tây Ban Nha trở thành đội đầu tiên bảo vệ thành công chức vô địch châu Âu, và là đội tuyển châu Âu đầu tiên giành 3 danh hiệu lớn liên tiếp (trước đó là Euro 2008, World Cup 2010). Tuy vậy, do Tây Ban Nha đã được nhận một suất tham dự Cúp Liên đoàn các châu lục 2013 nhờ vô địch World Cup 2010 nên đội á quân Ý sẽ là đại diện cho UEFA tham dự giải đấu trên.Euro 2012 cũng là giải vô địch châu Âu thứ hai liên tiếp (sau Euro 2008 tổ chức tại Áo và Thụy Sĩ) chứng kiến các đội tuyển chủ nhà không thể vượt qua vòng bảng.

Kitô giáo

Kitô giáo (thuật ngữ phiên âm) hay Cơ Đốc giáo (thuật ngữ Hán Việt) là một trong các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham, đặt nền tảng trên giáo huấn, sự chết trên thập tự giá và sự sống lại của Giêsu Kitô như được ký thuật trong Kinh thánh Tân Ước. Kitô hữu (Cơ Đốc nhân) tin rằng Giêsu là Con của Thiên Chúa và là Đấng Messiah của người Do Thái như đã được tiên báo trong Kinh thánh Cựu Ước. Thuộc tôn giáo độc thần, hầu hết Kitô hữu tin rằng chỉ có một Thiên Chúa duy nhất hiện hữu trong ba thân vị (tiếng Hy Lạp: hypostasis) gọi là Ba Ngôi. Kitô giáo đóng một vai trò quan trọng trong nền văn hóa và văn minh phương Tây.

Trải qua hai thiên niên kỷ, các bất đồng về thần học và giáo hội học đã hình thành các hệ phái Kitô giáo khác nhau. Bốn nhánh chính hiện nay của Kitô giáo là Công giáo Rôma, Kháng Cách (Tin Lành), Chính Thống giáo Đông phương, và Chính Thống giáo Cựu Đông phương. Công giáo Tây phương, Chính Thống giáo Đông phương và Chính thống giáo Cựu Đông phương cắt đứt hiệp thông với nhau trong cuộc Ly giáo Đông–Tây năm 1054 và cuộc Ly giáo Chalcedon khởi đầu năm 451. Kháng Cách (cũng thường gọi là Tin Lành), không phải là một hệ phái đơn nhất nhưng là thuật từ nhóm hợp, phát sinh từ cuộc Cải cách Kháng nghị thế kỷ 16. Tính chung, Kitô giáo là tôn giáo lớn nhất thế giới với khoảng 2,3 tỉ tín hữu, chiếm hơn 31% dân số thế giới (năm 2015).Từ nguyên của "Kitô" là Χριστός (Khristos) trong tiếng Hy Lạp, nghĩa là "Đấng được xức dầu", dịch theo danh hiệu Messiah trong tiếng Hebrew. Trong tiếng Việt, người Công giáo dùng từ "Kitô" để gọi danh hiệu này của Giêsu, trong khi người Tin Lành thường dùng từ "Christ". Bên cạnh từ "Kitô" phiên âm qua tiếng Bồ Đào Nha được sử dụng bởi tín hữu Công giáo, còn có từ "Cơ Đốc" xuất phát từ chữ Nho (基督) và thường được tín hữu Tin Lành sử dụng. Ngoài ra, một số người cũng dùng cách gọi Thiên Chúa giáo để chỉ Công giáo nói riêng và Kitô giáo nói chung.

Leonhard Euler

Leonhard Euler ( OY-lər; tiếng Đức: [ˈɔɪlər] ( nghe); đọc là "Lê-ô-na Ơ-le" theo phiên âm từ tiếng Pháp hay chính xác hơn là "Lê-on-hát Oi-lơ" theo phiên âm từ tiếng Đức; 15 tháng 4 năm 1707 – 18 tháng 9 năm 1783) là một nhà toán học, nhà vật lý học, nhà thiên văn học, nhà lý luận và kỹ sư người Thụy Sĩ. Ông (cùng với Archimedes và Newton) được xem là một trong những nhà toán học lừng lẫy nhất. Ông đã có những khám phá quan trọng và rất ảnh hưởng trong nhiều ngành toán học, như vi tích phân và lý thuyết đồ thị, đồng thời có những đóng góp tiên phong cho một số ngành như tô pô và lý thuyết số giải tích. Ông cũng giới thiệu nhiều thuật ngữ và ký hiệu toán học hiện đại, đặc biệt cho ngành giải tích toán học, nổi bật là khái niệm hàm số toán học. Ông cũng được biết đến với những nghiên cứu về cơ học, thủy động lực học, quang học, thiên văn học và lý thuyết âm nhạc.Euler là một trong những nhà toán học nổi tiếng nhất của thế kỷ 18 và được coi là một trong những nhà toán học vĩ đại nhất trong lịch sử. Ông cũng được nhiều người coi là nhà toán học có năng suất nhất mọi thời đại. Sau khi ông qua đời, các công trình của ông được tập hợp lại trong quyển "Leonhard Euler Opera Omnia" gồm 85 quyển cỡ lớn với hơn 40.000 trang, (ước tính một người phải làm việc khoảng 40 năm mới có thể ghi lại lượng công trình này). Ông đã dành phần lớn cuộc đời của mình ở Saint Petersburg, Nga, và Berlin, khi ấy là thủ đô của nước Phổ. Một nhận xét của Pierre-Simon Laplace đã thể hiện ảnh hưởng của Euler đối với toán học: "Hãy đọc Euler, đọc Euler đi, ông ấy là bậc thầy của tất cả chúng ta." Tên của ông đã được đặt cho một miệng núi lửa trên Mặt Trăng và cho tiểu hành tinh 2002 Euler.

Napoléon Bonaparte

Napoléon Bonaparte (phiên âm: Na-pô-lê-ông Bôn-na-pác; tiếng Pháp: Napoléon Bonaparte [napoleɔ̃ bɔnɑpaʁt], tiếng Ý: Napoleone Buonaparte; một số sách Việt còn ghi tên ông là Nã Phá Luân (拿破侖); 15 tháng 8 năm 1769 – 5 tháng 5 năm 1821) là một nhà quân sự và nhà chính trị tiêu biểu của Pháp trong và sau cuộc cách mạng Pháp cũng như các cuộc chiến tranh liên quan ở châu Âu.

Với đế hiệu Napoléon I, ông là Hoàng đế của người Pháp từ năm 1804 đến năm 1815. Cuộc cải cách pháp luật của ông, Bộ luật Napoléon, đã có những ảnh hưởng lớn lên nhiều bộ luật dân sự trên toàn thế giới, nhưng ông được nhớ đến nhất bởi vai trò của mình trong các cuộc chiến tranh mà Pháp phải đương đầu với hàng loạt liên minh, được gọi là các cuộc chiến tranh Napoléon. Ông đã thiết lập quyền bá chủ trên phần lớn lục địa châu Âu và tìm cách truyền bá những lý tưởng của cách mạng Pháp, đồng thời củng cố nền đế chế làm phục hồi những nét của chế độ cũ Pháp (Ancien Régime). Nhờ thắng lợi trong những cuộc chiến này, thường là chống lại đối phương có ưu thế về quân số, ông được coi là một trong những nhà chỉ huy quân sự tài ba nhất mọi thời đại, và các chiến dịch của Napoléon

được nghiên cứu tại các học viện quân sự trên khắp thế giới.

Napoléon được sinh ra ở Ajaccio thuộc Corse, trong một gia đình thuộc dòng dõi quý tộc Genova (Ý). Ông được đào tạo thành một sĩ quan pháo binh ở Pháp. Bonaparte trở nên nổi tiếng dưới thời Đệ Nhất Cộng hòa Pháp khi chỉ huy thành công nhiều chiến dịch chống lại Liên minh thứ nhất và thứ hai chống Pháp. Ông cũng tiến hành cuộc chinh phạt bán đảo Ý.

Năm 1799, ông đã tổ chức một cuộc đảo chính và tự đưa mình trở thành vị Tổng tài thứ nhất; năm năm sau đó Thượng viện Pháp tuyên xưng ông là Hoàng đế Pháp. Trong thập niên đầu tiên của thế kỷ XIX, Đệ Nhất Đế chế Pháp dưới quyền Napoléon đã tham gia vào một loạt xung đột — những cuộc chiến tranh Napoléon — lôi kéo mọi cường quốc chính ở châu Âu tham gia. Sau một loạt thắng lợi, Pháp đạt được vị trí thống trị ở lục địa châu Âu, và Napoléon duy trì phạm vi ảnh hưởng của Pháp thông qua việc thành lập của những mối đồng minh rộng lớn và bổ nhiệm bạn bè và người thân cai trị các quốc gia châu Âu khác như những chư hầu của Pháp.

Cuộc chiến kéo dài ở bán đảo Iberia và cuộc xâm lược nước Nga năm 1812 đánh dấu bước ngoặt trong cơ đồ của Napoléon. Quân đội chủ lực của Pháp, Grande Armée, bị tổn thất nặng nề trong chiến dịch và không bao giờ có thể khôi phục lại hoàn toàn. Năm 1813, Liên minh thứ sáu đã đánh bại quân đội của ông tại Leipzig, năm sau đó Liên minh xâm lược Pháp, buộc Napoléon phải thoái vị và đày ông đến đảo Elba. Chưa đầy một năm sau, ông thoát khỏi Elba và trở lại nắm quyền, nhưng đã bị đánh bại trong trận Waterloo vào tháng 6 năm 1815. Napoléon trải qua sáu năm cuối cùng của cuộc đời trong sự giam cầm của người Anh trên đảo Saint Helena. Cái chết của ông gây ra nhiều tranh cãi về sau, chẳng hạn một số học giả cho rằng ông là nạn nhân của một vụ đầu độc bằng arsen.

Ảnh hưởng của Napoléon đối với thế giới hiện đại là đã mang lại những cải cách tự do cho nhiều vùng lãnh thổ mà ông đã chinh phục và kiểm soát, chẳng hạn như Hà Lan, Thụy Sĩ và một phần lớn của nước Ý và Đức hiện đại. Ông đã thực hiện các chính sách tự do cơ bản ở Pháp và khắp Tây Âu. Bộ luật Napoleon của ông đã ảnh hưởng đến hệ thống pháp luật của hơn 70 quốc gia trên thế giới. Nhà sử học Anh, Andrew Roberts bình luận: "Những ý tưởng củng cố thế giới hiện đại của chúng ta — công lý, chế độ nhân tài (chính quyền do những người thực sự có tài năng nắm giữ), bình đẳng trước pháp luật, quyền sở hữu, sự khoan dung tôn giáo, giáo dục thế tục hiện đại, tài chính ổn định, và nhiều thứ khác... — đã được bảo vệ, củng cố, chỉnh lý và mở rộng về mặt địa lý bởi Napoleon. Ông còn bổ sung theo đó là một chính quyền địa phương hợp lý và có năng lực, chấm dứt nạn cướp bóc ở nông thôn, khuyến khích khoa học và nghệ thuật, việc bãi bỏ chế độ phong kiến và sự lập pháp lớn nhất kể từ khi Đế quốc La Mã sụp đổ".

Seorsumuscardinus

Seorsumuscardinus là một chi chuột sóc từng tồn tại ở châu Âu vào đầu thế Trung Tân, đới MN 4 (Oberdorf, Áo; Karydia, Hy Lạp; Tägernaustrasse-Jona, Thụy Sĩ) và MN 5 (Affalterbach, Đức). Các mẫu hóa thạch thuộc phân đới MN 4 là loài S. alpinus; trong khi mẫu hóa thạch duy nhất thuộc phân đới MN5, lúc mới mô tả lần đầu năm 2007, được xếp vào chi Heissigia, nhưng sau đó được phân loại lại thành loài thứ hai của Seorsumuscardinus với tên S. bolligeri vào năm 2009.

Cả hai loài Seorsumuscardinus kể trên đều chỉ được biết đến qua một số răng hóa thạch riêng lẻ, cho thấy chúng là một giống chuột sóc có kích thước trung bình với hàm răng bằng phẳng. Đặc điểm chung của tất cả các răng này là có các mào ngang và dài xen kẽ với những mào ngắn hơn. Một trong số các mào này, phụ mào ngang trước (anterotropid), giúp phân biệt hai loài, vì nó xuất hiện ở răng cối dưới ở S. alpinus nhưng không thấy ở S. bolligeri. Mào khác, mào ngang giữa (centroloph), chạm tới mép ngoài của răng cối trên thứ nhất ở S. bolligeri, nhưng không ở S. alpinus. Seorsumuscardinus có thể có liên hệ bà con với Muscardinus (một chi chuột sóc nâu còn sống hiện nay, xuất hiện cùng thời) và Glirudinus, xuất hiện sớm hơn.

Thế vận hội Mùa hè 1896

Thế vận hội Mùa hè 1896, tên chính thức là Thế vận hội Mùa hè lần thứ I, là sự kiện thể thao quốc tế được tổ chức tại thành phố Athens, thủ đô của Hy Lạp, từ ngày 6 đến 15 tháng 4 năm 1896. Đây chính là kỳ Thế vận hội đầu tiên được tổ chức trong thời kỳ hiện đại. Hy Lạp cổ đại vốn là cái nôi của phong trào Olympic, do đó Athens được coi như sự lựa chọn thích hợp nhất để tổ chức cho kỳ Thế vận hội hiện đại đầu tiên. Thành phố này được nhất trí chọn làm nơi đăng cai kỳ Olympic đầu tiên trong cuộc hội nghị do Pierre de Coubertin, một nhà sư phạm và sử gia người Pháp, tổ chức tại Paris vào ngày 23 tháng 6 năm 1894. Ủy ban Olympic quốc tế (IOC) cũng được thành lập nhân hội nghị này.

Mặc dù gặp phải nhiều trở ngại và thoái trào nhưng Thế vận hội Mùa hè 1896 vẫn được ghi nhận là một kỳ Olympic thành công, nhờ những cuộc tranh tài thể thao có quy mô lớn nhất từ trước cho tới thời điểm đó. Sân vận động Panathinaiko, sân vận động lớn đầu tiên trên thế giới thời hiện đại, đã chật cứng bởi lượng khán giả đông nhất vào lúc đó. Nước chủ nhà Hy Lạp đạt được thành tích nổi bật nhờ chiến thắng trong môn marathon của Spiridon Louis. Vận động viên thành công nhất trong kỳ Thế vận hội là đô vật và vận động viên thể dục dụng cụ người Đức Carl Schuhmann, người đã giành được tới 4 huy chương vàng. Trong kỳ thế vận hội đầu tiên này không có nữ vận động viên nào tham dự.

Sau kỳ Thế vận hội, một số nhân vật cấp cao, trong đó có Vua Georgios I của Hy Lạp cùng một số vận động viên người Mỹ, kiến nghị với Coubertin và IOC rằng tất cả những kỳ Thế vận hội sau nên được tổ chức tại Athens. Tuy nhiên 4 năm sau, Thế vận hội Mùa hè 1900 lại được tổ chức tại thành phố Paris của Pháp và ngoại trừ kỳ Thế vận hội 1906 không được IOC công nhận chính thức, phải 108 năm sau, Athens của Hy Lạp mới được tổ chức sự kiện này lần thứ hai vào năm 2004.

Wayne Rooney

Wayne Mark Rooney (sinh ngày 24 tháng 10 năm 1985) là một cầu thủ bóng đá người Anh hiện đang chơi ở vị trí Tiền vệ tấn công cho câu lạc bộ D.C. United tại Giải bóng đá nhà nghề Mỹ MLS cũng như từng thi đấu cho đội tuyển Anh ở các trận đấu cấp độ quốc tế. Trước đây vị trí thi đấu của anh là trung phong hoặc hộ công tuy nhiên hiện nay anh thường thi đấu ở hàng tiền vệ. Rooney là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho Manchester United trong lịch sử câu lạc bộ (253 bàn) và đội tuyển Anh (53 bàn). Anh đã ghi 208 bàn tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, chỉ sau Alan Shearer (260 bàn).

Rooney bắt đầu sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp của mình với câu lạc bộ Everton vào năm 2002 và bàn thắng đầu tiên của Rooney vào lưới Arsenal khiến anh trở thành cầu thủ ghi bàn trẻ nhất trong lịch sử Premier League vào thời điểm đó. Anh nhanh chóng trở thành một phần của đội bóng và thi đấu hai mùa giải ở câu lạc bộ vùng Merseyside. Năm 2004, anh dành danh hiệu Golden Boy (giải thưởng dành cho cầu thủ dưới 21 tuổi xuất sắc nhất năm).

Trước khi bắt đầu mùa giải 2004-05, anh chuyển tới Manchester United với mức phí chuyển nhượng là 25,6 triệu bảng và trở thành một thành viên chủ chốt của đội một United. Kể từ đó, anh đã giành được Cúp ngoại hạng Anh năm lần, một danh hiệu UEFA Champions League mùa giải 2007-08, ba Cúp Liên Đoàn và hai cúp FA cùng câu lạc bộ. Cá nhân anh cũng được trao giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Hiệp hội Nhà báo Bóng đá Anh, Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Hiệp hội Cầu thủ Chuyên nghiệp Anh và Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải của Barclays trong cùng một mùa giải 2009-2010.

Rooney được gọi vào đội tuyển Anh lần đầu tiên vào năm 2003 và tại UEFA Euro 2004, anh có một thời gian ngắn trở thành cầu thủ ghi bàn trẻ nhất qua các kì giải đấu và cũng là cầu thủ thứ hai dưới 20 tuổi được gọi vào đội tuyển. Rooney thường xuyên được chọn để thi đấu cho đội tuyển Anh và đã có mặt tại FIFA World Cup 2006 và 2010. Tuy nhiên cả hai đều là những giải đấu đáng quên đối với anh khi Rooney không ghi được bàn thắng nào và đội tuyển Anh chỉ có thành tích cao nhất là vào đến tứ kết năm 2006.

Anh và người bạn gái từ thuở nhỏ Coleen Rooney đã cưới nhau vào năm 2008 và có con trai đầu lòng là Kai Rooney vào năm 2009.

Thụy Sĩ Phân chia hành chính Thụy Sĩ
Quốc gia thành viên và quan sát viên của Cộng đồng Pháp ngữ
Thành viên
Quan sát viên
Các quốc gia có chủ quyền và lãnh thổ phụ thuộc tại Châu Âu
Quốc gia
có chủ quyền
Thành viên
Thành viên
hợp tác
Có chủ quyền

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.