Thời đại đồ đá mới

Thời đại đồ đá mới là một giai đoạn của thời đại đồ đá trong lịch sử phát triển công nghệ của loài người, bắt đầu từ khoảng năm 10.200 TCN theo bảng niên đại ASPRO ở một vài nơi thuộc Trung Đông, và sau đó ở các nơi khác trên thế giới và kết thúc giữa 4500 và 2000 BC.[1] Theo cách hiểu thông thường, đây là giai đoạn cuối của thời kỳ đồ đá. Thời kỳ đồ đá mới là giai đoạn tiếp theo của Epipaleolithic trong Holocene, bắt đầu bằng sự rộ lên của việc nuôi trồng, và tạo ra cuộc "cách mạng thời kỳ đồ đá mới", và thời kỳ này kết thúc khi các công cụ kim loại trở nên phổ biến trong thời đại đồ đồng đá, hoặc thời đại đồ đồng hoặc phát triển trực tiếp lên thời kỳ đồ sắt, tùy theo các vùng địa lý. Thời kỳ đồ đá mới là một bước tiến triển về các thay đổi và đặc điểm của văn hóa và ứng xử, như việc sử dụng các loại cây trồng hoang dại và thuần hóa và sử dụng các loài động vật được thuần hóa.[2]

Sự khởi đầu của nền văn hoá thời kỳ đồ đá mới được xem là ở Levant (Jericho, Bờ Tây ngày nay) khoảng 10.200 – 8.800 BC. Nó phát triển trực tiếp từ nền văn hoá Natufian Epipaleolithic trong khu vực, những người đã đi tiên phong trong việc sử dụng các loại ngũ cốc hoang dã, sau đó phát triển thành nông nghiệp thực sự. Thời kỳ Natufian kéo dài từ 12.500 đến 9.500 BC, và được gọi là "thời kỳ Tiền- Đồ Đá Mới" và bây giờ được gọi là Thời kỳ Đá Mới Tiền Gốm (PPNA) từ 10.200 đến 8800 BC. Khi những người Natufians trở nên phụ thuộc vào các loại ngũ cốc hoang dã trong chế độ ăn uống của họ, và một lối sống định cư đã bắt đầu trong một số họ, những thay đổi khí hậu liên quan đến thời kỳ Dryas Trẻ được cho là buộc người ta phải phát triển nông nghiệp.

Vào năm 10.200 - 8.800 BC, các cộng đồng nông nghiệp đã phát triển ở vùng Levant và lan rộng đến Tiểu Á, Bắc Phi và Bắc Lưỡng Hà. Lưỡng Hà là địa điểm phát triển sớm nhất của Cuộc Cách mạng Đá Mới từ khoảng năm 10.000 BC.

Nông nghiệp Đá Mới sớm được giới hạn trong phạm vi hẹp của thực vật, cả hoang dã và thuần hoá, bao gồm lúa mì einkorn, kê và “spelt”, và nuôi chó, cừu và dê. Vào khoảng năm 6900-6400 BC, nó bao gồm lợn và gia súc thuần hoá, hình thành khu định cư có người ở thường xuyên hoặc theo mùa, và sử dụng gốm.

Không phải tất cả những yếu tố văn hoá đặc trưng của thời Đồ đá Mới xuất hiện ở mọi nơi theo cùng một trật tự: những xã hội nông nghiệp sớm nhất ở vùng Cận Đông không sử dụng gốm. Tại các khu vực khác trên thế giới, như Châu Phi, Nam Á và Đông Nam Á, các sự kiện thuần hóa độc lập đã dẫn tới những nền văn hoá thời kỳ đồ đá mới đặc biệt trong khu vực phát sinh hoàn toàn độc lập với các nền văn hoá ở Châu Âu và Tây Nam Á. Các xã hội Nhật Bản đầu tiên và các nền văn hoá Đông Á khác đã sử dụng đồ gốm trước khi phát triển nông nghiệp.

Thuật ngữ Neilithic bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp có nghĩa đen là "New Stone Age". Thuật ngữ được Sir John Lubbock sáng tạo vào năm 1865 là sự phân chia của hệ thống ba thời kỳ.

Chia giai đoạn theo đồ gốm

Một dãy đồ tạo tác thời đại Đồ Đá Mới, bao gồm vòng tay, đầu rìu, đục và dụng cụ đánh bóng. Các đồ tạo tác bằng đá thời kỳ đồ đá được đánh bóng rõ ràng và, ngoại trừ các mặt hàng chuyên dụng, không bị sứt mẻ.

Ở Trung Đông, các nền văn hoá được xác định là thời kỳ Đồ Đá Mới bắt đầu xuất hiện vào thiên niên kỷ 10 BC. Sự phát triển gần đây xảy ra ở Levant (ví dụ, Thời kỳ Đá Mới Tiền Gốm A và Thời kỳ Đá Mới Tiền Gốm B) và từ đó lan sang phía đông và phía tây. Các nền văn hoá thời kỳ Đồ Đá Mới được chứng minh ở  đông nam Anatolia và bắc Lưỡng Hà vào khoảng năm 8000 BC.

Khu đô thị tiền sử Beifudi gần Yixian thuộc tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc, chứa đựng các di tích văn hoá đồng thời với văn hóa Cishan và Xinglongwa trong khoảng 6000- 5000 BC, những nền văn hoá Đá Mới ở phía đông của dãy núi Taihang, làm đầy khoảng cách khảo cổ học giữa hai nền văn hóa ở phía Bắc Trung Quốc. Tổng diện tích khai quật là hơn 1.200 yard vuông (1.000 m2, 0.10 ha), và việc thu thập các kết quả thời kỳ Đá Mới tại khu vực này bao gồm hai giai đoạn.

Thời kỳ Đồ Đá Mới 1 - Đồ Đá Mới  Tiền Gốm A (PPNA)

Bài chính: Đồ Đá Mới  Tiền Gốm A

Thời kỳ Đồ Đá Mới 1 (PPNA) bắt đầu vào khoảng 10.000 BC tại Levant. Một khu vực đền thờ ở phía đông nam Thổ Nhĩ Kỳ ở Göbekli Tepe vào khoảng năm 9500 BC có thể được coi là sự khởi đầu của thời kỳ này. Vị trí này được phát triển bởi các bộ lạc thợ săn- hái lượm du cư, biểu lộ là thiếu nhà định cư trong vùng lân cận và có thể là nơi thờ phụng nhân tạo lâu đời nhất được biết đến. Ít nhất bảy vòng đá, bao phủ 25 mẫu Anh (10 ha), có những cột đá vôi khắc động vật, côn trùng, và chim. Các công cụ đá đã được sử dụng rất nhiều bởi vì có lẽ hàng trăm người đã tạo ra những trụ cột, có thể đã hỗ trợ mái nhà. Các khu vực PPNA sớm khác có niên đại khoảng 9.500-9.000 BC đã được tìm thấy ở Jericho, West Bank (đặc biệt là Ain Mallaha, Nahal Oren và Kfar HaHoresh), Gilgal ở Thung lũng Jordan và Byblos, Li băng. Sự khởi đầu của thời Đồ Đá Mới 1 trùng lặp các giai đoạn Heavy neolithic và Tahunian với một mức độ nhất định.

Tiến bộ lớn của thời Đồ Đá Mới 1 là canh tác thực sự. Trong các nền văn hoá Natufian ở thời kỳ tiền đồ đá mới, các loại ngũ cốc hoang dã đã được thu hoạch, và có thể chọn hạt giống sớm và tái trồng xảy ra. Hạt đã được nghiền thành bột. Lúa mì Emmer đã được thuần hoá, và động vật được chăn thả và thuần hoá (động vật được làm giống và chọn giống) [cần dẫn nguồn]

Vào năm 2006, những gì còn lại của quả sung đã được phát hiện trong một ngôi nhà ở Jericho từ năm 9400 TCN. Cây sung này là của một loại đột biến mà không thể thụ phấn bởi côn trùng, và do đó cây chỉ có thể tái sản xuất từ cây hom. Bằng chứng này cho thấy sung là cây trồng đầu tiên và đánh dấu phát minh về công nghệ nuôi trồng. Điều này xảy ra hàng thế kỷ trước khi trồng ngũ cốc đầu tiên. [7]

Sự định cư trở nên thường xuyên hơn với các căn nhà tròn, giống như những căn nhà của người Natufian, với các phòng đơn. Tuy nhiên, những căn nhà này lần đầu tiên được làm bằng bùn. Khu định cư có một bức tường đá xung quanh và có lẽ có một tháp đá (như ở Jericho). Tường được sử dụng làm bảo vệ, như là bảo vệ khỏi lũ lụt, hoặc để giữ động vật. Một số thùng đựng cũng cho thấy để lưu trữ ngũ cốc và thịt.

Thời tiền sử
Thế Holocen (Toàn Tân) Thời đại đồ sắt Sơ sử
  Thời đại đồ đồng muộn  
  Thời đại đồ đồng giữa
  Thời đại đồ đồng sớm
Thời đại đồ đồng
    Thời đại đồ đồng đá    
  Thời đại đồ đá mới Tiền sử
Thời đại đồ đá giữa
Thế Pleistocen (Canh Tân)     Thời đại đồ đá cũ muộn  
    Thời đại đồ đá cũ giữa
    Thời đại đồ đá cũ sớm
  Thời đại đồ đá cũ
Thời đại đồ đá

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ Figure 3.3 from First Farmers: The Origins of Agricultural Societies by Peter Bellwood, 2004
  2. ^ Some archaeologists have long advocated replacing "Neolithic" with a more descriptive term, such as "Early Village Communities", although this has not gained wide acceptance.

Tài liệu

  • Bellwood, Peter (2004). First Farmers: The Origins of Agricultural Societies. Wiley-Blackwell. ISBN 0631205667.
  • Pedersen, Hilthart (2008), "Die jüngere Steinzeit auf Bornholm", München & Ravensburg. ISBN 978-3-638-94559-2

Liên kết ngoài

Hệ thống ba thời đại: Thời đại đồ đá | Thời đại đồ đồng | Thời đại đồ sắt

Danh sách các thời kỳ khảo cổ

Anegundi, Kumta

Anegundi là một làng thuộc tehsil Kumta, huyện Uttara Kannada, bang Karnataka, Ấn Độ.

Ashkelon

Ashkelon or Ashqelon ( /ˈæʃkəlɒn/; tiếng Hebrew: אַשְׁקְלוֹן, [aʃkeˈlon]), cũng gọi là Ascalon ( /ˈæskəlɒn/; tiếng Hy Lạp: Ἀσκάλων, Askálōn; tiếng Ả Rập: عَسْقَلَان‎, ʿAsqalān), là một thành phố ven biển ở Huyện Nam của Israel trên bờ Địa Trung Hải, 50 km (31 dặm) về phía nam của Tel Aviv. Cảng biển cổ xưa của Ashkelon có từ thời kỳ đồ đá mới. Trong quá trình lịch sử của nó, khu vực này đã từng nằm dứơi sự cai trị của người Canaan, người Philistin, dân Do Thái, người Assyria, người Babylon, người Hy Lạp, người Phoenicia, người La Mã, người Ba Tư, người Ai Cập và quân Thập tự chinh, cho đến khi nó đã bị phá hủy bởi nhà Mamluk vào năm 1270.

Thành phố hiện đại của Ashkelon phát triển từ thị trấn Ả Rập al-Majdal (tiếng Ả Rập: المجدل hoặc tiếng Ả Rập: مجدل عسقلان, tiếng Do Thái: אל - מג 'דל, מגדל), được thành lập vào thế kỷ 16, dưới thời cai trị Đế quốc Ottoman. Sau đó nó được một phần của British mandate và đã bị Israel chiếm trong chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1948, vào ngày 05 tháng 11 năm 1948.

Ashkelon có dân số 111.700 người. Thành phố có bãi biển đẹp, là một điểm đến hấp dẫn cho các gia đình trẻ, cũng như cho các cặp vợ chồng về hưu.

Các mỏ đá lửa thời đại đồ đá mới ở Spiennes

Các mỏ đá lửa thời đại đồ đá mới ở Spiennes là một trong những mỏ đá lửa lớn nhất và sớm nhất có từ Thời đại đồ đá mới tồn tại ở tây bắc châu Âu. Mỏ đá lửa này nằm gần làng Spiennes, thuộc Wallonia, phía đông nam thành phố Mons, Bỉ. Các mỏ đá lửa đã được khai thác trong thời gian giữa và cuối thời đại đồ đá mới, tức là giữa năm 4.300 và 2.200 TCN. Được tuyên bố như là một địa điểm đáng chú ý về sự đa dạng của các giải pháp công nghệ được sử dụng để khai thác hài hòa với môi trường xung quanh, UNESCO đã công nhận các mỏ đá lửa này là Di sản thế giới từ năm 2000.

Hà Nội

Hà Nội là thủ đô của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cũng là kinh đô của hầu hết các vương triều phong kiến tại Việt Nam trước đây. Do đó, lịch sử Hà Nội gắn liền với sự thăng trầm của lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ. Hà Nội là thành phố trực thuộc trung ương có diện tích lớn nhất cả nước từ khi tỉnh Hà Tây sáp nhập vào, đồng thời cũng là địa phương đứng thứ nhì về dân số với hơn 8 triệu người (năm 2019), tuy nhiên, nếu tính những người cư trú không đăng ký thì dân số thực tế của thành phố này năm 2019 là gần 10 triệu người. Mật độ dân số của Hà Nội là 2.398 người/km², mật độ giao thông là 105,2 xe/km² mặt đường. Hiện nay, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là hai đô thị loại đặc biệt của Việt Nam.

Năm 2018, Hà Nội là đơn vị hành chính Việt Nam xếp thứ 02 về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ 08 về GRDP bình quân đầu người, đứng thứ 41 về tốc độ tăng trưởng GRDP. GRDP đạt 706.495 tỉ Đồng (tương ứng với 38,405 tỉ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 93,94 triệu đồng (tương ứng với 4.080 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 7,37%.Hà Nội nằm giữa đồng bằng sông Hồng trù phú, nơi đây đã sớm trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa ngay từ những buổi đầu của lịch sử Việt Nam. Năm 1010, vua Lý Thái Tổ, vị hoàng đế đầu tiên của nhà Lý, quyết định xây dựng kinh đô mới ở vùng đất này với cái tên Thăng Long. Trong suốt thời kỳ của các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, kinh thành Thăng Long là trung tâm văn hóa, giáo dục và buôn bán của cả nước. Khi Tây Sơn rồi nhà Nguyễn lên nắm quyền trị vì, kinh đô được chuyển về Huế và Thăng Long bắt đầu mang tên Hà Nội từ năm 1831, dưới thời vua Minh Mạng.

Năm 1902, Hà Nội trở thành thủ đô của Liên bang Đông Dương và được người Pháp xây dựng, quy hoạch lại, được mệnh danh là Tiểu Paris phương Đông thời bấy giờ. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, Hà Nội là thủ đô của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau khi thống nhất tiếp tục là thủ đô của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Đó là thủ đô của Đông Dương thuộc Pháp 1887-1946 và của miền Bắc Việt Nam trước khi thống nhất miền Bắc và miền Nam Việt Nam.

Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, Hà Nội hiện nay gồm 12 quận, 1 thị xã và 17 huyện ngoại thành. Hiện nay, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm kinh tế-xã hội đặc biệt quan trọng của Việt Nam.

Hà Nội được Tổ chức Khoa học, Văn hóa và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) trao tặng danh hiệu “Thành phố vì hòa bình” ngày 16/7/1999.

Hà Nội thường xuyên nằm ở top đầu các thành phố ô nhiễm, thậm chí nhiều ngày trong năm là thành phố ô nhiễm không khí nhất thế giới, với chỉ số bụi mịn ở mức nguy hiểm cho sức khỏe con người. Theo Báo cáo chất lượng không khí toàn cầu 2018 thì Hà Nội có hàm lượng bụi mịn cao gấp 4 lần mức khuyến cáo của WHO (40,8 mg/m3, mức khuyến cáo: 10 mg/m3). Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam thì Hà Nội là thành phố ô nhiễm không khí nhất với số ngày chất lượng không khí lên mức kém, xấu, nguy hại chiếm tỷ lệ cao.

Hồng Kông

Hồng Kông (tiếng Trung: 香港; Hán-Việt: Hương Cảng, Giọng Quảng Đông: [hœ́ːŋ.kɔ̌ːŋ] (), tiếng Anh: Hong Kong; /ˌhɒŋˈkɒŋ/), là một trong hai đặc khu hành chính của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, cùng với Macau. Hồng Kông nằm ở ngoài cửa sông Châu Giang, phía đông kênh Linh Đinh Dương, bắc giáp sông Thâm Quyến với thành phố Thâm Quyến của tỉnh Quảng Đông ở miền nam Trung Quốc. Với hơn 7,4 triệu người thuộc nhiều quốc tịch khác nhau trong một khu vực lãnh thổ rộng, Hồng Kông là một trong những nơi đông dân nhất thế giới.

Hồng Kông trở thành thuộc địa của Đế quốc Anh vào cuối Chiến tranh nha phiến lần đầu tiên vào năm 1842. Chủ quyền lãnh thổ được chuyển sang Trung Quốc vào năm 1997. Là một khu vực hành chính đặc biệt, Hồng Kông duy trì các hệ thống quản lý và kinh tế tách biệt với các hệ thống của Trung Quốc đại lục. Người dân ở đây có xu hướng xác định là người Hồng Kông hơn là người Trung Quốc.Ban đầu chỉ là một khu vực dân cư thưa thớt của các làng nông nghiệp và đánh cá, lãnh thổ này đã trở thành một trong những trung tâm tài chính và cảng thương mại quan trọng nhất thế giới. Nó được ước tính là nhà xuất khẩu lớn thứ mười của thế giới, nhà nhập khẩu lớn thứ chín thế giới, và thực thể thương mại lớn thứ bảy thế giới, và tiền tệ hợp pháp của nó (đồng đô la Hồng Kông) đứng thứ 13 thế giới trong danh sách tiền tệ giao dịch nhiều nhất. Hồng Kông là nơi tập trung nhiều cá nhân có giá trị ròng cực cao so với bất kỳ thành phố nào trên thế giới. Mặc dù thành phố có một trong những thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới, nhưng cũng có sự bất bình đẳng thu nhập nghiêm trọng.Hồng Kông được phân loại là một thành phố thế giới alpha +, cho thấy ảnh hưởng của nó trên toàn thế giới. Hồng Kông là một trong những trung tâm tài chính toàn cầu quan trọng nhất, nắm giữ điểm số Chỉ số phát triển tài chính cao nhất và luôn được xếp hạng là khu vực kinh tế cạnh tranh và tự do nhất trên thế giới năm 2017. Thành phố có số lượng nhà chọc trời lớn nhất thế giới, xung quanh cảng Victoria. Hồng Kông liên tục được xếp hạng cao về Chỉ số phát triển con người và là một trong những lãnh thổ có tuổi thọ cao nhất trên thế giới. Hơn 90 phần trăm dân số của Hong Kong sử dụng giao thông công cộng. Tuy nhiên, ô nhiễm không khí từ các khu vực công nghiệp lân cận của Trung Quốc đại lục đã gây ra một lượng lớn các hạt khí quyển trong khu vực.

Hổ phách

Hổ phách, còn được gọi là huyết phách, minh phách, hồng tùng chi, tiếng Latinh: succinum, là nhựa cây đã hóa đá (hóa thạch) từ thời đại đồ đá mới, được đánh giá cao về màu sắc và vẻ đẹp tự nhiên. Các phân tích cho thấy hổ phách có công thức cấu tạo là C40H64O4, viết gọn là (C10H16O)4. Hổ phách thường gặp dưới dạng khối nhựa cứng hoặc dạng nhũ đá với các khối to nhỏ không đều nhau, nhìn trong suốt với màu rất đẹp; một số trường hợp còn thấy rõ trong mảnh hổ phách chứa các động vật hóa thạch nguyên vẹn. Đem đun nóng, hổ phách tỏa mùi hương dễ chịu. Hổ phách dẫn nhiệt rất kém. Thales đã phát hiện ra từ 600 năm trước Công nguyên rằng khi chà xát liên tục vào miếng vải hoặc miếng len thì hổ phách sinh điện.

Hổ phách được sử dụng trong nhiều công nghệ. Đông y cổ truyền cho rằng hổ phách có vị ngọt, tính bình vào bốn kinh tâm, can, phế và bàng quang; có tác dụng an thần, định kinh, lợi tiểu tiện, tán ư huyết; chỉ dành cho người hỏa suy, thủy thịnh. Vì dễ mài giũa và cắt gọt, hổ phách trở thành vật liệu quý đối với ngành thủ công mỹ nghệ: chế biến tẩu thuốc, làm nhiều món trang sức đắt tiền như mặt nhẫn, sợi dây chuyền, cườm tay, hoa tai, v.v...

Lục súc

Lục súc (tiếng Trung: 六畜; bính âm: Liùchù) là một cách diễn đạt tại Trung Quốc, hàm ý chỉ sáu loại gia súc nuôi trong hoặc gần nhà là: ngựa (mã), trâu/bò (ngưu), cừu/dê (dương), chó (cẩu), lợn (trư) và gà (kê). Trước khi kết thúc thời đại đồ đá mới, người Trung Quốc đã thuần hóa thành công sáu loại gia súc này.

Cụm từ "lục súc" thường thấy trong Tả truyện, Chu lễ (周礼) và các điển tịch từ thời Tiên Tần. Thư tịch cổ nhất giải thích nội hàm của cụm từ "lục súc" là Nhĩ Nhã trong thiên "Thích Súc", trong đó xếp thứ tự "lục súc" là: mã, ngưu, dương, trư, cẩu, kê. Còn trong Tam tự kinh, thứ tự của lục súc là: mã, ngưu, dương, kê, khuyển, thỉ (豕, tức là lợn).

Miletus

Miletus (mī lē' təs) (tiếng Hy Lạp cổ: Μίλητος, Milētos; Latin: Miletus) là một thành phố của Hy Lạp cổ đại nằm trên bờ biển phía tây Tiểu Á (ngày nay là tỉnh Aydin của Thổ Nhĩ Kỳ), gần của sông Büyük Menderes ở Caria cổ đại. Trước khi bị Đế quốc Achaemenid của Ba Tư xâm chiếm vào giữa thế kỷ 6 TCN, Miletus được coi là thành phố giàu có nhất và lớn nhất của Hy Lạp.Rất khó kiếm được bằng chứng về những cư dân đầu tiên trên mảnh đất này vì nước biển dâng cũng như sự lắng đọng phù sa từ con sông Maeander. Bằng chứng có giá trị đầu tiên là của thời đại đồ đá mới. Vào đầu và giữa thời kỳ đồ sắt, những khu định cư ở đây nằm dưới ảnh hưởng của người Minoan. Theo truyền thuyết, người Crete (Crettans) đã tràn tới đây và thay thế người Leleges bản địa. Cái tên Miletus được đặt theo một địa danh của Crete.

Thời kỳ đồ gốm Trất Văn

Thời kỳ đồ gốm Trất Văn hay Thời kỳ đồ gốm Jeulmun là một thời đại khảo cổ ở Triều Tiên thời tiền sử kéo dài từ năm 8000 TCN tới 1500 TCN. Thời kỳ này bao gồm thời kỳ đồ đá giữa và thời kỳ đồ đá mới ở Triều Tiên, lần lượt kéo dài từ 8000 tới 3500 TCN và từ 3500 tới 1500 TCN. Do sự xuất hiện của đồ gốm trong thời kỳ này mà thời kỳ này còn được gọi là "Đồ đá mới Triều Tiên".Thời kỳ đồ gốm Jeulmun được đặt tên theo các công cụ nấu nướng bằng gốm được chế tạo trong thời kỳ này, đặc biệt là từ 4000 tới 2000 TCN. Jeulmun (Hangul: 즐문, Hanja: 櫛文) nghĩa là "họa tiết hình lược". Sự bùng nổ trong khai quật các hiện vật thời kỳ Jeulmun vào giữa thập niên 1990 đã tăng thêm kiến thức về thời kỳ mang tính định hình thời tiền sử ở Đông Á.

Thời kỳ Jeulmun là thời kỳ săn bắn, hái lượm, và canh tác nông nghiệp nhỏ.

Thời đại đồ đá giữa

Thời đại đồ đá giữa (tiếng Anh là Mesolithic có gốc từ tiếng Hy Lạp: mesos "giữa", lithos "đá") là một giai đoạn của thời đại đồ đá, một khái niệm khảo cổ được sử dụng để chỉ các nhóm nền văn hóa khảo cổ đặc trưng trong giai đoạn giữa thời đại đồ đá cũ và thời đại đồ đá mới.

Thuật ngữ này được sử dụng để chỉ nhiều khung thời gian khác nhau ở nhiều nơi thuộc Á-Âu. Đầu tiên nó được dùng để chỉ giai đoạn sau Holocene nhưng trước các dụng cụ thời kỳ nông nghiệp ở Tây Bắc châu Âu trong khoảng thời gian 12 đến 7 Ka BP (Kilo annum before present, ngàn năm trước).

Tuy nhiên nó cũng chỉ các dụng cụ từ Levant từ khoảng 22 đến 11,5 Ka BP. Ở Nhật Bản, thời kỳ Jōmon từ khoảng 16 đến 2,4 Ka BP đôi khi cũng được gọi là thời kỳ đồ đá giữa. Nó cũng dùng để chỉ một số nền văn hóa ở tiểu lục địa Ấn Độ từ 100 đến 32 Ka BP.

Thời đại đồ đá mới ở Hy Lạp

Thời đại đồ đá mới ở Hy Lạp là một thuật ngữ khảo cổ học được sử dụng để nhắc đến giai đoạn thời đại đồ đá mới của lịch sử Hy Lạp mà bắt đầu bằng việc truyền bá nông nghiệp tới Hy Lạp vào khoảng năm 7000–6500 TCN. Trong suốt giai đoạn này, nhiều sự thay đổi đã xuất hiện như là việc thiết lập và mở rộng một nền kinh tế kết hợp trồng trọt và chăn nuôi gia súc, những sáng tạo về mặt kiến trúc (ví dụ như "kiểu megaron" và những ngôi nhà "kiểu Tsangli"), cũng như là sự tinh vi trong nghệ thuật và chế tác công cụ.

Trường An

Trường An (giản thể: 长安; phồn thể: 長安; bính âm: Cháng'ān ; Wade–Giles: Ch'ang-an) là kinh đô của 13 triều đại trong lịch sử Trung Quốc. Trường An có nghĩa là "bình yên bền lâu" trong tiếng Hán. Trong thời gian tồn tại ngắn ngủi của nhà Tân, thành được đổi tên là "Thường An" (tiếng Trung: 常安; bính âm: Cháng'ān); sau khi triều đại này sụp đổ vào năm 23, tên cũ được khôi phục. Vào thời nhà Minh, tên của thành được đổi thành Tây An, và tên gọi này được duy trì cho đến nay.

Loài người đã định cư tại khu vực Trường An từ thời đại đồ đá mới, khi văn hóa Ngưỡng Thiều được hình thành tại Bán Pha ở ngoại thành. Cũng tại vùng lân cận phía bắc của Tây An ngày nay, người ta đã phát hiện được lăng mộ của Tần Thủy Hoàng với đội quân đất nung nổi tiếng bảo vệ cho ông.

Từ kinh đô Hàm Dương ở ngay phía tây Tây An ngày nay, nhà Tần đã cai trị một khu vực rộng lớn hơn bất kỳ lãnh thổ của triều đại Trung Quốc nào trước đó. Hoàng thành Trường An thời nhà Hán nằm ở tây bắc của Tây An hiện nay. Dưới thời nhà Đường, khu vực được gọi là Trường An nằm trong diện tích bên trong thành Tây An thời Minh, cộng với một số khu vực nằm ở phía đông và phía tây của nó, và một phần lớn khu vực ngoại ô phía nam. Suốt thời nhà Đường, Trường An có quy mô lớn hơn 8 lần so với thành Tây An thời Minh. Trong thời gian hoàng kim của mình, Trường An từng là thành phố lớn nhất và đông dân nhất thế giới. Khoảng năm 750, Trường An được gọi là "thành phố triệu dân" trong sử sách Trung Quốc, trong khi các ước tính hiện đại cho rằng trong thành nội có khoảng 800.000–1.000.000 dân. Theo điều tra dân số vào năm 742 được ghi trong Tân Đường thư, đếm được 362.921 hộ với 1.960.188 người tại Kinh Triệu phủ (京兆府), vùng đô thị bao gồm cả các thành nhỏ lân cận.

Văn hóa Bùi Lý Cương

Văn hóa Bùi Lý Cương (裴李崗文化, Péilǐgāng Wénhuà) là tên được các nhà khảo cổ học đặt cho một nhóm các cộng đồng thời đại đồ đá mới tại lưu vực sông Y-Lạc thuộc tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Nền văn hóa này tồn tại từ năm 7000 TCN đến 5000 TCN. Có trên 100 di chỉ đã được xác định thuộc về văn hóa Bùi Lý Cương, gần như toàn bộ trong số đó đều nằm trong một khu vực nhỏ có diện tích khoảng 100 km² ở ngay phía nam sông và dọc theo đôi bờ sông. Nền văn hóa này được đặt tên theo di chỉ Bùi Lý Cương được khai quật năm 1977 thuộc thành phố Tân Trịnh. Các nhà khảo cổ học cho rằng văn hóa Bùi Lý Cương theo chủ nghĩa quân bình, có ít cấu trúc mang tính chính trị.

Cư dân thuộc nền văn hóa Bùi Lý Cương trồng kê và chăn nuôi lợn, gia súc và gia cầm. Họ săn bắn hươu nai và lợn rừng, đánh cá tại dòng sông gần đó, dùng lưới làm từ sợi cây gai dầu. Văn hóa Bùi Lý Cương cũng là một trong những nền văn hóa Trung Quốc cổ nhất có hoạt động sản xuất đồ gốm. Nền văn hóa này mang điểm đặc trưng là có khu vực dân cư và khu vực mai táng riêng biệt, giống như hầu hết các nền văn hóa thời đại đồ đá mới. Các hiện vật thường thấy bao gồm mũi tên, mũi giáo, đầu rìu bằng đá; các công cụ bằng đá như đục, dùi, và liềm dùng để thu hoạch ngũ cốc, các đồ gốm dùng để nấu nướng và lưu trữ ngũ cốc.

Di chỉ Giả Hồ là một trong các di chỉ sớm nhất được xác định thuộc nền văn hóa Bùi Lý Cương.

Văn hóa Bắc Sơn

Văn hóa Bắc Sơn là tên gọi một nền văn hóa Việt Nam ở sơ kỳ thời đại đồ đá mới có niên đại sau nền văn hóa Hòa Bình, cách ngày nay từ một vạn đến tám ngàn năm. Bắc Sơn là đặt theo tên huyện Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn), nơi đầu tiên phát hiện những di vật của nền văn hóa này. Các bộ lạc chủ nhân của văn hóa Hòa Bình đã tạo ra nền văn hóa Bắc Sơn.

Văn hóa Bắc Tân

Văn hóa Bắc Tân (tiếng Trung: 北辛文化, 5300-4100 TCN) là một nền văn hóa thời đại đồ đá mới tại tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. 50 di chỉ thuộc nền văn hóa này đã được khai quật. Nền văn hóa này có các dấu tích của hoạt động canh tác kê và thuần hóa trâu.

Di chỉ đặc trưng Bắc Tân nằm tại Đằng Châu, Sơn Đông, được khai quật từ năm 1978 đến năm 1979. Văn hóa Bắc Tân phân bố rộng rãi, lấy Thái An làm trung tâm, tại Thanh Đảo, Lai Vu cũng như đại bộ phận Sơn Đông đều phát hiện di chỉ.

Văn hóa Hậu Lý

Văn hóa Hậu Lý (tiếng Trung: 后李文化; bính âm: Hou li wen hua, 6500-5500 TCN) là một nền văn hóa thuộc Thời đại đồ đá mới tại tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Người dân thuộc nền văn hóa này sống trong những căn nhà vuông, nửa ngầm. Bằng chứng khảo cổ cho thấy trong các di chỉ có chó và lợn được thuần hóa. Di chỉ Hậu Lý nằm ở huyện Lâm Truy thuộc Sơn Đông và được khai quật từ năm 1989 đến năm 1990. Nền văn hóa kế tiếp là văn hóa Bắc Tân.

Bằng chứng về việc canh tác lúa sớm nhất tại lưu vực Hoàng Hà đến từ hạt thóc bị cacbon hóa đến từ di chỉ Nguyệt Trang tại Tế Nam, Sơn Đông. Hạt thóc cacbon hóa được xác định niên đại theo phương pháp phóng xạ cacbon AMS có kết quả là 7050±80. Các nhà khảo cổ học cũng khai quật được kê từ di chỉ Nguyệt Trang.

Văn hóa Long Sơn

Văn hóa Long Sơn (giản thể: 龙山文化; phồn thể: 龍山文化; bính âm: Lóngshān Wénhuà) là một nền văn hóa vào cuối thời đại đồ đá mới tại Trung Quốc, tập trung tại trung du và hạ du Hoàng Hà, có niên đại từ 3000 TCN đến 2000 TCN. Văn hóa Long Sơn được đặt theo tên của trấn Long Sơn thuộc Tế Nam, Sơn Đông, là nơi di chỉ đầu tiên được phát hiện (1928) và khai quật (1930 và 1931) của nền văn hóa này, di chỉ Thành Tử Nhai.

Điểm đặc biệt của văn hóa Long Sơn là kỹ thuật làm gốm ở trình độ cao, bao gồm việc sử dụng các bàn xoay gốm, phát hiện ra chữ viết vào thời kỳ này được gọi là Cốt khắc văn (骨刻文). Văn hóa Long Sơn được biết đến với các đồ gốm đen được đánh bóng ở mức độ cao. Loại đồ gốm này có thành mỏng và màu đen được đánh bóng cũng được phát hiện tại lưu vực Trường Giang thuộc vùng ven biển đông nam Trung Quốc hiện nay. Đó là một dấu hiện rõ ràng rằng các phân nhóm nông nghiệp thời đại đồ đá mới của văn hóa Long Sơn đã vượt ra ngoài ranh giới của Trung Hoa cổ đại.Cách sinh hoạt trong văn hóa Long Sơn đánh dấu một quá trình chuyển đổi sang việc thành lập đô thị, với việc xuất hiện các bức tường đất và hào; di chỉ Đào Tự là điểm định cư lớn nhất có tường bao thuộc văn hóa Long Sơn. Việc canh tác lúa gạo lúc này rõ ràng đã được tiến hành. Các cư dân sản xuất tơ lụa quy mô nhỏ bằng cách nuôi và thuần hóa tằm tơ, xuất hiện hoạt động trồng dâu nuôi tằm sơ khởi.Các hóa thạch được phát hiện ở các di chỉ khảo cổ học cho thấy các cư dân đã sử dụng một phương thức bói toán dựa trên phân tích các vết rạn được tạo ra khi xương gia súc được đốt nóng..Cư dân thời đại đồ đá mới tại Trung Quốc đạt tới đỉnh cao trong văn hóa Long Sơn. Đến giai đoạn kết thúc văn hóa Long Sơn, nhân khẩu giảm mạnh, điều này ứng với sự biến mất của các đồ gốm đen chất lượng cao được phát hiện trong các mộ táng.

Giai đoạn đầu của văn hóa Long Sơn được cho là từ 3000-2600 TCN, trong khi giai đoạn sau là từ 2600-2000 TCN.Một loạt các khu vực địa lý tại Trung Quốc có liên hệ đến các tiểu giai đoạn của nền văn minh Long Sơn, đặc biệt là giai đoạn cuối. Giả dụ khu vực trung du Kính Hà và Vị Hà có các di chỉ khu định cư được gọi là văn hóa Long Sơn Thiểm Tây.

Văn hóa Mã Gia Diêu

Văn hóa Mã Gia Diêu (giản thể: 马家窑文化; phồn thể: 馬家窰文化; bính âm: Mǎjiāyáo Wénhuà)là một nền văn hóa thời đại đồ đá mới ước tính tồn tại từ 3300-2100 TCN tại khu vực Cam Túc và đông bộ Thanh Hải. Đây là nền văn hóa thải đào (gốm màu) sáng tạo huy hoàng, đạt tới đỉnh cao của việc làm gốm màu ở thế giới viễn cổ, đồng thời người ta cũng khai quật được các vật phẩm đồng thanh cổ xưa nhất của Trung Quốc. Văn hóa Mã Gia Banh là một loại hình văn hóa Ngưỡng Thiều phát triển về phía tây.

Nhà khảo cổ học người Thụy Điển Johan Gunnar Andersson từ năm 1921 đến 1923 đã tiến hành khai quật tại Mã Gia Diêu thuộc huyện Lâm Thao, Cam Túc. Năm 1975, tại di chỉ Đông Hương Lâm thuộc văn hóa Mã Gia Diêu (trên dưới 3000 TCN), người ta đã khai quật được một con dao bằng đồng thanh, đây là dụng cụ bằng đồng thanh cổ xưa nhất được phát hiện tại Trung Quốc, chứng minh cho việc Trung Quốc khi đó tiến vào thời đại đồ đồng.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.