Thời đại đồ đồng

Thời đại đồ đồng là một thời kỳ trong sự phát triển của nền văn minh khi phần lớn công việc luyện kim tiên tiến (ít nhất là trong sử dụng có hệ thống và rộng rãi) bao gồm các kỹ thuật để nấu chảy đồngthiếc từ các loại quặng lộ thiên sẵn có trong tự nhiên, và sau đó phối trộn các kim loại này với nhau để tạo ra đồng đỏ (đồng thiếc). Thời đại đồ đồng tạo thành một phần của hệ thống ba thời đại cho các xã hội tiền sử. Trong hệ thống đó, nó diễn ra sau thời đại đồ đá mới trong một số khu vực trên thế giới. Tại nhiều khu vực của châu Phi Hạ Sahara thì thời đại đồ đá mới được kế tiếp là thời đại đồ sắt mà không có thời đại đồ đồng.

Thời tiền sử
Thế Holocen (Toàn Tân) Thời đại đồ sắt Sơ sử
  Thời đại đồ đồng muộn  
  Thời đại đồ đồng giữa
  Thời đại đồ đồng sớm
Thời đại đồ đồng
    Thời đại đồ đồng đá    
  Thời đại đồ đá mới Tiền sử
Thời đại đồ đá giữa
Thế Pleistocen (Canh Tân)     Thời đại đồ đá cũ muộn  
    Thời đại đồ đá cũ giữa
    Thời đại đồ đá cũ sớm
  Thời đại đồ đá cũ
Thời đại đồ đá

Nguồn gốc

Khu vực và thời gian phát minh ra của thời đại đồ đồng là gây tranh cãi, và nó có thể là kỹ thuật chế tạo đồng đỏ đã được phát hiện ra một cách độc lập tại nhiều khu vực. Các vật bằng đồng thanh chứa thiếc đã biết sớm nhất có từ khu vực ngày nay là IranIraq có niên đại vào cuối thiên niên kỷ 4 TCN, nhưng có các tuyên bố cho rằng có sự xuất hiện sớm hơn của đồng đỏ chứa thiếc tại Thái Lan vào thiên niên kỷ 5 TCN. Đồng đỏ asen đã được sản xuất tại Tiểu Á (Anatolia) và tại cả hai phía của dãy núi Kavkaz vào đầu thiên niên kỷ 3 TCN. Một số học giả xác định niên đại của một số cổ vật từ đồng đỏ asen của nền văn hóa Maykop tại Bắc Kavkaz tới tận giữa thiên niên kỷ 4 TCN, điều này làm chúng trở thành các loại đồ từ đồng đỏ cổ nhất đã biết, nhưng những người khác xác định niên đại của cùng các cổ vật này của nền văn hóa Maykop là giữa thiên niên kỷ 3 TCN.

Cận Đông cổ đại

Thời đại đồ đồng tại Cận Đông được chia ra làm 3 thời kỳ chính (niên đại là xấp xỉ):

  • EBA – Thời đại đồ đồng sớm (khoảng 3500 -2000 TCN)
  • MBA - Thời đại đồ đồng giữa (khoảng 2000-1600 TCN)
  • LBA - Thời đại đồ đồng muộn (khoảng 1600-1200 TCN)

Mỗi thời kỳ chính lại có thể chia ra thành các thể loại nhỏ hơn như EB I, EB II, MB IIa v.v.

Nghề luyện kim đã phát triển đầu tiên tại Tiểu Á, ngày nay là Thổ Nhĩ Kỳ. Các dãy núi trên cao nguyên Anatolia có các trầm tích giàu đồng và thiếc. Đồng cũng được khai thác tại Cộng hòa Síp, sa mạc Negev, Iran và khu vực xung quanh vịnh Ba Tư. Đồng thông thường bị trộn lẫn với asen, do nhu cầu tăng lên đối với thiếc nên đã tạo ra kết quả là sự hình thành của các hành trình buôn bán đường xa ở trong và ra ngoài Anatolia. Đồng tinh khiết cũng được nhập khẩu bằng các hành trình đường biển tới đại vương quốc Mesopotamia.

Thời đại đồ đồng sớm cho thấy có sự gia tăng của tiến trình đô thị hóa thành các dạng nhà nước thành bang có tổ chức và sự phát minh ra chữ viết (thời kỳ Uruk trong thiên niên kỷ 5 TCN). Trong thời đại đồ đồng giữa, sự di chuyển của con người đã thay đổi phần nào hình thái chính trị của khu vực Cận Đông (người Amorite, người Hittite, người Khurrite, người Hyksos và có thể là cả người Israelite). Thời đại đồ đồng cuối được đặc trưng bằng các vương quốc hùng mạnh cạnh tranh lẫn nhau cùng các nước chư hầu của chúng (Assyria, Babylonia, Hittite, Mitanni). Hàng loạt các tiếp xúc đã được thực hiện với nền văn hóa Aegea (Ahhiyawa, Alashiya) trong đó buôn bán đồng đóng vai trò quan trọng. Thời kỳ này kết thúc bằng sự sụp đổ lớn, ảnh hưởng mạnh tới cả phần lớn khu vực Đông Địa Trung HảiTrung Đông.

Sắt đã bắt đầu được gia công vào cuối thời đại đồ đồng tại Anatolia. Sự chuyển tiếp thành thời đại đồ sắt vào khoảng năm 1200 TCN chủ yếu là do các thay đổi chính trị tại Cận Đông hơn là do các phát triển trong kỹ thuật luyện kim.

Dưới đây là giai đoạn của thời đại đồ đồng tại Cận Đông:[1][2][3]

Thời đại đồ đồng
(3300–1200 TCN)
Thời đại đồ đồng sớm
(3300–2200 TCN)
Thời đại đồ đồng sớm I 3300–3000 TCN
Thời đại đồ đồng sớm II 3000–2700 TCN
Thời đại đồ đồng sớm III 2700–2200 TCN
Thời đại đồ đồng giữa
(2200–1550 TCN)
Thời đại đồ đồng giữa I 2200–2000 TCN
Thời đại đồ đồng giữa II A 2000–1750 TCN
Thời đại đồ đồng giữa II B 1750–1650 TCN
Thời đại đồ đồng giữa II C 1650–1550 TCN
Thời đại đồ đồng muộn
(1550–1200 TCN)
Thời đại đồ đồng muộn I 1550–1400 TCN
Thời đại đồ đồng muộn II A 1400–1300 TCN
Thời đại đồ đồng muộn II B 1300–1200 TCN

Ấn Độ

Thời đại đồ đồng tại tiểu lục địa Ấn Độ đã bắt đầu khoảng năm 3300 TCN với sự bắt đầu của văn minh sông Ấn. Các dân cư cổ đại của thung lũng sông Ấn (Indus), người Harappa, đã phát triển các kỹ thuật mới trong luyện kim và sản xuất đồng, đồng đỏ, chì và thiếc.

Đông Á

Trung Quốc

Các cổ vật từ đồng đỏ đã được phát hiện tại khu vực khảo cổ của nền văn hóa Mã Gia Diêu (3100 TCN tới 2700 TCN) tại Trung Quốc.[4][5] Tuy nhiên, nói chung người ta hay chấp nhận là thời kỳ đồ đồng của Trung Quốc đã bắt đầu vào khoảng năm 2100 TCN, trong thời kỳ nhà Hạ.

Văn hóa Nhị Lý Đầu, nhà Thươngvăn hóa Tam Tinh Đôi của Trung Quốc sơ kì đã sử dụng đồng đỏ để làm các bình, chai, lọ từ đồng đỏ cho các lễ nghi cũng như các công cụ nông nghiệp và vũ khí.[6]

Bán đảo Triều Tiên

Bắt đầu thời kỳ đồ đồng trên bán đảo Triều Tiên vào khoảng 900 TCN - 800 TCN.[7][8] Mặc dù văn hóa Đồ đồng ở Triều Tiên bắt nguồn từ Liêu Ninh và Mãn Châu, nó thể hiện phong cách và hình dạng độc đáo, đặc biệt là những đồ vật có tính nghi lễ.[9]

Văn hóa thời kỳ đồ gốm Mumun (Mô Vấn) giữa ở miền nam bán đảo Triều Tiên đã dần dần chấp nhận sản xuất đồ đồng đỏ (khoảng 700-600? TCN) sau thời kỳ khi các dao găm từ đồng đỏ kiểu Liêu Ninh và các cổ vật đồng đỏ khác đã được trao đổi tới tận phần sâu bên trong của miền nam bán đảo (khoảng 900-700 TCN). Các dao găm từ đồng đỏ đã tăng thêm thanh thế và uy quyền cho các nhân vật sử dụng chúng và được chôn cất cùng họ trong các khu vực chôn cất kiểu cự thạch của các nhân vật có địa vị cao tại các trung tâm ở ven biển miền nam bán đảo, chẳng hạn như khu vực khảo cổ Igeum-dong (Lê Cầm động). Đồng đỏ là một yếu tố quan trọng trong các nghi lễ cũng như là đồ tùy táng cho tới tận khoảng năm 100.

Đông Nam Á

Tại Ban Chiang, Thái LanVĩnh Phúc, Việt Nam các cổ vật đồng đỏ đã được phát hiện có niên đại vào khoảng năm 2100 TCN.[10] Tại Nyaunggan, Myanma, các công cụ bằng đồng đỏ đã được khai quật cùng với các cổ vật bằng đá và gốm sứ. Niên đại của chúng hiện nay còn khá rộng (3500 TCN - 500 TCN).[11]

Aegea

Minoan copper ingot from Zakros, Crete
Thỏi đồng thanh thời kỳ đồ đồng tìm thấy tại Crete.

Các nền văn minh thời đại đồ đồng tại Aegea bắt đầu khoảng 3200 TCN,[12] đã hình thành một mạng lưới thương mại phạm vi xa. Mạng lưới này nhập khẩu thiếc và than củi vào Cộng hòa Síp, tại đây đồng được khai thác và nấu chảy lẫn với thiếc để sản xuất đồng đỏ. Các đồ vật đồng đỏ sau đó được xuất khẩu đi xa và rộng, và nó hỗ trợ cho thương mại phát triển. Phân tích đồng vị thiếc trong một số đồ vật bằng đồng đỏ ở khu vực Địa Trung Hải chỉ ra rằng chúng có thể có nguồn gốc từ Vương quốc Anh ngày nay.[13]

Kiến thức về hàng hải cũng đã phát triển mạnh trong thời gian này, và đã đạt tới đỉnh cao không thể vượt qua của các kỹ năng cho đến khi phương pháp xác định kinh độvĩ độ được phát hiện (hay tái phát hiện) vào khoảng năm 1750, với ngoại lệ đáng chú ý là các thủy thủ Polynesia.

Văn minh Minoa với nền tảng ở Knossos dường như đã phối hợp và bảo vệ thương mại thời đại đồ đồng của mình. Illyria cũng được cho là có nguồn gốc vào đầu thời kỳ đồ đồng. Các đế chế cổ xưa đã trao đổi những hàng hóa sang trọng để đổi lại chủ yếu phẩm, dẫn đến nạn đói.[14]

Một thiếu hụt chủ chốt trong thời kỳ này là không có các phương pháp kế toán như ngày nay. Một số tác giả cho rằng các đế quốc cổ đại đã thiên lệch trong việc đánh giá sai tầm quan trọng của các lương thực, thực phẩm thông dụng, cơ bản và thiên về mua bán các đồ vật quý hiếm. Vì thế chúng đã bị tàn lụi do nạn đói kém, được tạo ra do thương mại mà không tính tới mặt kinh tế.

Thời đại đồ đồng đã kết thúc trong khu vực này như thế nào vẫn còn đang được nghiên cứu. Có chứng cứ cho thấy sự quản lý của người Mycenae đối với thương mại trong khu vực diễn ra sau sự suy thoái của văn minh Minoa..[15] Các chứng cứ cũng hỗ trợ cho giả thuyết rằng một vài quốc gia vệ tinh của Minoa đã mất phần lớn dân số của mình do nạn hạn hán đói kém và/hoặc bệnh dịch hạch, và nó chỉ ra rằng mạng lưới thương mại có thể đã bị phá vỡ ở một số điểm, điều đó ngăn cản tiến trình thuận lợi của thương mại mà trước đây đã phần nào giúp giảm nhẹ các loại hạn hán, đói kém này cũng như ngăn cản một số loại bệnh tật (do dinh dưỡng). Người ta cũng biết rằng khu vực sản xuất nhiều lương thực của đế quốc Minoa, vùng phía bắc biển Đen, cũng đột ngột mất một lượng đáng kể dân cư của mình, và vì thế có lẽ cũng làm sút giảm phần nào công việc trồng trọt trong khu vực.

Nghiên cứu gần đây đã nghi ngờ thuyết cho rằng sự kiệt quệ của các cánh rừng tại Síp đã gây ra sự kết thúc của thời đại đồ đồng.[16][17][18] Các cánh rừng ở Cyprus được biết là tồn tại đến nhiều năm sau này, và các thực nghiệm đã chỉ ra rằng sản xuất than củi ở quy mô cần thiết cho sản xuất đồng thanh ở cuối thời đại đồ đồng chỉ có thể làm kiệt quệ chúng trong không ít hơn 50 năm sau đó.

Một thuyết khác cho rằng các công cụ sắt đã trở nên phổ biến hơn, sự biện hộ chính cho buôn bán thiếc đã kết thúc và mạng lưới thương mại đã giảm sút các hoạt động của một thời nó đã từng có.[19] Các thuộc địa riêng lẻ của đế quốc Minoa sau đó hứng chịu khô hạn, đói kém, chiến tranh hay một số sự kết hợp của các yếu tố này và vì thế họ đã không thể sử dụng các nguồn ở xa trong đế quốc, mà nếu dựa vào đó họ có thể dễ dàng hồi phục.

Một nhóm giả thuyết khác lại coi Knossos là nguyên nhân. Phun trào Thera đã diễn ra vào thời gian này, khoảng 40 dặm về phía bắc Crete. Một số học giả còn cho rằng sóng thần (tsunami) từ Thera đã phá hủy các thành thị của người Crete. Những người khác cho rằng có lẽ sóng thần đã phá hủy các tàu thuyền hải quân của người Crete tại bến cảng quê hương của chúng, điều này sau đó đã dẫn tới thất bại trong các trận thủy chiến quyết định; vì thế trong sự kiện LMIB/LMII (khoảng 1450 TCN) các thành phố của Crete đã bị đốt cháy và văn minh Mycenae đã chiếm đóng Knossos. Nếu phun trào núi lửa đã diễn ra vào cuối thế kỷ 17 TCN (như phần lớn các nhà niên đại học nghĩ vậy), thì các hiệu ứng trực tiếp của chúng thuộc về thời kỳ đồ đồng giữa tới sự chuyển tiếp sang thời kỳ đồ đồng cuối, mà không thuộc về thời kỳ kết thúc của thời kỳ đồ đồng cuối; nhưng có thể nó đã gây ra sự không ổn định để dẫn tới sự sụp đổ đầu tiên của Knossos và sau đó là của xã hội thời đại đồ đồng nói chung. Một trong các giả thuyết lại nhìn vào vai trò của giới chuyên môn Crete trong việc quản lý đế quốc thời kỳ hậu Thera. Nếu giới chuyên môn đã tập trung tại Crete, thì người Mycenae có thể đã mắc những sai lầm về mặt chính trị và thương mại mang tính quyết định khi quản lý đế quốc Crete.

Các phát hiện khảo cổ học gần đây, bao gồm cả các phát hiện trên đảo Thera (ngày nay gọi là Santorini), cho thấy trung tâm của nền văn minh Minoa vào thời điểm phun trào núi lửa trên thực tế đã nằm trên đảo này hơn là ở Crete. Một số người nghĩ rằng nó chính là Atlantis theo truyền thuyết (bản đồ vẽ trên tường của một cung điện của người Minoa tại Crete mô tả hòn đảo tương tự như những gì đã được Plato mô tả và có lẽ tương tự như hình dạng của Thera trước khi nó bị nổ tung). Theo giả thuyết này, sự mất đi đầy thê thảm của trung tâm chính trị, hành chính và kinh tế này do phun trào cũng như các tổn thất gây ra bởi sóng thần cho các vùng ven biển của Crete đã làm trầm trọng thêm sự thoái trào của nhà nước Minoa. Một thực thể chính trị suy yếu với nền kinh tế cùng tiềm lực quân sự suy giảm cũng như sự giàu có theo truyền thuyết có thể đã trở nên dễ bị tổn thương trước các thế lực đối địch.

Mỗi một giả thuyết này đều có sức thuyết phục nhất định và các khía cạnh của tất cả chúng có thể có một số điểm đáng tin cậy trong việc miêu tả sự kết thúc thời đại đồ đồng tại khu vực này.

Châu Âu

Trung Âu

Bronze age weapons Romania
Vũ khí và đồ trang sức thời đại đồ đồng

Tại Trung Âu, nền văn hóa Únětice thời đại đồ đồng sớm (khoảng 1800 TCN-1600 TCN) bao gồm hàng loạt các nhóm nhỏ như Straubingen, Adlerberg và Hatvan. Một số trong đó rất giàu các đồ chôn cất, chẳng hạn một khu vực nằm gần Leubingen với các đồ mộ táng được làm thủ công từ vàng, chỉ ra sự phân tầng xã hội khá mạnh trong nền văn hóa Únětice. Nhìn chung, các nghĩa địa của thời kỳ này là hiếm và có kích thước nhỏ. Tiếp theo nền văn hóa Únětice là nền văn hóa Tumulus (văn hóa nấm mộ) trong thời đại đồ đồng giữa (khoảng 1600 TCN-1200 TCN), được đặc trưng bằng các chôn cất trong các nấm nộ (tumulus). Tại khu vực sông Körös ở miền đông Hungary, thời đại đồ đồng sớm có cùng khi ra đời của nền văn hóa Mako, tiếp theo là các nền văn hóa Ottomany và Gyulavarsand.

Nền văn hóa bình đựng hài cốt thời kỳ cuối thời đại đồ đồng, (khoảng 1300 TCN-700 TCN) được đặc trưng bằng các ngôi mộ chôn cất theo kiểu hỏa táng. Nó bao gồm văn hóa Lausitz ở miền đông ĐứcBa Lan (1300 TCN-500 TCN) được kéo dài tới thời đại đồ sắt. Thời đại đồ đồng ở Trung Âu được kế tiếp là văn hóa Hallstatt của thời đại đồ sắt (700 TCN-450 TCN).

Các khu vực khảo cổ quan trọng có:

Bắc Âu

Tại miền bắc Đức, Đan Mạch, Thụy ĐiểnNa Uy, các cư dân thời đại đồ đồng đã sản xuất nhiều vật tạo tác cổ rất khác biệt và đẹp, chẳng hạn các cặp nhạc khí bằng đồng thanh, gọi là lur, giống như các cặp sừng, được phát hiện trong các đầm lầy ở Đan Mạch. Một số nhà ngôn ngữ học tin rằng ngôn ngữ tiền Ấn-Âu có lẽ đã được đưa vào khu vực này vào khoảng thế kỷ 20 TCN, và cuối cùng nó trở thành tổ tiên của các loại tiếng Đức. Điều này có thể khớp với sự tiến hóa của thời đại đồ đồng ở Scandinavia thành thời đại đồ sắt tiền La Mã ở Đức (có thể nhất).

Theo Oscar Montelius thì thời đại đồ đồng trong khu vực này được chia thành các thời kỳ I-VI. Tại các khu vực khác, thời gian tương ứng với thời kỳ Montelius V của khu vực này đã thuộc về thời đại đồ sắt.

Quần đảo Anh & Ireland

Tại quần đảo Anh, thời đại đồ đồng được coi là thời kỳ từ khoảng 2100 TCN tới 700 TCN. Quá trình di cư đã đem những người dân mới từ lục địa tới quần đảo. Nghiên cứu đồng vị trên men răng gần đây trên các thi thể tìm thấy trong các mồ mả thuộc thời đại đồ đồng sớm ở gần Stonehenge chỉ ra rằng ít nhất thì một số người di cư đã tới đây từ khu vực ngày nay thuộc Thụy Sĩ. Người Beaker (beaker từ tiếng Anh có nghĩa là cốc vại hay chén tống, một loại cốc được tìm thấy nhiều trong các khu vực khảo cổ thuộc thời đại này ở Tây Âu) đã thể hiện các hành vi khác biệt so với người thuộc thời đại đồ đá mới sớm và các thay đổi văn hóa là đáng kể. Sự hòa nhập này được coi là hòa bình do nhiều khu vực henge (một kiểu công trình kiến trúc tiền sử) sớm dường như đã được những người mới đến chấp nhận ngay. Nền văn hóa Wessex đã phát triển tại miền nam Anh vào thời gian này. Ngoài ra, khí hậu cũng đang dần xấu đi, với khí hậu trước đây ấm và khô hơn thì trong thời gian của thời đại đồ đồng nó đã trở thành ẩm ướt hơn, buộc dân cư phải rời xa các khu vực dễ phòng thủ trên các ngọn đồi để tiến vào các thung lũng màu mỡ. Các trại nuôi gia súc lớn đã phát triển tại các vùng đất thấp, dường như đã đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy chặt phá rừng. Văn hóa Deverel-Rimbury bắt đầu nổi lên vào nửa sau của 'Thời đại đồ đồng giữa' (khoảng 1400 TCN-1100 TCN) để khai thác các điều kiện này. Cornwall đã từng là nguồn cung cấp chính về thiếc cho phần lớn khu vực Tây Âu và đồng đã được khai thác và tách ra từ các khu vực như mỏ Great Orme ở miền bắc Wales. Các nhóm xã hội dường như là mang tính chất bộ lạc, nhưng với độ phức tạp tăng lên và tôn ti thứ bậc đã trở thành thấy được.

Ngoài ra, việc chôn cất người chết (cho đến trước thời kỳ này thường là mộ chôn tập thể) đã trở thành cá thể hơn. Ví dụ, trong khi ở thời đại đồ đá mới người ta sử dụng các ụ đá hình tháp có chia khoang hay các gò đất dài để chôn người chết, thì ở 'thời đại đồ đồng sớm' người ta đã chôn cất những người chết trong các nấm mộ riêng biệt (được biết và đánh dấu trên các bản đồ chi tiết tại Anh như là các tumulus), hay đôi khi là trong các mộ đá được che phủ bằng các ụ đá hình tháp.

Lượng lớn nhất các đồ vật bằng đồng thanh được tìm thấy tại Anh đã được phát hiện tại East Cambridgeshire, trong đó các đồ vật quan trọng nhất được phát hiện tại Isleham (trên 6.500 đồ vật)[20].

Ireland

Thời đại đồ đồng tại Ireland được khởi đầu vào khoảng năm 2000 TCN khi đồng đã được nấu chảy lẫn với thiếc để sản xuất rìu phẳng kiểu Ballybeg và các công việc liên quan tới kim loại khác. Thời kỳ trước đó được biết đến với tên gọi Thời đại đồng đỏ (sử dụng đồng gần như nguyên chất) và được đặc trưng bằng việc sản xuất các loại rìu phẳng, dao găm, kích và dùi bằng đồng. Thời đại đồ đồng được chia ra thành 3 giai đoạn là Thời đại đồ đồng sớm (khoảng 2000 TCN-1500 TCN); Thời đại đồ đồng giữa (khoảng 1500 TCN-1200 TCN) và Thời đại đồ đồng muộn (khoảng 1200 TCN-500 TCN). Ireland cũng được biết tới vì một lượng lớn các ngôi mộ chôn cất thuộc thời đại đồ đồng sớm.

Một trong các cổ vật đặc trưng của thời kỳ đồng đỏ/đồng thanh tại Ireland là rìu phẳng. Có 5 kiểu rìu phẳng chính là Lough Ravel (khoảng 2200 TCN), Ballybeg (khoảng 2000 TCN), Killaha (khoảng 2000 TCN), Ballyvalley (khoảng 2000-1600 TCN), Derryniggin (khoảng 1600 TCN) và một loạt các thỏi kim loại trong hình dạng như rìu[21][22]

châu Mỹ

Andes thời đại đồ đồng

Thời đại đồ đồng tại khu vực Andes của Nam Mỹ được cho là bắt đầu vào khoảng năm 900 TCN khi các nghệ nhân Chavin phát hiện ra cách phối trộn đồng với thiếc. Các đồ vật đầu tiên được sản xuất ra chủ yếu là các đồ vật thiết thực, như rìu, dao hay các công cụ nông nghiệp. Tuy nhiên, sau này, khi người Chavin trở nên có kinh nghiệm hơn trong công nghệ sản xuất đồng thanh thì họ đã sản xuất nhiều đồ vật hoa mỹ và nhiều trang trí cho các mục đích chính trị, tôn giáo và các nghi lễ khác, cũng như các vật dụng thông thường, do công việc trang trí vàng, bạc và đồng đã từng là một truyền thống phát triển cao của người Chavin.

Thư mục

  • Figueiredo, Elin (2010) "Smelting and Recycling Evidences from the Late Bronze Age habitat site of Baioes," Journal of Archaeological Science, Volume 37, Issue 7, p. 1623–1634
  • Eogan, George (1983) The hoards of the Irish later Bronze Age, Dublin: University College, 331p., ISBN 0-901120-77-4
  • Hall, David and Coles, John (1994) Fenland survey: an essay in landscape and persistence, Archaeological report 1, London: English Heritage, 170 p., ISBN 1-85074-477-7
  • Pernicka, E., Eibner, C., Öztunah, Ö., Wagener, G.A. (2003) "Early Bronze Age Metallurgy in the Northeast Aegean", In: Wagner, G.A., Pernicka, E. and Uerpmann, H-P. (eds), Troia and the Troad: scientific approaches, Natural science in archaeology, Berlin; London: Springer, ISBN 3-540-43711-8, p. 143–172
  • Waddell, John (1998) The prehistoric archaeology of Ireland, Galway University Press, 433 p., ISBN 1-901421-10-4
  • Siklosy et al. (2009): Bronze Age volcanic event recorded in stalagmites by combined isotope and trace element studies. Rapid Communications in Mass Spectrometry, 23/6, 801-808. http://www3.interscience.wiley.com/journal/122202090/abstract
  • Roberts, B.W., Thornton, C.P. and Pigott, V.C. 2009. Development of Metallurgy in Eurasia. Antiquity 83, 112-122.
  • Childe, V. G. (1930). The bronze age. New York: The Macmillan Company.
  • Kelleher, B. D. (1980). Treasures from the Bronze Age of China: An exhibition from the People's Republic of China, the Metropolitan Museum of Art, New York. New York: Ballantine Books.
  • Kuijpers, M. H. G. (2008). Bronze Age metalworking in the Netherlands (c. 2000-800 BCE): A research into the preservation of metallurgy related artefacts and the social position of the smith. Leiden: Sidestone Press.
  • Müller-Lyer, F. C.; Lake, E. C.; Lake, H. A. (1921). The history of social development. New York: Alfred A. Knopf.
  • Figueiredo, Elin (2010) "Smelting and Recycling Evidences from the Late Bronze Age habitat site of Baioes," Journal of Archaeological Science, Volume 37, Issue 7, p. 1623–1634
  • Eogan, George (1983) The hoards of the Irish later Bronze Age, Dublin: University College, 331p., ISBN 0-901120-77-4
  • Hall, David and Coles, John (1994) Fenland survey: an essay in landscape and persistence, Archaeological report 1, London: English Heritage, 170 p., ISBN 1-85074-477-7
  • Pernicka, E., Eibner, C., Öztunah, Ö., Wagener, G.A. (2003) "Early Bronze Age Metallurgy in the Northeast Aegean", In: Wagner, G.A., Pernicka, E. and Uerpmann, H-P. (eds), Troia and the Troad: scientific approaches, Natural science in archaeology, Berlin; London: Springer, ISBN 3-540-43711-8, p. 143–172
  • Waddell, John (1998) The prehistoric archaeology of Ireland, Galway University Press, 433 p., ISBN 1-901421-10-4
  • Siklosy et al. (2009): Bronze Age volcanic event recorded in stalagmites by combined isotope and trace element studies. Rapid Communications in Mass Spectrometry, 23/6, 801-808.
  • Roberts, B.W., Thornton, C.P. and Pigott, V.C. 2009. Development of Metallurgy in Eurasia. Antiquity 83, 112-122.

Tham khảo

  1. ^ The Near East period dates and phase ranges being unrelated to the bronze chronology of other regions of the world.
  2. ^ Piotr Bienkowski, Alan Ralph Millard (editors). Dictionary of the ancient Near East. Page 60.
  3. ^ Amélie Kuhr. The ancient Near East, c. 3000-330 BC. Page 9.
  4. ^ Martini, I. Peter (2010). Landscapes and Societies: Selected Cases. Springer. tr. 310. ISBN 90-481-9412-1.
  5. ^ Higham, Charles (2004). Encyclopedia of ancient Asian civilizations. Infobase Publishing. tr. 200. ISBN 0-8160-4640-9.
  6. ^ [1]
  7. ^ Carter J. Eckert, el., "Korea, Old and New: History", 1990, pp. 9
  8. ^ “1000 BC to 300 AD: Korea | Asia for Educators | Columbia University”. Afe.easia.columbia.edu. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2012.
  9. ^ [2]
  10. ^ “Bronze from Ban Chiang, Thailand: A view from the Laboratory” (PDF). Museum.upenn.edu. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2010.
  11. ^ “Nyaunggan City — Archaeological Sites in Myanmar”. Myanmartravelinformation.com. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2010.
  12. ^ “Ancient Greece”. British Museum. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2012.
  13. ^ Carl Waldman, Catherine Mason. Encyclopedia of European peoples: Volume 1. 2006. Page 524.
  14. ^ Lancaster, H. O. (1990). Expectations of life: A study in the demography, statistics, and history of world mortality. New York: Springer-Verlag. Page 228.
  15. ^ Drews, R. (1993). The end of the Bronze Age: Changes in warfare and the catastrophe ca. 1200 B.C. Princeton, N.J: Princeton University Pres
  16. ^ Cities on the Sea., Swiny, S., Hohlfelder, R. L., & Swiny, H. W. (1998). Res maritimae: Cyprus and the eastern Mediterranean from prehistory to late antiquity: proceedings of the Second International Symposium "Cities on the Sea", Nicosia, Cyprus, October 18–22, 1994. Atlanta, Ga: Scholars Press.
  17. ^ Creevey, B. (1994). The forest resources of Bronze Age Cyprus
  18. ^ A. Bernard Knapp, Steve O. Held and Sturt W. Manning. The prehistory of Cyprus: Problems and prospects.
  19. ^ Lockard, Craig A. (2009). Societies, Networks, and Transitions: To 600. Wadsworth Pub Co. Page 96.
  20. ^ Hall, David. Fenland survey: an essay in landscape and persistence / David Hall và John Coles. London; English Heritage. ISBN 1-85074-477-7., trang 81-88
  21. ^ Waddell J. 1998. The Prehistoric Archaeology of Ireland. Galway.
  22. ^ Eogan G. 1983. The Hoards of the Irish Later Bronze Age. Dublin

Liên kết ngoài

Hệ thống ba thời đại: Thời đại đồ đá | Thời đại đồ đồng | Thời đại đồ sắt

Danh sách các thời kỳ khảo cổ

Ai Cập cổ đại

Ai Cập cổ đại là một nền văn minh cổ đại nằm ở Đông Bắc châu Phi, tập trung dọc theo hạ lưu của sông Nile thuộc khu vực ngày nay là đất nước Ai Cập. Đây là một trong sáu nền văn minh phát sinh một cách độc lập trên thế giới. Nền văn minh Ai Cập được thống nhất lại vào năm 3150 TCN (theo trình tự thời gian của bảng niên đại Ai Cập) với sự thống nhất chính trị của Thượng và Hạ Ai Cập dưới thời vị pharaon đầu tiên (Narmer, thường được gọi là Menes). Lịch sử của Ai Cập cổ đại đã trải qua một loạt các thời kỳ vương quốc ổn định, và các giai đoạn hỗn loạn giữa chúng được gọi là các giai đoạn chuyển tiếp: Cổ Vương quốc thời kỳ Sơ kỳ Đồ đồng, Trung Vương quốc tương ứng giai đoạn Trung kỳ Đồ Đồng và Tân Vương quốc ứng với Hậu kỳ Đồ đồng.

Ai Cập đạt đến đỉnh cao của quyền lực vào giai đoạn Tân Vương quốc, trong thời kỳ Ramesside, vào thời điểm đó nó sánh ngang với đế quốc Hittite, đế quốc Assyria và đế chế Mitanni, trước khi bước vào giai đoạn dần suy yếu. Ai Cập đã bị xâm chiếm hoặc chinh phục bởi một loạt các cường quốc nước ngoài, chẳng hạn như người Canaan/Hyksos, Lybia, người Nubia, Assyria, Babylon, Ba Tư dưới triều đại Achaemenid, và người Macedonia trong Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Ba và cuối thời kỳ Ai Cập cổ đại. Sau khi Alexander Đại Đế qua đời, một trong những tướng lĩnh của ông, Ptolemy I Soter, đã tuyên bố ông là vị vua mới của Ai Cập. Triều đại Ptolemy gốc Hy Lạp này đã cai trị Ai Cập cho đến năm 30 TCN khi nó rơi vào tay đế quốc La Mã và trở thành một tỉnh La Mã.Sự thành công của nền văn minh Ai Cập cổ đại một phần đến từ khả năng thích ứng của nó với các điều kiện của thung lũng sông Nile cho sản xuất nông nghiệp. Từ việc có thể dự đoán trước lũ lụt và việc điều tiết thủy lợi ở khu vực thung lũng màu mỡ đã tạo ra nhiều nông sản dư thừa, giúp nuôi dưỡng một lượng dân số đông hơn, tạo điều kiện phát triển xã hội và văn hóa. Với việc có nhiều nguồn lực dư thừa, nhà nước đã tập trung vào việc khai thác khoáng sản ở các thung lũng và các khu vực sa mạc xung quanh, cũng như việc sớm phát triển một hệ thống chữ viết độc lập, tổ chức xây dựng tập thể và các dự án nông nghiệp, thương mại với khu vực xung quanh, và xây dựng một đội quân nhằm mục đích đánh bại kẻ thù nước ngoài và khẳng định sự thống trị của Ai Cập. Thúc đẩy và tổ chức những hoạt động này là một bộ máy quan lại gồm các ký lục ưu tú, những nhà lãnh đạo tôn giáo, và các quan lại dưới sự kiểm soát của một pharaon, người đảm bảo sự hợp tác và đoàn kết của toàn thể người dân Ai Cập dưới một hệ thống tín điều tôn giáo tinh vi.Những thành tựu của người Ai Cập cổ đại bao gồm khai thác đá, khảo sát và kỹ thuật xây dựng hỗ trợ cho việc xây dựng các công trình kim tự tháp, đền thờ, và cột tháp tưởng niệm; một hệ thống toán học, một hệ thống thực hành y học hiệu quả, hệ thống thủy lợi và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, những tàu thủy đầu tiên được biết đến trên thế giới, công nghệ gốm sứ và thủy tinh của Ai Cập, những thể loại văn học mới, và các hiệp ước hòa bình được biết đến sớm nhất, được ký kết với người Hittite. Ai Cập đã để lại một di sản lâu dài. Nghệ thuật và kiến ​​trúc của nó đã được sao chép rộng rãi, và các cổ vật của nó còn được đưa tới khắp mọi nơi trên thế giới. Những tàn tích hùng vĩ của nó đã truyền cảm hứng cho trí tưởng tượng của du khách và nhà văn trong nhiều thế kỷ. Sự quan tâm mới hình thành dành cho những cổ vật và các cuộc khai quật trong thời kỳ cận đại ở châu Âu và Ai Cập dẫn đến việc khai sinh ra ngành Ai Cập học để nghiên cứu nền văn minh Ai Cập và một sự đánh giá đúng đắn hơn đối với di sản văn hóa của nó.

Ashkelon

Ashkelon or Ashqelon ( /ˈæʃkəlɒn/; tiếng Hebrew: אַשְׁקְלוֹן, [aʃkeˈlon]), cũng gọi là Ascalon ( /ˈæskəlɒn/; tiếng Hy Lạp: Ἀσκάλων, Askálōn; tiếng Ả Rập: عَسْقَلَان‎, ʿAsqalān), là một thành phố ven biển ở Huyện Nam của Israel trên bờ Địa Trung Hải, 50 km (31 dặm) về phía nam của Tel Aviv. Cảng biển cổ xưa của Ashkelon có từ thời kỳ đồ đá mới. Trong quá trình lịch sử của nó, khu vực này đã từng nằm dứơi sự cai trị của người Canaan, người Philistin, dân Do Thái, người Assyria, người Babylon, người Hy Lạp, người Phoenicia, người La Mã, người Ba Tư, người Ai Cập và quân Thập tự chinh, cho đến khi nó đã bị phá hủy bởi nhà Mamluk vào năm 1270.

Thành phố hiện đại của Ashkelon phát triển từ thị trấn Ả Rập al-Majdal (tiếng Ả Rập: المجدل hoặc tiếng Ả Rập: مجدل عسقلان, tiếng Do Thái: אל - מג 'דל, מגדל), được thành lập vào thế kỷ 16, dưới thời cai trị Đế quốc Ottoman. Sau đó nó được một phần của British mandate và đã bị Israel chiếm trong chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1948, vào ngày 05 tháng 11 năm 1948.

Ashkelon có dân số 111.700 người. Thành phố có bãi biển đẹp, là một điểm đến hấp dẫn cho các gia đình trẻ, cũng như cho các cặp vợ chồng về hưu.

Ban Chiang

Ban Chiang (chữ Thái: บ้านเชียง) là một khu vực khai quật khảo cổ tại huyện Nong Han thuộc tỉnh Udon Thani, cách thành phố Udon 47 km về phía đông. Đây cũng là di sản thế giới được UNESCO công nhận năm 1992.

Khu vực khảo cổ này được phát hiện năm 1957 và thu hút sự quan tâm chú ý của mọi người nhờ đồ gốm sơn đỏ. Cuộc khai quật nghiên cứu khoa học đầu tiên được tiến hành năm 1967 đã phát hiện ra nhiều bộ xương và các hiện vật chôn cùng bằng đồng. Các vụn gạo cũng được phát hiện chứng tỏ từ thời kỳ đồ đồng đã có nông dân định cư ở đây. Các mộ cổ xưa nhất được phát hiện không có đồ đồng và do đó thuộc văn hóa neolithic; các nền văn hóa muộn nhất sau này là từ thời kỳ đồ sắt.

Bằng phương pháp xác định niên đại nhiệt quang (Optically Stimulated Luminescence dating) cho thấy các tạo tác có niên đại thiên kỷ thứ 5 trước Công Nguyên (năm 4420 đến năm 3400) có nghĩa là khu vực này có niên đại sớm nhất trong các di chỉ thời kỳ văn hóa đồ đồng của thế giới. Tuy nhiên với cuộc khai quật năm 1974-1975 với đầy đủ tư liệu bằng phương pháp xác định niên đại bằng đồng vị cacbon-14 (radiocarbon dating) thì niên đại của các chế tác ở đây muộn hơn, ngôi mộ cổ xưa nhất có niên đại khoảng 2100 trước Công Nguyên và muộn nhất có niên đại 200 năm sau Công Nguyên. Sự chế tác công cụ bằng đồng vào khoảng năm 2000 trước Công Nguyên được minh chứng bởi các dụng cụ nấu kim loại và các mảnh đồng. Các vật bằng đồng bao gồm: các vòng tay, nhẫn, vòng chân, dây và roi, mũi giáo, lưỡi rìu, rìu lưỡi vòm, móc, lưỡi dao và các chuông nhỏ.

Elam

Elam (tiếng Ba Tư: تمدن ایلام) là một trong những nền văn minh được ghi chép cổ nhất của thế giới. Lãnh thổ Elam tập trung ở viễn tây và tây nam của tỉnh Ilam ngày nay và vùng đất trũng Khuzestan). Xứ Elam tồn tại kéo dài từ khoảng năm 2700 TCN đến 539 TCN. Trước khi có xứ Elam đã có các giai đoạn Proto-Elamite bắt đầu vào khoảng 3200 TCN khi Susa (sau này kinh đô của Elam) bắt đầu chịu ảnh hưởng của các nền văn hóa của cao nguyên Iran về phía đông..Xứ Elam cổ nằm về phía đông của Sumer và Akkad (Iraq ngày nay). Trong thời kỳ Elam Cổ, nó bao gồm các vương quốc của cao nguyên Iran, tập trung ở Anshan, và từ giữa thiên niên kỷ thứ 2 TCN, nó tập trung ở Susa ở các vùng trũng Khuzestan.. Nền văn hóa của nó đóng một vai trò chủ yếu trong đế quốc Ba Tư, đặc biệt trong thời thời kỳ trị vì của nhà Achaemenes kế tục nó, khi tiếng Elam vẫn được sử dụng làm tiếng chính thức của đế quốc.

Thời kỳ Elam được xem như là thời điểm bắt đầu của lịch sử Iran (dù có các nền văn minh khác ở cao nguyên Iran, như Vương quốc Mannaeans ở Azarbaijan thuộc Iran và Shahr-i Sokhta (Burned City) ở Zabol, và nền văn minh Jiroft mới được phát hiện ở phía đông. Tiếng Elam không có liên hệ với bất kể ngôn ngữ nào của tiếng Iran, nhưng có thể là một phần của nhóm lớn hơn được biết đến dưới tên Elamo-Dravidian.

Elam đã cấp tên gọi cho một trong những tỉnh của nước Iran ngày nay (thường viết là Ilam).

Hà Nội

Hà Nội là thủ đô của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cũng là kinh đô của hầu hết các vương triều phong kiến tại Việt Nam trước đây. Do đó, lịch sử Hà Nội gắn liền với sự thăng trầm của lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ. Hà Nội là thành phố trực thuộc trung ương có diện tích lớn nhất cả nước từ khi tỉnh Hà Tây sáp nhập vào, đồng thời cũng là địa phương đứng thứ nhì về dân số với hơn 8 triệu người (năm 2019), tuy nhiên, nếu tính những người cư trú không đăng ký thì dân số thực tế của thành phố này năm 2019 là gần 10 triệu người. Mật độ dân số của Hà Nội là 2.398 người/km², mật độ giao thông là 105,2 xe/km² mặt đường. Hiện nay, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là hai đô thị loại đặc biệt của Việt Nam.

Hà Nội nằm giữa đồng bằng sông Hồng trù phú, nơi đây đã sớm trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa ngay từ những buổi đầu của lịch sử Việt Nam. Năm 1010, vua Lý Thái Tổ, vị hoàng đế đầu tiên của nhà Lý, quyết định xây dựng kinh đô mới ở vùng đất này với cái tên Thăng Long. Trong suốt thời kỳ của các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, kinh thành Thăng Long là trung tâm văn hóa, giáo dục và buôn bán của cả nước. Khi Tây Sơn rồi nhà Nguyễn lên nắm quyền trị vì, kinh đô được chuyển về Huế và Thăng Long bắt đầu mang tên Hà Nội từ năm 1831, dưới thời vua Minh Mạng.

Năm 1902, Hà Nội trở thành thủ đô của Liên bang Đông Dương và được người Pháp xây dựng, quy hoạch lại, được mệnh danh là Tiểu Paris phương Đông thời bấy giờ. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, Hà Nội là thủ đô của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau khi thống nhất tiếp tục là thủ đô của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Đó là thủ đô của Đông Dương thuộc Pháp 1887-1946 và của miền Bắc Việt Nam trước khi thống nhất miền Bắc và miền Nam Việt Nam.

Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, Hà Nội hiện nay gồm 12 quận, 1 thị xã và 17 huyện ngoại thành. Hiện nay, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm kinh tế-xã hội đặc biệt quan trọng của Việt Nam.

Hà Nội được Tổ chức Khoa học, Văn hóa và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) trao tặng danh hiệu “Thành phố vì hòa bình” ngày 16/7/1999.

Lạc Việt

Lạc Việt (chữ Hán: 雒越 hoặc 駱越 hoặc 貉越) là tên gọi của một trong các dân tộc Việt trong nhóm Bách Việt. Người Lạc Việt bắt nguồn từ vùng Động Đình Hồ, nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc, đã từng sinh sống ở vùng đất mà nay là Tây Nam Quảng Đông, Đông Nam Quảng Tây (Trung Quốc), và miền Bắc Việt Nam. Người Lạc Việt là tổ tiên của một số dân tộc Việt Nam như Kinh, Mường , và còn được cho là tổ tiên của các tộc người Tráng ở Trung Quốc.

Phoenicia

Phoenicia là một nền văn minh cổ đại nằm ở miền bắc khu vực Canaan cổ đại, với trung tâm nằm dọc vùng eo biển Liban, Syria, và bắc Israel ngày nay. Nền văn minh Phoecinia là một nền văn minh dựa vào thương mại hàng hải trải khắp Địa Trung Hải trong suốt thời kỳ từ năm 1550 TCN tới năm 300 TCN. Người Phoenicia thường giao dịch bằng phương tiện thuyền galê, một loại thuyền lớn sử dụng sức người để di chuyển.

Nền văn minh Phoenicia được tổ chức thành các thành bang, tương tự như Hy Lạp cổ đại. Mỗi thành bang là một đơn vị độc lập về chính trị, các thành bang có thể xung đột và thống trị nhau, các thành bang thường hợp tác thành các liên minh. Ranh giới cổ đại của các thành bang này thường không ổn định, thành phố Týros nằm ở cực nam. Thành phố Sarepta (ngày nay là Sarafand) giữa Sidon và Týros là thành phố được khai quật nhiều nhất.

Phoenicia là xã hội cấp nhà nước đầu tiên sử dụng bảng chữ cái một cách rộng rãi. Bảng chữ cái Phoenicia được cho là nguồn gốc của những bảng chữ cái hiện đại, mặc dù nó không chứa nguyên âm (sau này được bổ sung bởi người Hy Lạp). Người Phoenicia nói tiếng Phoenicia, một thứ tiếng thuộc nhóm ngôn ngữ Canaan trong ngữ hệ Semitic. Thông qua thương mại hàng hải, người Phoenicia phổ biến việc sử dụng bảng chữ cái tới Bắc Phi và châu Âu. Người Hy Lạp đã sử dụng bảng chữ cái và truyền lại cho người Etrusca, những người đã truyền lại cho người La Mã.

Roma

Roma (tiếng Latinh và tiếng Ý: Roma; còn phổ biến với tên gọi Rome trong tiếng Anh và tiếng Pháp hay La Mã theo phiên âm Hán Việt) là thủ đô của nước Ý và là một đô thị cấp huyện (comune) loại đặc biệt (có tên đầy đủ là Comune di Roma Capitale), đồng thời đóng vai trò là thủ phủ vùng Lazio của quốc gia này. Roma là thành phố lớn nhất và đông dân nhất ở Ý với hơn 2,8 triệu cư dân trong phạm vi 1.285 km². Đây là thành phố đông dân thứ tư của Liên minh châu Âu, sau Luân Đôn, Berlin và Madrid, tính theo số dân sinh sống bên trong phạm vi thành phố. Roma cũng đồng thời là trung tâm của Thành phố đô thị Roma Thủ đô với hơn 4,3 triệu cư dân, do đó là thành phố đô thị đông dân nhất của nước Ý. Roma tọa lạc ở vùng Lazio, dọc theo con sông Tevere (khu vực Latium lịch sử) thuộc Trung Tây của bán đảo Ý. Thành quốc Vatican (quốc gia nhỏ nhất thế giới) là một đất nước độc lập nằm trong lòng Roma, đây là ví dụ duy nhất về một quốc gia nằm trong lãnh thổ của một thành phố; cũng vì lý do này mà Roma thường được xem là thủ đô lưỡng quốc.Lịch sử Roma trải dài 28 thế kỷ. Mặc dù thần thoại La Mã đặt mốc thời gian thành lập Roma vào khoảng năm 753 TCN, tuy nhiên thành phố đã có mặt cư dân sinh sống lâu hơn thế, khiến nó trở thành một trong những khu định cư lâu đời nhất có con người vẫn đang tiếp tục sinh sống tại châu Âu. Cư dân ban đầu của thành phố có nguồn gốc hỗn hợp từ người Latinh, Etrusca và Sabine. Sau đó, thành phố trở thành thủ đô của Vương quốc La Mã, Cộng hòa La Mã và Đế quốc La Mã, và được nhận định là cái nôi của nền văn minh phương Tây cũng như là kiểu mẫu đô thị trung tâm đầu tiên từng xuất hiện. Roma ban đầu được gọi là Thành phố vĩnh hằng (tiếng Latinh: Urbs Aeterna) bởi thi hào Tibullus người La Mã trong thế kỷ thứ nhất TCN và ý tưởng đó đã được Ovidius, Vergilius và Livius tiếp nối. Thành phố còn nổi tiếng với danh hiệu "Caput Mundi" trong tiếng Latinh có nghĩa là Kinh đô thế giới. Theo sau sự sụp đổ của Đế quốc Tây La Mã đánh dấu khởi đầu của Đêm trường Trung Cổ, Roma dần rơi vào sự thống trị của giáo hoàng (đã cư ngụ tại thành phố kể từ thế kỷ 1) và chính thức thế kỷ 8 trở thành thủ đô của Vương quốc Giáo hoàng tồn tại cho đến năm 1870. Bắt đầu từ thời kỳ Phục Hưng, hầu như tất cả các giáo hoàng từ Nicôla V (1447–1455) trở đi đều chủ trương theo đuổi tiến trình mang tính kiến trúc và đô thị hóa liên tục suốt 400 năm nhằm mục đích biến thành phố trở thành trung tâm nghệ thuật và văn hóa của thế giới. Do vậy, Roma trở thành trung tâm lớn của nền Phục Hưng Ý, và sau đó là nơi khai sinh của trường phái Baroque và chủ nghĩa Tân cổ điển. Các nghệ sĩ, họa sĩ, nhà điêu khắc và kiến trúc sư nổi tiếng đã biến Roma trở thành trung tâm hoạt động của họ, tạo ra những kiệt tác khắp toàn thành phố. Năm 1871, Roma chính thức trở thành thủ đô của Vương quốc Ý thống nhất và sau đó là Cộng hòa Ý từ năm 1946 cho đến ngày nay.

Roma mang đẳng cấp của một thành phố toàn cầu. Trong năm 2016, Roma xếp thứ 14 trong số những thành phố được viếng thăm nhiều nhất thế giới, đứng thứ 3 tại châu Âu và là điểm thu hút khách du lịch nổi tiếng nhất tại Ý. Khu trung tâm lịch sử của Roma được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới. Bảo tàng Vatican nổi tiếng nằm trong số những bảo tàng được viếng thăm nhiều nhất thế giới và Đấu trường La Mã trở thành điểm thu hút khách du lịch phổ biến nhất thế giới với 7,4 triệu lượt khách trong năm 2018. Roma cũng là nơi tổ chức Thế vận hội Mùa hè 1960. Roma là trụ sở của các cơ quan chuyên môn thuộc Liên Hiệp Quốc như Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO), Chương trình Lương thực Thế giới (WFP) và Quỹ quốc tế về phát triển nông nghiệp (IFAD). Thành phố cũng là nơi đặt văn phòng Tổng thư ký Hội đồng Nghị viện Liên minh Địa Trung Hải (UfM) cũng như trụ sở của nhiều tập đoàn kinh doanh quốc tế như Eni, Enel, TIM, Leonardo S.p.A., và các ngân hàng nhà nước và quốc tế như Unicredit và BNL. Khu vực quận kinh tế và trung tâm thương mại của thành phố được gọi là EUR, là cơ sở của nhiều công ty quan trọng tham gia vào các ngành công nghiệp dầu mỏ, công nghiệp dược phẩm và dịch vụ tài chính. Roma cũng là một trung tâm thiết kế và thời trang quan trọng nhờ các thương hiệu quốc tế nổi tiếng có trụ sở tại thành phố, và đứng ở vị trí thứ 5 trong bảng xếp hạng các kinh đô thời trang của thế giới trong những năm gần đây. Phim trường Cinecittà của Roma, phim trường lớn nhất tại châu Âu, đã trở thành nơi bấm máy của rất nhiều bộ phim đoạt giải Oscar.

Thế Holocen

Thế Holocen (còn gọi là thế Toàn Tân) là một thế địa chất bắt đầu khi kết thúc thế Pleistocen, vào khoảng 11.700 năm trước (vào khoảng 9.700 TCN) và còn tiếp tục ngày nay. Thế Holocen thuộc về kỷ Neogen và phân đại Đệ Tứ. Tên của nó bắt nguồn từ ὅλος (holos, toàn bộ) và καινός (kainos, mới) trong tiếng Hy Lạp. Thế này được coi là một giai đoạn gian băng trong thời kỳ băng hà hiện nay.

Phần nhiều nhà khoa học chấp nhận rằng thế Holocen bắt đầu 10 ngàn năm trước theo định tuổi bằng cacbon C-14 (11.703 năm trước 1950). Thế này bắt đầu ngay sau băng hà Weichsel (thời kỳ băng hà Wisconsin hay thời kỳ băng hà Baltic-Scandinavia). Tại châu Âu, thế Holocene được chia ra thành 5 thời đới (chronozone) theo thay đổi khí hậu: đới Tiền Boreal (Preboreal; 10–9 ngàn năm trước), đới Boreal (9–8 ngàn năm trước), đới Đại Tây Dương (Atlantic; 8–5 ngàn năm trước), đới Hạ Boreal (Subboreal; 5–2,5 ngàn năm trước), và đới Hạ Đại Tây Dương (Subatlantic; 2,5 ngàn năm trước đến ngày nay).

Tất cả văn minh con người xảy ra trong thế Holocen. Hệ thống giai đoạn khí hậu Blytt-Sernander, mới đầu được định nghĩa theo vết cây cối còn lại trong bãi than bùn, không còn được sử dụng. Hệ thống này được phát triển cho miền bắc châu Âu, nhưng các thay đổi khí hậu xảy ra rộng rãi hơn. Các thế trong hệ thống này bao gồm một vài dao động cuối cùng trước thế Holocen của thời kỳ băng hà cuối và phân loại các khí hậu của tiền sử gần đây hơn.

Các nhà cổ sinh vật học chưa định rõ tầng động vật cho thế Holocen. Khi cần chia ra thế này từng giai đoạn nhỏ hơn, các giai đoạn trong phát triển của con người, đó là thời đại đồ đá giữa (Mesolithic), thời đại đồ đá mới (Neolithic), và thời đại đồ đồng thường được sử dụng. Tuy nhiên, ba thuật ngữ này ứng với các thời gian sẽ khác ở các vùng khác trên thế giới, tùy lúc mà những công nghệ này nổi lên ở vùng đó. Vì thế, các nhà khoa học thường không sử dụng thuật ngữ "thời đại đồ đá giữa" đối với những vùng ở ngoài miền bắc châu Âu.

Theo khí hậu, có thể chia thế Holocen thành hai giai đoạn đều là Hypsithermal và Băng hà mới (Neoglacial); biên giới là lúc thời đại đồ đồng bắt đầu trong văn minh phương Tây. Theo một số nhà khoa học, giai đoạn thứ ba, thế Anthropocen (thế Nhân Sinh) bắt đầu vào thế kỷ XVIII với Cách mạng công nghiệp.Mực nước biển dâng lên từ -13 m đến + 5 m so với mực nước biển hiện tại trong khoảng thời gian cách đây 8.000 - 4.000 năm ở vùng eo biển Malacca.

Thời kỳ đồ gốm Vô Văn

Thời kỳ đồ gốm Vô Văn hay Thời kỳ đồ gốm Mumun là một thời đại khảo cổ học ở Triều Tiên thời tiền sử có niên đại khoảng 1500-300 TCN Thời đại này được đặt tên theo các loại nồi nấu bằng gốm vốn được tạo tác trong suốt thời kỳ này, đặc biệt là giai đoạn 850-550 TCN.

Thời kỳ Mumun được biết đến nhờ kỹ thuật thâm canh và các xã hội phức tạp ở cả bán đảo Triều Tiên và quần đảo Nhật Bản. Thời kỳ này đôi khi được gọi là "Thời đại đồ đồng Triều Tiên", sau khi Christian Jürgensen Thomsen sáng tạo ra hệ thông phân loại ba thời đại lịch sử nhân loại trong thế kỷ 19. Tuy nhiên việc đặt tên như vậy không hoàn toàn chính xác do khu vực này chỉ bắt đầu chế tạo đồ đồng từ cuối thế kỷ 8 TCN, đồ đồng cũng rất hiếm. Sự bùng nổ trong khai quật các hiện vật thời kỳ Mumun vào giữa thập niên 1990 đã tăng thêm kiến thức về thời kỳ mang tính định hình thời tiền sử ở Đông Á.

Thời tiền sử

Thời đại tiền sử là thuật ngữ thường được dùng để mô tả thời đại trước khi lịch sử được viết. Paul Tournal lúc đầu tạo ra thuật ngữ trước-lịch sử (Pré-historique) để mô tả những vật ông tìm thấy trong các hang động của miền Nam nước Pháp. Nó đã được sử dụng trong ngôn ngữ tiếng Pháp vào những năm 1830 để miêu tả thời gian trước khi có chữ viết, và nó được đưa vào trong ngôn ngữ tiếng Anh bởi Daniel Wilson vào năm 1851.

Thời đại tiền sử có thể được hiểu là thời đại được bắt đầu của vạn vật, vũ trụ, tuy nhiên thuật ngữ này hầu hết được sử dụng để mô tả các thời kỳ có sự sống trên trái đất; những con khủng long có thể được mô tả là các động vật thời kỳ tiền sử và người thượng cổ (ở trong hang) được mô tả là người tiền sử.

Bởi vì không có chữ viết từ thời tiền sử, nên những thông tin mà chúng ta biết về thời kỳ này là được biết ở ngoài thực địa của các khoa học như cổ sinh học, sinh học, linh trưởng học, địa chất học, khảo cổ học, thiên văn học và các khoa học tự nhiên cũng như các khoa học xã hội khác.

Thời đại đồ đá mới

Thời đại đồ đá mới là một giai đoạn của thời đại đồ đá trong lịch sử phát triển công nghệ của loài người, bắt đầu từ khoảng năm 10.200 TCN theo bảng niên đại ASPRO ở một vài nơi thuộc Trung Đông, và sau đó ở các nơi khác trên thế giới và kết thúc giữa 4500 và 2000 BC. Theo cách hiểu thông thường, đây là giai đoạn cuối của thời kỳ đồ đá. Thời kỳ đồ đá mới là giai đoạn tiếp theo của Epipaleolithic trong Holocene, bắt đầu bằng sự rộ lên của việc nuôi trồng, và tạo ra cuộc "cách mạng thời kỳ đồ đá mới", và thời kỳ này kết thúc khi các công cụ kim loại trở nên phổ biến trong thời đại đồ đồng đá, hoặc thời đại đồ đồng hoặc phát triển trực tiếp lên thời kỳ đồ sắt, tùy theo các vùng địa lý. Thời kỳ đồ đá mới là một bước tiến triển về các thay đổi và đặc điểm của văn hóa và ứng xử, như việc sử dụng các loại cây trồng hoang dại và thuần hóa và sử dụng các loài động vật được thuần hóa.Sự khởi đầu của nền văn hoá thời kỳ đồ đá mới được xem là ở Levant (Jericho, Bờ Tây ngày nay) khoảng 10.200 – 8.800 BC. Nó phát triển trực tiếp từ nền văn hoá Natufian Epipaleolithic trong khu vực, những người đã đi tiên phong trong việc sử dụng các loại ngũ cốc hoang dã, sau đó phát triển thành nông nghiệp thực sự. Thời kỳ Natufian kéo dài từ 12.500 đến 9.500 BC, và được gọi là "thời kỳ Tiền- Đồ Đá Mới" và bây giờ được gọi là Thời kỳ Đá Mới Tiền Gốm (PPNA) từ 10.200 đến 8800 BC. Khi những người Natufians trở nên phụ thuộc vào các loại ngũ cốc hoang dã trong chế độ ăn uống của họ, và một lối sống định cư đã bắt đầu trong một số họ, những thay đổi khí hậu liên quan đến thời kỳ Dryas Trẻ được cho là buộc người ta phải phát triển nông nghiệp.

Vào năm 10.200 - 8.800 BC, các cộng đồng nông nghiệp đã phát triển ở vùng Levant và lan rộng đến Tiểu Á, Bắc Phi và Bắc Lưỡng Hà. Lưỡng Hà là địa điểm phát triển sớm nhất của Cuộc Cách mạng Đá Mới từ khoảng năm 10.000 BC.

Nông nghiệp Đá Mới sớm được giới hạn trong phạm vi hẹp của thực vật, cả hoang dã và thuần hoá, bao gồm lúa mì einkorn, kê và “spelt”, và nuôi chó, cừu và dê. Vào khoảng năm 6900-6400 BC, nó bao gồm lợn và gia súc thuần hoá, hình thành khu định cư có người ở thường xuyên hoặc theo mùa, và sử dụng gốm.

Không phải tất cả những yếu tố văn hoá đặc trưng của thời Đồ đá Mới xuất hiện ở mọi nơi theo cùng một trật tự: những xã hội nông nghiệp sớm nhất ở vùng Cận Đông không sử dụng gốm. Tại các khu vực khác trên thế giới, như Châu Phi, Nam Á và Đông Nam Á, các sự kiện thuần hóa độc lập đã dẫn tới những nền văn hoá thời kỳ đồ đá mới đặc biệt trong khu vực phát sinh hoàn toàn độc lập với các nền văn hoá ở Châu Âu và Tây Nam Á. Các xã hội Nhật Bản đầu tiên và các nền văn hoá Đông Á khác đã sử dụng đồ gốm trước khi phát triển nông nghiệp.

Thuật ngữ Neilithic bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp có nghĩa đen là "New Stone Age". Thuật ngữ được Sir John Lubbock sáng tạo vào năm 1865 là sự phân chia của hệ thống ba thời kỳ.

Chia giai đoạn theo đồ gốm

Một dãy đồ tạo tác thời đại Đồ Đá Mới, bao gồm vòng tay, đầu rìu, đục và dụng cụ đánh bóng. Các đồ tạo tác bằng đá thời kỳ đồ đá được đánh bóng rõ ràng và, ngoại trừ các mặt hàng chuyên dụng, không bị sứt mẻ.

Ở Trung Đông, các nền văn hoá được xác định là thời kỳ Đồ Đá Mới bắt đầu xuất hiện vào thiên niên kỷ 10 BC. Sự phát triển gần đây xảy ra ở Levant (ví dụ, Thời kỳ Đá Mới Tiền Gốm A và Thời kỳ Đá Mới Tiền Gốm B) và từ đó lan sang phía đông và phía tây. Các nền văn hoá thời kỳ Đồ Đá Mới được chứng minh ở đông nam Anatolia và bắc Lưỡng Hà vào khoảng năm 8000 BC.

Khu đô thị tiền sử Beifudi gần Yixian thuộc tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc, chứa đựng các di tích văn hoá đồng thời với văn hóa Cishan và Xinglongwa trong khoảng 6000- 5000 BC, những nền văn hoá Đá Mới ở phía đông của dãy núi Taihang, làm đầy khoảng cách khảo cổ học giữa hai nền văn hóa ở phía Bắc Trung Quốc. Tổng diện tích khai quật là hơn 1.200 yard vuông (1.000 m2, 0.10 ha), và việc thu thập các kết quả thời kỳ Đá Mới tại khu vực này bao gồm hai giai đoạn.

Thời kỳ Đồ Đá Mới 1 - Đồ Đá Mới Tiền Gốm A (PPNA)

Bài chính: Đồ Đá Mới Tiền Gốm A

Thời kỳ Đồ Đá Mới 1 (PPNA) bắt đầu vào khoảng 10.000 BC tại Levant. Một khu vực đền thờ ở phía đông nam Thổ Nhĩ Kỳ ở Göbekli Tepe vào khoảng năm 9500 BC có thể được coi là sự khởi đầu của thời kỳ này. Vị trí này được phát triển bởi các bộ lạc thợ săn- hái lượm du cư, biểu lộ là thiếu nhà định cư trong vùng lân cận và có thể là nơi thờ phụng nhân tạo lâu đời nhất được biết đến. Ít nhất bảy vòng đá, bao phủ 25 mẫu Anh (10 ha), có những cột đá vôi khắc động vật, côn trùng, và chim. Các công cụ đá đã được sử dụng rất nhiều bởi vì có lẽ hàng trăm người đã tạo ra những trụ cột, có thể đã hỗ trợ mái nhà. Các khu vực PPNA sớm khác có niên đại khoảng 9.500-9.000 BC đã được tìm thấy ở Jericho, West Bank (đặc biệt là Ain Mallaha, Nahal Oren và Kfar HaHoresh), Gilgal ở Thung lũng Jordan và Byblos, Li băng. Sự khởi đầu của thời Đồ Đá Mới 1 trùng lặp các giai đoạn Heavy neolithic và Tahunian với một mức độ nhất định.

Tiến bộ lớn của thời Đồ Đá Mới 1 là canh tác thực sự. Trong các nền văn hoá Natufian ở thời kỳ tiền đồ đá mới, các loại ngũ cốc hoang dã đã được thu hoạch, và có thể chọn hạt giống sớm và tái trồng xảy ra. Hạt đã được nghiền thành bột. Lúa mì Emmer đã được thuần hoá, và động vật được chăn thả và thuần hoá (động vật được làm giống và chọn giống) [cần dẫn nguồn]

Vào năm 2006, những gì còn lại của quả sung đã được phát hiện trong một ngôi nhà ở Jericho từ năm 9400 TCN. Cây sung này là của một loại đột biến mà không thể thụ phấn bởi côn trùng, và do đó cây chỉ có thể tái sản xuất từ cây hom. Bằng chứng này cho thấy sung là cây trồng đầu tiên và đánh dấu phát minh về công nghệ nuôi trồng. Điều này xảy ra hàng thế kỷ trước khi trồng ngũ cốc đầu tiên. [7]

Sự định cư trở nên thường xuyên hơn với các căn nhà tròn, giống như những căn nhà của người Natufian, với các phòng đơn. Tuy nhiên, những căn nhà này lần đầu tiên được làm bằng bùn. Khu định cư có một bức tường đá xung quanh và có lẽ có một tháp đá (như ở Jericho). Tường được sử dụng làm bảo vệ, như là bảo vệ khỏi lũ lụt, hoặc để giữ động vật. Một số thùng đựng cũng cho thấy để lưu trữ ngũ cốc và thịt.

Thời đại đồ đồng đá

Thời đại đồ đồng đá hay thời đại đồng đá, thời kỳ đồ đồng đá, thời kỳ đồng đá, nguyên gốc từ cụm từ trong tiếng Hy Lạp χαλκόςλίθος (khalkoslithos nghĩa là đồng đá), tại một số nước châu Âu được gọi là Copper Age (Anh)/Edad del Cobre (Tây Ban Nha)/Aevum cupri (La tinh)/Kupfersteinzeit (Đức)/Медный век (Nga) v.v đều có nghĩa là thời kỳ /đại đồ đồng [kim loại]. Tuy nhiên cụm từ thời đại đồ đồng trong tiếng Việt lại được dùng để chỉ giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn này. Trong các văn bản khoa học còn có thể gọi là Eneolithic (Æneolithic). Nó là một giai đoạn trong sự phát triển các nền văn hóa của con người, trong đó việc sử dụng các công cụ bằng kim loại đã xuất hiện, cùng với việc sử dụng các công cụ bằng đá.

Thời kỳ này là giai đoạn chuyển tiếp bên ngoài hệ thống ba thời đại kinh điển, và nó diễn ra giữa thời đại đồ đá mới và thời đại đồ đồng. Nó biểu hiện ở chỗ đồng chưa được khai thác nhiều và các cố gắng đầu tiên trong việc tạo hợp kim của đồng với thiếc và các kim loại khác đã diễn ra khá sớm, làm cho việc phân biệt các nền văn hóa và/hoặc thời kỳ đồng đá khác biệt là rất khó.

Sự xuất hiện của nghề luyện kim đã diễn ra đầu tiên ở Vùng lưỡi liềm màu mỡ (bao gồm Levant, Lưỡng Hà cổ đại, Ai Cập cổ đại), nơi các nền văn hóa đã chuyển vào thời đại đồ đồng từ thiên niên kỷ 4 TCN. Sự phát minh độc lập và hạn chế của luyện kim tại Trung Mỹ tiền-Columbus hình thành trong thế kỷ 7 không được coi là gắn liền với giai đoạn "đồng đá".

Thời đại đồng đá ở Trung Đông và Kavkaz bắt đầu vào cuối thiên niên kỷ 5 TCN và kéo dài khoảng một thiên niên kỷ trước khi chuyển qua giai đoạn đồ đồng sớm. Sự chuyển tiếp của thời đại đồng đá sang thời đại đồ đồng ở châu Âu diễn ra khoảng 1 thiên niên kỷ muộn hơn, vào khoảng cuối thiên niên kỷ 4-3 TCN.

Theo Parpola, các nét tương đồng đồ gốm của văn minh sông Ấn, miền nam Turkmenistan và miền bắc Iran trong giai đoạn 4300–3300 TCN của thời đại đồng đá cho thấy tính lưu động và thương mại đáng kể.

Văn hóa Andronovo

Văn hóa Andronovo là tên gọi chung của một nhóm các văn hóa khảo cổ gần gũi thuộc thời đại đồ đồng, diễn ra trong khoảng từ 2300 tới 1000 TCN tại Tây Siberi, phía tây của Trung Á, Nam Ural. Tên gọi có nguồn gốc từ làng Andronovo (55°53′B 55°42′Đ) gần Achinsk, nơi vào năm 1914 lần đầu tiên người ta phát hiện được các mộ táng thuộc văn hóa này.

Văn hóa Andronovo được nhà khảo cổ học Nga Sergey Aleksandrovich Teploukhov xác định năm 1927. Các nghiên cứu cũng được nhà khảo cổ Konstantin Vladimirovich Salnikov thực hiện và năm 1948 ông đã đề xuất phân loại đầu tiên cho các di chỉ của văn hóa này. Ông chia văn hóa này thành 3 giai đoạn là: Fedorovo, Alakul và Zamaraev.

Ngày nay trong thành phần của văn hóa Andronovo người ta chia ra là ít nhất 4 văn hóa có quan hệ họ hàng:

Sintashta-Petrovka-Arkaim (Nam Ural, bắc Kazakhstan, 2200-1600 TCN,

Khu dân cư được tăng cường gia cố Sintashta ở tỉnh Chelyabinsk, có niên đại 1800 TCN;

Khu dân cư Arkaim, cũng trong tỉnh Chelyabinsk, có niên đại 1700 TCN;

Alakul (2100-1400 TCN), trong khu vực giữa các sông Amu Darya và Syr Darya, sa mạc Kyzyl Kum;

Alekseyevka (1300-1100 TCN) ở miền đông Kazakhstan, có tiếp xúc với Namazga-Tepe VI tại Turkmenistan.

Thung lũng Ingal ở miền nam tỉnh Tyumen, trong đó các di chỉ của các văn hóa Alakul, Fedorovo và Sargat xen kẽ lẫn nhau.

Fedorovo (1500-1300 TCN) ở Nam Siberi (lần đầu tiên bắt gặp sự hỏa táng và thờ cúng lửa);

Beshkent-Bakhsh (Tajikistan), 1000-800 TCN.

Văn hóa Hầm mộ

Văn hóa Hầm mộ hay văn hóa Catacomb (từ tiếng Nga và tiếng Ukraina катакомба nghĩa là hầm mộ hay mộ động), khoảng 2000-1250 TCN, là thuật ngữ chỉ một văn hóa đầu thời đại đồ đồng trên khu vực về cơ bản ngày nay là phía đông và nam Ukraina, các vùng Hạ Volga, bắc Kavkaz và dọc sông Đông. Nó có quan hệ mật thiết với văn hóa Yamna (khoảng 3600-2300 TCN), và dường như có thể là thuật ngữ mang tính khu vực nhiều hơn để nói tới một vài văn hóa nhỏ hơn có liên quan về mặt khảo cổ học, như văn hóa Donetsk, văn hóa Pred-Kavkaz và văn hóa Kharkiv-Voronezh v.v. Được V. A. Gorodtsov phát hiện đầu thế kỷ 20.

Văn hóa Phùng Nguyên

Văn hóa Phùng Nguyên là một nền văn hóa tiền sử thuộc sơ kỳ thời đại đồ đồng, cuối thời đại đồ đá mới, cách đây chừng 4.000 năm đến 3.500 năm. Phùng Nguyên là tên một làng ở xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, nơi đầu tiên tìm ra các di chỉ của nền văn hóa này. Di chỉ văn hóa Phùng Nguyên đã được phát hiện ở Phú Thọ, Bắc Ninh, Ninh Bình, Hà Nội, Hải Phòng và một vài nơi khác trong lưu vực sông Hồng. Tính đến năm 1998, có khoảng 55 địa điểm đã được phát hiện có di chỉ văn hóa đồng dạng với các di chỉ tại Phùng Nguyên, trong đó có 3 địa điểm có di cốt người. Ở những nơi đây, trong tất cả các hiện vật khảo cổ khai quật được thuộc nền văn hóa này, ngoài ít mẩu xỉ đồng, hiện tại chưa hề tìm thấy bất kỳ công cụ bằng đồng nào. Công cụ bằng đá phổ biến và chiếm ưu thế tuyệt đối. Đồ trang sức bằng các loại đá, đá bán quý, ngọc được tìm thấy nhiều, đặc biệt là các vòng đá. Ngoài đồ đá, cư dân Phùng Nguyên đã biết chế tạo đồ gốm đặc sắc từ khâu làm đất, tạo dáng cho đến hoa văn trang trí.

Cùng thuộc sơ kỳ thời đại đồ đồng ở Việt Nam như văn hóa Phùng Nguyên còn có văn hóa Cồn Chân Tiên, Hoa Lộc (lưu vực sông Mã), văn hóa của các bộ lạc người nguyên thủy ở lưu vực sông Lam, của các bộ lạc ở thượng lưu sông Mã (huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La), văn hóa Tiền Sa Huỳnh (Trung Trung bộ), văn hóa Đồng Nai (Đông Nam bộ).

Văn hóa Poltavka

Văn hóa Poltavka, 2700—2100 trước Công nguyên, một nền văn hóa khảo cổ thời kỳ đồ đồng giữa của Volga từ nơi kênh Don-Volga bắt đầu đến khúc quanh Samara, với phần mở rộng phía bắc của Kazakhstan hiện tại dọc theo thung lũng sông Samara. Phía tây của Orenburg.

Nó giống như nền văn hóa Catacomb trước nền văn hóa Yamna, trong khi thành công của nền văn hóa Sintashta. Nó dường như được xem như là một biểu hiện sớm của văn hóa Srubna. Có bằng chứng về ảnh hưởng từ văn hóa Maykop về phía nam của nó.

Những điều thực sự duy nhất phân biệt nó với văn hóa Yamna là những thay đổi trong đồ gốm và sự gia tăng các vật bằng kim loại. Tumulus inhumations tiếp tục, nhưng với ít sử dụng đất son.

Nó được bắt đầu bởi văn hóa Yamna và thành công bởi văn hóa Srubna và Sintashta. Nó được cho là sớm Ấn-Iran (Proto-Ấn-Iran).

Văn hóa Srubna

Văn hóa Srubna là một văn hóa khảo cổ Tiền Scythia hay Cimmeria, tồn tại trong khoảng từ thế kỷ 17 TCN tới thế kỷ 12 TCN, thuộc thời đại đồ đồng. Nó xuất hiện trong khu vực thảo nguyên và rừng-thảo nguyên Đông Âu và Trung Á, từ România tới Turkmenistan và vùng ven hồ Balkhash.

Văn hóa Đồng Đậu

Văn hoá Đồng Đậu là nền văn hóa thuộc thời kỳ đồ đồng ở Việt Nam cách ngày nay khoảng 3.000 năm, sau văn hóa Phùng Nguyên, trước văn hóa Gò Mun. Tên của nền văn hóa này đặt theo tên khu di tích Đồng Đậu ở thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, nơi các nhà khảo cổ học đã khám phá ra một nền văn hóa đồ đồng phong phú năm 1962.

Người Đồng Đậu sống ngoài trời trên các đồi gò trung du Bắc Bộ với một nền kinh tế khá ổn định và phát triển dựa trên nông nghiệp trồng lúa và các cây hoa màu. Các dấu tích luyện kim như xỉ đồng, các mảnh khuôn đúc (bằng đá) cho thấy nghề đúc đồng đã có và phát triển thời kỳ này.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.