Thời kỳ Khai Sáng

Thời kỳ Khai minh hay Thời kỳ Khai sáng (tiếng Anh: Age of Enlightenment; tiếng Pháp: Siècle des Lumières), còn gọi là Thế kỷ Ánh sáng, là giai đoạn thế kỷ 18 của triết học phương Tây, hay thời kỳ dài hơn gồm cả Thời đại Lý tính (Age of Reason). Từ này có thể được dùng với nghĩa hẹp hơn để chỉ phong trào của trí thức trong lịch sử, phong trào Khai sáng, phong trào ủng hộ lý tính với vai trò nền tảng căn bản của quyền lực.

Thời kỳ Khai sáng thường được liên hệ chặt chẽ với cuộc Cách mạng Khoa học, do cả hai phong trào đều nhấn mạnh vào lý tính, khoa học hay sự hợp lý, trong khi phong trào Khai sáng còn tìm cách phát triển hiểu biết có hệ thống về các quy luật tự nhiên và thần học. Phong trào bắt nguồn từ cuộc cách mạng tri trức khởi đầu bởi GalileoNewton, trong một bầu không khí ngày càng kém thiện cảm với quyền lực áp chế, trong những khám phá về cá nhân, xã hội, và nhà nước, các nhà tư tưởng Khai sáng tin rằng có thể áp dụng tư duy có hệ thống cho mọi lĩnh vực hoạt động của con người kể cả hoạt động nhà nước. Những người đi đầu phong trào tin rằng họ sẽ dẫn thế giới vào một thời đại mới của nhân tính, lý tính và tự do từ một thời kỳ dài đầy nghi ngờ, phi lý, mê tín dị đoan, và độc tài mà họ gọi là Thời kỳ Đen Tối (Dark Ages). Nhà văn thiên tài Pháp Voltaire nổi tiếng là một người chỉ trích việc áp đặt tôn giáo truyền thống, đồng thời là nhà triết học và nhà sử học văn hóa,[1][2] được vị vua kiệt xuất của nước Phổ lúc ấy là Friedrich II Đại Đế rất ưa chuộng.[3] Phong trào đã góp phần tạo ra nền tảng tư tưởng cho Cách mạng MỹCách mạng Pháp, Phong trào độc lập Mỹ La Tinh, và Hiến pháp Ba Lan ngày 3 tháng 5; góp phần dẫn tới sự trỗi dậy của chủ nghĩa tự do cổ điển, dân chủ, và chủ nghĩa tư bản.

Phong trào Khai sáng đi kèm với thời kỳ cổ điển và baroque trong âm nhạc và thời kỳ tân cổ điển trong nghệ thuật; thời hiện đại chú ý đến phong trào Khai sáng như là một trong những mô hình trung tâm cho nhiều phong trào thời hiện đại.

Phong trào Khai sáng chỉ xảy ra tại Đức, Pháp, Anh, và Tây Ban Nha, nhưng tầm ảnh hưởng của nó lan xa hơn. Nhiều người trong số những người khai sinh ra Hợp chúng quốc Hoa Kỳ đã chịu ảnh hưởng lớn bởi các tư tưởng của thời kỳ Khai sáng, đặc biệt trong lĩnh vực tôn giáo (Thuyết thần giáo tự nhiên) và trong lĩnh vực chính trị với Hiến pháp Hoa Kỳ, Tuyên ngôn nhân quyền Hoa Kỳ (Bill of rights), cùng với Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền của Pháp.

Lịch sử triết học Khai sáng

Triết học Khai sáng là một phong trào quan trọng của triết học thế kỷ 18, với trọng tâm là niềm tin và lòng mộ đạo. George Berkeley, một trong những nhà triết học nổi bật của phong trào này, đã cố gắng chứng minh một cách hợp lý về sự tồn tại của một thực thể tối cao. Bên cạnh các học thuyết chính trị, lòng mộ đạo và niềm tin trong thời kỳ này là một phần không thể thiếu của sự khám phá về triết học tự nhiênluân lý học. Tuy nhiên, các nhà triết học Khai sáng nổi bật như Thomas Paine, Voltaire, Jean-Jacques Rousseau, Immanuel KantDavid Hume đặt vấn đề và tấn công các thể chế hiện có của cả Giáo hộiNhà nước. Do chỉ trích chính phủ và giáo hội Pháp, nhà triết học vĩ đại Voltaire đã hai lần chịu kiếp tù đày.[4] Thế kỷ 19 còn chứng kiến sự tiếp tục nổi lên của các tư tưởng duy nghiệm và ứng dụng của chúng trong kinh tế chính trị, chính phủ và các khoa học như vật lý học, hóa học, và sinh học.

Thời kỳ Khai sáng nối tiếp Thời đại Lý tính (nếu được coi là một thời kỳ ngắn) hay thời Phục hưngphong trào Kháng cách (nếu được coi là một thời đại dài). Sau thời Khai sáng là thời kì Lãng mạn. Từ năm 1789, phong trào Cách mạng Pháp bùng nổ, các tác phẩm của Voltaire và Rousseau ảnh hưởng rất lớn đến nhân dân Pháp. Voltaire ủng hộ các văn sĩ phê phán Giáo hội và Quốc vương Pháp đương thời.[4] Ông viết bài thơ ca ngợi chủ nghĩa anh hùng, những cuốn sử xuất sắc, v.v...[5] Ông cũng coi trọng quyền công dân thế giới, đề cao một chính quyền trung ương dựa trên nền tảng của sự tự do. Rousseau đã kêu gọi đưa loài người trở về với tự nhiên, bị Voltaire bỉ bác.[6]

Adolph-von-Menzel-Tafelrunde2
Bức Tranh Die Tafelrunde của họa sĩ Adolph von Menzel. Bữa ăn của Voltaire, cùng vua Phổ Friedrich II Đại Đế và khác viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Berlin.

Các ranh giới của thời Khai sáng phủ phần lớn thế kỷ 17, dù một số người gọi thời kỳ trước đó là "Thời đại Lý tính" (The Age of Reason).

Châu Âu đã bị tàn phá bởi các cuộc chiến tranh tôn giáo; khi hòa bình đã được khôi phục, sau Hiệp ước Westphalia và cuộc Nội chiến Anh, một cuộc nổi dậy của trí thức đã lật đổ niềm tin được chấp nhận rộng rãi rằng những điều huyền bí và mặc khải là những nguồn chính yếu cho tri thức và học vấn—người ta cho đây là điều đã khơi mào cho sự bất ổn định về chính trị. Thay vào đó, (theo những người chia đôi hai thời kỳ), Thời đại Lý tính tìm cách thiết lập một nền triết học tiên đề và chủ nghĩa chuyên chế để làm nền móng cho tri thức và sự ổn định. Trong các tác phẩm của Michel de MontaigneRené Descartes, nhận thức luận được dựa trên chủ nghĩa kinh nghiệm cực đoan và sự tìm hiểu sâu về bản chất của "tri thức". Mục đích của một hệ thống triết học dựa trên các tiên đề hiển nhiên đã đạt đến đỉnh cao với tác phẩm Luân lý học của Baruch Spinoza, cuốn sách đào sâu một cách nhìn phiếm thần về vũ trụ, nơi Chúa trời và Thiên nhiên là một. Tư tưởng này sau đó đã trở thành trung tâm cho thời Khai sáng, từ Newton tới Jefferson. Các tư tưởng của Pascal, Leibniz, Galileo và các triết gia khác của thời kỳ trước cũng đóng góp và có ảnh hưởng lớn đến thời Khai sáng; ví dụ, theo E. Cassirer, tác phẩm On Wisdom của Leibniz đã "... chỉ ra khái niệm trung tâm của thời Khai sáng và phác ra khung lý thuyết của nó" (Cassirer 1979: 121–123). Có một làn sóng các thay đổi trong tư duy châu Âu, điển hình là triết học tự nhiên của Newton, đó là sự kết hợp giữa ngành toán học của các chứng minh bằng tiên đề với ngành cơ học của các quan sát vật lý, một hệ thống gắn kết của các phán đoán kiểm chứng được, nó đã bắt nhịp cho những gì nối tiếp Philosophiae Naturalis Principia Mathematica của Newton vào thế kỷ sau.

Thời kỳ Khai sáng còn có nhà triết học Pháp Claude-Arien Helvétius. Là một nhà triết học tiến bộ,[7] ông nghiên cứu về hạnh phúc của loài người. Ông cho rằng, hạnh phúc lớn lao của con người là dựa trên nền giáo dục, và một bộ luật xuất sắc. Ông cũng tôn trọng môi trường.[8]

Chủ nghĩa Khai sáng chuyên chế trở thành một nhận thức mới về Nhà nước trong thời kỳ đó.[9] Quốc vương Friedrich II Đại Đế (1712 - 1786), trị vì nước Phổ từ năm 1740 cho đến năm 1786, có lẽ là vị vua sáng suốt nhất trong thời đại Khai sáng.[10] Ông là một vị vua - triết gia, thực hiện chủ nghĩa Khai sáng chuyên chế,[11][12] và ân xá ngay cho nhà triết học tiến bộ Christian von Wolff của trào lưu Khai sáng - một danh sĩ từng bị tiên vương Friedrich Wilhelm I kết án.[13][14] Nước Phổ lớn mạnh,[15] tại chốn kinh kỳ Berlin, trào lưu Khai sáng nở rộ, với nhiều danh sĩ lỗi lạc.[16] Vị vua vĩ đại hay ngự ở cung điện Sanssouci tại thành phố Potsdam - miền cực lạc của các nhà triết học, theo Voltaire.[17] Thời đại Khai sáng còn nổi bật trong lịch sử Do Thái giáo, có lẽ là vì mối liên hệ của nó với sự chấp nhận ngày càng tăng của xã hội một số nước Tây Âu đối với người Do Thái. Trong cuộc Chiến tranh Bảy năm (1756 - 1763) giữa nước Phổ và nhiều nước láng giềng, Quốc vương Friedrich II Đại Đế đã trọng dụng những chuyên gia kinh tế người Do Thái.[18] Không những vậy, ông còn thực hiện chính sách tự do tôn giáo; nhưng do các giáo sĩ Công giáo đã vài lần mưu phản trong cuộc Chiến tranh Bảy năm, sau chiến thắng, ông giảm bớt chính sách này. Song, trong lúc ấy, nước Phổ vẫn là quốc gia Kháng Cách tự do nhất đối với tín đồ Công giáo trên toàn cõi châu Âu.[19]

KantWasIstAufklärung
"Khai sáng là gì?"

Vốn có tư tưởng nhân văn,[20] ông là độc giả của đại văn hào Voltaire, cùng với những danh sĩ Leibnitz, Montesquieu, Rousseau, Wolff, v.v...[21][22] Tình bạn của nhà vua và Voltaire nổi tiếng trên toàn thế giới, cả vị vua quyết đoán và nhà văn tài hoa đều ca ngợi nhau.[23] Trong thời kỳ của chủ nghĩa Khai sáng chuyên chế, chiến tranh thường xảy ra. Mọi nước châu Âu đều nhanh chóng làm kiệt quệ nguồn tài nguyên hiếm hoi của mình, do đó một quốc gia bé nhỏ có thể giành thắng lợi nếu chống chịu được.[24] Quốc vương Friedrich II Đại Đế, sau khi đánh bại Áo trong hai cuộc chiến tranh Silesia (1740 - 1745), đánh bại liên quân Áo - Pháp - Nga - Thụy Điển trong cuộc Chiến tranh Bảy năm.[25] Friedrich Nicolai - người xuất bản lừng danh nhất của trào lưu Khai sáng ở kinh đô Berlin, đã ca ngợi những chiến công hiển hách của nhà vua,[26] và thể hiện lòng yêu nước.[27] Thời đó, nước Phổ cũng có nhà triết học nổi tiếng Immanuel Kant,[16] viết về bản chất của trào lưu Khai sáng.[28] Trong luận văn nổi tiếng "Trả lời câu hỏi: Khai sáng là gì ?", Immanuel Kant định nghĩa:

KHAI SÁNG LÀ SỰ THOÁT LY CỦA CON NGƯỜI RA KHỎI TÌNH TRẠNG VỊ THÀNH NIÊN DO CHÍNH CON NGƯỜI GÂY RA. VỊ THÀNH NIÊN là sự bất lực không thể vận dụng trí tuệ của mình một cách độc lập mà không cần sự chỉ đạo của người khác. Tình trạng vị thành niên này là do TỰ MÌNH GÂY RA, một khi nguyên nhân của nó không phải do sự thiếu sót trí tuệ, mà do sự thiếu sót tính cương quyết và lòng can đảm, dám tự mình dùng trí tuệ phục vụ cho mình mà không cần đến sự chỉ đạo của người khác. Sapere aude ! Hãy có can đảm tự sử dụng trí tuệ CỦA CHÍNH MÌNH! đó là câu phương châm của Khai sáng.[29]

Tấm gương sáng của vị minh quân Friedrich II Đại Đế được Hoàng đế nước ÁoJoseph II và vua nước Thụy ĐiểnGustav III noi theo, nhưng họ không có thiên tài xuất sắc như ông, và rồi thất bại.[30] Nhà triết học Helvetius cũng ca ngợi các vị minh quân thời đó, và được nhà vua vời đến kinh thành Berlin vào năm 1764.[31][32]

Chú thích

  1. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, trang 45
  2. ^ Jackson J. Spielvogel, Western Civilization: Since 1500
  3. ^ Baron Thomas Babington Macaulay Macaulay, Life of Frederick the Great, trang 43
  4. ^ a ă N. Jayapalan, Comprehensive History of Political Thought, trang 171
  5. ^ Baron Thomas Babington Macaulay Macaulay, Life of Frederick the Great, trang 45
  6. ^ N. Jayapalan, Comprehensive History of Political Thought, trang 173
  7. ^ John James Clarke, Oriental enlightenment: the encounter between Asian and Western thought, trang 46
  8. ^ Ian Cumming, Helvetius: his life and place in the history of educational thought, trang 142
  9. ^ Heinrich Von Treitschke, George Haven Putnam, Doughlas Sladen, Confessions of Frederick the Great and the Life of Frederick the Great, trang 174
  10. ^ James C. Humes, My fellow Americans: presidential addresses that shaped history, trang 7
  11. ^ Heinrich Von Treitschke, George Haven Putnam, Doughlas Sladen, Confessions of Frederick the Great and the Life of Frederick the Great, trang 137
  12. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, trang 149
  13. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, trang 20
  14. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, trang 74
  15. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 183
  16. ^ a ă Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 250
  17. ^ Baron Thomas Babington Macaulay Macaulay, Life of Frederick the Great, trang 129
  18. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, trang 125
  19. ^ Heinrich Von Treitschke, George Haven Putnam, Doughlas Sladen, Confessions of Frederick the Great and the Life of Frederick the Great, trang 147
  20. ^ Heinrich Von Treitschke, George Haven Putnam, Doughlas Sladen, Confessions of Frederick the Great and the Life of Frederick the Great, trang 7
  21. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 184
  22. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, trang 46
  23. ^ Heinrich Von Treitschke, George Haven Putnam, Doughlas Sladen, Confessions of Frederick the Great and the Life of Frederick the Great, trang 15
  24. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, trang 126
  25. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, trang 127
  26. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 227
  27. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 228
  28. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 247t
  29. ^ Trả lời câu hỏi: Khai sáng là gì?, Immanuel Kant, www.talawas.org
  30. ^ Baron Thomas Babington Macaulay Macaulay Life of Frederick the Great, trang 255
  31. ^ Baron Thomas Babington Macaulay Macaulay, Life of Frederick the Great, trang 251
  32. ^ Raymond Garfield Gettell, History of political thought, trang 281

Tham khảo

  • Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, University of California Press, 1968.
  • Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, Harvard University Press, 2006. ISBN 0-674-02385-4.
  • Heinrich Von Treitschke, George Haven Putnam, Doughlas Sladen, Confessions of Frederick the Great and the Life of Frederick the Great, The Minerva Group, Inc., 2001. ISBN 0-89875-536-0.
  • Kelso Chetosky, She Officially Hates Social Studies, Hinsdale Central 2007
  • Baron Thomas Babington Macaulay Macaulay, Life of Frederick the Great, Delisser & Procter, 1859.
  • Jackson J. Spielvogel, Western Civilization: Since 1500, Cengage Learning, 2008. ISBN 0-495-50287-1.
  • James C. Humes, My fellow Americans: presidential addresses that shaped history, Greenwood Publishing Group, 1992. ISBN 0-275-93507-8.
  • N. Jayapalan, Comprehensive History of Political Thought, Atlantic Publishers & Distributors, 2001. ISBN 81-269-0073-3.
  • Jonathan Hill, Faith in the Age of Reason, Lion/Intervarsity Press 2004
  • Ernst Cassirer, The Philosophy of the Enlightenment, Princeton University Press 1979
  • Raymond Garfield Gettell, History of political thought, The Century Co., 1924.
  • John James Clarke, Oriental enlightenment: the encounter between Asian and Western thought, Routledge, 1997. ISBN 0-415-13376-9.
  • Ian Cumming, Helvetius: his life and place in the history of educational, Routledge, 2003. ISBN 0-415-17765-0.
  • Mark Hulluing Autocritique of Enlightenment: Rousseau and the Philosophes 1994
  • Gay Peter. The Enlightenment: An Interpretation. New York: W. W. Norton & Company, 1996
  • Redkop, Benjamin, The Enlightenment and Community, 1999
  • Melamed, Yitzhak Y, Salomon Maimon and the Rise of Spinozism in German Idealism, Journal of the History of Philosophy, Volume 42, Issue 1
  • Porter, Roy The Enlightenment 1999
  • Jacob, Margaret Enlightenment: A Brief History with Documents 2000
  • Thomas Munck Enlightenment: A Comparative Social History, 1721-1794
  • Arthur Herman How the Scots Invented the Modern World: The True Story of how Western Europe's Poorest Nation Created Our World and Everything in It 2001
  • Stuart Brown ed., British Philosophy in the Age of Enlightenment 2002
  • Alan Charles Kors, ed. Encyclopedia of the Enlightenment. 4 volumes. Oxford: Oxford University Press, 2003
  • Buchan, James Crowded with Genius: The Scottish Enlightenment: Edinburgh's Moment of the Mind 2003
  • Louis Dupre The Enlightenment & the Intellctural Foundations of Modern Culture 2004
  • Himmelfarb, Gertrude The Roads to Modernity: The British, French, and American Enlightenments, 2004
  • Stephen Eric Bronner Interpreting the Enlightenment: Metaphysics, Critique, and Politics, 2004
  • Stephen Eric Bronner The Great Divide: The Enlightenment and its Critics
  • Henry F. May The Enlightenment in America (New York: Oxford University Press, 1976)
Adam Weishaupt

Johann Adam Weishaupt ([ˈjoːhan ˈaːdam ˈvaɪ̯s.haʊ̯pt] 6 tháng 2 năm 1748 - 18 tháng 11 năm 1830) là một triết gia Đức và là người sáng lập ra Hội Illuminati, một hội bí mật.

Baruch Spinoza

Baruch Spinoza (, Tiếng Hà Lan: [baːˈrux spɪˈnoːzaː]; tên khai sinh Benedito de Espinosa, tiếng Bồ Đào Nha: [bɨnɨˈðitu ðɨ ʃpiˈnɔzɐ]; sau đổi thành Benedict de Spinoza; 24 tháng 11 năm 1632 – 21 tháng 2 năm 1677) là một nhà triết học Hà Lan-Do Thái gốc Sephardi. Ông được coi là một trong những người tiên phong của Thời kỳ Khai Sáng và của Chủ nghĩa phê phán Kinh thánh, đề xướng khái niệm về bản thân và vạn vật, từ đó giúp ông trở thành một trong những triết gia duy lý quan trọng nhất thế kỷ 17. Thừa hưởng quan điểm từ René Descartes, Spinoza trở thành đầu tàu của Thời kỳ hoàng kim Hà Lan. Tên của ông có nghĩa là "cầu phúc" và được biến thể trong các ngôn ngữ khác nhau, ví dụ như ברוך שפינוזה trong tiếng Hebrew. Trong tiếng Bồ Đào Nha, tên ông được viết thành Benedito "Bento" de Espinosa hay d'Espinosa, còn trong tiếng La-tinh, là Benedictus de Spinoza.

Spinoza lớn lên trong khu Bồ Đào Nha-Do Thái tại thành phố Amsterdam. Ông sớm nhận ra những vấn đề lý luận trong Kinh Thánh Hebrew và bản chất của Đấng Tối cao. Cộng đồng Do Thái giáo tại đây đã kết tội cherem (חרם) với ông khi mới 23 tuổi, khiến ông bị khai trừ và buộc xa lánh khỏi xã hội Do thái, thậm chí với cả chính gia đình mình. Cuốn sách lớn đầu tiên của ông Index Librorum Prohibitorum sau này được đưa vào thư viện Giáo hội Công giáo Rôma. Người đương thời thường coi ông là một kẻ "vô thần", cho dù trong mọi quan điểm của Spinoza luôn đề cập tới sự tồn tại của Đấng Tối cao.

Spinoza còn có một cuộc sống hướng ngoại trong vai trò là một thợ chế tác ống kính, khi ông tự thiết kế nhiều kính hiển vi và kính viễn vọng với nhiều nhân vật nổi tiếng như Constantijn và Christiaan Huygens. Ông từ chối mọi giải thưởng và tước hiệu trong suốt cuộc đời mình, kể cả trong lĩnh vực sư phạm. Ông qua đời vào năm 1677 ở tuổi 44, có thể do bệnh lao hoặc bệnh bụi phổi từ công việc chế tác ống kính của mình. Ông được hỏa táng tại nhà thờ Nieuwe Kerk tại Den Haag.

Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông Đạo đức học chỉ được xuất bản sau khi ông qua đời. Quan điểm của ông đối lập với Nhị nguyên tâm trí - cơ thể của Descartes, ngay lập tức đưa ông trở thành một trong những triết gia phương Tây quan trọng nhất. Georg Hegel từng nói "Spinoza là điểm thử thách của triết học hiện đại, tới mức ta cần phải thừa nhận: Hoặc ta theo Spinoza, hoặc ta không phải là triết gia." Thông qua những thành tựu triết học cùng tính cách con người, Gilles Deleuze gọi Spinoza là "hoàng tử của triết học".

Chủ nghĩa thế tục

Chủ nghĩa thế tục là một thế giới quan phát xuất từ phong trào thế tục hóa, quá trình tinh thần về sự chia cách giữa nhà nước và tôn giáo và các quá trình cụ thể về việc ban giao tài sản, quyền lực của các cơ sở tôn giáo cho nhà nước hay các thế lực trần tục. Nó đưa đến việc các chức năng chính trị, kinh tế, khoa học thoát ra khỏi ảnh hưởng của tôn giáo, tạo ra một nhà nước trung lập về niềm tin tôn giáo..Chủ nghĩa thế tục đã có nguồn gốc trí thức từ các nhà triết gia Hy Lạp cổ và La Mã như Marcus Aurelius và Epicurus; từ các nhà tư tưởng trong thời kỳ Khai sáng như Denis Diderot, Voltaire, Baruch Spinoza, James Madison, Thomas Jefferson, và Thomas Paine; và từ những nhà tư tưởng tự do và vô thần như Robert Ingersoll và Bertrand Russell.

Chủ nghĩa tự do

Chủ nghĩa tự do là một hệ tư tưởng, quan điểm triết học, và truyền thống chính trị dựa trên các giá trị chính trị cơ sở về tự do và bình đẳng. Chủ nghĩa tự do có nguồn gốc từ phong trào Khai sáng ở phương Tây, nhưng thuật ngữ này mang nhiều nghĩa khác nhau trong các giai đoạn khác nhau. Như tại Mỹ, khái niệm chủ nghĩa tự do (liberalism) có ý nói đến chủ nghĩa tự do xã hội (Social liberalism), chủ nghĩa tự do hiện đại, trong khi ở các nơi khác nó vẫn mang ý nghĩa ban đầu của chủ nghĩa tự do cổ điển (classical liberalism).

Một cách khái quát, chủ nghĩa tự do nhấn mạnh đến quyền cá nhân. Nó đi tìm kiếm một xã hội có đặc điểm là tự do tư tưởng, quyền dân sự và chính trị cho mỗi cá nhân, và hạn chế quyền lực cai trị (nhất là của nhà nước và tôn giáo), pháp trị, tự do trao đổi tư tưởng, một nền kinh tế thị trường hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân tự do, và một hệ thống chính phủ minh bạch trong đó các quyền của công dân được bảo vệ. Trong xã hội hiện đại, người theo chủ nghĩa tự do ủng hộ một nền dân chủ tự do có bầu cử công bằng và công khai mà mọi công dân đều được hưởng quyền bình đẳng trước pháp luật và có cơ hội thành công như nhau.Nhiều người theo chủ nghĩa tự do mới ủng hộ sự can thiệp nhiều hơn của nhà nước đến thị trường tự do, thường dưới hình thức các đạo luật chống phân biệt, phổ cập giáo dục và đánh thuế lũy tiến. Triết lý này thường được mở rộng sang cả niềm tin rằng chính phủ phải có trách nhiệm tạo ra phúc lợi chung, trong đó có cả trợ cấp thất nghiệp, nhà ở cho người không nơi cư trú và chăm sóc y tế cho người ốm. Những hoạt động và sự can thiệp mang tính công cộng như trên không được sự ủng hộ của những người theo chủ nghĩa tự do cổ điển hiện đại, một chủ nghĩa nhấn mạnh đến tự do doanh nghiệp tư nhân, quyền sở hữu tài sản của cá nhân và tự do khế ước; các nhà tự do cổ điển cho rằng bất bình đẳng kinh tế là điều tự nhiên diễn ra từ sự cạnh tranh của thị trường tự do và không phải là lý do để dựa vào đó mà có thể vi phạm quyền sở hữu tài sản cá nhân.

Chủ nghĩa tự do phủ nhận nhiều giả thuyết nền tảng đã thống trị các lý thuyết đầu tiên về nhà nước, chẳng hạn như thần quyền của vua chúa, vị trí có được do thừa kế và quốc giáo. Những quyền căn bản của con người mà tất cả những người theo chủ nghĩa tự do đều ủng hộ là quyền được sống, quyền tự do và quyền sở hữu tài sản.

Cách sử dụng rộng rãi nhất đối với thuật ngữ "chủ nghĩa tự do" là trong ngữ cảnh của một nền dân chủ tự do. Theo nghĩa này, chủ nghĩa tự do dùng để chỉ một nền dân chủ trong đó quyền lực nhà nước bị giới hạn và quyền của công dân được pháp luật công nhận; điều này gần như là thống nhất trong các nền dân chủ phương Tây, nên do vậy, không chỉ có các đảng tự do (liberal party) mới được hiểu là gắn liền với chủ nghĩa này.

Chủ nghĩa vô thần

Chủ nghĩa vô thần (hay thuyết vô thần, vô thần luận), theo nghĩa rộng nhất, là sự thiếu vắng niềm tin vào sự tồn tại của thần linh. Theo nghĩa hẹp hơn, chủ nghĩa vô thần là sự bác bỏ niềm tin rằng thần linh tồn tại. Theo nghĩa hẹp hơn nữa, một cách cụ thể thì chủ nghĩa vô thần là quan điểm cho rằng không hề có thần linh. Chủ nghĩa vô thần đối lập với chủ nghĩa hữu thần, theo dạng chung nhất, là niềm tin rằng có ít nhất một vị thần tồn tại.Nhiều người tự nhận là vô thần có thái độ hoài nghi với những gì siêu nhiên, với lý do là không có bằng chứng thực nghiệm về sự tồn tại của thần linh. Những người khác lập luận ủng hộ chủ nghĩa vô thần trên cơ sở triết học, xã hội và lịch sử. Tuy trong số những người tự nhận là vô thần có nhiều người thiên về các học thuyết triết học thế tục như chủ nghĩa nhân văn và chủ nghĩa tự nhiên, không có một hệ tư tưởng hay một bộ hành vi nào mà tất cả những người vô thần cùng chia sẻ; và một số tôn giáo, chẳng hạn Kì-na giáo và Phật giáo, không đòi hỏi đức tin vào một vị thần có vị cách.

Trong các ngôn ngữ của châu Âu, thuật ngữ "vô thần" xuất phát từ cách gọi tên hàm ý bôi xấu (tiếng Hy Lạp: ἀθεότης atheotēs) dành cho những người hoặc những tín ngưỡng xung khắc với quốc giáo. Với sự lan rộng của tư tưởng tự do, chủ nghĩa hoài nghi và sự phê phán tôn giáo, thuật ngữ này đã bắt đầu có được ngữ nghĩa cụ thể hơn và ngày càng được sử dụng như sự tự xác nhận của những người vô thần.

Cộng hòa Séc

Séc (tiếng Séc: Česko), tên chính thức là Cộng hòa Séc (tiếng Séc: Česká republika, phát âm ), là một quốc gia thuộc khu vực Trung Âu và là nước không giáp biển. Cộng hòa Séc giáp Ba Lan về phía bắc, giáp Đức về phía tây, giáp Áo về phía nam và giáp Slovakia về phía đông. Thủ đô và thành phố lớn nhất của quốc gia là Praha, với hơn 1,3 triệu dân cư ngụ tại đây. Cộng hòa Séc là một quốc gia đa đảng theo chế độ cộng hòa đại nghị. Tổng thống là người đứng đầu nhà nước, còn thủ tướng là người đứng đầu chính phủ. Quốc hội có hai viện gồm thượng viện và hạ viện. Cộng hòa Séc đã gia nhập NATO vào năm 1999 và trở thành thành viên của Liên minh châu Âu từ năm 2004. Ngày 21 tháng 12 năm 2007, Cộng hòa Séc đã thông qua Hiệp ước Schengen, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại và du lịch vào nước này. Ngoài ra, Cộng hòa Séc hiện nay cũng là thành viên của các tổ chức OECD, OSCE, Ủy hội châu Âu và Nhóm Visegrád.

Lãnh thổ Cộng hòa Séc, ngày nay bao gồm các vùng đất đã từng tồn tại trong lịch sử là Bohemia, Morava và một phần Silesia. Séc trở thành một bộ phận của Đế quốc Áo và Đế quốc Áo-Hung trong nhiều thế kỉ cho đến năm 1918, khi Séc cùng với Slovakia tuyên bố thành lập nước Tiệp Khắc. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Tiệp Khắc bị phát xít Đức chiếm đóng. Sau đó, nước này trở thành một quốc gia xã hội chủ nghĩa cho đến năm 1989 khi cuộc Cách mạng Nhung yên bình diễn ra, đưa đất nước trở về tiến trình dân chủ. Ngày 1 tháng 1 năm 1993, một cuộc ly khai ôn hòa đã diễn ra, Tiệp Khắc lại tách thành hai quốc gia độc lập là Séc và Slovakia.

Gotthold Ephraim Lessing

Gotthold Ephraim Lessing (1729-1781) là nhà triết học, nhà văn người Đức. Ông là một trong những nhân vật quan trọng của thời kỳ Khai sáng. Ông cũng là nhà triết học lớn của nền triết học cổ điển Đức. Ông là một trong những người sáng tạo nên dramaturg.

Immanuel Kant

Immanuel Kant (sinh ngày 22 tháng 4 năm 1724 tại Königsberg; mất ngày 12 tháng 2 năm 1804 tại Königsberg), được xem là một trong những triết gia quan trọng nhất của nước Đức, hơn nữa là một trong những triết gia lớn nhất của thời kỳ cận đại (Neuzeit), của nền văn hóa tân tiến và của nhiều lĩnh vực nhân văn khác. Sự nghiệp triết học của ông được biết đến qua hai giai đoạn: "tiền phê phán" và sau năm 1770 là "phê phán". Học thuyết "Triết học siêu nghiệm" (Transzendentalphilosophie) của Kant đã đưa triết học Đức bước vào một kỉ nguyên mới. "Danh tiếng của ông đã đẩy lùi những gì đi trước vào bóng tối và toả sáng lên trên những gì đi sau", như nhận xét của triết sử gia J. Hirschberger.

Tạm dịch:

Đặc điểm của một triết gia chân chính là ở chỗ ông ta không làm gì ngoài việc vận dụng sức mạnh và khả năng tự nhiên, cụ thể là qua việc nghiên cứu sự phê phán.

Johann Gottfried von Herder

Johann Gottfried von Herder (hay Johann Gottfried Herder) là nhà thơ, nhà triết học người Đức. Ông là một trong những nhà triết học quan trọng nhất của triết học cổ điển Đức, đồng thời cũng là một trong những người đứng đầu phong trào văn học, nghệ thuật rất nổi tiếng trong lịch sử Đức, Bão táp và xung kích (Sturm und Drang).

Johannes Kepler

Johannes Kepler (tiếng Đức: [joˈhanəs ˈkɛplɐ, -nɛs -]; 27 tháng 12, 1571 – 15 tháng 11 năm 1630), là một nhà toán học, thiên văn học và chiêm tinh học người Đức. Là một trong những đại diện của cuộc cách mạng khoa học thế kỷ 17, Kepler được biết đến nhiều nhất bởi các định luật về chuyển động thiên thể mang tên ông do các nhà thiên văn thiết lập dựa trên những công trình của ông như Astronomia nova, Harmonice Mundi và cuốn Thiên văn học Copernicus giản lược.

Khởi đầu sự nghiệp, Kepler từng là một giáo viên toán ở chủng viện Graz, trước khi đảm nhiệm vai trò trợ tá cho nhà thiên văn Tycho Brahe, và cuối cùng trở thành nhà thiên văn học triều đình cho Hoàng đế La Mã Thần thánh Rudolf II và sau đó là các hoàng đế kế vị Matthias và Ferdinand II. Trong những năm biến động cuối đời, ông dạy toán ở Linz (Áo) và là cố vấn cho Albrecht von Wallenstein. Ngày nay được biết đến chủ yếu vì những nghiên cứu thiên văn học, ông còn có những công trình quan trọng trong lĩnh vực quang học, phát minh ra một mẫu kính viễn vọng phản xạ (Kính viễn vọng Kepler), và thảo luận về những khám phá bằng kính viễn vọng của một nhà khoa học sống cùng thời, Galileo Galilei.

Kepler sống trong một thời đại mà giữa thiên văn và chiêm tinh không có sự phân biệt rõ ràng, nhưng có sự chia tách giữa thiên văn (như một nhánh của toán học) và vật lý (một nhánh của triết học tự nhiên). Kepler cũng kết hợp lý lẽ và lập luận tôn giáo vào công trình của mình, được thúc đẩy bởi đức tin rằng Chúa đã tạo ra thế giới theo một kế hoạch khả tri mà con người có thể lĩnh hội qua ánh sáng của lý trí. Kepler mô tả nền thiên văn học mới của ông là "vật lý học thiên thể", như "một cuộc dạo chơi vào siêu hình học của Aristotle", và "một sự bổ sung cho tiểu luận Về bầu trời của Aristotle", biến đổi truyền thống cổ đại về vũ trụ học vật lý với việc xem thiên văn là một phần của một vật lý học toán học phổ quát.

Montesquieu

Charles-Louis de Secondat, Baron de La Brède et de Montesquieu (Charles-Louis de Secondat, Nam tước vùng La Brède và xứ Montesquieu; 18 tháng 1 năm 1689 tại Bordeaux – 10 tháng 2 năm 1755 tại Paris) là một nhà bình luận xã hội và tư tưởng chính trị Pháp sống trong thời đại Khai sáng, ông thường được biết đến dưới tên Montesquieu. Ông nổi tiếng với lý thuyết tam quyền phân lập.

Phục Hưng

Phục Hưng (tiếng Pháp: Renaissance, phát âm tiếng Pháp: [ʁənɛsɑ̃ːs], tiếng Ý: Rinascimento, từ ri- "lần nữa" và nascere "được sinh ra") là một phong trào văn hóa thường được xem là bao gồm giai đoạn từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, khởi đầu tại Firenze (Ý) vào Hậu kỳ Trung Đại, sau đó lan rộng ra phần còn lại của châu Âu trên những quy mô và mức độ khác nhau. Người ta cũng dùng từ Phục Hưng để chỉ, một cách không nhất quán, thời kỳ lịch sử diễn ra phong trào văn hóa nói trên.

Như một phong trào văn hóa, Phục Hưng bao hàm sự nở rộ các nền văn học tiếng Latin cũng như các tiếng dân tộc, bắt đầu từ sự phục hồi việc nghiên cứu các tư liệu cổ điển, sự phát triển của phép phối cảnh tuyến tính và các kỹ thuật nhằm biểu diễn hiện thực tự nhiên hơn trong mỹ thuật, và một cuộc cải cách giáo dục tiệm tiến nhưng phổ cập.Trong chính trị, Phục Hưng đã đóng góp vào sự phát triển những hiệp ước ngoại giao, và trong khoa học là một sự quan tâm lớn hơn tới quan sát thực nghiệm. Các sử gia thường lập luận những biến đổi về trí tuệ này là một cầu nối giữa Trung Cổ và thời hiện đại. Mặc dù Phục Hưng chứng kiến những cuộc cách mạng trong nhiều lĩnh vực, cũng như những thay đổi chính trị-xã hội, nó vẫn được biết đến nhiều nhất bởi những thành tựu lớn lao về mỹ thuật và những cống hiến của những vĩ nhân đa tài như Leonardo da Vinci hay Michelangelo đã làm xuất hiện thuật ngữ Vĩ nhân Phục Hưng ("Renaissance Great Man"). Có một cuộc tranh luận kéo dài trong giới sử học về quy mô, phân kì văn hóa thời đại Phục Hưng, cũng như giá trị và ý nghĩa của nó. Bản thân thuật ngữ Renaissance, do nhà sử học Pháp Jules Michelet đặt ra năm 1855 cũng là đối tượng của những chỉ trích, rằng nó ngụ ý một sự mô tả thái quá về giá trị tích cực của thời kỳ này.Có một sự đồng thuận rằng thời kỳ Phục hưng bắt đầu ở Firenze, Italia, trong thế kỷ XIV. Có nhiều giả thuyết khác nhau được đề xuất để giải thích cho nguồn gốc và đặc điểm của nó, tập trung vào một loạt các yếu tố bao gồm đặc thù xã hội và công dân của Firenze tại thời điểm đó, cấu trúc chính trị của nó, sự bảo trợ của dòng họ thống trị, nhà Medici, và sự di cư của các học giả và các bản văn Hy Lạp sang Ý sau sự thất thủ của Constantinopolis dưới tay người Thổ Ottoman.

Pierre Bayle

Pierre Bayle (sinh 18 tháng 11 năm 1647 tại Carla-le-Comte - 28 tháng 12 năm 1706 Rotterdam) là một nhà văn, nhà triết học người Pháp thời kỳ Khai sáng. Ông là tác giả của Dictionnaire Historique et Critique, một cuốn từ điển tiểu sử nổi tiếng. Các tác phẩm của Pierre Bayle có ảnh hướng đến sự phát triển của thời kỳ khai sáng. Pierre Bayle nhận mình là một người Tin Lành.

René Descartes

René Descartes ("Rơ-nê Đề-các", 1596–1650) là triết gia, nhà khoa học, nhà toán học người Pháp, được một số người xem là cha đẻ của triết học hiện đại.

Roma

Roma (tiếng Latinh và tiếng Ý: Roma; còn phổ biến với tên gọi Rome trong tiếng Anh và tiếng Pháp hay La Mã theo phiên âm Hán Việt) là thủ đô của nước Ý và là một đô thị cấp huyện (comune) loại đặc biệt (có tên đầy đủ là Comune di Roma Capitale), đồng thời đóng vai trò là thủ phủ vùng Lazio của quốc gia này. Roma là thành phố lớn nhất và đông dân nhất ở Ý với hơn 2,8 triệu cư dân trong phạm vi 1.285 km². Đây là thành phố đông dân thứ tư của Liên minh châu Âu, sau Luân Đôn, Berlin và Madrid, tính theo số dân sinh sống bên trong phạm vi thành phố. Roma cũng đồng thời là trung tâm của Thành phố đô thị Roma Thủ đô với hơn 4,3 triệu cư dân, do đó là thành phố đô thị đông dân nhất của nước Ý. Roma tọa lạc ở vùng Lazio, dọc theo con sông Tevere (khu vực Latium lịch sử) thuộc Trung Tây của bán đảo Ý. Thành quốc Vatican (quốc gia nhỏ nhất thế giới) là một đất nước độc lập nằm trong lòng Roma, đây là ví dụ duy nhất về một quốc gia nằm trong lãnh thổ của một thành phố; cũng vì lý do này mà Roma thường được xem là thủ đô lưỡng quốc.Lịch sử Roma trải dài 28 thế kỷ. Mặc dù thần thoại La Mã đặt mốc thời gian thành lập Roma vào khoảng năm 753 TCN, tuy nhiên thành phố đã có mặt cư dân sinh sống lâu hơn thế, khiến nó trở thành một trong những khu định cư lâu đời nhất có con người vẫn đang tiếp tục sinh sống tại châu Âu. Cư dân ban đầu của thành phố có nguồn gốc hỗn hợp từ người Latinh, Etrusca và Sabine. Sau đó, thành phố trở thành thủ đô của Vương quốc La Mã, Cộng hòa La Mã và Đế quốc La Mã, và được nhận định là cái nôi của nền văn minh phương Tây cũng như là kiểu mẫu đô thị trung tâm đầu tiên từng xuất hiện. Roma ban đầu được gọi là Thành phố vĩnh hằng (tiếng Latinh: Urbs Aeterna) bởi thi hào Tibullus người La Mã trong thế kỷ thứ nhất TCN và ý tưởng đó đã được Ovidius, Vergilius và Livius tiếp nối. Thành phố còn nổi tiếng với danh hiệu "Caput Mundi" trong tiếng Latinh có nghĩa là Kinh đô thế giới. Theo sau sự sụp đổ của Đế quốc Tây La Mã đánh dấu khởi đầu của Đêm trường Trung Cổ, Roma dần rơi vào sự thống trị của giáo hoàng (đã cư ngụ tại thành phố kể từ thế kỷ 1) và chính thức thế kỷ 8 trở thành thủ đô của Vương quốc Giáo hoàng tồn tại cho đến năm 1870. Bắt đầu từ thời kỳ Phục Hưng, hầu như tất cả các giáo hoàng từ Nicôla V (1447–1455) trở đi đều chủ trương theo đuổi tiến trình mang tính kiến trúc và đô thị hóa liên tục suốt 400 năm nhằm mục đích biến thành phố trở thành trung tâm nghệ thuật và văn hóa của thế giới. Do vậy, Roma trở thành trung tâm lớn của nền Phục Hưng Ý, và sau đó là nơi khai sinh của trường phái Baroque và chủ nghĩa Tân cổ điển. Các nghệ sĩ, họa sĩ, nhà điêu khắc và kiến trúc sư nổi tiếng đã biến Roma trở thành trung tâm hoạt động của họ, tạo ra những kiệt tác khắp toàn thành phố. Năm 1871, Roma chính thức trở thành thủ đô của Vương quốc Ý thống nhất và sau đó là Cộng hòa Ý từ năm 1946 cho đến ngày nay.

Roma mang đẳng cấp của một thành phố toàn cầu. Trong năm 2016, Roma xếp thứ 14 trong số những thành phố được viếng thăm nhiều nhất thế giới, đứng thứ 3 tại châu Âu và là điểm thu hút khách du lịch nổi tiếng nhất tại Ý. Khu trung tâm lịch sử của Roma được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới. Bảo tàng Vatican nổi tiếng nằm trong số những bảo tàng được viếng thăm nhiều nhất thế giới và Đấu trường La Mã trở thành điểm thu hút khách du lịch phổ biến nhất thế giới với 7,4 triệu lượt khách trong năm 2018. Roma cũng là nơi tổ chức Thế vận hội Mùa hè 1960. Roma là trụ sở của các cơ quan chuyên môn thuộc Liên Hiệp Quốc như Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO), Chương trình Lương thực Thế giới (WFP) và Quỹ quốc tế về phát triển nông nghiệp (IFAD). Thành phố cũng là nơi đặt văn phòng Tổng thư ký Hội đồng Nghị viện Liên minh Địa Trung Hải (UfM) cũng như trụ sở của nhiều tập đoàn kinh doanh quốc tế như Eni, Enel, TIM, Leonardo S.p.A., và các ngân hàng nhà nước và quốc tế như Unicredit và BNL. Khu vực quận kinh tế và trung tâm thương mại của thành phố được gọi là EUR, là cơ sở của nhiều công ty quan trọng tham gia vào các ngành công nghiệp dầu mỏ, công nghiệp dược phẩm và dịch vụ tài chính. Roma cũng là một trung tâm thiết kế và thời trang quan trọng nhờ các thương hiệu quốc tế nổi tiếng có trụ sở tại thành phố, và đứng ở vị trí thứ 5 trong bảng xếp hạng các kinh đô thời trang của thế giới trong những năm gần đây. Phim trường Cinecittà của Roma, phim trường lớn nhất tại châu Âu, đã trở thành nơi bấm máy của rất nhiều bộ phim đoạt giải Oscar.

Thomas Paine

Thomas Paine (29 tháng 1 năm 1737 tại Thetford, Anh – 8 tháng 6 năm 1809 tại New York, New York) sinh ra tại Đế quốc Anh, sống ở Mỹ, nhập cư vào Mỹ trong thời gian nổ ra Cách mạng Hoa Kỳ. Ông là một nhà triết học, nhà cách mạng, người theo trường phái chủ nghĩa tự do cổ điển, một nhân vật nổi bật trong phong trào khai sáng, tác giả của Common Sense (Lẽ Thông Thường) (1776). Ông ủng hộ sự độc lập của các thuộc địa Mĩ khỏi Đế quốc Anh, hỗ trợ cho cách mạng.

Sau đó, Paine đã có ảnh hưởng lớn đến Cách mạng Pháp. Ông đã viết về Rights of Man (1791) là một sự dẫn hướng về ý tưởng của khai sáng. Mặc dù không có khả năng nói tiếng Pháp, ông vẫn được bầu vào French National Assembly năm 1792.

Paine bị bắt ở Paris và bị đưa vào tù từ tháng 12 năm 1793; ông được trả tự do từ năm 1794. Ông trở nên có tiếng với cuốn sách The Age of Reason (1793-94). Khi ở Pháp, ông cũng viết cuốn sách có tựa đề Agrarian Justice (1795), trong đó bàn luận về nguồn gốc của cải và đưa ra một khái niệm tương tự như guaranteed minimum income.

Thần thoại Hy Lạp

Thần thoại Hy Lạp là tập hợp những huyền thoại và truyền thuyết của người Hy Lạp cổ đại liên quan đến các vị thần, các anh hùng, bản chất của thế giới, và nguồn gốc cũng như ý nghĩa của các tín ngưỡng, nghi lễ tôn giáo của họ. Chúng là một phần của tôn giáo Hy Lạp cổ đại và nay là một phần của một tôn giáo hiện đại lưu hành ở Hy Lạp và trên thế giới gọi là Hellenismos. Các học giả hiện đại tham khảo và nghiên cứu các truyện thần thoại này để rọi sáng vào các thể chế tôn giáo, chính trị Hy Lạp cổ đại, nền văn minh của nó cũng như để tìm hiểu về bản thân sự hình thành huyền thoại.

Thần thoại Hy Lạp được thể hiện rõ ràng trong tập hợp đồ sộ những truyện kể, và trong các tác phẩm nghệ thuật tượng trưng Hy Lạp, chẳng hạn các tranh vẽ trên bình gốm và các đồ tế lễ. Thần thoại Hy Lạp cố gắng giải thích nguồn gốc của thế giới, và kể tỉ mỉ về cuộc đời và các cuộc phiêu lưu của một tập hợp đa dạng những vị thần, nữ thần, anh hùng và những sinh vật thần thoại. Những truyện kể này đầu tiên được truyền miệng bằng thơ ca; ngày nay các thần thoại Hy Lạp chủ yếu được biết thông qua văn học Hy Lạp.

Những tư liệu văn học Hy Lạp lâu đời nhất được biết, hai anh hùng ca Iliad và Odýsseia của Hómēros, tập trung vào các sự kiện liên quan tới Cuộc chiến thành Troia. Hai trường ca của người gần như cùng thời với Hómēros là Hēsíodos, Thần phả và Công việc và Ngày, chứa những ghi chép về nguồn gốc của thế giới, sự kế tục quyền lực của các vị thần, các thế hệ loài người, nguồn gốc các tai họa của con người cũng như gốc tích của các nghi lễ hiến tế. Những truyện thần thoại cũng được bảo tồn trong các bài ca cùng thời Hómēros (Homeric Hymns), các đoạn của "Tập Anh hùng ca" (Epikos Kyklos) liên quan tới chiến tranh Troia, các vở bi kịch ở thế kỉ V trước CN, các bài viết và thơ của các học giả thời Hy Lạp hóa và cả các tài liệu trong thời đại đế quốc La Mã bởi các nhà văn như Plutarchus và Pausanias.

Các phát hiện khảo cổ học là một nguồn cung cấp nữa về các chi tiết trong thần thoại Hy Lạp, với các thần và anh hùng được mô tả nổi bật trong trang trí của nhiều đồ tạo tác. Các họa tiết trên đồ gốm của thế kỷ VIII trước CN mô tả những cảnh trong cuộc chiến thành Troia cũng như các kỳ công của Herakles, nhiều trong số đó có niên đại sớm hơn các tư liệu văn học trong cùng chủ đề. Thần thoại Hy Lạp đã có một ảnh hưởng bao trùm trên văn hóa, văn học, nghệ thuật phương Tây và vẫn duy trì như một phần của di sản và ngôn ngữ phương Tây. Nhiều nhà thơ và nghệ sĩ từ các thời kỳ từ cổ đại tới hiện đại đã lấy cảm hứng từ thần thoại Hy Lạp và khám phá những ý nghĩa và tính thích đáng đương thời trong những chủ đề thần thoại này.

Tân cổ điển

Tân cổ điển là tên của một trào lưu nghệ thuật trang trí, nghệ thuật thị giác, văn học, âm nhạc và kiến trúc lấy cảm hứng từ văn hóa và nghệ thuật cổ điển phương Tây (thường là của Hy Lạp cổ đại và La Mã cổ đại). Trào lưu này thống trị bắc Âu từ giữa thế kỷ 18 tới cuối thế kỷ 19.

Tân cổ điển trong văn hóa, nghệ thuật và kiến trúc, phát triển như một lời đáp trả đối với Rococo, một trào lưu được cho là quá lố và nông cạn. Về mặt kiến trúc, trào lưu Tân cổ điển có những nét tương đồng với kiến trúc cổ điển và kiến trúc Phục hưng, bao gồm tính trật tự và giản đơn, về mặt nghệ thuật, trào lưu này được khuôn mẫu theo những tác phẩm của thế giới cổ điển, thường bao gồm các đề tài chính trị về chiến tranh và lòng dũng cảm.

Kiến trúc Tân cổ điển

Hội họa Tân cổ điển

Voltaire

François-Marie Arouet (tiếng Pháp: [fʁɑ̃.swa ma.ʁi aʁ.wɛ]; 21 tháng 11 năm 1694 – 30 tháng 5 năm 1778), được biết đến nhiều hơn dưới bút danh Voltaire (; tiếng Pháp: [vɔl.tɛːʁ]; phiên âm tiếng Việt: Vôn-te), là một nhà văn, sử gia và triết gia Pháp thời Khai sáng. Ông nổi bật về sự trào phúng và cứng rắn đả kích Giáo hội Công giáo và Ki-tô giáo nói chung, cũng như việc cổ súy tự do tôn giáo, tự do ngôn luận và việc tách giáo hội ra khỏi nhà nước.

Voltaire là một cây viết phong phú, với nhiều sáng tác thuộc hầu hết mọi thể loại văn học từ kịch, thơ, tiểu thuyết, luận văn tới các công trình sử học và khoa học. Ông đã viết hơn 2000 đầu sách lớn nhỏ cùng 20.000 bức thư. Ông công khai ủng hộ các quyền tự do dân sự mặc dù chế độ kiểm duyệt thời đó rất gay gắt. Là một tay bút chiến hóm hỉnh, ông thường sử dụng các tác phẩm của mình để đả kích sự hà khắc và giáo điều của nhà nước và giáo hội Pháp thời ông sống.

Các nhân vật trong Thời kỳ Khai Sáng, xếp theo khu vực
Áo
Đan Mạch – Na Uy
Anh
Pháp
Gruzia
Đức
Hy Lạp
Hungary
Ireland
Ý
Hà Lan
Ba Lan
Bồ Đào Nha
Romania
Nga
Scotland
Serbia
Tây Ban Nha
Thụy Điển
Hoa Kỳ
Venezuela
Các tư tưởng liên quan
Tiền sử
Cổ đại cổ điển
Trung Cổ
Cận đại
Hiện đại
Xem thêm
Các nhân vật trong Thời kỳ Khai Sáng, xếp theo khu vực

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.