Thời đại đồ đá

Thời kỳ đồ đá là một thời gian tiền sử dài trong đó con người sử dụng đá để chế tạo nhiều đồ vật

Các công cụ đá được chế tạo từ nhiều kiểu đá khác nhau. Ví dụ, đá lửa và đá phiến silic được mài sắc (hay được đẽo) để làm công cụ cắt gọt và vũ khí, trong khi đá basaltđá sa thạch được dùng làm công cụ (ground stone), như đá nghiền. Gỗ, xương, vỏ sò và sừng thú cũng được sử dụng nhiều. Ở thời kỳ cuối của giai đoạn này, những trầm tích (như đất sét) được sử dụng làm đồ gốm. Nhiều cải tiến trong kỹ thuật gia công kim loại đã định rõ đặc điểm cho thời kỳ đồ đồngthời kỳ đồ sắt.

Thời kỳ này là giai đoạn đầu tiên con người sử dụng kỹ thuật một cách rộng rãi trong tiến trình tiến hóa loài người và con người tiến từ phía các thảo nguyênĐông Phi về các phần còn lại của thế giới. Nó kết thúc với sự phát triển nông nghiệp, sự thuần hoá một số loài súc vật và sự nấu chảy quặng đồng để gia công kim loại. Nó được đặt thuật ngữ là tiền sử, bởi vì con người vẫn chưa bắt đầu biết viết - sự khởi đầu truyền thống của lịch sử (như sử được ghi chép).

Thuật ngữ "Thời đồ đá" được các nhà khảo cổ học sử dụng để chỉ giai đoạn tiền kim loại kéo dài này, trong đó các dụng cụ đá được sử dụng nhiều hơn bất kỳ một loại vật liệu (mềm hơn) nào khác. Nó là thời kỳ đầu tiên trong hệ thống ba thời kỳ và được chia nhỏ thêm ra thành ba giai đoạn là giai đoạn đồ đá cũ, giai đoạn đồ đá giữagiai đoạn đồ đá mới bởi John Lubbock trong cuốn sách kinh điển của ông Những thời đại tiền sử năm 1865. Ba giai đoạn đó lại được chia nhỏ nữa. Trên thực tế, những giai đoạn tiếp theo khác biệt nhau rất lớn theo từng vùng (và theo văn hoá). Thực vậy, con người tiếp tục tiến đến các vùng mới thậm chí tới tận thời đồ kim loại vì thế tốt nhất là chỉ nói về một Thời đồ đá, thay vì nói chung Thời đồ đá.

Thời tiền sử
Thế Holocen (Toàn Tân) Thời đại đồ sắt Sơ sử
  Thời đại đồ đồng muộn  
  Thời đại đồ đồng giữa
  Thời đại đồ đồng sớm
Thời đại đồ đồng
    Thời đại đồ đồng đá    
  Thời đại đồ đá mới Tiền sử
Thời đại đồ đá giữa
Thế Pleistocen (Canh Tân)     Thời đại đồ đá cũ muộn  
    Thời đại đồ đá cũ giữa
    Thời đại đồ đá cũ sớm
  Thời đại đồ đá cũ
Thời đại đồ đá
Arrowhead
Đầu mũi tên bằng Obsidian

Thời kỳ đồ đá trong khảo cổ học

Phạm vi thời gian của giai đoạn này rất mơ hồ, bị tranh cãi, và khác nhau tùy theo vùng. Trong khi không thể đưa ra được một giai đoạn "Thời kỳ đồ đá" chung cho toàn nhân loại, một số nhóm người không bao giờ phát triển kỹ thuật nấu chảy kim loại, vì vậy họ vẫn ở trong "Thời kỳ đồ đá" cho tới khi họ gặp những nền văn hóa có kỹ thuật phát triển hơn. Tuy nhiên, nói chung, mọi người tin rằng thời kỳ này đã bắt đầu vào khoảng 3 triệu năm trước, bắt đầu cùng lúc với vượn người biết chế tạo dụng cụ ở Châu Phi. Đa số những người vượn phương Nam có lẽ đã không sử dụng dụng cụ đá (mặc dầu có lẽ chúng đã được phát minh bởi Paranthropus robustus) nhưng việc nghiên cứu những di vật của họ vẫn đang để dành cho các nhà khảo cổ học nghiên cứu về giai đoạn này.

Năm 2010, các mẫu xương động vật hóa thạch được gọt đẽo từ các công cụ đồ đá được phát hiện trong thung lũng Hạ Awash ở Ethiopia. Nhóm công tác quốc tế do Shannon McPherron dẫn đầu đã phát hiện ra rằng các công cụ đồ đá cổ nhất đã từng được sử dụng có tuổi 3,4 triệu năm.[1] Các công cụ đồ đá cổ nhất từng được biết đến đã được khai quật ở nhiều nơi thuộc Gona, Ethiopia, trong các trầm tích cổ của sông Awash. Tất cả các công cụ trong hệ tầng Busidama, nó nằm trên một bất chỉnh hợp (thiếu lớp) có tuổi từ 2,9 đến 2,7 triệu năm. Các vị trí khảo cổ cổ nhất có chứa công cụ đồ đá định tuổi được từ 2,6–2,55 triệu năm.[2]

Vì sự phong phú của đồ vật tạo tác bằng đá, chúng thường là những di vật duy nhất còn sót lại, việc phân tích đá là cách chính và chuyên biệt để khảo sát về giai đoạn này. Nó liên quan tới việc đo đạc các công cụ bằng đá để xác định các kiểu hình thức, chức năng và kỹ thuật có liên quan của công cụ. Thường là phân tích cách đẽo đá từ nguyên liệu thô, nghiên cứu cách thức chế tác thực tế của những vật đó. Điều này cũng có thể được xem xét dựa trên khảo cổ học thực nghiệm, bằng cách cố sức tạo ra các dụng cụ tương tự. Việc này được thực hiện bởi những người tạo tác đá lửa, họ đẽo một viên đá lửa để tạo ra một công cụ bằng đá lửa.

Cách sử dụng mới của thuật ngữ

National park stone tools
Các chủng loại công cụ đá

Một vấn đề với thuật ngữ này là nó ngụ ý rằng sự tiến bộ của loài người và các giai đoạn thời đại ở tiền sử chỉ được đo đạc bằng kiểu dụng cụ được sử dụng nhiều nhất ở thời gian đó, hơn là, ví dụ, kiểu tổ chức xã hội, nguồn thức ăn được khai thác, hay sự thích nghi theo các kiểu khí hậu khắc nghiệt. Đây là một sản phẩm của mức độ hiểu biết về quá khứ đã xa ở thế kỷ 19 khi hệ thống ba thời kỳ được phát triển, thời điểm mà việc tìm ra các dụng cụ tạo tác là mục đích chính của một cuộc khai quật khảo cổ. Các kỹ thuật khảo cổ hiện đại mang lại nhiều thông tin hơn và giúp chúng ta có được hiểu biết tốt hơn về thời tiền sử và nêu ra những sự phân chia rõ ràng cho thuật ngữ "Thời đồ đá" đã ngày càng lỗi thời. Hiện nay chúng ta biết rằng những thay đổi trong xã hội quá khứ trong hàng nghìn năm là rất phức tạp và liên quan tới nhiều nhân tố như sự chấp nhận nông nghiệp, định cư hay tôn giáo và rằng việc sử dụng công cụ chỉ là một dấu hiệu không mang ý nghĩa đại diện cho thực tiễn và đức tin của một xã hội.

Một vấn đề khác liên quan tới thuật ngữ Thời kỳ đồ đá là nó được tạo ra để miêu tả văn hóa khảo cổ của Châu Âu, và rằng nó không thích hợp để sử dụng trong mối quan hệ với các vùng như một số vùng ở Châu MỹChâu Đại Dương, nơi những người trồng cấy hay những người săn bắt và hái lượm sử dụng công cụ bằng đá tới tận khi công cuộc thực dân hóa của người châu Âu bắt đầu. Việc chế tác kim loại là một thứ không có tầm quan trọng lớn đối với người dân ở đó và nên dùng những thuật ngữ khác để phân chia thời tiền sử ở những vùng đó. Một sự phi lý giống như vậy khi áp đặt Thời đại đồ sắt ra khắp thế giới, bởi vì sắt (không phải đồng, bạc hay vàng) không được biết tới ở châu Mỹ cho tới tận năm 1492, ở châu Đại Dương tới tận thế kỷ 17.

Tiếp sau Thời kỳ đồ đá thường là Thời kỳ đồ đồng, trong đó kỹ thuật chế tác kim loại cho phép các công cụ bằng đồng (đồng và thiếc hay các kim loại khác) trở nên nhiều hơn. Sự chuyển giao của thời đồ đá diễn ra khoảng giữa 6000 TCN và 2500 TCN đối với đa số dân cư sống tại Bắc Phi, châu Á và châu Âu. Ở một số vùng, như Hạ Sahara châu Phi, thời đại đồ đá được nối tiếp trực tiếp bởi thời đồ sắt. Mọi người thường cho rằng các vùng ở Trung ĐôngĐông Nam Á đã tiến triển vượt qua kỹ thuật thời đồ đá vào khoảng năm 6000 TCN. châu Âu và phần còn lại của châu Á đã ở thời xã hội hậu đồ đá vào khoảng năm 4000 TCN. Các nền văn hóa tiền-Inca ở Nam Mỹ tiếp tục ở trình độ thời đồ đá đến tận khoảng năm 2000 TCN, khi vàng, đồng và bạc bắt đầu xuất hiện, những nơi khác xảy ra muộn hơn. Australia vẫn ở thời đồ đá tới tận thế kỷ 17.

Chúng ta cũng biết rằng sự chuyển đổi từ Thời đồ đá sang Thời đồ đồng không phải là một thời điểm rõ ràng mà lâu dài, sự chế tác vàng và đồng dần xuất hiện ở những điểm ở Thời đồ đá mới. Giai đoạn "chuyển tiếp" này được gọi là Thời đồ đồng hay Chalcolithic. Nó là một sự phát triển ngắn và mang nhiều tính địa phương bởi vì việc tạo hợp kim thiếc với đồng đã bắt đầu khá sớm, trừ khi tại những vùng không có thiếc. Ví dụ Người băng Ötzi, một xác ướp từ khoảng năm 3300 TCN có mang bên mình một cái rìu đồng và một con dao bằng đá lửa. Việc chế tạo công cụ bằng đá vẫn tiếp diễn ngay cả ở thời đại dùng đồ kim loại, có lẽ tới tận đầu thời Trung Đại. Tại châu Âu và Bắc Mỹ, những chiếc cối xay đá vẫn được dùng tốt ở thế kỷ 20, và hiện vẫn đang được dùng ở nhiều nơi trên thế giới.

Sự tiến hóa của loài người trong thời đồ đá

Thời đồ đá chiếm một khoảng thời gian rất dài, và trong thời gian đó các thay đổi lớn về khí hậu và các điều kiện sống khác đã diễn ra, nó làm ảnh hưởng tới tiến trình tiến hóa loài người. Con người tới lượt mình lại làm tiến hóa kiểu hình thái tiến triển ở hậu kỳ thời kỳ đồ đá.

Thời đại đá cũ

Thời kỳ đồ đá cũ bắt đầu từ khoảng 2 triệu năm trước đây và kết thúc vào khoảng cuối thế Pleistocen, 10.000 năm trước. Ở những vùng đang ở lúc bắt đầu thời kỳ đồ đá mới, thời kỳ đồ đá cũ gồm cả Epipalaeolithic, và kết thúc vào khoảng 8.000 năm trước.

Thời đại đồ đá cũ được đặc trưng bằng việc sử dụng các công cụ bằng đá được ghè đẽo, mặc dù người nguyên thủy vào thời gian đó cũng sử dụng các công cụ bằng gỗ và xương. Các sản phẩm nguồn gốc hữu cơ cũng được sử dụng làm công cụ, bao gồm da và các sợi thực vật; tuy nhiên các loại công cụ này đã không được bảo quản ở mức độ đáng kể. Theo truyền thống, thời đại đồ đá cũ được chia ra thành ba thời kỳ, là thời kỳ đồ đá cũ hạ, thời kỳ đồ đá cũ trung và thời kỳ đồ đá thượng. Các thời kỳ này đánh dấu các tiến bộ trong công nghệ và văn hóa ở các xã hội loài người nguyên thủy khác biệt.

Sơ kỳ Thời đại đá cũ

Biface de St Acheul MHNT
Rìu đá Acheulean sơ kỳ thời kỳ đồ đá cũ

Gần cuối thế Pliocen ở châu Phi, một tổ tiên đầu tiên của người hiện đại, được gọi là Homo habilis, đã phát triển những công cụ đá đầu tiên từng được biết. Chúng là những công cụ đơn giản như các loại dao. Homo habilis được cho là đã sử dụng thành thạo công cụ thời kỳ Olduvai như các mảnh đá và lõi hạt. Công nghệ chế tạo dụng cụ đá này được đặt tên theo địa điểm hẻm vực Olduvai ở Tanzania. Những người này được cho là sống bằng cách tìm thịt thối và những loài cây dại, hơn là săn bắn con mồi. Khoảng 1,5 triệu năm trước, một chủng người tiến hóa hơn, Homo erectus, đã xuất hiện. H. erectus học cách kiểm soát lửa và chế tạo các công cụ cắt phức tạp hơn, cũng như mở rộng phạm vi sinh sống ra ngoài khu vực châu Phi đến tận châu Á, như tại các địa điểm ở Chu Khẩu Điếm Trung Quốc. 1 triệu năm trước, bằng chứng đầu tiên về loài người ở châu Âu đã xuất hiện, và họ sử dụng rìu đá tiến bộ hơn.

Trung kỳ Thời đại đá cũ

Homo sapiens neanderthalensis
Hộp sọ của một người Neanderthal, La Chapelle-aux-Saints

Giai đoạn này bắt đầu khoảng 200.000 năm trước và nổi tiếng nhất vì nó là giai đoạn sinh sống của người Neanderthal (khoảng 120.000–35.000 năm trước). Các kỹ thuật chế tạo dụng cụ đá của người Neanderthal thường được gọi là Mousterian. Người Neanderthal cuối cùng biến mất khỏi ghi chép khảo cổ học, được thay thế bởi người hiện đại đầu tiên xuất hiện ở miền nam châu Phi khoảng 100.000 năm trước. Mặc dù thường được mọi người coi là nguyên thuỷ, vẫn có bằng chứng rằng người Neanderthal nuôi dưỡng những người già và tiến hành lễ nghi chôn chất minh chứng cho một xã hội đã được tổ chức. Bằng chứng đầu tiên của sự định cư là ở Australia khoảng 40.000 năm trước khi người hiện đại dường như đã vượt từ châu Á tới bằng cách đi từ đảo này tới đảo khác. Những dân cư trung kỳ thời kỳ đồ đá cho thấy những bằng chứng sớm nhất về nghệ thuật và một số khái niệm trừu tượng như vẽ mình bằng đất hoàng thổ.

Hậu kỳ Thời đại đá cũ

Từ khoảng 35.000 đến 10.000 năm trước (cuối thời kỳ băng hà cuối cùng) người hiện đại đã mở rộng thêm vùng sinh sống trên khắp Trái Đất trong giai đoạn hiện được coi là hậu kỳ Thời đại đá cũ. Sau khi người hiện đại đầu tiên tới ở châu Âu kỹ thuật chế tạo dụng cụ đá khá phức tạp đã xuất hiện trong giai đoạn này, gồm cả Châtelperronian, Aurignacian, Solutrean, Gravettian và Magdalenian.

Châu Mỹ được loài người định cư thông qua cầu lục địa Bering thời kỳ đó vẫn còn nổi trên mực nước vì nước biển lúc đó ở mức thấp. Những người này được gọi là Paleo Indians, và thời điểm sớm nhất được chấp nhận là những thời điểm của các địa điểm thuộc văn hóa Clovis, khoảng 13.500 năm trước. Trên khắp địa cẩu, các xã hội thuộc kiểu săn bắn và hái lượm nhưng bằng chứng về nét nhận dạng theo vùng bắt đầu xuất hiện với rất nhiều kiểu công cụ đá được phát triển để thích hợp cho từng môi trường sống khác nhau.

Epipalaeolithic/Thời đại đá giữa

Main articles: Epipalaeolithic, Mesolithic

Khoảng thời gian giữa điểm kết thúc của kỷ băng hà cuối cùng, từ 10.000 năm đến khoảng 6.000 năm trước có đặc trưng với sự nâng lên của mực nước biển và một nhu cầu thay đổi để thích ứng với sự thay đổi của môi trường và tìm kiếm nguồn thức ăn mới. Sự phát triển của các dụng cụ microlith đã bắt đầu để thích ứng với những thay đổi đó. Chúng xuất phát từ những công cụ thời kỳ đồ đá cũ trước đó, vì vậy xuất hiện thuật ngữ Epipalaeolithic. Tuy nhiên, ở châu Âu thuật ngữ Mesolithic (Thời đại đá giữa) lại được sử dụng, bởi vì các công cụ (và cách thức sống) được nhập cảng từ Cận Đông. Ở đó, các công cụ microlith cho phép săn bắn một cách hiệu quả hơn, trong khi những sự định cư phức tạp hơn, như Lepenski Vir đã phát triển dựa trên đánh cá. Việc thuần hóa chó thành một người bạn săn có lẽ cũng diễn ra trong giai đoạn này.

Thời đại đá mới

JomonPottery
Bình gốm Jomon Nhật Bản là loại cổ xưa nhất thế giới.

Thời đại đá mới (Neolithic) có đặc trưng bởi sự chấp nhận nông nghiệp (cũng được gọi là Cuộc cách mạng thời đại đá mới), sự phát triển của đồ gốm và nhiều nơi định cư phức tạp hơn như Çatal Hüyük và Jericho. Những văn hóa thời đại đá mới đầu tiên bắt đầu vào khoảng năm 8.000 TCN ở fertile crescent. Nông nghiệp và văn hóa dẫn tới đã mở rộng tới Địa Trung Hải, lưu vực sông Ấn, Trung Quốc, và Đông Nam Á.

Göbekli2012-14
Tàn tích đền Göbekli Tepe tại Şanlıurfa, Thổ Nhĩ Kỳ, được cho là dựng lên vào 9000 năm trước Công Nguyên và là cấu trúc cổ nhất do con người tạo ra đã được khám phá.

Vì nhu cầu thu hoạch và chăm sóc cây cối, các dụng cụ đá để làm đất và các dụng cụ đá được chế tạo kỹ lưỡng khác trở nên phong phú hơn, gồm cả công cụ nghiền, cắt, thái và rìu. Những công trình to lớn lần đầu tiên được xây dựng, gồm cả các tháp để ở và những bức tường (ví dụ ở Jericho) và các địa điểm nghi lễ (ví dụ như bức tường đá Stonehenge). Những điều này cho thấy đã có những nguồn lực và sự cộng tác đầy đủ cho phép các nhóm người cùng thực hiện các dự án đó. Sự mở rộng thêm về sự phát triển của tầng lớp trên và hệ thống cấp bậc vẫn còn đang được bàn cãi. Bằng chứng sớm nhất về thương mại đã xuất hiện ở thời kỳ đồ đá mới với việc những người mới định cư nhập khẩu những hàng hóa từ bên ngoài với khoảng cách hàng trăm dặm.

Vật liệu văn hóa thời đồ đá

Thức ăn và đồ uống

Các nguồn thức ăn của những người săn bắn hái lượm thời kỳ đồ đá gồm cả động vật và thực vật sống trong môi trường nơi họ sống. Những người dân cư này thích ăn thịt nội tạng thú, gồm cả gan, thận và óc. Họ ăn ít đồ có nguồn gốc từ sữa hay thức ăn thực vật có nhiều carbohydrate- như các loại rau hay ngũ cốc.

Nghiên cứu hiện nay cho thấy rằng hai phần ba năng lượng cần thiết của họ có nguồn gốc động vật. Hàm lượng chất béo trong chế độ ăn được cho là tương tự như hiện nay, nhưng tỷ lệ các kiểu chất béo tiêu thụ thì lại khác biệt: tỷ lệ Omega-6 với Omega-3 là khoảng 3: 1 so với 12:1 hiện nay.

Gần cuối thời kỳ băng hà cuối cùng, 15.000 đến 9.000 năm trước, một sự tuyệt chủng trên diện rộng các loài thú có vú diễn ra ở châu Á, châu Âu, Bắc Mỹ và Australia. Đây là sự kiện tuyệt chủng Holocene đầu tiên. Thậm chí có thể điều này đã buộc loài người ở thời kỳ đó phải thay đổi thói quen ăn uống và cùng với sự xuất hiện của việc trồng cấy nông nghiệp, các loại thức ăn nguồn gốc thực vật cũng đã trở thành một phần thường thấy của chế độ ăn.

Một báo cáo ở Tạp chí National Geographic đã chỉ ra rằng "loại đồ uống có vị rượu đầu tiên có thể đã xuất hiện khi người dân thời kỳ đồ đá mới uống thứ nước quả nho dại được làm lên men bên trong các túi bằng da thú hay trong các thùng gỗ thô."[1]

Chỗ ở và Môi trường sống

Khoảng 2 triệu năm trước, Homo habilis được cho là đã xây dựng kết cấu đầu tiên do con người xây dựng lên ở Đông Phi, nó chỉ bao gồm những sự sắp đặt đơn giản các hòn đá lại với nhau để giữ các cành cây ở vị trí. Một sự sắp đặt đá thành hình tròn cũng được cho là đã xảy ra khoảng 500.000 năm trước được khám phá ở Terra Amata, gần Nice (Pháp). Nhiều địa điểm cư trú của loài người thời đồ đá cũng đã được phát hiện ở nhiều nơi trên Trái Đất, gồm:

  • Một kết cấu kiểu lều bên trong một cái hang gần Grotte du Lazaret, Nice, Pháp.
  • Một kết cấu có mái được chống đỡ bằng cây gỗ, được phát hiện ở Dolni Vestonice, Czech và Slovakia, có niên đại khoảng 23.000TCN. Các bức tường được làm bằng các khối đất sét nện và đá.
Paulnabrone
Mộ đá Poulnabrone ở Hạt Clare, Ireland
  • Nhiều túp lều được làm bằng xương voi mammoth được tìm thấy ở Đông Âu và Siberia. Những người đã dựng những cái lều này là những thợ săn voi mammouth chuyên nghiệp. Nhiều cái tương tự đã được tìm thấy ở dọc vùng thung lũng sông DnieprUkraina, gần Chernihiv, ở Moravia (tại Cộng hòa Czech) và ở phía nam Ba Lan.
  • Một cái lều bằng da thú niên đại khoảng 15.000 đến 10.000TCN (ở Magdalenian) đã được tìm thấy tại Cao nguyên Parain, Pháp.
  • Các lăng mộ cự thạch, nhiều phòng và các mộ đá một phòng có chôn nhiều thanh đá lớn chồng lên nhau giống như những phiến đá lớn. Chúng được tìm thấy trên khắp châu Âu, và được xây dựng vào thời đồ đá mới. Nhiều mộ có các dụng cụ bằng đồng và bằng đá cũng đã được tìm thấy, minh họa các vấn đề cố gắng xác định các giai đoạn dựa trên kỹ thuật.

Nghệ thuật

Nghệ thuật tiền sử chỉ có thể được truy nguyên dựa vào những đồ vật còn sót lại. Âm nhạc tiền sử được suy luận ra từ những nhạc cụ được tìm thấy, trong khi nghệ thuật trên vách có thể được tìm thấy trên bất kỳ loại đá nào. Chúng được gọi là hình khắc trên đá (petroglyph) và tranh vẽ trên đá. Nghệ thuật có thể có hoặc không có chức năng tôn giáo.

Hình khắc trên đá

Hình khắc trên đá đã xuất hiện trong thời đại đồ đá mới. Một Hình khắc trên đá là một hình ảnh trừu tượng hay biểu tượng được ghi lại trên đá, thường là bởi những người tiền sử, bằng cách đục, khoét hay những cách khác lên trên những bề mặt đá tự nhiên. Chúng là kiểu thông thường nhất hay là những biều tượng trước khi có chữ viết được sử dụng để thông tin. Hình khắc trên đá đã được phát hiện ở nhiều nơi trên Trái Đất, gồm cả châu Á (Bhimbetka, Ấn Độ), Bắc Mỹ (Thung lũng chết ở công viên quốc gia), Bắc Mỹ (Cumbe Mayo, Peru), và châu Âu (Finnmark, Na Uy).

Những bức tranh đá

Bhimbetka rock paintng1
Tranh đá tại Bhimbetka, Ấn Độ, một di sản thế giới

Những bức tranh đá được "vẽ" trên đá và được miêu tả theo kiểu tự nhiên hơn là thuật khắc đá. Ở thời đồ đá cũ, sự hiện diện của con người trong những bức tranh đá rất hiếm hoi. Đa phần chúng thể hiện các con vật: không chỉ những loài vật được sử dụng làm thức ăn mà cả những con vật thể hiện sức mạnh như tê giác hay to lớn các loài mèo (như ở Hang Chauvet). Các dấu hiệu như các chấm thỉnh thoảng cũng được vẽ. Hiếm có sự hiện diện của con người như các dấu in tay và những hình nửa người nửa thú. Hang Chauvet ở département Ardèche, ở Pháp, hiện lưu giữ những hình vẽ trong hang quan trọng nhất của thời đồ đá cũ, được vẽ vào khoảng 31.000 năm TCN. Các bức tranh trong hang AltamiraTây Ban Nha được vẽ vào khoảng 14.000 đến 12.000 năm TCN và có những con bò rừng bison. Gian phòng của những con bò ở Lascaux, Dordogne, Pháp là một trong những hang có tranh đá từ khoảng 15.000 đến 10.000 TCN.

Ý nghĩa của những bức tranh này hiện vẫn chưa được biết. Các hang đó đều không nằm trong khu vực có người ở, vì thế có thể chúng đã từng được dùng cho những lý do lễ nghi. Các con vật được vẽ thêm các dấu hiệu có thể là ma thuật. Những biểu tượng hình mũi tên đôi khi được coi như là được sử dụng để làm lịch hay almanac. Nhưng bằng chứng của nó thì vẫn chưa được quyết định.[2] Công việc quan trọng nhất của thời đại đồ đá giữa là những chiến binh đang diễu hành, một bức tranh tường tại Cingle de la Mola, Castellón ở Tây Ban Nhan niên đại vào khoảng 7.000–4.000 TCN. Kỹ thuật được sử dụng có thể là phun hay thổi các chất màu lên đá. Các bức tranh khá theo chủ nghĩa tự nhiên, mặc dù có được cách điệu hoá. Các hình ảnh không theo kiểu không gian ba chiều, thậm chí chúng còn chồng lên nhau.[3]

Lễ nghi và Đức tin thời đồ đá

Những nghiên cứu hiện đại và sự phân tích kỹ lưỡng những đồ vật tìm thấy từ thời kỳ đồ đá chỉ ra một số lễ nghi và đức tin của con người ở thời tiền sử đó. Hiện nay mọi người tin rằng các hoạt động của con người thời tiền sử vượt xa khỏi những yêu cầu trước mắt về tìm kiếm thức ăn, đồ mặc, và nơi ở. Các nghi thức đặc biệt liên quan tới cái chết và sự chôn cất đã được tiến hành, mặc dù chắc chắn là khác biệt về cách thức và sự tiến hành ở từng nền văn hoá. Một số địa điểm thời kỳ đồ đá ở những vùng khác nhau trên thế giới cho thấy những dấu vết của sự nhảy múa, nhảy múa theo hàng và những nghi thức đầu tiên.[4]

Những dấu vết cuộc sống thời đồ đá hiện nay

Các nhà nhân chủng học đã sử dụng nhiều bộ lạc để nghiên cứu và làm sáng tỏ cuộc sống ở thời kỳ đồ đá từng như thế nào. Những bộ lạc đó có thể thấy ở Papua New Guinea, Các đảo Andaman và Nicobar (Ấn Độ), Châu PhiNam Mỹ.

Thời đồ đá trong văn hóa đại chúng

Là một thuật ngữ kiểu tiếng lóng, "Thời kỳ đồ đá" có thể được sử dụng để miêu tả một nền văn minh hiện đại hay một nhóm người sống trong các điều kiện nguyên thuỷ, thậm chí sự sử dụng của nó thường là không chính xác. Câu "ném bom đưa chúng trở về thời kỳ đồ đá" ngụ ý một cuộc tấn công dữ dội phá hủy toàn bộ cơ sở hạ tầng tại mục tiêu, buộc những người sống sót phải quay về sử dụng kỹ thuật nguyên thủy để tồn tại.

Hình ảnh người ở hang thường đi chung với thời kỳ đồ đá. Ví dụ một series phim tài liệu về tiến trình phát triển của con người ở thời kỳ đồ đá đã được đặt tên là Cùng đi với người ở hang, mặc dù chỉ chương trình cuối cùng là có hình ảnh con người sống trong hang. Trong khi ý tưởng rằng loài người và khủng long từng cùng tồn tại thỉnh thoảng cũng được sử dụng trong phim hoạt hình, phim và các trò chơi máy tính, như The FlintstonesOne Million Years B.C., khái niệm về những động vật linh trưởng và khủng long từng tồn tại với nhau chỉ đơn giản là một điều tưởng tượng và chỉ được xem xét nghiêm túc bởi Trái Đất trẻ thuyết sáng tạo thế giới.

Một số miêu tả thời kỳ đồ đá gồm cả cuốn sách bán rất chạy là cuốn Những đứa trẻ của Trái Đất một serie sách viết bởi Jean M. Auel, được đặt ở thời đồ đá cũ và dựa rất ít vào những khám phá khảo cổ học và nhân chủng học. Bộ phim Tìm kiếm lửa năm 1981 của Jean-Jacques Annaud kể câu chuyện về một nhóm người tìm kiếm ngọn lửa đã mất của họ.

Ghi chú

  1. ^ "Diet and Eating Habits in the Stone-Age," annecollins.com (accessed ngày 11 tháng 6 năm 2005).
  2. ^ William Cocke, "First Wine? Archaeologist Traces Drink to Stone Age," National Geographic News, ngày 21 tháng 7 năm 2004 (accessed ngày 11 tháng 6 năm 2005).
  3. ^ M. Hoover, "Art of the Paleolithic and Neolithic Eras," from Art History Survey 1, San Antonio College (July 2001; accessed ngày 11 tháng 6 năm 2005).
  4. ^ "Paleolithic, Mesolithic and Neolithic Art" (lecture 2, Rice University, Houston, TX, ngày 2 tháng 9 năm 1998; accessed ngày 11 tháng 6 năm 2005).
  5. ^ Christopher L. C. E. Witcombe, "Women in the Stone Age," in the essay "The Venus of Willendorf" (accessed ngày 11 tháng 6 năm 2005).
  6. ^ See note 4 above.
  7. ^ Burial and mysticism in prehistory (accessed ngày 11 tháng 6 năm 2005).

Chú thích

  1. ^ http://www.nhm.ac.uk/about-us/news/2010/august/oldest-tool-use-and-meat-eating-revealed75831.html
  2. ^ Rogers & Semaw 2009, tr. 162–163

Xem thêm

Tham khảo

  • Barham, Lawrence; Mitchell, Peter (2008). The First Africans: African Archaeology from the Earliest Toolmakers to Most Recent Foragers. Cambridge World Archaeology. Oxford: Oxford University Press.
  • Belmaker, Miriam (tháng 3 năm 2006). Community Structure through Time: 'Ubeidiya, a Lower Pleistocene Site as a Case Study (Thesis) (PDF). Paleoanthropology Society.
  • Clark, J. Desmond (1970). The Prehistory of Africa. Ancient People and Places, Volume 72. New York; Washington: Praeger Publishers.
  • Deacon, Hilary John; Deacon, Janette (1999). Human beginnings in South Africa: uncovering the secrets of the Stone Age. Walnut Creek, Calif. [u.a.]: Altamira Press.
  • Rogers, Michael J.; Semaw, Sileshi (2009). “From Nothing to Something: The Appearance and Context of the Earliest Archaeological Record”. Trong Camps i Calbet, Marta; Chauhan, Parth R. Sourcebook of paleolithic transitions: methods, theories, and interpretations. New York: Springer.
  • Schick, Kathy D.; Nicholas Toth (1993). Making Silent Stones Speak: Human Evolution and the Dawn of Technology. New York: Simon & Schuster. ISBN 0-671-69371-9.
  • Shea, John J. (2010). “Stone Age Visiting Cards Revisited: a Strategic Perspective on the Lithic Technology of Early Hominin Dispersal”. Trong Fleagle, John G.; Shea, John J.; Grine, Frederick E.; Boden, Andrea L.; Leakey, Richard E,. Out of Africa I: the First Hominin Colonization of Eurasia. Dordrecht; Heidelberg; London; New York: Springer. tr. 47–64.

Đọc thêm

  • Scarre, Christopher (ed.) (1988). Past Worlds: The Times Atlas of Archaeology. London: Times Books. ISBN 0-7230-0306-8.

Liên kết ngoài

Hệ thống ba thời đại: Thời đại đồ đá | Thời đại đồ đồng | Thời đại đồ sắt

Danh sách các thời kỳ khảo cổ

Các mỏ đá lửa thời đại đồ đá mới ở Spiennes

Các mỏ đá lửa thời đại đồ đá mới ở Spiennes là một trong những mỏ đá lửa lớn nhất và sớm nhất có từ Thời đại đồ đá mới tồn tại ở tây bắc châu Âu. Mỏ đá lửa này nằm gần làng Spiennes, thuộc Wallonia, phía đông nam thành phố Mons, Bỉ. Các mỏ đá lửa đã được khai thác trong thời gian giữa và cuối thời đại đồ đá mới, tức là giữa năm 4.300 và 2.200 TCN. Được tuyên bố như là một địa điểm đáng chú ý về sự đa dạng của các giải pháp công nghệ được sử dụng để khai thác hài hòa với môi trường xung quanh, UNESCO đã công nhận các mỏ đá lửa này là Di sản thế giới từ năm 2000.

Hang Altamira

Hang Altamira là một hang động ở Tây Ban Nha nổi tiếng với các bức tranh hang động vẽ các động vật bởi con người thời tiền sử. Nó là hang động tiền sử đầu tiên được khám phá với sự công bố năm 1880.

Địa điểm hang gần thị trấn Santillana del Mar ở Cantabria, Tây Ban Nha, 30 km phía tây thành phố Santander, Cantabria. Các bức tranh của hang này được công nhận là di sản thế giới bởi UNESCO.

Hang Con Moong

Hang Con Moong (theo tiếng địa phương có nghĩa là "hang con thú") là một hang đá trong Vườn quốc gia Cúc Phương. Tuy Vườn quốc gia Cúc Phương phần lớn thuộc tỉnh Ninh Bình nhưng hang Con Moong lại thuộc xã Thành Yên, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.

Hang Dơi Mộc Châu

Hang Dơi, còn gọi là Động Sơn Mộc Hương, tiếng Thái gọi là Thẳm Kia (Hang Dơi), là một hang trong dãy núi đá vôi ở phía bắc thị trấn Mộc Châu tỉnh Sơn La, Việt Nam .

Hang thuộc dạng karst trong núi đá vôi. Người dân địa phương biết đến hang đã từ lâu, và có nhiều truyền thuyết về hang, cũng như sử dụng làm nơi trú ẩn từ thời kháng chiến chống Pháp, nhưng với giới khảo cổ thì được coi là phát hiện năm 1952.

Hang Hua Bó

Hang Hua Bó, theo tiếng dân tộc Thái là Thẳm Hua Bó, là một thắng cảnh hang núi ở bản Nang Phai, xã Mường Bú, huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

Di tích hang Hua Bó là một quần thể gồm 3 hang động thiên tạo dạng karst trong dãy núi đá vôi.

Theo tiếng dân tộc Thái tên gọi Thẳm Hua Bó nghĩa là "hang đầu nguồn", hoặc Nang Phai nghĩa là "góc mương phai". Hang hiện được công nhận xếp hạng di tích danh lam thắng cảnh cấp tỉnh

Hà Nội

Hà Nội là thủ đô của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cũng là kinh đô của hầu hết các vương triều phong kiến tại Việt Nam trước đây. Do đó, lịch sử Hà Nội gắn liền với sự thăng trầm của lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ. Hà Nội là thành phố trực thuộc trung ương có diện tích lớn nhất cả nước từ khi tỉnh Hà Tây sáp nhập vào, đồng thời cũng là địa phương đứng thứ nhì về dân số với hơn 8 triệu người (năm 2019), tuy nhiên, nếu tính những người cư trú không đăng ký thì dân số thực tế của thành phố này năm 2019 là gần 10 triệu người. Mật độ dân số của Hà Nội là 2.398 người/km², mật độ giao thông là 105,2 xe/km² mặt đường. Hiện nay, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là hai đô thị loại đặc biệt của Việt Nam.

Năm 2018, Hà Nội là đơn vị hành chính Việt Nam xếp thứ 02 về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ 08 về GRDP bình quân đầu người, đứng thứ 41 về tốc độ tăng trưởng GRDP. GRDP đạt 706.495 tỉ Đồng (tương ứng với 38,405 tỉ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 93,94 triệu đồng (tương ứng với 4.080 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 7,37%.Hà Nội nằm giữa đồng bằng sông Hồng trù phú, nơi đây đã sớm trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa ngay từ những buổi đầu của lịch sử Việt Nam. Năm 1010, vua Lý Thái Tổ, vị hoàng đế đầu tiên của nhà Lý, quyết định xây dựng kinh đô mới ở vùng đất này với cái tên Thăng Long. Trong suốt thời kỳ của các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, kinh thành Thăng Long là trung tâm văn hóa, giáo dục và buôn bán của cả nước. Khi Tây Sơn rồi nhà Nguyễn lên nắm quyền trị vì, kinh đô được chuyển về Huế và Thăng Long bắt đầu mang tên Hà Nội từ năm 1831, dưới thời vua Minh Mạng.

Năm 1902, Hà Nội trở thành thủ đô của Liên bang Đông Dương và được người Pháp xây dựng, quy hoạch lại, được mệnh danh là Tiểu Paris phương Đông thời bấy giờ. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, Hà Nội là thủ đô của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau khi thống nhất tiếp tục là thủ đô của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Đó là thủ đô của Đông Dương thuộc Pháp 1887-1946 và của miền Bắc Việt Nam trước khi thống nhất miền Bắc và miền Nam Việt Nam.

Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, Hà Nội hiện nay gồm 12 quận, 1 thị xã và 17 huyện ngoại thành. Hiện nay, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm kinh tế-xã hội đặc biệt quan trọng của Việt Nam.

Hà Nội được Tổ chức Khoa học, Văn hóa và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) trao tặng danh hiệu “Thành phố vì hòa bình” ngày 16/7/1999.

Hà Nội thường xuyên nằm ở top đầu các thành phố ô nhiễm, thậm chí nhiều ngày trong năm là thành phố ô nhiễm không khí nhất thế giới, với chỉ số bụi mịn ở mức nguy hiểm cho sức khỏe con người. Theo Báo cáo chất lượng không khí toàn cầu 2018 thì Hà Nội có hàm lượng bụi mịn cao gấp 4 lần mức khuyến cáo của WHO (40,8 mg/m3, mức khuyến cáo: 10 mg/m3). Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam thì Hà Nội là thành phố ô nhiễm không khí nhất với số ngày chất lượng không khí lên mức kém, xấu, nguy hại chiếm tỷ lệ cao.

Hồng Kông

Hồng Kông (tiếng Trung: 香港; Hán-Việt: Hương Cảng, Giọng Quảng Đông: [hœ́ːŋ.kɔ̌ːŋ] (), tiếng Anh: Hong Kong; /ˌhɒŋˈkɒŋ/), là một trong hai đặc khu hành chính của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, cùng với Macau. Hồng Kông nằm ở ngoài cửa sông Châu Giang, phía đông kênh Linh Đinh Dương, bắc giáp sông Thâm Quyến với thành phố Thâm Quyến của tỉnh Quảng Đông ở miền nam Trung Quốc. Với hơn 7,4 triệu người thuộc nhiều quốc tịch khác nhau trong một khu vực lãnh thổ rộng, Hồng Kông là một trong những nơi đông dân nhất thế giới.

Hồng Kông trở thành thuộc địa của Đế quốc Anh vào cuối Chiến tranh nha phiến lần đầu tiên vào năm 1842. Chủ quyền lãnh thổ được chuyển sang Trung Quốc vào năm 1997. Là một khu vực hành chính đặc biệt, Hồng Kông duy trì các hệ thống quản lý và kinh tế tách biệt với các hệ thống của Trung Quốc đại lục. Người dân ở đây có xu hướng xác định là người Hồng Kông hơn là người Trung Quốc.Ban đầu chỉ là một khu vực dân cư thưa thớt của các làng nông nghiệp và đánh cá, lãnh thổ này đã trở thành một trong những trung tâm tài chính và cảng thương mại quan trọng nhất thế giới. Nó được ước tính là nhà xuất khẩu lớn thứ mười của thế giới, nhà nhập khẩu lớn thứ chín thế giới, và thực thể thương mại lớn thứ bảy thế giới, và tiền tệ hợp pháp của nó (đồng đô la Hồng Kông) đứng thứ 13 thế giới trong danh sách tiền tệ giao dịch nhiều nhất. Hồng Kông là nơi tập trung nhiều cá nhân có giá trị ròng cực cao so với bất kỳ thành phố nào trên thế giới. Mặc dù thành phố có một trong những thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới, nhưng cũng có sự bất bình đẳng thu nhập nghiêm trọng.Hồng Kông được phân loại là một thành phố thế giới alpha +, cho thấy ảnh hưởng của nó trên toàn thế giới. Hồng Kông là một trong những trung tâm tài chính toàn cầu quan trọng nhất, nắm giữ điểm số Chỉ số phát triển tài chính cao nhất và luôn được xếp hạng là khu vực kinh tế cạnh tranh và tự do nhất trên thế giới năm 2017. Thành phố có số lượng nhà chọc trời lớn nhất thế giới, xung quanh cảng Victoria. Hồng Kông liên tục được xếp hạng cao về Chỉ số phát triển con người và là một trong những lãnh thổ có tuổi thọ cao nhất trên thế giới. Hơn 90 phần trăm dân số của Hong Kong sử dụng giao thông công cộng. Tuy nhiên, ô nhiễm không khí từ các khu vực công nghiệp lân cận của Trung Quốc đại lục đã gây ra một lượng lớn các hạt khí quyển trong khu vực.

Lịch sử thiên văn học

Thiên văn học là một trong những môn khoa học ra đời sớm nhất trong lịch sử loài người. Những dấu vết khởi đầu của ngành thiên văn có từ thời tiền sử. Qua quan sát chuyển động biểu kiến của Mặt Trời, Mặt Trăng, con người đã tìm ra những thời điểm thay đổi của thời tiết. Vào cuối thời đại đồ đá (thiên niên kỷ 4 - 3 TCN), ở những nền văn minh cổ đại, quan sát bầu trời là công việc rất quan trọng của giới tăng lữ. Trước khi con người học được cách định vị trên Trái Đất và sáng tạo ra môn địa lý học, họ đã quan sát bầu trời và sản sinh ra những mô hình đầu tiên của nó. Thời điểm thiên văn học trở thành một môn khoa học theo cách nhìn nhận ngày nay đã diễn ra vào thế kỉ 16 nhờ công sức của Nicolaus Copernicus, kế tiếp là Galileo Galilei, Johannes Kepler, Isaac Newton. Một trong những tác nhân quan trọng nhất đối với cuộc cách mạng thiên văn học của Nicolaus Copernicus là phát minh kính viễn vọng.

Những bước tiến của thiên văn học hiện đại đã xảy ra vào nửa cuối thế kỷ 19 khi các phương pháp phổ học và chụp hình được sử dụng trong quan sát thiên văn. Những bước nhảy vọt của thiên văn học được ghi nhận vào những năm 40 của thế kỷ 20 nhờ các quan sát thiên văn vô tuyến và tiếp đó là sự kiện con người khắc phục được những cản trở của khí quyển Trái Đất khi quan sát toàn vẹn phổ của vũ trụ từ các vệ tinh nhân tạo.

Người Neanderthal

Người Neanderthal hay Neandertal (từ tiếng Đức: Neandertaler) ( /niˈændərˌθɔːlz/, /niˈændərˌtɔːlz/, /niˈændərˌtɑːlz/, /neɪˈɑːndərˌtɑːlz/ hoặc /niˈændərθəlz/) là một loài trong chi Người đã tuyệt chủng, các mẫu vật được tìm thấy vào thế Pleistocene ở châu Âu và một vài nơi thuộc phía Tây và trung Á. Neanderthal hoặc được xếp là phụ loài (hay chủng tộc) của người hiện đại (Homo sapiens neanderthalensis) hoặc được tách thành một loài người riêng (Homo neanderthalensis).Người Neanderthal nguyên thủy sống ở châu Âu sớm nhất cách đây là khoảng 350–600 Ka BP (Ka BP: Kilo annum before present: ngàn năm trước). Người Neanderthal nguyên thủy thỉnh thoảng được xếp vào một loài theo ngoại hình khác Homo heidelbergensis, hoặc một dạng di cư Homo rhodesiensis.

Vào hồi 130 Ka BP các đặc trưng đầy đủ của người Neanderthal đã xuất hiện. Các đặc trưng này sau đó biến mất ở châu Á cách đây 50 Ka BP và ở châu Âu vào khoảng 30 Ka BP, và không còn cá thể nào có diện mạo đầy đủ để được xem là một phần của Homo neanderthalensis. Do vậy, người Neanderthal được coi là đã tuyệt chủng từ 30 Ka BP, nhưng theo nghiên cứu dấu vết gen đề xuất rằng đã có việc người Neanderthal giao phối với người hiện đại Homo sapiens vào khoảng giữa 80 và 50 Ka BP trước ở Trung Đông khiến 1–4% gene người Á-Âu có nguồn gốc từ người Neanderthal.

Thế Holocen

Thế Holocen (còn gọi là thế Toàn Tân) là một thế địa chất bắt đầu khi kết thúc thế Pleistocen, vào khoảng 11.700 năm trước (vào khoảng 9.700 TCN) và còn tiếp tục ngày nay. Thế Holocen thuộc về kỷ Neogen và phân đại Đệ Tứ. Tên của nó bắt nguồn từ ὅλος (holos, toàn bộ) và καινός (kainos, mới) trong tiếng Hy Lạp. Thế này được coi là một giai đoạn gian băng trong thời kỳ băng hà hiện nay.

Phần nhiều nhà khoa học chấp nhận rằng thế Holocen bắt đầu 10 ngàn năm trước theo định tuổi bằng cacbon C-14 (11.703 năm trước 1950). Thế này bắt đầu ngay sau băng hà Weichsel (thời kỳ băng hà Wisconsin hay thời kỳ băng hà Baltic-Scandinavia). Tại châu Âu, thế Holocene được chia ra thành 5 thời đới (chronozone) theo thay đổi khí hậu: đới Tiền Boreal (Preboreal; 10–9 ngàn năm trước), đới Boreal (9–8 ngàn năm trước), đới Đại Tây Dương (Atlantic; 8–5 ngàn năm trước), đới Hạ Boreal (Subboreal; 5–2,5 ngàn năm trước), và đới Hạ Đại Tây Dương (Subatlantic; 2,5 ngàn năm trước đến ngày nay).

Tất cả văn minh con người xảy ra trong thế Holocen. Hệ thống giai đoạn khí hậu Blytt-Sernander, mới đầu được định nghĩa theo vết cây cối còn lại trong bãi than bùn, không còn được sử dụng. Hệ thống này được phát triển cho miền bắc châu Âu, nhưng các thay đổi khí hậu xảy ra rộng rãi hơn. Các thế trong hệ thống này bao gồm một vài dao động cuối cùng trước thế Holocen của thời kỳ băng hà cuối và phân loại các khí hậu của tiền sử gần đây hơn.

Các nhà cổ sinh vật học chưa định rõ tầng động vật cho thế Holocen. Khi cần chia ra thế này từng giai đoạn nhỏ hơn, các giai đoạn trong phát triển của con người, đó là thời đại đồ đá giữa (Mesolithic), thời đại đồ đá mới (Neolithic), và thời đại đồ đồng thường được sử dụng. Tuy nhiên, ba thuật ngữ này ứng với các thời gian sẽ khác ở các vùng khác trên thế giới, tùy lúc mà những công nghệ này nổi lên ở vùng đó. Vì thế, các nhà khoa học thường không sử dụng thuật ngữ "thời đại đồ đá giữa" đối với những vùng ở ngoài miền bắc châu Âu.

Theo khí hậu, có thể chia thế Holocen thành hai giai đoạn đều là Hypsithermal và Băng hà mới (Neoglacial); biên giới là lúc thời đại đồ đồng bắt đầu trong văn minh phương Tây. Theo một số nhà khoa học, giai đoạn thứ ba, thế Anthropocen (thế Nhân Sinh) bắt đầu vào thế kỷ XVIII với Cách mạng công nghiệp.Mực nước biển dâng lên từ -13 m đến + 5 m so với mực nước biển hiện tại trong khoảng thời gian cách đây 8.000 - 4.000 năm ở vùng eo biển Malacca.

Thời tiền sử

Thời đại tiền sử là thuật ngữ thường được dùng để mô tả thời đại trước khi lịch sử được viết. Paul Tournal lúc đầu tạo ra thuật ngữ trước-lịch sử (Pré-historique) để mô tả những vật ông tìm thấy trong các hang động của miền Nam nước Pháp. Nó đã được sử dụng trong ngôn ngữ tiếng Pháp vào những năm 1830 để miêu tả thời gian trước khi có chữ viết, và nó được đưa vào trong ngôn ngữ tiếng Anh bởi Daniel Wilson vào năm 1851.

Thời đại tiền sử có thể được hiểu là thời đại được bắt đầu của vạn vật, vũ trụ, tuy nhiên thuật ngữ này hầu hết được sử dụng để mô tả các thời kỳ có sự sống trên trái đất; những con khủng long có thể được mô tả là các động vật thời kỳ tiền sử và người thượng cổ (ở trong hang) được mô tả là người tiền sử.

Bởi vì không có chữ viết từ thời tiền sử, nên những thông tin mà chúng ta biết về thời kỳ này là được biết ở ngoài thực địa của các khoa học như cổ sinh học, sinh học, linh trưởng học, địa chất học, khảo cổ học, thiên văn học và các khoa học tự nhiên cũng như các khoa học xã hội khác.

Thời đại đồ đá cũ

Thời đại đồ đá cũ là giai đoạn đầu của thời đại đồ đá trong thời tiền sử, được phân biệt bằng sự phát triển của các công cụ đá. Về cơ bản, nó chiếm gần như toàn bộ lịch sử loài người trên Trái Đất, kéo dài từ khoảng 2,5 triệu năm trước, với sự xuất hiện của các công cụ bằng đá do các dạng người nguyên thủy như người khéo tay (Homo habilis) đưa ra, cho đến khi có sự xuất hiện của nông nghiệp vào khoảng 10.000 TCN. Thuật ngữ "Paleolithic", nghĩa văn chương là "Thời đại cổ của đá", đã được nhà khảo cổ học John Lubbock tạo ra vào năm 1865 và có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp "παλαιός", "paleos" (cổ, cũ) và "λίθος", "lithos", (đá).

Thời đại đồ đá cũ nói chung kết thúc khi thời đại đồ đá giữa (Mesolithic) bắt đầu, hoặc ở các khu vực với quá trình đồ đá mới hóa là sự bắt đầu của thời đại đồ đá cũ trên (Epipaleolithic).

Thời đại đồ đá cũ được đặc trưng bằng việc sử dụng các công cụ bằng đá được ghè đẽo, mặc dù người nguyên thủy vào thời gian đó cũng sử dụng các công cụ bằng gỗ và xương. Các sản phẩm nguồn gốc hữu cơ cũng được sử dụng làm công cụ, bao gồm da và các sợi thực vật; tuy nhiên các loại công cụ này đã không được bảo quản ở mức độ đáng kể. Theo truyền thống, thời đại đồ đá cũ được chia ra thành ba thời kỳ, là thời đại đồ đá cũ sớm, thời đại đồ đá cũ giữa và thời đại đồ đá cũ muộn. Các thời kỳ này đánh dấu các tiến bộ trong công nghệ và văn hóa ở các xã hội loài người nguyên thủy khác biệt.

Thời đại đồ đá giữa

Thời đại đồ đá giữa (tiếng Anh là Mesolithic có gốc từ tiếng Hy Lạp: mesos "giữa", lithos "đá") là một giai đoạn của thời đại đồ đá, một khái niệm khảo cổ được sử dụng để chỉ các nhóm nền văn hóa khảo cổ đặc trưng trong giai đoạn giữa thời đại đồ đá cũ và thời đại đồ đá mới.

Thuật ngữ này được sử dụng để chỉ nhiều khung thời gian khác nhau ở nhiều nơi thuộc Á-Âu. Đầu tiên nó được dùng để chỉ giai đoạn sau Holocene nhưng trước các dụng cụ thời kỳ nông nghiệp ở Tây Bắc châu Âu trong khoảng thời gian 12 đến 7 Ka BP (Kilo annum before present, ngàn năm trước).

Tuy nhiên nó cũng chỉ các dụng cụ từ Levant từ khoảng 22 đến 11,5 Ka BP. Ở Nhật Bản, thời kỳ Jōmon từ khoảng 16 đến 2,4 Ka BP đôi khi cũng được gọi là thời kỳ đồ đá giữa. Nó cũng dùng để chỉ một số nền văn hóa ở tiểu lục địa Ấn Độ từ 100 đến 32 Ka BP.

Thời đại đồ đá mới

Thời đại đồ đá mới là một giai đoạn của thời đại đồ đá trong lịch sử phát triển công nghệ của loài người, bắt đầu từ khoảng năm 10.200 TCN theo bảng niên đại ASPRO ở một vài nơi thuộc Trung Đông, và sau đó ở các nơi khác trên thế giới và kết thúc giữa 4500 và 2000 BC. Theo cách hiểu thông thường, đây là giai đoạn cuối của thời kỳ đồ đá. Thời kỳ đồ đá mới là giai đoạn tiếp theo của Epipaleolithic trong Holocene, bắt đầu bằng sự rộ lên của việc nuôi trồng, và tạo ra cuộc "cách mạng thời kỳ đồ đá mới", và thời kỳ này kết thúc khi các công cụ kim loại trở nên phổ biến trong thời đại đồ đồng đá, hoặc thời đại đồ đồng hoặc phát triển trực tiếp lên thời kỳ đồ sắt, tùy theo các vùng địa lý. Thời kỳ đồ đá mới là một bước tiến triển về các thay đổi và đặc điểm của văn hóa và ứng xử, như việc sử dụng các loại cây trồng hoang dại và thuần hóa và sử dụng các loài động vật được thuần hóa.Sự khởi đầu của nền văn hoá thời kỳ đồ đá mới được xem là ở Levant (Jericho, Bờ Tây ngày nay) khoảng 10.200 – 8.800 BC. Nó phát triển trực tiếp từ nền văn hoá Natufian Epipaleolithic trong khu vực, những người đã đi tiên phong trong việc sử dụng các loại ngũ cốc hoang dã, sau đó phát triển thành nông nghiệp thực sự. Thời kỳ Natufian kéo dài từ 12.500 đến 9.500 BC, và được gọi là "thời kỳ Tiền- Đồ Đá Mới" và bây giờ được gọi là Thời kỳ Đá Mới Tiền Gốm (PPNA) từ 10.200 đến 8800 BC. Khi những người Natufians trở nên phụ thuộc vào các loại ngũ cốc hoang dã trong chế độ ăn uống của họ, và một lối sống định cư đã bắt đầu trong một số họ, những thay đổi khí hậu liên quan đến thời kỳ Dryas Trẻ được cho là buộc người ta phải phát triển nông nghiệp.

Vào năm 10.200 - 8.800 BC, các cộng đồng nông nghiệp đã phát triển ở vùng Levant và lan rộng đến Tiểu Á, Bắc Phi và Bắc Lưỡng Hà. Lưỡng Hà là địa điểm phát triển sớm nhất của Cuộc Cách mạng Đá Mới từ khoảng năm 10.000 BC.

Nông nghiệp Đá Mới sớm được giới hạn trong phạm vi hẹp của thực vật, cả hoang dã và thuần hoá, bao gồm lúa mì einkorn, kê và “spelt”, và nuôi chó, cừu và dê. Vào khoảng năm 6900-6400 BC, nó bao gồm lợn và gia súc thuần hoá, hình thành khu định cư có người ở thường xuyên hoặc theo mùa, và sử dụng gốm.

Không phải tất cả những yếu tố văn hoá đặc trưng của thời Đồ đá Mới xuất hiện ở mọi nơi theo cùng một trật tự: những xã hội nông nghiệp sớm nhất ở vùng Cận Đông không sử dụng gốm. Tại các khu vực khác trên thế giới, như Châu Phi, Nam Á và Đông Nam Á, các sự kiện thuần hóa độc lập đã dẫn tới những nền văn hoá thời kỳ đồ đá mới đặc biệt trong khu vực phát sinh hoàn toàn độc lập với các nền văn hoá ở Châu Âu và Tây Nam Á. Các xã hội Nhật Bản đầu tiên và các nền văn hoá Đông Á khác đã sử dụng đồ gốm trước khi phát triển nông nghiệp.

Thuật ngữ Neilithic bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp có nghĩa đen là "New Stone Age". Thuật ngữ được Sir John Lubbock sáng tạo vào năm 1865 là sự phân chia của hệ thống ba thời kỳ.

Chia giai đoạn theo đồ gốm

Một dãy đồ tạo tác thời đại Đồ Đá Mới, bao gồm vòng tay, đầu rìu, đục và dụng cụ đánh bóng. Các đồ tạo tác bằng đá thời kỳ đồ đá được đánh bóng rõ ràng và, ngoại trừ các mặt hàng chuyên dụng, không bị sứt mẻ.

Ở Trung Đông, các nền văn hoá được xác định là thời kỳ Đồ Đá Mới bắt đầu xuất hiện vào thiên niên kỷ 10 BC. Sự phát triển gần đây xảy ra ở Levant (ví dụ, Thời kỳ Đá Mới Tiền Gốm A và Thời kỳ Đá Mới Tiền Gốm B) và từ đó lan sang phía đông và phía tây. Các nền văn hoá thời kỳ Đồ Đá Mới được chứng minh ở đông nam Anatolia và bắc Lưỡng Hà vào khoảng năm 8000 BC.

Khu đô thị tiền sử Beifudi gần Yixian thuộc tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc, chứa đựng các di tích văn hoá đồng thời với văn hóa Cishan và Xinglongwa trong khoảng 6000- 5000 BC, những nền văn hoá Đá Mới ở phía đông của dãy núi Taihang, làm đầy khoảng cách khảo cổ học giữa hai nền văn hóa ở phía Bắc Trung Quốc. Tổng diện tích khai quật là hơn 1.200 yard vuông (1.000 m2, 0.10 ha), và việc thu thập các kết quả thời kỳ Đá Mới tại khu vực này bao gồm hai giai đoạn.

Thời kỳ Đồ Đá Mới 1 - Đồ Đá Mới Tiền Gốm A (PPNA)

Bài chính: Đồ Đá Mới Tiền Gốm A

Thời kỳ Đồ Đá Mới 1 (PPNA) bắt đầu vào khoảng 10.000 BC tại Levant. Một khu vực đền thờ ở phía đông nam Thổ Nhĩ Kỳ ở Göbekli Tepe vào khoảng năm 9500 BC có thể được coi là sự khởi đầu của thời kỳ này. Vị trí này được phát triển bởi các bộ lạc thợ săn- hái lượm du cư, biểu lộ là thiếu nhà định cư trong vùng lân cận và có thể là nơi thờ phụng nhân tạo lâu đời nhất được biết đến. Ít nhất bảy vòng đá, bao phủ 25 mẫu Anh (10 ha), có những cột đá vôi khắc động vật, côn trùng, và chim. Các công cụ đá đã được sử dụng rất nhiều bởi vì có lẽ hàng trăm người đã tạo ra những trụ cột, có thể đã hỗ trợ mái nhà. Các khu vực PPNA sớm khác có niên đại khoảng 9.500-9.000 BC đã được tìm thấy ở Jericho, West Bank (đặc biệt là Ain Mallaha, Nahal Oren và Kfar HaHoresh), Gilgal ở Thung lũng Jordan và Byblos, Li băng. Sự khởi đầu của thời Đồ Đá Mới 1 trùng lặp các giai đoạn Heavy neolithic và Tahunian với một mức độ nhất định.

Tiến bộ lớn của thời Đồ Đá Mới 1 là canh tác thực sự. Trong các nền văn hoá Natufian ở thời kỳ tiền đồ đá mới, các loại ngũ cốc hoang dã đã được thu hoạch, và có thể chọn hạt giống sớm và tái trồng xảy ra. Hạt đã được nghiền thành bột. Lúa mì Emmer đã được thuần hoá, và động vật được chăn thả và thuần hoá (động vật được làm giống và chọn giống) [cần dẫn nguồn]

Vào năm 2006, những gì còn lại của quả sung đã được phát hiện trong một ngôi nhà ở Jericho từ năm 9400 TCN. Cây sung này là của một loại đột biến mà không thể thụ phấn bởi côn trùng, và do đó cây chỉ có thể tái sản xuất từ cây hom. Bằng chứng này cho thấy sung là cây trồng đầu tiên và đánh dấu phát minh về công nghệ nuôi trồng. Điều này xảy ra hàng thế kỷ trước khi trồng ngũ cốc đầu tiên. [7]

Sự định cư trở nên thường xuyên hơn với các căn nhà tròn, giống như những căn nhà của người Natufian, với các phòng đơn. Tuy nhiên, những căn nhà này lần đầu tiên được làm bằng bùn. Khu định cư có một bức tường đá xung quanh và có lẽ có một tháp đá (như ở Jericho). Tường được sử dụng làm bảo vệ, như là bảo vệ khỏi lũ lụt, hoặc để giữ động vật. Một số thùng đựng cũng cho thấy để lưu trữ ngũ cốc và thịt.

Thời đại đồ đồng

Thời đại đồ đồng là một thời kỳ trong sự phát triển của nền văn minh khi phần lớn công việc luyện kim tiên tiến (ít nhất là trong sử dụng có hệ thống và rộng rãi) bao gồm các kỹ thuật để nấu chảy đồng và thiếc từ các loại quặng lộ thiên sẵn có trong tự nhiên, và sau đó phối trộn các kim loại này với nhau để tạo ra đồng đỏ (đồng thiếc). Thời đại đồ đồng tạo thành một phần của hệ thống ba thời đại cho các xã hội tiền sử. Trong hệ thống đó, nó diễn ra sau thời đại đồ đá mới trong một số khu vực trên thế giới. Tại nhiều khu vực của châu Phi Hạ Sahara thì thời đại đồ đá mới được kế tiếp là thời đại đồ sắt mà không có thời đại đồ đồng.

Việt Nam thời tiền sử

Việt Nam có một nền văn hóa đặc sắc, lâu đời và là một xã hội đã hình thành theo chế độ nhà nước sớm nhất ở khu vực Đông Nam Á.

Văn hóa Bắc Sơn

Văn hóa Bắc Sơn là tên gọi một nền văn hóa Việt Nam ở sơ kỳ thời đại đồ đá mới có niên đại sau nền văn hóa Hòa Bình, cách ngày nay từ một vạn đến tám ngàn năm. Bắc Sơn là đặt theo tên huyện Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn), nơi đầu tiên phát hiện những di vật của nền văn hóa này. Các bộ lạc chủ nhân của văn hóa Hòa Bình đã tạo ra nền văn hóa Bắc Sơn.

Văn hóa Long Sơn

Văn hóa Long Sơn (giản thể: 龙山文化; phồn thể: 龍山文化; bính âm: Lóngshān Wénhuà) là một nền văn hóa vào cuối thời đại đồ đá mới tại Trung Quốc, tập trung tại trung du và hạ du Hoàng Hà, có niên đại từ 3000 TCN đến 2000 TCN. Văn hóa Long Sơn được đặt theo tên của trấn Long Sơn thuộc Tế Nam, Sơn Đông, là nơi di chỉ đầu tiên được phát hiện (1928) và khai quật (1930 và 1931) của nền văn hóa này, di chỉ Thành Tử Nhai.

Điểm đặc biệt của văn hóa Long Sơn là kỹ thuật làm gốm ở trình độ cao, bao gồm việc sử dụng các bàn xoay gốm, phát hiện ra chữ viết vào thời kỳ này được gọi là Cốt khắc văn (骨刻文). Văn hóa Long Sơn được biết đến với các đồ gốm đen được đánh bóng ở mức độ cao. Loại đồ gốm này có thành mỏng và màu đen được đánh bóng cũng được phát hiện tại lưu vực Trường Giang thuộc vùng ven biển đông nam Trung Quốc hiện nay. Đó là một dấu hiện rõ ràng rằng các phân nhóm nông nghiệp thời đại đồ đá mới của văn hóa Long Sơn đã vượt ra ngoài ranh giới của Trung Hoa cổ đại.Cách sinh hoạt trong văn hóa Long Sơn đánh dấu một quá trình chuyển đổi sang việc thành lập đô thị, với việc xuất hiện các bức tường đất và hào; di chỉ Đào Tự là điểm định cư lớn nhất có tường bao thuộc văn hóa Long Sơn. Việc canh tác lúa gạo lúc này rõ ràng đã được tiến hành. Các cư dân sản xuất tơ lụa quy mô nhỏ bằng cách nuôi và thuần hóa tằm tơ, xuất hiện hoạt động trồng dâu nuôi tằm sơ khởi.Các hóa thạch được phát hiện ở các di chỉ khảo cổ học cho thấy các cư dân đã sử dụng một phương thức bói toán dựa trên phân tích các vết rạn được tạo ra khi xương gia súc được đốt nóng..Cư dân thời đại đồ đá mới tại Trung Quốc đạt tới đỉnh cao trong văn hóa Long Sơn. Đến giai đoạn kết thúc văn hóa Long Sơn, nhân khẩu giảm mạnh, điều này ứng với sự biến mất của các đồ gốm đen chất lượng cao được phát hiện trong các mộ táng.

Giai đoạn đầu của văn hóa Long Sơn được cho là từ 3000-2600 TCN, trong khi giai đoạn sau là từ 2600-2000 TCN.Một loạt các khu vực địa lý tại Trung Quốc có liên hệ đến các tiểu giai đoạn của nền văn minh Long Sơn, đặc biệt là giai đoạn cuối. Giả dụ khu vực trung du Kính Hà và Vị Hà có các di chỉ khu định cư được gọi là văn hóa Long Sơn Thiểm Tây.

Văn hóa Đa Bút

Văn hóa Đa Bút là tên gọi một nền văn hóa Việt Nam ở sơ kỳ thời đại đồ đá mới có niên đại sau các nền văn hóa Hòa Bình và Bắc Sơn, cách đây từ 5000 đến 6000 năm. Không gian của văn hóa Đa Bút là dải đất nằm từ hữu ngạn sông Đáy đến lưu vực sông Mã thuộc các tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa ngày nay. Tính đến năm 2010, đã có hơn 10 điểm văn hóa Đa Bút được phát hiện và khai quật. Các bộ lạc chủ nhân của văn hóa Đa Bút đã tạo ra nền văn hóa Đông Sơn.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.