Thống tướng lục quân (Hoa Kỳ)

Thống tướng Lục quân Hoa Kỳ (tiếng Anh: General of the Army) là một vị tướng lục quân 5-sao và hiện thời được xem là cấp bậc cao nhất như có thể trong Lục quân Hoa Kỳ. Cấp bậc đặc biệt đại thống tướng (general of the armies), trên cấp bậc thống tướng, vẫn tồn tại nhưng chỉ được phê chuẩn có hai lần trong lịch sử Lục quân Hoa Kỳ. Cấp bậc thống tướng đứng ngay trên cấp bậc đại tướng và tương đương với cấp bậc thủy sư đô đốc và thống tướng không quân; không có cấp bậc tương đương 5-sao trong 4 ngành đồng phục khác của Hoa Kỳ (Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, Tuần duyên Hoa Kỳ và hai ngành dân sự khác). Thống tướng Lục quân, thường được gọi là "tướng 5-sao", là cấp bậc chỉ dành riêng sử dụng vào thời chiến và hiện nay không thực dụng trong Quân đội Hoa Kỳ ở thế kỷ 21.

Thống tướng
General of the Army
Army-USA-OF-10
Cầu vai Thống tướng
Flag of a U.S. General of the Army
Cờ Thống tướng
Quốc gia Hoa Kỳ
Thuộc Lục quân Hoa Kỳ
Viết tắtGA
Hạng5 sao
Mã hàm NATOOF-11
Mã hàm Hoa KỳĐặc biệt
Hình thành25 tháng 7 năm 1866
Hàm trênĐại thống tướng
Hàm dướiĐại tướng
Tương đươngThủy sư đô đốc
Thống tướng không quân

Thời đại sau Nội chiến Hoa Kỳ

US Army General insignia (1866)
Quân hàm Thống tướng Lục quân, 1866-1872 (của Grant và Sherman).

Ngày 25 tháng 7 năm 1866, Quốc hội Hoa Kỳ thiết lập cấp bậc "Thống tướng Lục quân Hoa Kỳ" cho Ulysses S. Grant. Khi được bổ nhiệm cấp bậc này, Grant mang quân hàm 4-sao và các nút áo được xếp theo ba nhóm gồm bốn nút áo.

Không giống cấp bậc Thống tướng lục quân thời Chiến tranh thế giới thứ hai, cấp bậc Thống tướng lục quân vào năm 1866 là cấp bậc 4-sao. Không giống cấp bậc 4-sao thời hiện đại (đại tướng) thường thấy nhiều, thời đại 1866–1888 chỉ có một vị tướng giữ cấp bậc Thống tướng lục quân 4-sao.

Us army general insignia 1872
Quân hàm Thống tướng lục quân 1872-1888 (Sherman và Sheridan).

Sau khi Grant trở thành Tổng thống Hoa Kỳ, William T. Sherman thay thế cấp bậc Thống tướng lục quân của ông vào ngày 4 tháng 3 năm 1869. Năm 1872, Sherman ra lệnh thay đổi quân hàm thành 2-sao có Quốc huy Hoa Kỳ ở giữa.

Theo đạo luật 1 tháng 6 năm 1888, cấp bậc trung tướng chấm dứt và được nhập thành cấp bậc Thống tướng lục quân và sau đó được phong cho Philip H. Sheridan. Cấp bậc Thống tướng lục quân chấm dứt khi Sheridan qua đời vào ngày 5 tháng 8 năm 1888 và cấp bậc cao nhất trong Lục quân Hoa Kỳ lại trở về cấp bậc thiếu tướng 2-sao.

Thời Chiến tranh thế giới lần thứ 2

Army-USA-OF-10
Quân hàm trên cầu vai, tướng 5-sao có quốc huy Hoa Kỳ

Phiên bản thứ hai cấp bậc Thống tướng lục quân được Công luật số 78-482 thiết lập và được thông qua vào ngày 14 tháng 12 năm 1944,[1] ban đầu như là cấp bậc tạm thời, sau đó trở thành thường trực vào ngày 23 tháng 3 năm 1946 bởi một đạo luật của Quốc hội Hoa Kỳ lần thứ 79.[2] Phiên bản này được thiết lập để phong cho các tư lệnh Hoa Kỳ cao cấp nhất, ngang bậc với các đồng nhiệm của Vương quốc Anh giữ cấp bậc thống chế (field marshal). Đạo luật cũng tạo ra cấp bậc tương đương là thủy sư đố đốc cho Hải quân Hoa Kỳ. Phiên bản thứ hai cấp bậc Thống tướng lục quân này không được xem là tương đương với phiên bản thời Nội chiến Hoa Kỳ.

Quân hàm Thống tướng lục quân, được tạo năm 1944, gồm có 5 sao được sắp xếp theo hình ngũ giác với một cạnh nhọn của các ngôi sao chạm vào nhau. Năm vị tướng đã giữ phiên bản năm 1944 cấp bậc Thống tướng lục quân này là:

George Marshall 16 tháng 12 năm 1944
Douglas MacArthur 18 tháng 12 năm 1944
Dwight D. Eisenhower 20 tháng 12 năm 1944
Omar Bradley 20 tháng 12 năm 1950

Thời điểm bổ nhiệm bốn vị tướng lục quân đầu tiên vào cấp bậc này cũng đã được phối hợp với việc bổ nhiệm các thủy sư đô đốc 5-sao của Hải quân Hoa Kỳ (ngày 15, 17, và 19 tháng 12 năm 1944) để thiết lập thứ tự cao cấp rõ ràng cho cả hai binh chủng.

Lục quân Hoa Kỳ không giới thiệu cấp bậc "marshal" (là cấp bậc thống chế của Anh). Hoa Kỳ theo truyền thống chỉ sử dụng thuật từ "marshal" cho các sĩ quan thi hành luật pháp cao cấp, đặc biệt là cục thi hành luật pháp có tên gọi "US Marshals" trực thuộc Bộ Tư pháp Hoa Kỳ cũng như trước kia dành cho các cảnh sát trưởng địa phương và tiểu bang.

Dwight Eisenhower từ chức trong quân đội ngày 31 tháng 5 năm 1952 để tranh cử tổng thống. Sau khi ông phục vụ hai nhiệm kỳ, người kế nhiệm ông, John F. Kennedy đã ký Công luật số 87-3 ngày 23 tháng 3 năm 1961 cho phép Eisenhower trở lại hiện dịch trong Lục quân Hoa Kỳ với cấp bậc Thống tướng Lục quân như hồi tháng 12 năm 1944. Cấp bậc này ngày nay được ghi trên các bảng hiệu Xa lộ Liên tiểu bang để tưởng niệm Hệ thống Liên tiểu bang Eisenhower. Các bảng hiệu được biểu thị với 5 ngôi sao trên một nền xanh nhạt.[3][4]

Henry H. "Hap" Arnold, một đại tướng trong Lục quân Hoa Kỳ, là Tham mưu trưởng Không lực Lục quân Hoa Kỳ khi ông được thăng chức Thống tướng Lục quân. Sau khi Không lực Hoa Kỳ trở thành một binh chủng riêng biệt vào ngày 18 tháng 9 năm 1947, cấp bậc của Arnold được thuyên chuyển sang Không lực Hoa Kỳ giống như tất cả các nhân sự, trang bị của Không lực cũng được thuyên chuyển. Arnold là người đầu tiên duy nhất cho đến nay mang cấp bậc Thống tướng Không quân. Ông cũng là người đầu tiên có cấp bậc 5-sao trong cả hai binh chủng Quân đội Hoa Kỳ.

Sử dụng hiện tại

Không có một vị tướng nào được thăng đến cấp bậc Thống tướng lục quân kể từ lúc Omar Bradley. Cấp bậc Thống tướng lục quân vẫn còn được duy trì như một cấp bậc trong Quân đội Hoa Kỳ và có thể được tấn phong trong thời gian chiến tranh mà không phải chờ đợi sự chấp thuận của Quốc hội Hoa Kỳ.

Đại thống tướng Lục quân Hoa Kỳ

Cấp bậc Đại thống tướng lục quân (general of the armies) được xem là cấp bậc cao cấp hơn Thống tướng lục quân, và được phong cho một người duy nhất đó là John J. Pershing vào năm 1919 trong Chiến tranh thế giới thứ nhất.

Khi cấp bậc Thống tướng lục quân 5-sao được giới thiệu, Hoa Kỳ quyết định rằng Tướng Pershing (vẫn còn sống vào thời gian đó) vẫn là cấp trên của tất cả các Thống tướng mới được thăng chức. Bộ trưởng Chiến tranh Hoa Kỳ thời đó là Henry L. Stimson được hỏi có phải Pershing như vậy là tướng 6-sao thì Stimson nói rằng:

Dường như ý định của Lục quân là tạo ra cấp bậc Đại thống tướng là cấp bậc trên Thống tướng lục quân. Tôi đã kiến nghị lên Quốc hội rằng Bộ Chiến tranh tán thành hành động được đề nghị như thế.

George Washington được phong sau khi mất với cấp bậc "Đại thống tướng lục quân Hoa Kỳ" vào năm 1976 như là một phần trong các buổi lễ mừng sinh nhật Hoa Kỳ tròn 200 năm.

Các cấp bậc tương đương

Các binh chủng trong quân đội

Chức Thống tướng lục quân tương đương với cấp bậc Thống tướng không quân của Không lực Hoa Kỳ và thủy sư đô đốc của Hải quân Hoa Kỳ.

Quân đội các nước khác

Trong Quân đội Anh, cấp bậc tương đương là Thống chế, mặc dù cấp bậc này hiện nay chỉ có ý nghĩa nghi thức. Một số nước khác cũng dùng cấp bậc thống chế.

Tham khảo

  1. ^ “Public Law 482”. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2008.
  2. ^ “Public Law 333, 79th Congress”. Naval Historical Center. April 11 2007. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2007. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  3. ^ “Eisenhower Military Ranks”. Eisenhower Presidential Center. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2007.
  4. ^ “Eisenhower Resigned as General”. Eisenhower Presidential Center. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2007.

Liên kết ngoài

Douglas MacArthur

Thống tướng Douglas MacArthur (26 tháng 1 năm 1880 - 5 tháng 4 năm 1964) là một danh tướng của Hoa Kỳ và là Thống tướng Quân đội Philippines (Field Marshal of the Philippines Army). Ông là Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ trong suốt thập niên 1930 và sau đó đã đóng một vai trò quan trọng trên mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai. MacArthur đã nhận được Huân chương Danh dự. Ông được bổ nhiệm chỉ huy cuộc xâm chiếm Nhật Bản mà đã được hoạch định tiến hành vào tháng 11 năm 1945. Nhưng khi thấy không còn cần thiết nữa, MacArthur chính thức chấp nhận sự đầu hàng của Nhật ngày 2 tháng 9 năm 1945.

MacArthur giám sát cuộc chiếm đóng Nhật Bản từ 1945 đến 1951 và được công nhận vì những đóng góp cho những thay đổi dân chủ sâu rộng của đất nước này. Ông chỉ huy Tổng lực lượng quân sự do Liên hiệp quốc lãnh đạo để bảo vệ Nam Triều Tiên trước sự tấn công của Bắc Triều Tiên từ 1950-1951. MacArthur bị Tổng thống Harry Truman cách chức tư lệnh vào tháng 4 năm 1951 vì không nghe lời thượng cấp, liên quan đến việc ông không tuân theo các chỉ thị của tổng thống.

Ông được biết đến với câu nói quân sự nổi tiếng: "In war, there is no substitute for victory" (Trong chiến tranh, không có gì thay thế được chiến thắng). MacArthur đã chiến đấu trong 3 cuộc chiến lớn (Chiến tranh thế giới thứ nhất, Chiến tranh thế giới thứ hai và Chiến tranh Triều Tiên) và là một trong 5 người được phong quân hàm Thống tướng (General of the Army).

Dwight D. Eisenhower

Dwight David "Ike" Eisenhower (phiên âm: Ai-xen-hao; 14 tháng 10 năm 1890 – 28 tháng 3 năm 1969) là một vị Thống tướng Lục quân Hoa Kỳ và là Tổng thống Hoa Kỳ thứ 34 từ năm 1953 đến 1961. Trong thời Chiến tranh thế giới thứ hai, ông phục vụ với tư cách là tư lệnh tối cao các lực lượng đồng minh tại châu Âu, có trách nhiệm lập kế hoạch và giám sát cuộc tiến công xâm chiếm thành công vào nước Pháp và Đức năm 1944 – 1945 từ mặt trận phía Tây. Năm 1951, ông trở thành tư lệnh tối cao đầu tiên của NATO.

Là một đảng viên Cộng hòa, Eisenhower bước vào cuộc đua tranh cử tổng thống năm 1952 đối đầu với chủ nghĩa cô lập của thượng nghị sĩ Robert A. Taft, và cái mà ông muốn đi đầu để đối phó là "chủ nghĩa cộng sản, Triều Tiên và tham nhũng". Ông thắng lớn, kết thúc hai thập niên kiểm soát Nhà Trắng của nhóm chính trị New Deal. Là tổng thống, Eisenhower đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân để buộc Trung Quốc đồng ý ngưng bắn trong cuộc Chiến tranh Triều Tiên. Ông luôn gây sức ép với Liên Xô trong thời Chiến tranh lạnh, cho phép ưu tiên phát triển các loại vũ khí hạt nhân không tốn nhiều kinh phí và giảm các lực lượng khác để tiết kiệm tiền bạc. Ông đã phải chơi trò đuổi bắt trong cuộc chạy đua không gian sau khi Liên Xô phóng vệ tinh Sputnik năm 1957. Về mặt trận trong nước, ông giúp loại Joe McCarthy khỏi quyền lực nhưng mặc khác bỏ đa số các vấn đề chính trị cho phó tổng thống của mình là Richard Nixon đối phó. Ông từ chối hủy bỏ chương trình New Deal nhưng thay vào đó lại mở rộng chương trình An sinh Xã hội và khởi sự Hệ thống Xa lộ Liên tiểu bang. Ông là tổng thống đầu tiên bị giới hạn nhiệm kỳ theo tu chính án 22, Hiến pháp Hoa Kỳ. Các sử gia thường xếp hạng Eisenhower trong số 10 tổng thống hàng đầu của Hoa Kỳ.

George Marshall

Thống tướng Lục quân George Catlett Marshall, Jr. (31 tháng 12 năm 1880 – 16 tháng 10 năm 1959) là một chính khách và nhà lãnh đạo quân đội Hoa Kỳ. Từng làm Bộ trưởng Quốc phòng, bộ trưởng ngoại giao. Ông được coi là quân nhân số một của Quân đội Hoa Kỳ trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nổi tiếng là "người tổ chức chiến thắng", cùng với Winston Churchill làm nên thắng lợi của Đồng Minh trong chiến tranh. Marshall là Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ và là một cố vấn quân sự cấp cao cho Tổng thống Franklin D. Roosevelt. Khi là bộ trưởng ông đưa tên của mình vào Kế hoạch Marshall, với kế hoạch đó ông được nhận Giải Nobel Hòa bình vào năm 1953.

Omar Bradley

Thống tướng Hoa Kỳ Omar Nelson Bradley (sinh ngày 12 tháng 2 năm 1893 - mất ngày 8 tháng 4 năm 1981) là một trong những vị tướng chỉ huy mặt trận Bắc Phi và mặt trận châu Âu trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Ông là vị tướng năm sao cuối cùng và là chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng đầu tiên của quân đội Hoa Kỳ.

Philip Sheridan

Philip Henry Sheridan (6 tháng 3 năm 1831 – 5 tháng 8 năm 1888) là sĩ quan Lục quân Hoa Kỳ, được Ulysses S. Grant thăng chức từ đại tá bộ binh ở Mặt trận miền Tây lên chức thiếu tướng của Liên bang miền Bắc thời Nội chiến Hoa Kỳ.

Năm 1864 ông đánh bại lực lượng Liên minh miền Nam trong chiến dịch Thung lũng 1864 và là người đầu tiên trong lịch sử quân đội Hoa Kỳ sử dụng chiến thuật tiêu thổ đốt sạch nhà cửa của dân chúng địa phương. Năm 1865, Sheridan góp sức đẩy lui quân của miền Nam và đánh đuổi buộc tướng Robert E. Lee phải đầu hàng đầu hàng tại Appomattox.

Sheridan sau đó dẫn quân tấn công dân da đỏ và bị sử gia sau này kết tội ông là kỳ thị với ý đồ diệt chủng dân bản địa.

Ngày 1 tháng 11 năm 1883, Sheridan thay thế William T. Sherman làm Tướng tư lệnh Lục quân Hoa Kỳ và giữ chức vị đó cho đến khi qua đời. Ông được thăng chức Thống tướng Lục quân vào ngày 1 tháng 6 năm 1888, ngay trước khi qua đời. Đây là chức vị mà Grant và Sherman đã từng được trước đây.

Sheridan là người tiên phong thành lập và bảo quản Vườn quốc gia Yellowstone.

Quân hàm quân đội Hoa Kỳ

Quân hàm quân đội Hoa Kỳ là hệ thống cấp bậc đang được sử dụng cho sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ của quân chủng Lục quân,Hải quân,Không quân,Thủy quân lục chiến và Tuần duyên trong quân đội Hoa Kỳ ngày này.

Thống tướng

Thống tướng là một danh xưng quân hàm sĩ quan cao cấp nhất trong quân đội của một số quốc gia, trên cả Đại tướng. Quân hàm này thường được xem là tương đương với quân hàm Thống chế hay Nguyên soái ở một số quốc gia khác như Nga, Anh, Pháp, dù nguyên nghĩa của chúng không thực sự đồng nhất.

Ulysses S. Grant

Ulysses Simpson Grant, tên khai sinh Hiram Ulysses Grant (1822 – 1885), là tướng của quân đội Liên bang miền Bắc trong Nội chiến Hoa Kỳ và là Tổng thống Hoa Kỳ thứ 18 (từ năm 1869 đến năm 1877).

Danh tiếng của tướng Grant bắt đầu nổi năm 1862 khi ông chỉ huy cuộc tấn công và hạ được hai đồn Henry và Donelson của quân miền Nam. Năm sau, ông chiến thắng vẻ vang tại Vicksburg, tạo thế an toàn dọc sông Mississippi cho quân miền Bắc, lúc bấy giờ cũng đã chiến thắng tại Gettysburg; và đẩy quân miền Nam từ thế thắng sang thế thua. Năm 1864 khi được cử làm chỉ huy trưởng quân đội miền Bắc, tướng Grant mở nhiều cuộc tấn công liên tiếp gây thiệt hại cho quân miền Nam. Cuộc Nội chiến Hoa Kỳ chấm dứt khi tướng Grant chấp nhận tướng Robert E. Lee của quân miền Nam ra đầu hàng tại tòa án vùng Appomattox. Sử gia J.F.C. Fuller mô tả Grant là "tướng giỏi nhất ở lứa tuổi của ông, và là tay chiến thuật giỏi nhất của bất cứ lứa tuổi nào". Kỹ thuật dụng binh của tướng Grant trong trận Vicksburg được nhiều quân sự gia dùng để nghiên cứu và giáo huấn sĩ quan.

Tướng Grant đắc cử Tổng thống Hoa Kỳ năm 1868. Ông đắc cử và hoạt động đủ hai nhiệm kỳ. Ông dùng kinh nghiệm và thế lực quân sự của mình ra sức củng cố đảng Cộng Hòa ở miền nam. Ông góp phần làm yếu những lực lượng kỳ thị bạo động như Ku Klux Klan. Tuy chính ông là người trong sạch, Grant lại mang tiếng xấu là đã thả lỏng hoặc che chở cho những kẻ tham nhũng hối lộ trong chính giới Hoa Kỳ thời bấy giờ. Do đó mà các sử gia thường liệt kê tổng thống Grant vào hạng tổng thống kém tài. Nhưng sau này, nhiều học giả đã nâng cấp ông lên, đưa chứng cớ những công sức ông đã cống hiến cho phát triển về nhân quyền và dân quyền cho người dân Mỹ gốc Phi. Sau khi thất cử cho nhiệm kỳ thứ ba, Grant bị phá sản vì đầu tư thất bại và bị bệnh ung thư cổ họng. Ông có viết hồi ký đời tư. Sách này rất phổ biến trong giới quân binh, sử gia và bình luận gia.

William Tecumseh Sherman

William Tecumseh Sherman (8 tháng 2 năm 1820 – 14 tháng 2 năm 1891), là một tướng của quân đội Liên bang miền Bắc thời Nội chiến Hoa Kỳ. Tuy nổi tiếng tài giỏi về chỉ huy chiến thuật, ông cũng bị chỉ trích vì đã sử dụng chiến thuật tiêu thổ tàn bạo theo đường hướng chiến tranh toàn diện đối với địch quân. Nhà sử học Basil Liddell Hart cho rằng Sherman là "tướng lĩnh đầu tiên của nền quân sự hiện đại" .

Sherman chỉ huy dưới quyền của tướng Ulysses S. Grant từ năm 1862 đến năm 1863, tham gia cuộc chiến tại Vicksburg ở sông Mississippi và sau đó đánh bại quân Liên minh miền Nam tại tiểu bang Tennessee. Năm 1864 Sherman lên thay tướng Grant chỉ huy Mặt trận miền Tây; kéo quân đến đánh đuổi quân miền Nam khỏi Atlanta - chiến thắng này giúp Abraham Lincoln thắng cử Tổng thống lần thứ hai. Tiếp đó, Sherman kéo quân cắt ngang tiểu bang Georgia và khi ông chiến thắng tại Nam Carolina quân miền Nam hoàn toàn tan vỡ. Sherman chấp nhận cuộc đầu hàng của quân đội miền Nam tại Bắc Carolina, Nam Carolina, Georgia và Florida năm 1865.

Sau Nội chiến, Sherman nhậm chức Tổng chỉ huy quân đội Hoa Kỳ từ năm 1869 đến 1883. Ông chỉ huy quân đội trong Chiến tranh da đỏ tại miền viễn tây. Sherman luôn tránh hoạt động chính trị. Năm 1875 ông xuất bản hồi ký, một trong những ký sự nổi tiếng về Nội chiến Hoa Kỳ.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.