Thời đại đồ đồng đá


Thời đại đồ đồng đá hay thời đại đồng đá, thời kỳ đồ đồng đá, thời kỳ đồng đá, nguyên gốc từ cụm từ trong tiếng Hy Lạp χαλκόςλίθος (khalkoslithos nghĩa là đồng đá), tại một số nước châu Âu được gọi là Copper Age (Anh)/Edad del Cobre (Tây Ban Nha)/Aevum cupri (La tinh)/Kupfersteinzeit (Đức)/Медный век (Nga) v.v đều có nghĩa là thời kỳ /đại đồ đồng [kim loại]. Tuy nhiên cụm từ thời đại đồ đồng trong tiếng Việt lại được dùng để chỉ giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn này. Trong các văn bản khoa học còn có thể gọi là Eneolithic (Æneolithic). Nó là một giai đoạn trong sự phát triển các nền văn hóa của con người, trong đó việc sử dụng các công cụ bằng kim loại đã xuất hiện, cùng với việc sử dụng các công cụ bằng đá.

Thời kỳ này là giai đoạn chuyển tiếp bên ngoài hệ thống ba thời đại kinh điển, và nó diễn ra giữa thời đại đồ đá mớithời đại đồ đồng. Nó biểu hiện ở chỗ đồng chưa được khai thác nhiều và các cố gắng đầu tiên trong việc tạo hợp kim của đồng với thiếc và các kim loại khác đã diễn ra khá sớm, làm cho việc phân biệt các nền văn hóa và/hoặc thời kỳ đồng đá khác biệt là rất khó.

Sự xuất hiện của nghề luyện kim đã diễn ra đầu tiên ở Vùng lưỡi liềm màu mỡ (bao gồm Levant, Lưỡng Hà cổ đại, Ai Cập cổ đại), nơi các nền văn hóa đã chuyển vào thời đại đồ đồng từ thiên niên kỷ 4 TCN. Sự phát minh độc lập và hạn chế của luyện kim tại Trung Mỹ tiền-Columbus hình thành trong thế kỷ 7 không được coi là gắn liền với giai đoạn "đồng đá".

Thời đại đồng đá ở Trung Đông và Kavkaz bắt đầu vào cuối thiên niên kỷ 5 TCN và kéo dài khoảng một thiên niên kỷ trước khi chuyển qua giai đoạn đồ đồng sớm. Sự chuyển tiếp của thời đại đồng đá sang thời đại đồ đồng ở châu Âu diễn ra khoảng 1 thiên niên kỷ muộn hơn, vào khoảng cuối thiên niên kỷ 4-3 TCN.

Theo Parpola[1], các nét tương đồng đồ gốm của văn minh sông Ấn, miền nam Turkmenistan và miền bắc Iran trong giai đoạn 4300–3300 TCN của thời đại đồng đá cho thấy tính lưu động và thương mại đáng kể.

Thời tiền sử
Thế Holocen (Toàn Tân) Thời đại đồ sắt Sơ sử
  Thời đại đồ đồng muộn  
  Thời đại đồ đồng giữa
  Thời đại đồ đồng sớm
Thời đại đồ đồng
    Thời đại đồ đồng đá    
  Thời đại đồ đá mới Tiền sử
Thời đại đồ đá giữa
Thế Pleistocen (Canh Tân)     Thời đại đồ đá cũ muộn  
    Thời đại đồ đá cũ giữa
    Thời đại đồ đá cũ sớm
  Thời đại đồ đá cũ
Thời đại đồ đá

châu Âu

Kiến thức về việc sử dụng đồng phổ biến hơn nhiều so với chính kim loại này. Nền văn hóa Rìu chiến châu Âu sử dụng các rìu đá được tạo mẫu trên các rìu đồng, với sự mô phỏng các "dấu đúc" được khắc trên đá.

Nền văn hóa Cốc vại ở châu Âu thông thường được coi là thuộc thời đại đồng đá giống như các nền văn hóa khác lần đầu tiên đã chấp nhận quá trình đô thị hóa tại tây nam châu Á. Nhiều cự thạch tại châu Âu được dựng lên trong thời kỳ này và người ta cũng cho rằng sự đồng nhất ngôn ngữ Tiền Ấn-Âu có niên đại vào khoảng cùng thời gian này. Các ví dụ về văn hóa đồng đá tại châu Âu bao gồm Los Millares trên bán đảo Iberia tại Tây Ban Nha ngày nay[2]

Người băng Ötzi, được tìm thấy tại Ötztaler Alps và các dấu tích còn lại của người cổ này có niên đại tới khoảng năm 3300 TCN, mang theo một chiếc rìu đồng và một con dao bằng đá lửa. Hàm lượng đồng cao tìm thấy trong tóc của người này đã dẫn tới sự ức đoán cho rằng ông ta là một người thợ làm việc với kim loại, có thể đã bị chết trong khi đi thăm dò để tìm quặng trong vùng núi này.

TimnaChalcolithicMine
Mỏ đồng thời đại đồng đá tại thung lũng Timna, sa mạc Negev, Israel.

Nam Á

Các cư dân Nam Á ở Mehrgarh đã tạo hình các công cụ bằng quặng đồng tại khu vực trong giai đoạn từ khoảng 7000 tới 3300 TCN[3]

Đông Á

Các cổ vật bằng đồng có niên đại khoảng thiên niên kỷ 5 TCN bắt đầu xuất hiện tại Đông Á, chẳng hạn như trong giai đoạn Khương Trại (姜寨) của văn hóa Ngưỡng Thiềuvăn hóa Hồng Sơn, nhưng các đồ tạo tác kim loại này đã không được sử dụng rộng rãi.

Trung Mỹ

Ít phổ biến hơn, thuật ngữ này cũng được áp dụng cho các nền văn minh châu Mỹ đã biết sử dụng đồng và các hợp kim đồng vào thời gian người châu Âu đặt chân tới đây. Tổ hợp đồng cổ, nằm tại khu vực ngày nay là MichiganWisconsinHoa Kỳ sử dụng đồng làm các công cụ, vũ khí và các đồ dùng khác. Các cổ vật từ các di chỉ này có niên đại từ 4000 tới 1000 TCN, làm cho chúng trở thành một trong những di chỉ đồng đá cổ nhất trên thế giới.[4]

Ghi chú

  1. ^ Parpola, Asko (2005), “Study of the Indus script”, Transactions of the 50th International Conference of Eastern Studies (PDF), Tokyo: The Tôhô Gakkai, tr. 28–66.
  2. ^ C. Michael Hogan (2007) Los Silillos, The Megalithic Portal, chủ biên A. Burnham
  3. ^ Possehl Gregory L. (1996). Mehrgarh trong Oxford Companion to Archaeology, Brian Fagan chủ biên. Nhà in Đại học Oxford.
  4. ^ T.C. Pleger (2000) The Old Copper Complex of the Western Great Lakes

Tham khảo

  • Bogucki, Peter (2007), “Copper Age of Eastern Europe”, The Atlas of World Archaeology, London: Sandcastle Books, tr. pp. 66.

Xem thêm

  • Hệ thống ba thời đại

Liên kết ngoài

Byblos

Byblos, trong tiếng Ả Rập Jubayl (tiếng Ả Rập: جبيل‎ Ả rập Liban phát âm: [ʒbejl]) là một thành phố bên bờ Địa Trung Hải nằm ở tỉnh Núi Liban, Liban. Nó được cho là đã bị chiếm đóng lần đầu tiên vào khoảng giữa năm 8800 và 7000 trước Công nguyên (TCN), và theo thần thoại Sanchuniathon của người Phoenician thì thành phố được xây dựng bởi Cronus như là thành phố đầu tiên của Phoenicia. Byblos là một trong những thành phố có người ở lâu đời nhất thế giới khi nó trở thành một khu định cư kể từ năm 5.000 TCN. Năm 1984, thành phố đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới.

Cái nôi nền văn minh

Một cái nôi nền văn minh (tiếng Anh: cradle of civilization) là địa điểm nơi một nền văn minh nổi lên. Quan niệm hiện tại là không có "cái nôi" duy nhất mà có nhiều nền văn minh phát triển độc lập, trong đó nền văn minh ở vùng Lưỡi liềm Màu mỡ (Ai Cập cổ đại, Lưỡng Hà), Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại là sớm nhất. Vẫn chưa có đồng thuận về mức độ ảnh hưởng lẫn nhau giữa nền văn minh ở Cận Đông và Đông Á. Các học giả chấp nhận rằng nền văn minh Trung Bộ châu Mỹ (chủ yếu tại México ngày nay) và Norte Chico (ở vùng duyên hải trung bắc Peru ngày nay) hình thành độc lập với các nền văn minh lục địa Á-Âu.Có nhiều tiêu chuẩn để xác định nền văn minh, như hiện diện của chữ viết, đô thị, xã hội dựa trên tầng lớp, nông nghiệp, sự chăn nuôi gia súc, kiến trúc, trình độ luyện kim. Thuật ngữ cái nôi nền văn minh đã và vẫn được gán cho một loạt địa danh khác nhau, gồm Cận Đông cổ đại thời đại đồ đồng đá (thời kỳ Ubaid) cùng vùng Lưỡi liềm Màu mỡ, Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại; ngoài ra còn Tiểu Á cổ đại, Levant và sơn nguyên Iran, cũng như những nền văn minh tiền thân—như Hy Lạp cổ đại dưới vai trò tiền thân nền văn minh phương Tây—dẫu cho nền văn minh đó không hình thành độc lập.

Công viên khảo cổ Champaner-Pavagadh

Công viên khảo cổ Champaner-Pavagadh là một Di sản thế giới của UNESCO nằm ở huyện Panchmahal, bang Gujarat, Ấn Độ. Nó nằm quanh thành phố lịch sử Champaner, nơi từng là thủ đô của Vương quốc Hồi giáo Gujarat. Nó được xây dựng bởi Sultan Mahmud Begada của Gujarat. Di sản này bao quanh bởi các pháo đài bắt đầu từ những ngọn đồi ở Pavagadh, và kéo dài đến thành phố khảo cổ Champaner. Cảnh quan của công viên bao gồm di tích khảo cổ, di tích lịch sử và tượng đài như địa điểm khảo cổ Thời đại đồ đồng đá, một đồi pháo đài được coi như thủ đô tinh thần của người Hindu và di tích về thủ đô thế kỷ 16 của Gujarat. Quần thể khảo cổ gồm có cung điện, cổng và cổng vòm, nhà thờ Hồi giáo, lăng mộ và đền thờ, khu dân cư, cấu trúc nông nghiệp và hệ thống nước như giếng bậc thang và bể thủy lợi, có niên đại từ thế kỷ thứ 8 đến 14. Đền thờ Kalika Mata tọa lạc trên đỉnh đồi Pavagadh ở độ cao 800 mét (2.600 ft) là một đền thờ Hindu quan trọng trong khu vực, thu hút số lượng lớn khách hành hương trong suốt cả năm.Sự chuyển đổi văn hóa và kiến trúc giữa Hồi giáo và Ấn Độ giáo vào cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16 được ghi nhận trong công viên, đặc biệt là thành phố Hồi giáo và tiền Mogul đầu tiên vẫn nguyên vẹn và gần như không có bất kỳ sự thay đổi đáng kể nào. Công viên khảo cổ được UNESCO công nhận là Di sản thế giới từ năm 2004.

Elam

Elam (tiếng Ba Tư: تمدن ایلام) là một trong những nền văn minh được ghi chép cổ nhất của thế giới. Lãnh thổ Elam tập trung ở viễn tây và tây nam của tỉnh Ilam ngày nay và vùng đất trũng Khuzestan). Xứ Elam tồn tại kéo dài từ khoảng năm 2700 TCN đến 539 TCN. Trước khi có xứ Elam đã có các giai đoạn Proto-Elamite bắt đầu vào khoảng 3200 TCN khi Susa (sau này kinh đô của Elam) bắt đầu chịu ảnh hưởng của các nền văn hóa của cao nguyên Iran về phía đông..Xứ Elam cổ nằm về phía đông của Sumer và Akkad (Iraq ngày nay). Trong thời kỳ Elam Cổ, nó bao gồm các vương quốc của cao nguyên Iran, tập trung ở Anshan, và từ giữa thiên niên kỷ thứ 2 TCN, nó tập trung ở Susa ở các vùng trũng Khuzestan.. Nền văn hóa của nó đóng một vai trò chủ yếu trong đế quốc Ba Tư, đặc biệt trong thời thời kỳ trị vì của nhà Achaemenes kế tục nó, khi tiếng Elam vẫn được sử dụng làm tiếng chính thức của đế quốc.

Thời kỳ Elam được xem như là thời điểm bắt đầu của lịch sử Iran (dù có các nền văn minh khác ở cao nguyên Iran, như Vương quốc Mannaeans ở Azarbaijan thuộc Iran và Shahr-i Sokhta (Burned City) ở Zabol, và nền văn minh Jiroft mới được phát hiện ở phía đông. Tiếng Elam không có liên hệ với bất kể ngôn ngữ nào của tiếng Iran, nhưng có thể là một phần của nhóm lớn hơn được biết đến dưới tên Elamo-Dravidian.

Elam đã cấp tên gọi cho một trong những tỉnh của nước Iran ngày nay (thường viết là Ilam).

Lịch sử Việt Nam

Lịch sử Việt Nam nếu tính từ lúc có mặt con người sinh sống thì đã có hàng vạn năm trước Công nguyên, còn tính từ khi cơ cấu nhà nước được hình thành thì mới khoảng từ năm 2879 TCN.

Các nhà khảo cổ đã tìm thấy các di tích chứng minh loài người đã từng sống tại Việt Nam từ thời đại đồ đá cũ thuộc nền văn hóa Tràng An, Ngườm, Sơn Vi và Soi Nhụ. Vào thời kỳ đồ đá mới, nền văn hóa Hòa Bình – Bắc Sơn tại vùng này đã phát triển về chăn nuôi và nông nghiệp, đặc biệt là kỹ thuật trồng lúa nước. Những người Việt tiền sử trên vùng châu thổ sông Hồng – Văn minh sông Hồng và sông Mã này đã khai hóa đất để trồng trọt, tạo ra một hệ thống đê điều để chế ngự nước lụt của các sông, đào kênh để phục vụ cho việc trồng lúa và đã tạo nên nền văn minh lúa nước và văn hóa làng xã.

Đến thời kỳ đồ sắt, vào khoảng thế kỷ 7 TCN đã xuất hiện nhà nước đầu tiên của người Việt trên miền Bắc Việt Nam ngày nay, theo sử sách, đó là Nhà nước Văn Lang của các vua Hùng. Thời kỳ Vua Hùng được nhiều người ghi nhận là quốc gia có tổ chức đầu tiên của người Việt Nam, bắt đầu với truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên mà người Việt Nam tự hào truyền miệng từ đời này qua đời khác.

Niên biểu lịch sử Việt Nam

Niên biểu lịch sử Việt Nam là hệ thống các sự kiện lịch sử Việt Nam nổi bật theo thời gian từ các thời tiền sử, huyền sử, cổ đại, trung đại, cận đại cho tới lịch sử hiện đại ngày nay.

Thời tiền sử

Thời đại tiền sử là thuật ngữ thường được dùng để mô tả thời đại trước khi lịch sử được viết. Paul Tournal lúc đầu tạo ra thuật ngữ trước-lịch sử (Pré-historique) để mô tả những vật ông tìm thấy trong các hang động của miền Nam nước Pháp. Nó đã được sử dụng trong ngôn ngữ tiếng Pháp vào những năm 1830 để miêu tả thời gian trước khi có chữ viết, và nó được đưa vào trong ngôn ngữ tiếng Anh bởi Daniel Wilson vào năm 1851.

Thời đại tiền sử có thể được hiểu là thời đại được bắt đầu của vạn vật, vũ trụ, tuy nhiên thuật ngữ này hầu hết được sử dụng để mô tả các thời kỳ có sự sống trên trái đất; những con khủng long có thể được mô tả là các động vật thời kỳ tiền sử và người thượng cổ (ở trong hang) được mô tả là người tiền sử.

Bởi vì không có chữ viết từ thời tiền sử, nên những thông tin mà chúng ta biết về thời kỳ này là được biết ở ngoài thực địa của các khoa học như cổ sinh học, sinh học, linh trưởng học, địa chất học, khảo cổ học, thiên văn học và các khoa học tự nhiên cũng như các khoa học xã hội khác.

Thời đại đồ đá cũ

Thời đại đồ đá cũ là giai đoạn đầu của thời đại đồ đá trong thời tiền sử, được phân biệt bằng sự phát triển của các công cụ đá. Về cơ bản, nó chiếm gần như toàn bộ lịch sử loài người trên Trái Đất, kéo dài từ khoảng 2,5 triệu năm trước, với sự xuất hiện của các công cụ bằng đá do các dạng người nguyên thủy như người khéo tay (Homo habilis) đưa ra, cho đến khi có sự xuất hiện của nông nghiệp vào khoảng 10.000 TCN. Thuật ngữ "Paleolithic", nghĩa văn chương là "Thời đại cổ của đá", đã được nhà khảo cổ học John Lubbock tạo ra vào năm 1865 và có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp "παλαιός", "paleos" (cổ, cũ) và "λίθος", "lithos", (đá).

Thời đại đồ đá cũ nói chung kết thúc khi thời đại đồ đá giữa (Mesolithic) bắt đầu, hoặc ở các khu vực với quá trình đồ đá mới hóa là sự bắt đầu của thời đại đồ đá cũ trên (Epipaleolithic).

Thời đại đồ đá cũ được đặc trưng bằng việc sử dụng các công cụ bằng đá được ghè đẽo, mặc dù người nguyên thủy vào thời gian đó cũng sử dụng các công cụ bằng gỗ và xương. Các sản phẩm nguồn gốc hữu cơ cũng được sử dụng làm công cụ, bao gồm da và các sợi thực vật; tuy nhiên các loại công cụ này đã không được bảo quản ở mức độ đáng kể. Theo truyền thống, thời đại đồ đá cũ được chia ra thành ba thời kỳ, là thời đại đồ đá cũ sớm, thời đại đồ đá cũ giữa và thời đại đồ đá cũ muộn. Các thời kỳ này đánh dấu các tiến bộ trong công nghệ và văn hóa ở các xã hội loài người nguyên thủy khác biệt.

Thời đại đồ đá giữa

Thời đại đồ đá giữa (tiếng Anh là Mesolithic có gốc từ tiếng Hy Lạp: mesos "giữa", lithos "đá") là một giai đoạn của thời đại đồ đá, một khái niệm khảo cổ được sử dụng để chỉ các nhóm nền văn hóa khảo cổ đặc trưng trong giai đoạn giữa thời đại đồ đá cũ và thời đại đồ đá mới.

Thuật ngữ này được sử dụng để chỉ nhiều khung thời gian khác nhau ở nhiều nơi thuộc Á-Âu. Đầu tiên nó được dùng để chỉ giai đoạn sau Holocene nhưng trước các dụng cụ thời kỳ nông nghiệp ở Tây Bắc châu Âu trong khoảng thời gian 12 đến 7 Ka BP (Kilo annum before present, ngàn năm trước).

Tuy nhiên nó cũng chỉ các dụng cụ từ Levant từ khoảng 22 đến 11,5 Ka BP. Ở Nhật Bản, thời kỳ Jōmon từ khoảng 16 đến 2,4 Ka BP đôi khi cũng được gọi là thời kỳ đồ đá giữa. Nó cũng dùng để chỉ một số nền văn hóa ở tiểu lục địa Ấn Độ từ 100 đến 32 Ka BP.

Thời đại đồ đá mới

Thời đại đồ đá mới là một giai đoạn của thời đại đồ đá trong lịch sử phát triển công nghệ của loài người, bắt đầu từ khoảng năm 10.200 TCN theo bảng niên đại ASPRO ở một vài nơi thuộc Trung Đông, và sau đó ở các nơi khác trên thế giới và kết thúc giữa 4500 và 2000 BC. Theo cách hiểu thông thường, đây là giai đoạn cuối của thời kỳ đồ đá. Thời kỳ đồ đá mới là giai đoạn tiếp theo của Epipaleolithic trong Holocene, bắt đầu bằng sự rộ lên của việc nuôi trồng, và tạo ra cuộc "cách mạng thời kỳ đồ đá mới", và thời kỳ này kết thúc khi các công cụ kim loại trở nên phổ biến trong thời đại đồ đồng đá, hoặc thời đại đồ đồng hoặc phát triển trực tiếp lên thời kỳ đồ sắt, tùy theo các vùng địa lý. Thời kỳ đồ đá mới là một bước tiến triển về các thay đổi và đặc điểm của văn hóa và ứng xử, như việc sử dụng các loại cây trồng hoang dại và thuần hóa và sử dụng các loài động vật được thuần hóa.Sự khởi đầu của nền văn hoá thời kỳ đồ đá mới được xem là ở Levant (Jericho, Bờ Tây ngày nay) khoảng 10.200 – 8.800 BC. Nó phát triển trực tiếp từ nền văn hoá Natufian Epipaleolithic trong khu vực, những người đã đi tiên phong trong việc sử dụng các loại ngũ cốc hoang dã, sau đó phát triển thành nông nghiệp thực sự. Thời kỳ Natufian kéo dài từ 12.500 đến 9.500 BC, và được gọi là "thời kỳ Tiền- Đồ Đá Mới" và bây giờ được gọi là Thời kỳ Đá Mới Tiền Gốm (PPNA) từ 10.200 đến 8800 BC. Khi những người Natufians trở nên phụ thuộc vào các loại ngũ cốc hoang dã trong chế độ ăn uống của họ, và một lối sống định cư đã bắt đầu trong một số họ, những thay đổi khí hậu liên quan đến thời kỳ Dryas Trẻ được cho là buộc người ta phải phát triển nông nghiệp.

Vào năm 10.200 - 8.800 BC, các cộng đồng nông nghiệp đã phát triển ở vùng Levant và lan rộng đến Tiểu Á, Bắc Phi và Bắc Lưỡng Hà. Lưỡng Hà là địa điểm phát triển sớm nhất của Cuộc Cách mạng Đá Mới từ khoảng năm 10.000 BC.

Nông nghiệp Đá Mới sớm được giới hạn trong phạm vi hẹp của thực vật, cả hoang dã và thuần hoá, bao gồm lúa mì einkorn, kê và “spelt”, và nuôi chó, cừu và dê. Vào khoảng năm 6900-6400 BC, nó bao gồm lợn và gia súc thuần hoá, hình thành khu định cư có người ở thường xuyên hoặc theo mùa, và sử dụng gốm.

Không phải tất cả những yếu tố văn hoá đặc trưng của thời Đồ đá Mới xuất hiện ở mọi nơi theo cùng một trật tự: những xã hội nông nghiệp sớm nhất ở vùng Cận Đông không sử dụng gốm. Tại các khu vực khác trên thế giới, như Châu Phi, Nam Á và Đông Nam Á, các sự kiện thuần hóa độc lập đã dẫn tới những nền văn hoá thời kỳ đồ đá mới đặc biệt trong khu vực phát sinh hoàn toàn độc lập với các nền văn hoá ở Châu Âu và Tây Nam Á. Các xã hội Nhật Bản đầu tiên và các nền văn hoá Đông Á khác đã sử dụng đồ gốm trước khi phát triển nông nghiệp.

Thuật ngữ Neilithic bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp có nghĩa đen là "New Stone Age". Thuật ngữ được Sir John Lubbock sáng tạo vào năm 1865 là sự phân chia của hệ thống ba thời kỳ.

Chia giai đoạn theo đồ gốm

Một dãy đồ tạo tác thời đại Đồ Đá Mới, bao gồm vòng tay, đầu rìu, đục và dụng cụ đánh bóng. Các đồ tạo tác bằng đá thời kỳ đồ đá được đánh bóng rõ ràng và, ngoại trừ các mặt hàng chuyên dụng, không bị sứt mẻ.

Ở Trung Đông, các nền văn hoá được xác định là thời kỳ Đồ Đá Mới bắt đầu xuất hiện vào thiên niên kỷ 10 BC. Sự phát triển gần đây xảy ra ở Levant (ví dụ, Thời kỳ Đá Mới Tiền Gốm A và Thời kỳ Đá Mới Tiền Gốm B) và từ đó lan sang phía đông và phía tây. Các nền văn hoá thời kỳ Đồ Đá Mới được chứng minh ở đông nam Anatolia và bắc Lưỡng Hà vào khoảng năm 8000 BC.

Khu đô thị tiền sử Beifudi gần Yixian thuộc tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc, chứa đựng các di tích văn hoá đồng thời với văn hóa Cishan và Xinglongwa trong khoảng 6000- 5000 BC, những nền văn hoá Đá Mới ở phía đông của dãy núi Taihang, làm đầy khoảng cách khảo cổ học giữa hai nền văn hóa ở phía Bắc Trung Quốc. Tổng diện tích khai quật là hơn 1.200 yard vuông (1.000 m2, 0.10 ha), và việc thu thập các kết quả thời kỳ Đá Mới tại khu vực này bao gồm hai giai đoạn.

Thời kỳ Đồ Đá Mới 1 - Đồ Đá Mới Tiền Gốm A (PPNA)

Bài chính: Đồ Đá Mới Tiền Gốm A

Thời kỳ Đồ Đá Mới 1 (PPNA) bắt đầu vào khoảng 10.000 BC tại Levant. Một khu vực đền thờ ở phía đông nam Thổ Nhĩ Kỳ ở Göbekli Tepe vào khoảng năm 9500 BC có thể được coi là sự khởi đầu của thời kỳ này. Vị trí này được phát triển bởi các bộ lạc thợ săn- hái lượm du cư, biểu lộ là thiếu nhà định cư trong vùng lân cận và có thể là nơi thờ phụng nhân tạo lâu đời nhất được biết đến. Ít nhất bảy vòng đá, bao phủ 25 mẫu Anh (10 ha), có những cột đá vôi khắc động vật, côn trùng, và chim. Các công cụ đá đã được sử dụng rất nhiều bởi vì có lẽ hàng trăm người đã tạo ra những trụ cột, có thể đã hỗ trợ mái nhà. Các khu vực PPNA sớm khác có niên đại khoảng 9.500-9.000 BC đã được tìm thấy ở Jericho, West Bank (đặc biệt là Ain Mallaha, Nahal Oren và Kfar HaHoresh), Gilgal ở Thung lũng Jordan và Byblos, Li băng. Sự khởi đầu của thời Đồ Đá Mới 1 trùng lặp các giai đoạn Heavy neolithic và Tahunian với một mức độ nhất định.

Tiến bộ lớn của thời Đồ Đá Mới 1 là canh tác thực sự. Trong các nền văn hoá Natufian ở thời kỳ tiền đồ đá mới, các loại ngũ cốc hoang dã đã được thu hoạch, và có thể chọn hạt giống sớm và tái trồng xảy ra. Hạt đã được nghiền thành bột. Lúa mì Emmer đã được thuần hoá, và động vật được chăn thả và thuần hoá (động vật được làm giống và chọn giống) [cần dẫn nguồn]

Vào năm 2006, những gì còn lại của quả sung đã được phát hiện trong một ngôi nhà ở Jericho từ năm 9400 TCN. Cây sung này là của một loại đột biến mà không thể thụ phấn bởi côn trùng, và do đó cây chỉ có thể tái sản xuất từ cây hom. Bằng chứng này cho thấy sung là cây trồng đầu tiên và đánh dấu phát minh về công nghệ nuôi trồng. Điều này xảy ra hàng thế kỷ trước khi trồng ngũ cốc đầu tiên. [7]

Sự định cư trở nên thường xuyên hơn với các căn nhà tròn, giống như những căn nhà của người Natufian, với các phòng đơn. Tuy nhiên, những căn nhà này lần đầu tiên được làm bằng bùn. Khu định cư có một bức tường đá xung quanh và có lẽ có một tháp đá (như ở Jericho). Tường được sử dụng làm bảo vệ, như là bảo vệ khỏi lũ lụt, hoặc để giữ động vật. Một số thùng đựng cũng cho thấy để lưu trữ ngũ cốc và thịt.

Văn hóa Afanasievo

Văn hóa Afanasievo hoặc văn hóa Afanasevo (tiếng Nga: Афанасьевская культура, chuyển tự Afanas'yevskaya kul'tura; "[các] Afanasevan văn hóa"), là được biết đến sớm nhất nền văn hóa khảo cổ của nam Siberia, chiếm Basin minusinsk và dãy núi Altai trong eneolithic thời đại, 3300 đến 2500 trước công nguyên.

Nó được đặt tên theo một ngọn núi gần đó, Gora Afanas'yeva (còn được gọi là Bateni).

David W.Anthony tin rằng người Afanaseva là hậu duệ của những người di cư 3700–3300 TCN trên thảo nguyên Ấ-Âu từ văn hóa Repin của vùng Don - Volga (và có thể là thành viên của văn hóa Yamna lân cận).Vì vị trí địa lý và hẹn hò của nó, Anthony và các học giả trước đó như Leo Klejn, JP Mallory và Victor H.Mair đã liên kết Afanaseva với ngôn ngữ Proto-Tocharia.

Văn hóa Bắc Sơn

Văn hóa Bắc Sơn là tên gọi một nền văn hóa Việt Nam ở sơ kỳ thời đại đồ đá mới có niên đại sau nền văn hóa Hòa Bình, cách ngày nay từ một vạn đến tám ngàn năm. Bắc Sơn là đặt theo tên huyện Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn), nơi đầu tiên phát hiện những di vật của nền văn hóa này. Các bộ lạc chủ nhân của văn hóa Hòa Bình đã tạo ra nền văn hóa Bắc Sơn.

Văn hóa Hạ Long

Văn hóa Hạ Long là một nền văn hóa cổ. Cho đến nay, đã có khoảng gần 50 di tích “Văn hoá Hạ Long” được phát hiện trên các đảo của Vịnh Hạ Long cũng như dọc bờ biển từ Móng Cái đến Vân Đồn, với đặc trưng chung về loại hình - kỹ thuật chế tác công cụ đá và đồ gốm có niên đại từ 5.000-3.000 năm cách ngày nay.

Văn hóa Soi Nhụ

Văn hóa Soi Nhụ gọi theo tên địa điểm khảo cổ học Soi Nhụ thuộc vịnh Bái Tử Long, là nền văn hóa của người tiền sử được các nhà khảo cổ học Việt Nam phát hiện năm 1964 và khai quật năm 1967. Khái niệm và đặc điểm của nền văn hóa này đầu tiên được Ts. Hà Hữu Nga, Viện Khảo cổ học đề xuất trong Hội nghị thông báo "Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1996" (Nhà Xuất bản KHXH, Hà Nội năm 1997).

Văn hóa Sredny Stog

Văn hóa Sredny Stog, được đặt tên theo tên gọi của cánh rừng/đảo nhỏ Serednyi Stih ở phía đông bắc đảo Khortytsia (gần thành phố Zaporizhia, tỉnh Zaporizhia, Ukraina), nơi nó lần đầu tiên được xác định vào năm 1927, trong đó Средний Стог (Sredny Stog) là tên gọi thông thường trong tiếng Nga) có niên đại từ khoảng 4500-3500 TCN. Nó nằm ở ngay phía bắc biển Azov trên sông Dnepr. Một trong những di chỉ tốt nhất gắn liền với văn hóa này là Dereivka, cách Serednyi Stih khoảng 150 km về phía tây bắc.

Nó dường như là có mối liên hệ tiếp xúc với văn hóa Cucuteni-Trypillia dựa vào nông nghiệp ở phía tây, và là đương thời với văn hóa Khvalynsk. Có gợi ý (của Yuri Rassamakin) cho rằng nó nên được coi là thuật ngữ mang tính chất vùng miền, với ít nhất là 4 yếu tố văn hóa khác biệt. Chuyên gia hàng đầu về nền văn hóa này (Dmytro Telegin) đã phân chia văn hóa Sredny Stog thành hai thời kỳ khác biệt. Nó được kế tiếp bằng văn hóa Yamna.

Việc chôn cất người chết là trong các hố ngang bằng mặt đất chứ không phải tạo thành các gò mộ kiểu các nấm mồ dạng kurgan. Người chết được đặt nằm ngửa với hai chân gập lại. Đất son đã được sử dụng. Thời kỳ II được biết đến với đồ vật bằng gốm có sọc nối mà nó có thể là khởi đầu, và các rìu chiến bằng đá của kiểu sau này gắn liền với sự mở rộng về phía tây của các nền văn hóa Ấn-Âu. Đáng chú ý nhất, nó có lẽ có chứng cứ sớm nhất về việc thuần hóa ngựa (trong thời kỳ II, khoảng 4000-3500 TCN) với các di vật tìm thấy gợi ý về các mảnh xương má.

Trong văn cảnh của giả thuyết Kurgan của Marija Gimbutas đã sửa đổi, nền văn hóa khảo cổ tiền-kurgan này có thể đại diện cho Urheimat (quê hương) của tiếng Tiền Ấn-Âu. Thuyết liên tục đồ đá cũ (Paleolithic Continuity Theory/PCT), gắn văn hóa Yamna và văn hóa Sredny Stog với các dân tộc Turk.

Văn hóa Đồng Đậu

Văn hoá Đồng Đậu là nền văn hóa thuộc thời kỳ đồ đồng ở Việt Nam cách ngày nay khoảng 3.000 năm, sau văn hóa Phùng Nguyên, trước văn hóa Gò Mun. Tên của nền văn hóa này đặt theo tên khu di tích Đồng Đậu ở thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, nơi các nhà khảo cổ học đã khám phá ra một nền văn hóa đồ đồng phong phú năm 1962.

Người Đồng Đậu sống ngoài trời trên các đồi gò trung du Bắc Bộ với một nền kinh tế khá ổn định và phát triển dựa trên nông nghiệp trồng lúa và các cây hoa màu. Các dấu tích luyện kim như xỉ đồng, các mảnh khuôn đúc (bằng đá) cho thấy nghề đúc đồng đã có và phát triển thời kỳ này.

Đồng

Đồng là nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn nguyên tố có ký hiệu Cu và số nguyên tử bằng 29. Đồng là kim loại dẻo có độ dẫn điện và dẫn nhiệt cao. Đồng nguyên chất mềm và dễ uốn; bề mặt đồng tươi có màu cam đỏ. Nó được sử dụng làm chất dẫn nhiệt và điện, vật liệu xây dựng, và thành phần của các hợp kim của nhiều kim loại khác nhau.

Đồng là một trong số ít các kim loại xuất hiện trong tự nhiên ở dạng kim loại có thể sử dụng trực tiếp thay vì khai thác từ quặng. Do đó nó có được con người sử dụng từ rất sớm khoảng 8000 TCN. Nó là kim loại đầu tiên được nung chảy từ quặng của nó vào khoảng 5000 TCN, kim loại đầu tiên được đúc thành khối vào khoảng 4000 TCN và kim loại đầu tiên được tạo thành hợp kim với các loại khác, là thiếc để tạo ra đồng đỏ vào khoảng 3500 TCN.Kim loại và các hợp kim của nó đã được sử dụng cách đây hàng ngàn năm. Trong thời kỳ La Mã, đồng chủ yếu được khai thác ở Síp, vì thế tên gọi ban đầu của kim loại này là сyprium (kim loại Síp), sau đó được gọi tắt là сuprum. Các hợp chất của nó thường tồn tại ở dạng muối đồng(II), chúng thường có màu xanh lam hoặc xanh lục của các loại khoáng như ngọc lam và trong lịch sử đã được sử dụng rộng rãi làm chất nhuộm. Các công trình kiến trúc được xây dựng có đồng bị ăn mòn tạo ra màu xanh lục verdigris (hoặc patina).

Các ion đồng(II) tan trong nước với nồng độ thấp có thể dùng làm chất diệt khuẩn, diệt nấm và làm chất bảo quản gỗ. Với số lượng đủ lớn, các ion này là chất độc đối với các sinh vật bậc cao hơn, với nồng độ thấp hơn, nó là một vi chất dinh dưỡng đối với hầu hết các thực vật và động vật bậc cao hơn. Nơi tập trung đồng chủ yếu trong cơ thể động vật là gan, cơ và xương. Cơ thể người trưởng thành chứa khoảng 1,4 đến 2,1 mg đồng trên mỗi kg cân nặng.

Ấn Độ

Ấn Độ (tiếng Hindi: भारत, chuyển tự Bhārata, tiếng Anh: India), tên gọi chính thức là Cộng hòa Ấn Độ (tiếng Hindi: भारत गणराज्य, chuyển tự Bhārat Gaṇarājya, tiếng Anh: Republic of India), là một quốc gia tại Nam Á. Đây là quốc gia lớn thứ bảy về diện tích, và đông dân thứ nhì trên thế giới với trên 1,33 tỷ người. Ấn Độ tiếp giáp với Ấn Độ Dương ở phía Nam, biển Ả Rập ở phía Tây – Nam và vịnh Bengal ở phía Đông – Nam; có biên giới trên bộ với Pakistan ở phía Tây; với Trung Quốc, Nepal, và Bhutan ở phía Đông – Bắc; và Myanmar cùng Bangladesh ở phía Đông. Trên Ấn Độ Dương, Ấn Độ lân cận với Sri Lanka và Maldives; thêm vào đó, Quần đảo Andaman và Nicobar của Ấn Độ có chung đường biên giới trên biển với Thái Lan và Indonesia.

Tiểu lục địa Ấn Độ là nơi xuất hiện văn minh lưu vực sông Ấn cổ đại, có các tuyến đường mậu dịch mang tính lịch sử cùng những đế quốc rộng lớn, và trở nên giàu có về thương mại và văn hóa trong hầu hết lịch sử lâu dài của mình. Đây cũng là nơi bắt nguồn của bốn tôn giáo lớn: Ấn Độ giáo, Phật giáo, Jaina giáo và Sikh giáo; trong khi Do Thái giáo, Hỏa giáo, Cơ Đốc giáo và Hồi giáo được truyền đến vào thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên và cũng giúp hình thành nền văn hóa đa dạng của khu vực. Khu vực dần bị thôn tính và chuyển sang nằm dưới quyền quản lý của Công ty Đông Ấn Anh từ đầu thế kỷ XVIII, rồi nằm dưới quyền quản lý trực tiếp của Anh Quốc từ giữa thế kỷ XIX. Ấn Độ trở thành một quốc gia độc lập vào năm 1947 sau một cuộc đấu tranh giành độc lập dưới hình thức đấu tranh bất bạo động do Mahatma Gandhi lãnh đạo.

Nền kinh tế Ấn Độ lớn thứ 5 thế giới xét theo GDP danh nghĩa (năm 2018), được dự báo trở thành nền kinh tế thứ 4 thế giới vào năm 2021, hiện tại là nền kinh tế lớn thứ ba thế giới xét theo sức mua tương đương (PPP). Sau các cải cách kinh tế dựa trên cơ sở thị trường vào năm 1991, Ấn Độ trở thành một trong số các nền kinh tế lớn có mức tăng trưởng nhanh; và được nhận định là một nước công nghiệp mới. Tuy nhiên, quốc gia này vẫn tiếp tục phải đối diện với những thách thức từ nghèo đói, nạn tham nhũng, tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em nông thôn, giáo dục và y tế công thiếu thốn, và chủ nghĩa khủng bố. Ấn Độ là một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân và là một cường quốc trong khu vực, có quân đội thường trực lớn thứ ba và xếp hạng tám về chi tiêu quân sự trên thế giới, đồng thời được đánh giá là một siêu cường tiềm năng. Ấn Độ là một nước cộng hòa lập hiến liên bang theo thể chế nghị viện, gồm có 29 bang và 7 lãnh thổ liên bang. Ấn Độ là một xã hội đa nguyên, đa ngôn ngữ và đa dân tộc. Đây cũng là nơi có sự đa dạng về loài hoang dã trong nhiều khu vực được bảo vệ.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.