Thời đại đồ đá giữa

Thời đại đồ đá giữa (tiếng Anh là Mesolithic có gốc từ tiếng Hy Lạp: mesos "giữa", lithos "đá") là một giai đoạn của thời đại đồ đá, một khái niệm khảo cổ được sử dụng để chỉ các nhóm nền văn hóa khảo cổ đặc trưng trong giai đoạn giữa thời đại đồ đá cũthời đại đồ đá mới.

Thuật ngữ này được sử dụng để chỉ nhiều khung thời gian khác nhau ở nhiều nơi thuộc Á-Âu. Đầu tiên nó được dùng để chỉ giai đoạn sau Holocene nhưng trước các dụng cụ thời kỳ nông nghiệp ở Tây Bắc châu Âu trong khoảng thời gian 12 đến 7 Ka BP (Kilo annum before present, ngàn năm trước).

Tuy nhiên nó cũng chỉ các dụng cụ từ Levant từ khoảng 22 đến 11,5 Ka BP. Ở Nhật Bản, thời kỳ Jōmon từ khoảng 16 đến 2,4 Ka BP đôi khi cũng được gọi là thời kỳ đồ đá giữa. Nó cũng dùng để chỉ một số nền văn hóatiểu lục địa Ấn Độ từ 100 đến 32 Ka BP.

Thời tiền sử
Thế Holocen (Toàn Tân) Thời đại đồ sắt Sơ sử
  Thời đại đồ đồng muộn  
  Thời đại đồ đồng giữa
  Thời đại đồ đồng sớm
Thời đại đồ đồng
    Thời đại đồ đồng đá    
  Thời đại đồ đá mới Tiền sử
Thời đại đồ đá giữa
Thế Pleistocen (Canh Tân)     Thời đại đồ đá cũ muộn  
    Thời đại đồ đá cũ giữa
    Thời đại đồ đá cũ sớm
  Thời đại đồ đá cũ
Thời đại đồ đá

Liên kết ngoài

Các dấu chân Happisburgh

Các dấu chân Happisburgh là các dấu chân cổ đã được phát hiện tháng 5/2013 ở Anh, ở dưới lớp trầm tích đá một bãi biển gần thành phố Happisburgh, Norfolk. Những dấu chân này sau đó đã bị sóng biển phá hỏng. Nghiên cứu các dấu chân này đã được công bố vào ngày 7 tháng 2 năm 2014. Đây là một trong những dấu chân người cổ nhất trên thế giới và được xem là bằng chứng sớm nhất của cuộc sống con người ở Bắc Âu. Đây là các dấu chân người cổ nhất được phát hiện bên ngoài châu Phi. Các dấu chân của nhiều người này được cho là có niên đại 800.000 năm.

Trước khi được phát hiện tại Happisburgh, những dấu chân người cổ nhất được biết ở Anh là ở Uskmouth thuộc South Wales, từ thời đại đồ đá giữa và phương pháp xác định niên đại carbon cho thấy các bước chân này có từ năm 4.600 trước Công nguyên.

Các tôn giáo Ấn Độ

Các tôn giáo Ấn Độ, đôi khi cũng được gọi là tôn giáo Dharma, là các tôn giáo có nguồn gốc từ tiểu lục địa Ấn Độ ; cụ thể là Ấn Độ giáo, Jaina giáo, Phật giáo và đạo Sikh . Những tôn giáo này cũng được phân loại là các tôn giáo phương Đông . Mặc dù các tôn giáo Ấn Độ được kết nối thông qua lịch sử của Ấn Độ, nhưng chúng tạo thành một loạt các cộng đồng tôn giáo, và không bị giới hạn ở tiểu lục địa Ấn Độ. Bằng chứng chứng thực tôn giáo tiền sử ở tiểu lục địa Ấn Độ bắt nguồn từ những bức tranh đá thời đại đồ đá giữa rải rác trên lục địa này. Người Harappan của nền văn minh lưu vực sông Ấn, tồn tại từ 3300 đến 1300 BCE (thời kỳ trưởng thành 2600-1900 BCE), có một nền văn hóa đô thị hóa sớm có từ trước tôn giáo Vệ đà. Lịch sử được ghi lại của các tôn giáo Ấn Độ bắt đầu với tôn giáo Vệ đà lịch sử, các tập tục tôn giáo của người Ấn Độ-Iran đầu tiên, được thu thập và sau đó được tái định hình thành Veda . Thời kỳ sáng tác, chỉnh sửa và bình luận của các văn bản này được gọi là thời kỳ Vệ đà, kéo dài từ khoảng năm 1750 đến 500 TCN. Các phần triết học của Veda đã được tóm tắt trong Upanishads, thường được gọi là Vedānta, được giải thích theo nhiều cách khác nhau có nghĩa là "các chương cuối, một phần của Veda " hoặc "đối tượng, mục đích cao nhất của Veda". Các kinh Upanishads đầu tiên tất cả có trước Công nguyên, năm trong số mười một Upanishads chính được sáng tác trong khoảng thời gian trước thế kỷ thứ 6 TCN, và chứa lần đề cập đến đầu tiên đến Yoga và Moksha . Thời kỳ Cải cách hoặc Shraman giữa năm 800 và 200 trước Công nguyên đánh dấu một "bước ngoặt giữa Ấn Độ giáo Vệ Đà và Ấn Độ giáo thuần túy". Phong trào Shramana, một phong trào tôn giáo cổ xưa của Ấn Độ song song nhưng tách biệt với truyền thống Vệ đà, thường thách thức nhiều khái niệm linh hồn của Vệ đà và Upanishadic (Atman) và hiện thực tối thượng (Brahman). Vào thế kỷ thứ 6 TCN, phong trào Shraman đã phát triển thành đạo Jaina và Phật giáo và chịu trách nhiệm cho việc phân chia các tôn giáo Ấn Độ thành hai nhánh triết học chính của astika, mà tôn kính Veda (ví dụ, sáu trường phái chính thống của Ấn Độ giáo) và nastika (ví dụ: Phật giáo, đạo Jain, Charvaka, v.v.). Tuy nhiên, cả hai nhánh đều có chung các khái niệm liên quan đến Yoga, saṃsāra (vòng luân hồi sinh tử) và moksha (giải thoát khỏi vòng luân hồi đó). Thời kỳ Puranic (200TCN - 500 SCN) và thời Trung cổ sớm (500-1100) đã tạo ra các cấu hình mới của Ấn Độ giáo, đặc biệt là bhakti và Shaivism, Shaktism, Vaishnavism, Smarta và các nhóm tôn giáo nhỏ hơn nhiều như là Shrauta bảo thủ.

Thời kỳ Hồi giáo đầu tiên (1100-1500) cũng đã tạo ra các phong trào mới. Đạo Sikh được thành lập vào thế kỷ 15 dựa trên giáo lý của Đạo sư Nanak và chín Đạo sư người Sikh liên tiếp nhau ở Bắc Ấn Độ . Phần lớn các tín đồ của đạo này bắt nguồn từ khu vực Punjab .

Với sự thống trị thực dân của Anh, một sự diễn giải lại và tổng hợp của Ấn Độ giáo đã nảy sinh, hỗ trợ cho phong trào độc lập của Ấn Độ .

Công cụ đá

Công cụ bằng đá hay công cụ đá, theo nghĩa chung nhất, là bất kỳ dụng cụ nào được làm bằng đá một phần hay hoàn toàn.

Mặc dù các xã hội và nền văn hoá dựa vào công cụ đá vẫn tồn tại ngày nay, hầu hết các công cụ bằng đá đều có liên quan đến thời tiền sử, đặc biệt là các nền văn hoá của thời đại đồ đá cổ xưa. Các nhà khảo cổ học thường nghiên cứu các xã hội tiền sử như thế, và tham chiếu nghiên cứu về các công cụ bằng đá như là sự phân tích thạch học (lithic analysis). Khảo cổ học dân tộc (Ethnoarchaeology) là một lĩnh vực nghiên cứu có giá trị nhằm nâng cao hiểu biết và ý nghĩa văn hoá của việc sử dụng và chế tạo dụng cụ bằng đá .

Hebrides

Hebrides ( /ˈhɛbrɪdiːz/; tiếng Gael Scotland: Innse Gall, tiếng Bắc Âu cổ: Suðreyjar) là một quần đảo nằm ở ngoài khơi bờ biển phía tây của Scotland. Quần đảo có hai nhóm chính: Nội và Ngoại Hebrides. Các hòn đảo này có một lịch sử cư trú từ thời đại đồ đá giữa và văn hóa của các cư dân chịu ảnh hưởng lần lượt của những người nói tiếng Celt, Norse và tiếng Anh. Sự đa dạng này được phản ánh trong tên gọi của các đảo, các tên gọi này bắt nguồn từ các ngôn ngữ đã được nói tại quần đảo trong lịch sử và có lẽ là từ thời tiền sử.

Nhiều nghệ sĩ đã được truyền cảm hứng khi họ trải nghiệm Hebrides. Ngày nay, kinh tế của quần đảo phụ thuộc vào canh tác, đánh cá, du lịch, công nghiệp dầu khí và năng lượng tái tạo. Hebrides thiếu tính đa dạng sinh học so với đảo Anh, song các hòn đảo này vẫn có nhiều thứ để cho các nhà tự nhiên học quan tâm. Ví dụ, những con hải cẩu hiện diện quanh các bãi biển với số lượng có tầm quan trọng quốc tế.

Lịch sử Phần Lan

Lịch sử của Phần Lan bắt đầu vào khoảng 9.000 TCN vào cuối thời kỳ băng hà cuối cùng. Nền văn hóa thời kỳ đồ đá là Kunda, gốm sứ, dây kim loại, văn hóa Kiukainen và Pöljä. Thời đồ đồ đồng bắt đầu khoảng 1.500 TCN và thời kỳ đồ sắt từ khoảng 500 TCN và kéo dài đến năm 1.300. Các nền văn hóa thời kỳ đồ sắt của Phần Lan có thể được tách ra thành các nền văn hóa của Phần Lan, Tavastian và Karelian. Những nguồn văn bản đầu tiên đề cập đến Phần Lan bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ thứ 12 trở đi khi Giáo hội Công giáo bắt đầu giành được chỗ đứng ở tây nam Phần Lan. Do cuộc Thập tự chinh phía Bắc và thực dân hóa của Thụy Điển của một số khu vực ven biển Phần Lan hầu hết các vùng đã trở thành một phần của vương quốc Thụy Điển và vương quốc của Giáo hội Công giáo từ thế kỷ 13 trở đi. Sau cuộc chiến tranh Phần Lan năm 1809 phần lớn các khu vực nói tiếng Phần Lan của Thụy Điển được nhượng lại cho Đế quốc Nga (trừ khu vực của miền Bắc Thụy Điển ngày nay, nơi người ta nói các phương ngữ Meänkieli), khiến khu vực này trở thành Công quốc Phần Lan tự trị. Tôn giáo Lutheran thống trị. Chủ nghĩa dân tộc Phần Lan nổi lên trong thế kỷ 19. Nó tập trung vào truyền thống văn hóa Phần Lan, văn hóa dân gian và thần thoại, bao gồm cả âm nhạc và đặc biệt là ngôn ngữ và lời bài hát rất đặc biệt gắn liền với nó. Một sản phẩm của thời đại này là Kalevala, một trong những tác phẩm quan trọng nhất của văn học Phần Lan. Thảm họa nạn đói Phần Lan 1866–1868 thảm khốc đã xảy ra dẫn đến các quy định kinh tế được giảm bớt và di cư rộng lớn.

Năm 1917, Phần Lan tuyên bố độc lập. Một cuộc nội chiến giữa Hồng vệ binh và Bạch vệ binh diễn ra sau đó vài tháng, với "Người da trắng" chiếm ưu thế trong mùa xuân năm 1918. Sau khi các vấn đề nội bộ ổn định, nền kinh tế nông nghiệp chủ yếu vẫn tăng trưởng tương đối nhanh. Quan hệ với phương Tây, đặc biệt là Thụy Điển và Anh, đã tăng mạnh mẽ nhưng căng thẳng vẫn còn với Liên Xô. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Phần Lan đã hai lần chiến đấu chống lại Liên bang Xô viết và bảo vệ nền độc lập của mình trong cuộc chiến tranh mùa đông và Mặt trận Phần Lan. Trong khu định cư hòa bình Phần Lan đã kết thúc một phần lớn của Karelia và một số khu vực khác cho Liên Xô. Tuy nhiên, Phần Lan vẫn là một nền dân chủ độc lập ở Bắc Âu.

Trong nửa sau của lịch sử độc lập, Phần Lan đã duy trì một nền kinh tế hỗn hợp. Kể từ khi bùng nổ kinh tế sau Thế chiến II vào thập niên 1970, GDP của Phần Lan bình quân đầu người là một trong những quốc gia có mức tăng cao nhất thế giới. Tình trạng phúc lợi mở rộng của Phần Lan từ năm 1970 đến năm 1990 đã làm tăng nhân viên và chi tiêu của khu vực công và gánh nặng thuế đối với công dân. Năm 1992, Phần Lan đồng thời phải đối mặt với tình trạng kinh tế quá nóng và chán nản các thị trường phương Tây, Nga và địa phương. Phần Lan gia nhập Liên minh châu Âu vào năm 1995, và thay thế markka Phần Lan bằng đồng euro vào năm 2002. Theo một cuộc thăm dò năm 2016, 61% người Phần Lan không muốn tham gia NATO.

Ngư dân

Ngư dân hoặc ngư phủ, dân chài hay dân đánh cá, dân đi biển là người dùng lưới, cần câu cá, bẫy hoặc các dụng cụ khác để bắt và thu gom cá hoặc các loại sinh vật thuỷ sinh từ sông, hồ hoặc đại dương để làm thức ăn cho con người hoặc cho những mục đích khác. Khái niệm này bao gồm cả những người làm việc tại các trại nuôi cá. Con người đã đi đánh cá để làm nguồn thức ăn từ thời đại đồ đá giữa.

Người Loschbour

Người Loschbour (cũng là người đàn ông Loschbur) là tên được đặt cho một bộ xương Homo sapiens từ Thời đại đồ đá giữa châu Âu được phát hiện vào năm 1935 tại Mullerthal, thuộc xã Waldbillig, Luxembourg.

Paklenica

Paklenica là một vườn quốc gia với hẻm núi và hình thành đá vôi nằm tại hạt Zadar, Croatia. Nó nằm gần Starigrad, phía bắc Dalmatia, trên sườn phía nam của dãy núi Velebit, cách thành phố Zadar không xa. Vườn quốc gia này có hai hẻm núi là Mala Paklenica và Velika Paklenica. Ngày nay hẻm núi Mala Paklenica không còn dòng sông nào chảy qua nữa. Gần lối vào của Velika Paklenica là một đường hầm nhân tạo được xây dựng dưới thời Josip Broz Tito trong thời kỳ Nam Tư và Liên Xô căng thẳng leo thang vào cuối những năm 1940 và đầu những năm 1950.

Scotland

Scotland (phiên âm tiếng Việt: Xcốt-len, phát âm tiếng Anh: /ˈskɒt.lənd/) là một quốc gia thuộc Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Scotland chiếm một phần ba diện tích phía bắc của đảo Anh, có biên giới với Anh ở phía nam, Đại Tây Dương bao quanh các mặt còn lại: trong đó biển Bắc ở phía đông, và eo biển Bắc cùng biển Ireland ở phía tây-nam. Ngoài phần đại lục trên đảo Anh, quốc gia còn có hơn 790 đảo, trong đó có quần đảo Phương Bắc và Hebrides.

Edinburgh là thủ đô và thành phố lớn thứ nhì của Scotland, và là trung tâm của vận động Khai sáng Scotland trong thế kỷ XVIII, cuộc vận động này biến đổi Scotland thành một trong các cường quốc thương nghiệp, tri thức, và công nghiệp của châu Âu. Glasgow là thành phố lớn nhất của Scotland, từng là một trong các thành thị công nghiệp hàng đầu thế giới và hiện là trung tâm của vùng đô thị Đại Glasgow. Vùng biển của Scotland gồm một khu vực lớn trên Bắc Đại Tây Dương và biển Bắc, có các trữ lượng dầu thô lớn nhất trong Liên minh châu Âu. Điều này giúp cho thành phố lớn thứ ba của Scotland là Aberdeen được nhận danh hiệu là thủ đô dầu thô châu Âu.Trong Sơ kỳ Trung Cổ, Vương quốc Scotland xuất hiện với vị thế một quốc gia độc lập có chủ quyền. Sau khi Quốc vương James VI của Scotland kế vị vương vị của Anh và Ireland vào năm 1603, Scotland tham gia một liên minh cá nhân với hai vương quốc này. Đến ngày 1 tháng 5 năm 1707, Scotland tham gia một liên minh chính trị với Anh để hình thành một Vương quốc Đại Anh. Liên minh này là kết quả từ Hiệp ước Liên hiệp được thỏa thuận vào năm 1706 và được ban hành theo hai Đạo luật Liên hiệp được Nghị viện của hai quốc gia thông qua, bất chấp phản đối đại chúng và những vụ bạo động chống liên hiệp tại Edinburgh, Glasgow, và các nơi khác. Đại Anh sau đó tham gia một liên minh chính trị với Ireland vào ngày 1 tháng 1 năm 1801 để hình thành Vương quốc Liên hiệp Đại Anh và Ireland.

Hệ thống tư pháp của Scotland vẫn tách biệt với các hệ thống tư pháp của Anh và Wales hay Bắc Ireland, và Scotland thiết lập các quyền hạn riêng biệt trong pháp luật công cộng và cá nhân. Việc tiếp tục tồn tại những thể chế tư pháp, giáo dục và tôn giáo riêng biệt với phần còn lại của Vương quốc Liên hiệp góp phần vào tính liên tục của văn hóa Scotland và bản sắc dân tộc kể từ khi Liên hiệp vào năm 1707. Sau một cuộc trưng cầu dân ý vào năm 1997, Nghị viện Scotland được tái triệu tập vào năm 1999, có quyền lực trên nhiều lĩnh vực nội vụ. Đến tháng 5 năm 2011, Đảng Dân tộc Scotland giành đa số quá bán trong Nghị viện Scotland. Sau đó, một cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức vào năm 2014. Scotland có đại diện trong Liên minh châu Âu và được phân sáu ghế trong Nghị viện châu Âu.

Thế Holocen

Thế Holocen (còn gọi là thế Toàn Tân) là một thế địa chất bắt đầu khi kết thúc thế Pleistocen, vào khoảng 11.700 năm trước (vào khoảng 9.700 TCN) và còn tiếp tục ngày nay. Thế Holocen thuộc về kỷ Neogen và phân đại Đệ Tứ. Tên của nó bắt nguồn từ ὅλος (holos, toàn bộ) và καινός (kainos, mới) trong tiếng Hy Lạp. Thế này được coi là một giai đoạn gian băng trong thời kỳ băng hà hiện nay.

Phần nhiều nhà khoa học chấp nhận rằng thế Holocen bắt đầu 10 ngàn năm trước theo định tuổi bằng cacbon C-14 (11.703 năm trước 1950). Thế này bắt đầu ngay sau băng hà Weichsel (thời kỳ băng hà Wisconsin hay thời kỳ băng hà Baltic-Scandinavia). Tại châu Âu, thế Holocene được chia ra thành 5 thời đới (chronozone) theo thay đổi khí hậu: đới Tiền Boreal (Preboreal; 10–9 ngàn năm trước), đới Boreal (9–8 ngàn năm trước), đới Đại Tây Dương (Atlantic; 8–5 ngàn năm trước), đới Hạ Boreal (Subboreal; 5–2,5 ngàn năm trước), và đới Hạ Đại Tây Dương (Subatlantic; 2,5 ngàn năm trước đến ngày nay).

Tất cả văn minh con người xảy ra trong thế Holocen. Hệ thống giai đoạn khí hậu Blytt-Sernander, mới đầu được định nghĩa theo vết cây cối còn lại trong bãi than bùn, không còn được sử dụng. Hệ thống này được phát triển cho miền bắc châu Âu, nhưng các thay đổi khí hậu xảy ra rộng rãi hơn. Các thế trong hệ thống này bao gồm một vài dao động cuối cùng trước thế Holocen của thời kỳ băng hà cuối và phân loại các khí hậu của tiền sử gần đây hơn.

Các nhà cổ sinh vật học chưa định rõ tầng động vật cho thế Holocen. Khi cần chia ra thế này từng giai đoạn nhỏ hơn, các giai đoạn trong phát triển của con người, đó là thời đại đồ đá giữa (Mesolithic), thời đại đồ đá mới (Neolithic), và thời đại đồ đồng thường được sử dụng. Tuy nhiên, ba thuật ngữ này ứng với các thời gian sẽ khác ở các vùng khác trên thế giới, tùy lúc mà những công nghệ này nổi lên ở vùng đó. Vì thế, các nhà khoa học thường không sử dụng thuật ngữ "thời đại đồ đá giữa" đối với những vùng ở ngoài miền bắc châu Âu.

Theo khí hậu, có thể chia thế Holocen thành hai giai đoạn đều là Hypsithermal và Băng hà mới (Neoglacial); biên giới là lúc thời đại đồ đồng bắt đầu trong văn minh phương Tây. Theo một số nhà khoa học, giai đoạn thứ ba, thế Anthropocen (thế Nhân Sinh) bắt đầu vào thế kỷ XVIII với Cách mạng công nghiệp.Mực nước biển dâng lên từ -13 m đến + 5 m so với mực nước biển hiện tại trong khoảng thời gian cách đây 8.000 - 4.000 năm ở vùng eo biển Malacca.

Thời kỳ đồ gốm Trất Văn

Thời kỳ đồ gốm Trất Văn hay Thời kỳ đồ gốm Jeulmun là một thời đại khảo cổ ở Triều Tiên thời tiền sử kéo dài từ năm 8000 TCN tới 1500 TCN. Thời kỳ này bao gồm thời kỳ đồ đá giữa và thời kỳ đồ đá mới ở Triều Tiên, lần lượt kéo dài từ 8000 tới 3500 TCN và từ 3500 tới 1500 TCN. Do sự xuất hiện của đồ gốm trong thời kỳ này mà thời kỳ này còn được gọi là "Đồ đá mới Triều Tiên".Thời kỳ đồ gốm Jeulmun được đặt tên theo các công cụ nấu nướng bằng gốm được chế tạo trong thời kỳ này, đặc biệt là từ 4000 tới 2000 TCN. Jeulmun (Hangul: 즐문, Hanja: 櫛文) nghĩa là "họa tiết hình lược". Sự bùng nổ trong khai quật các hiện vật thời kỳ Jeulmun vào giữa thập niên 1990 đã tăng thêm kiến thức về thời kỳ mang tính định hình thời tiền sử ở Đông Á.

Thời kỳ Jeulmun là thời kỳ săn bắn, hái lượm, và canh tác nông nghiệp nhỏ.

Thời tiền sử

Thời đại tiền sử là thuật ngữ thường được dùng để mô tả thời đại trước khi lịch sử được viết. Paul Tournal lúc đầu tạo ra thuật ngữ trước-lịch sử (Pré-historique) để mô tả những vật ông tìm thấy trong các hang động của miền Nam nước Pháp. Nó đã được sử dụng trong ngôn ngữ tiếng Pháp vào những năm 1830 để miêu tả thời gian trước khi có chữ viết, và nó được đưa vào trong ngôn ngữ tiếng Anh bởi Daniel Wilson vào năm 1851.

Thời đại tiền sử có thể được hiểu là thời đại được bắt đầu của vạn vật, vũ trụ, tuy nhiên thuật ngữ này hầu hết được sử dụng để mô tả các thời kỳ có sự sống trên trái đất; những con khủng long có thể được mô tả là các động vật thời kỳ tiền sử và người thượng cổ (ở trong hang) được mô tả là người tiền sử.

Bởi vì không có chữ viết từ thời tiền sử, nên những thông tin mà chúng ta biết về thời kỳ này là được biết ở ngoài thực địa của các khoa học như cổ sinh học, sinh học, linh trưởng học, địa chất học, khảo cổ học, thiên văn học và các khoa học tự nhiên cũng như các khoa học xã hội khác.

Thời đại đồ đá

Thời kỳ đồ đá là một thời gian tiền sử dài trong đó con người sử dụng đá để chế tạo nhiều đồ vật

Các công cụ đá được chế tạo từ nhiều kiểu đá khác nhau. Ví dụ, đá lửa và đá phiến silic được mài sắc (hay được đẽo) để làm công cụ cắt gọt và vũ khí, trong khi đá basalt và đá sa thạch được dùng làm công cụ (ground stone), như đá nghiền. Gỗ, xương, vỏ sò và sừng thú cũng được sử dụng nhiều. Ở thời kỳ cuối của giai đoạn này, những trầm tích (như đất sét) được sử dụng làm đồ gốm. Nhiều cải tiến trong kỹ thuật gia công kim loại đã định rõ đặc điểm cho thời kỳ đồ đồng và thời kỳ đồ sắt.

Thời kỳ này là giai đoạn đầu tiên con người sử dụng kỹ thuật một cách rộng rãi trong tiến trình tiến hóa loài người và con người tiến từ phía các thảo nguyên ở Đông Phi về các phần còn lại của thế giới. Nó kết thúc với sự phát triển nông nghiệp, sự thuần hoá một số loài súc vật và sự nấu chảy quặng đồng để gia công kim loại. Nó được đặt thuật ngữ là tiền sử, bởi vì con người vẫn chưa bắt đầu biết viết - sự khởi đầu truyền thống của lịch sử (như sử được ghi chép).

Thuật ngữ "Thời đồ đá" được các nhà khảo cổ học sử dụng để chỉ giai đoạn tiền kim loại kéo dài này, trong đó các dụng cụ đá được sử dụng nhiều hơn bất kỳ một loại vật liệu (mềm hơn) nào khác. Nó là thời kỳ đầu tiên trong hệ thống ba thời kỳ và được chia nhỏ thêm ra thành ba giai đoạn là giai đoạn đồ đá cũ, giai đoạn đồ đá giữa và giai đoạn đồ đá mới bởi John Lubbock trong cuốn sách kinh điển của ông Những thời đại tiền sử năm 1865. Ba giai đoạn đó lại được chia nhỏ nữa. Trên thực tế, những giai đoạn tiếp theo khác biệt nhau rất lớn theo từng vùng (và theo văn hoá). Thực vậy, con người tiếp tục tiến đến các vùng mới thậm chí tới tận thời đồ kim loại vì thế tốt nhất là chỉ nói về một Thời đồ đá, thay vì nói chung Thời đồ đá.

Thời đại đồ đá cũ

Thời đại đồ đá cũ là giai đoạn đầu của thời đại đồ đá trong thời tiền sử, được phân biệt bằng sự phát triển của các công cụ đá. Về cơ bản, nó chiếm gần như toàn bộ lịch sử loài người trên Trái Đất, kéo dài từ khoảng 2,5 triệu năm trước, với sự xuất hiện của các công cụ bằng đá do các dạng người nguyên thủy như người khéo tay (Homo habilis) đưa ra, cho đến khi có sự xuất hiện của nông nghiệp vào khoảng 10.000 TCN. Thuật ngữ "Paleolithic", nghĩa văn chương là "Thời đại cổ của đá", đã được nhà khảo cổ học John Lubbock tạo ra vào năm 1865 và có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp "παλαιός", "paleos" (cổ, cũ) và "λίθος", "lithos", (đá).

Thời đại đồ đá cũ nói chung kết thúc khi thời đại đồ đá giữa (Mesolithic) bắt đầu, hoặc ở các khu vực với quá trình đồ đá mới hóa là sự bắt đầu của thời đại đồ đá cũ trên (Epipaleolithic).

Thời đại đồ đá cũ được đặc trưng bằng việc sử dụng các công cụ bằng đá được ghè đẽo, mặc dù người nguyên thủy vào thời gian đó cũng sử dụng các công cụ bằng gỗ và xương. Các sản phẩm nguồn gốc hữu cơ cũng được sử dụng làm công cụ, bao gồm da và các sợi thực vật; tuy nhiên các loại công cụ này đã không được bảo quản ở mức độ đáng kể. Theo truyền thống, thời đại đồ đá cũ được chia ra thành ba thời kỳ, là thời đại đồ đá cũ sớm, thời đại đồ đá cũ giữa và thời đại đồ đá cũ muộn. Các thời kỳ này đánh dấu các tiến bộ trong công nghệ và văn hóa ở các xã hội loài người nguyên thủy khác biệt.

Thời đại đồ đá mới

Thời đại đồ đá mới là một giai đoạn của thời đại đồ đá trong lịch sử phát triển công nghệ của loài người, bắt đầu từ khoảng năm 10.200 TCN theo bảng niên đại ASPRO ở một vài nơi thuộc Trung Đông, và sau đó ở các nơi khác trên thế giới và kết thúc giữa 4500 và 2000 BC. Theo cách hiểu thông thường, đây là giai đoạn cuối của thời kỳ đồ đá. Thời kỳ đồ đá mới là giai đoạn tiếp theo của Epipaleolithic trong Holocene, bắt đầu bằng sự rộ lên của việc nuôi trồng, và tạo ra cuộc "cách mạng thời kỳ đồ đá mới", và thời kỳ này kết thúc khi các công cụ kim loại trở nên phổ biến trong thời đại đồ đồng đá, hoặc thời đại đồ đồng hoặc phát triển trực tiếp lên thời kỳ đồ sắt, tùy theo các vùng địa lý. Thời kỳ đồ đá mới là một bước tiến triển về các thay đổi và đặc điểm của văn hóa và ứng xử, như việc sử dụng các loại cây trồng hoang dại và thuần hóa và sử dụng các loài động vật được thuần hóa.Sự khởi đầu của nền văn hoá thời kỳ đồ đá mới được xem là ở Levant (Jericho, Bờ Tây ngày nay) khoảng 10.200 – 8.800 BC. Nó phát triển trực tiếp từ nền văn hoá Natufian Epipaleolithic trong khu vực, những người đã đi tiên phong trong việc sử dụng các loại ngũ cốc hoang dã, sau đó phát triển thành nông nghiệp thực sự. Thời kỳ Natufian kéo dài từ 12.500 đến 9.500 BC, và được gọi là "thời kỳ Tiền- Đồ Đá Mới" và bây giờ được gọi là Thời kỳ Đá Mới Tiền Gốm (PPNA) từ 10.200 đến 8800 BC. Khi những người Natufians trở nên phụ thuộc vào các loại ngũ cốc hoang dã trong chế độ ăn uống của họ, và một lối sống định cư đã bắt đầu trong một số họ, những thay đổi khí hậu liên quan đến thời kỳ Dryas Trẻ được cho là buộc người ta phải phát triển nông nghiệp.

Vào năm 10.200 - 8.800 BC, các cộng đồng nông nghiệp đã phát triển ở vùng Levant và lan rộng đến Tiểu Á, Bắc Phi và Bắc Lưỡng Hà. Lưỡng Hà là địa điểm phát triển sớm nhất của Cuộc Cách mạng Đá Mới từ khoảng năm 10.000 BC.

Nông nghiệp Đá Mới sớm được giới hạn trong phạm vi hẹp của thực vật, cả hoang dã và thuần hoá, bao gồm lúa mì einkorn, kê và “spelt”, và nuôi chó, cừu và dê. Vào khoảng năm 6900-6400 BC, nó bao gồm lợn và gia súc thuần hoá, hình thành khu định cư có người ở thường xuyên hoặc theo mùa, và sử dụng gốm.

Không phải tất cả những yếu tố văn hoá đặc trưng của thời Đồ đá Mới xuất hiện ở mọi nơi theo cùng một trật tự: những xã hội nông nghiệp sớm nhất ở vùng Cận Đông không sử dụng gốm. Tại các khu vực khác trên thế giới, như Châu Phi, Nam Á và Đông Nam Á, các sự kiện thuần hóa độc lập đã dẫn tới những nền văn hoá thời kỳ đồ đá mới đặc biệt trong khu vực phát sinh hoàn toàn độc lập với các nền văn hoá ở Châu Âu và Tây Nam Á. Các xã hội Nhật Bản đầu tiên và các nền văn hoá Đông Á khác đã sử dụng đồ gốm trước khi phát triển nông nghiệp.

Thuật ngữ Neilithic bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp có nghĩa đen là "New Stone Age". Thuật ngữ được Sir John Lubbock sáng tạo vào năm 1865 là sự phân chia của hệ thống ba thời kỳ.

Chia giai đoạn theo đồ gốm

Một dãy đồ tạo tác thời đại Đồ Đá Mới, bao gồm vòng tay, đầu rìu, đục và dụng cụ đánh bóng. Các đồ tạo tác bằng đá thời kỳ đồ đá được đánh bóng rõ ràng và, ngoại trừ các mặt hàng chuyên dụng, không bị sứt mẻ.

Ở Trung Đông, các nền văn hoá được xác định là thời kỳ Đồ Đá Mới bắt đầu xuất hiện vào thiên niên kỷ 10 BC. Sự phát triển gần đây xảy ra ở Levant (ví dụ, Thời kỳ Đá Mới Tiền Gốm A và Thời kỳ Đá Mới Tiền Gốm B) và từ đó lan sang phía đông và phía tây. Các nền văn hoá thời kỳ Đồ Đá Mới được chứng minh ở đông nam Anatolia và bắc Lưỡng Hà vào khoảng năm 8000 BC.

Khu đô thị tiền sử Beifudi gần Yixian thuộc tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc, chứa đựng các di tích văn hoá đồng thời với văn hóa Cishan và Xinglongwa trong khoảng 6000- 5000 BC, những nền văn hoá Đá Mới ở phía đông của dãy núi Taihang, làm đầy khoảng cách khảo cổ học giữa hai nền văn hóa ở phía Bắc Trung Quốc. Tổng diện tích khai quật là hơn 1.200 yard vuông (1.000 m2, 0.10 ha), và việc thu thập các kết quả thời kỳ Đá Mới tại khu vực này bao gồm hai giai đoạn.

Thời kỳ Đồ Đá Mới 1 - Đồ Đá Mới Tiền Gốm A (PPNA)

Bài chính: Đồ Đá Mới Tiền Gốm A

Thời kỳ Đồ Đá Mới 1 (PPNA) bắt đầu vào khoảng 10.000 BC tại Levant. Một khu vực đền thờ ở phía đông nam Thổ Nhĩ Kỳ ở Göbekli Tepe vào khoảng năm 9500 BC có thể được coi là sự khởi đầu của thời kỳ này. Vị trí này được phát triển bởi các bộ lạc thợ săn- hái lượm du cư, biểu lộ là thiếu nhà định cư trong vùng lân cận và có thể là nơi thờ phụng nhân tạo lâu đời nhất được biết đến. Ít nhất bảy vòng đá, bao phủ 25 mẫu Anh (10 ha), có những cột đá vôi khắc động vật, côn trùng, và chim. Các công cụ đá đã được sử dụng rất nhiều bởi vì có lẽ hàng trăm người đã tạo ra những trụ cột, có thể đã hỗ trợ mái nhà. Các khu vực PPNA sớm khác có niên đại khoảng 9.500-9.000 BC đã được tìm thấy ở Jericho, West Bank (đặc biệt là Ain Mallaha, Nahal Oren và Kfar HaHoresh), Gilgal ở Thung lũng Jordan và Byblos, Li băng. Sự khởi đầu của thời Đồ Đá Mới 1 trùng lặp các giai đoạn Heavy neolithic và Tahunian với một mức độ nhất định.

Tiến bộ lớn của thời Đồ Đá Mới 1 là canh tác thực sự. Trong các nền văn hoá Natufian ở thời kỳ tiền đồ đá mới, các loại ngũ cốc hoang dã đã được thu hoạch, và có thể chọn hạt giống sớm và tái trồng xảy ra. Hạt đã được nghiền thành bột. Lúa mì Emmer đã được thuần hoá, và động vật được chăn thả và thuần hoá (động vật được làm giống và chọn giống) [cần dẫn nguồn]

Vào năm 2006, những gì còn lại của quả sung đã được phát hiện trong một ngôi nhà ở Jericho từ năm 9400 TCN. Cây sung này là của một loại đột biến mà không thể thụ phấn bởi côn trùng, và do đó cây chỉ có thể tái sản xuất từ cây hom. Bằng chứng này cho thấy sung là cây trồng đầu tiên và đánh dấu phát minh về công nghệ nuôi trồng. Điều này xảy ra hàng thế kỷ trước khi trồng ngũ cốc đầu tiên. [7]

Sự định cư trở nên thường xuyên hơn với các căn nhà tròn, giống như những căn nhà của người Natufian, với các phòng đơn. Tuy nhiên, những căn nhà này lần đầu tiên được làm bằng bùn. Khu định cư có một bức tường đá xung quanh và có lẽ có một tháp đá (như ở Jericho). Tường được sử dụng làm bảo vệ, như là bảo vệ khỏi lũ lụt, hoặc để giữ động vật. Một số thùng đựng cũng cho thấy để lưu trữ ngũ cốc và thịt.

Thời đại đồ đồng

Thời đại đồ đồng là một thời kỳ trong sự phát triển của nền văn minh khi phần lớn công việc luyện kim tiên tiến (ít nhất là trong sử dụng có hệ thống và rộng rãi) bao gồm các kỹ thuật để nấu chảy đồng và thiếc từ các loại quặng lộ thiên sẵn có trong tự nhiên, và sau đó phối trộn các kim loại này với nhau để tạo ra đồng đỏ (đồng thiếc). Thời đại đồ đồng tạo thành một phần của hệ thống ba thời đại cho các xã hội tiền sử. Trong hệ thống đó, nó diễn ra sau thời đại đồ đá mới trong một số khu vực trên thế giới. Tại nhiều khu vực của châu Phi Hạ Sahara thì thời đại đồ đá mới được kế tiếp là thời đại đồ sắt mà không có thời đại đồ đồng.

Tượng thần Shigir

Tượng thần Shigir, tượng gỗ Shigir, hay The Shigir Idol (tiếng Nga: Шигирский идол) là vật thể điêu khắc bằng gỗ cổ nhất trên thế giới, được chế tác vào thời đại đồ đá giữa và có niên đại 11.000 năm.

Ấn Độ

Ấn Độ (tiếng Hindi: भारत, chuyển tự Bhārata, tiếng Anh: India), tên gọi chính thức là Cộng hòa Ấn Độ (tiếng Hindi: भारत गणराज्य, chuyển tự Bhārat Gaṇarājya, tiếng Anh: Republic of India), là một quốc gia tại Nam Á. Đây là quốc gia lớn thứ bảy về diện tích, và đông dân thứ nhì trên thế giới với trên 1,33 tỷ người. Ấn Độ tiếp giáp với Ấn Độ Dương ở phía Nam, biển Ả Rập ở phía Tây – Nam và vịnh Bengal ở phía Đông – Nam; có biên giới trên bộ với Pakistan ở phía Tây; với Trung Quốc, Nepal, và Bhutan ở phía Đông – Bắc; và Myanmar cùng Bangladesh ở phía Đông. Trên Ấn Độ Dương, Ấn Độ lân cận với Sri Lanka và Maldives; thêm vào đó, Quần đảo Andaman và Nicobar của Ấn Độ có chung đường biên giới trên biển với Thái Lan và Indonesia.

Tiểu lục địa Ấn Độ là nơi xuất hiện văn minh lưu vực sông Ấn cổ đại, có các tuyến đường mậu dịch mang tính lịch sử cùng những đế quốc rộng lớn, và trở nên giàu có về thương mại và văn hóa trong hầu hết lịch sử lâu dài của mình. Đây cũng là nơi bắt nguồn của bốn tôn giáo lớn: Ấn Độ giáo, Phật giáo, Jaina giáo và Sikh giáo; trong khi Do Thái giáo, Hỏa giáo, Cơ Đốc giáo và Hồi giáo được truyền đến vào thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên và cũng giúp hình thành nền văn hóa đa dạng của khu vực. Khu vực dần bị thôn tính và chuyển sang nằm dưới quyền quản lý của Công ty Đông Ấn Anh từ đầu thế kỷ XVIII, rồi nằm dưới quyền quản lý trực tiếp của Anh Quốc từ giữa thế kỷ XIX. Ấn Độ trở thành một quốc gia độc lập vào năm 1947 sau một cuộc đấu tranh giành độc lập dưới hình thức đấu tranh bất bạo động do Mahatma Gandhi lãnh đạo.

Nền kinh tế Ấn Độ lớn thứ 5 thế giới xét theo GDP danh nghĩa (năm 2018), được dự báo trở thành nền kinh tế thứ 4 thế giới vào năm 2021, hiện tại là nền kinh tế lớn thứ ba thế giới xét theo sức mua tương đương (PPP). Sau các cải cách kinh tế dựa trên cơ sở thị trường vào năm 1991, Ấn Độ trở thành một trong số các nền kinh tế lớn có mức tăng trưởng nhanh; và được nhận định là một nước công nghiệp mới. Tuy nhiên, quốc gia này vẫn tiếp tục phải đối diện với những thách thức từ nghèo đói, nạn tham nhũng, tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em nông thôn, giáo dục và y tế công thiếu thốn, và chủ nghĩa khủng bố. Ấn Độ là một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân và là một cường quốc trong khu vực, có quân đội thường trực lớn thứ ba và xếp hạng tám về chi tiêu quân sự trên thế giới, đồng thời được đánh giá là một siêu cường tiềm năng. Ấn Độ là một nước cộng hòa lập hiến liên bang theo thể chế nghị viện, gồm có 29 bang và 7 lãnh thổ liên bang. Ấn Độ là một xã hội đa nguyên, đa ngôn ngữ và đa dân tộc. Đây cũng là nơi có sự đa dạng về loài hoang dã trong nhiều khu vực được bảo vệ.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.