Thống chế Pháp

Thống chế Pháp, đôi khi còn được gọi là Nguyên soái Pháp (tiếng Pháp: Maréchal de France) là quân hàm cao nhất của quân đội Pháp, nó tương đương với quân hàm Đô đốc Pháp (Amiral de France) trong hải quân. Tính cho đến nay nước Pháp đã có 329 người được phong quân hàm này, người đầu tiên là Albéric Clément (phong năm 1190) còn người gần đây nhất là Marie Pierre Kœnig (truy phong năm 1984).

Thống chế Pháp
Maréchal de France
Army-FRA-OF-10
Cầu vai Thống chế Pháp
Musee-de-lArmee-IMG 1072
Cây gậy của Thống chế Pháp
Quốc gia Pháp
ThuộcFlag of France.svg Quân đội Pháp
Mã hàm NATOOF-10
Hình thành1190
Hàm trênkhông có
Hàm dướiĐại tướng
Tương đươngĐô đốc Pháp

Lịch sử

Quân hàm Thống chế Pháp được đặt ra lần đầu tiên vào năm 1190 dưới thời vua Philippe Auguste để phong cho Albéric Clément. Trong các thế kỉ sau đó, đây là một trong những quân hàm cao nhất của quân đội nhà vua, chỉ dưới hàm connétable (Nguyên soái). Sau khi Hồng y Richelieu bãi bỏ hàm connétable năm 1624, quân hàm Thống chế trở thành cấp bậc cao nhất của quân đội mặc dù đôi khi các vị vua nước Pháp còn đặt ra thêm quân hàm Đại Thống chế các chiến dịch và quân đội của nhà vua (Maréchal général des camps et armées du roi) được coi là cao hơn hàm Thống chế. Tính cho đến năm 1791 đã có tổng cộng 257 người được phong hàm Thống chế Pháp.

Sau khi Cách mạng Pháp nổ ra năm 1789, quân hàm Thống chế bị bãi bỏ theo Quốc ước ngày 21 tháng 2 năm 1793. Vào ngày 18 tháng 5 năm 1804, sau khi lập nên Đệ nhất Đế chế Pháp, Hoàng đế Napoléon Bonaparte cho thành lập một quân hàm tương đương được đặt ra là Thống chế Đế chế hay Nguyên soái Đế chế (Maréchal d'Empire). Tổng cộng, trong suốt triều đại của ông, Napoléon đã phong 26 Thống chế, trong số đó có 18 vị vào năm 1805 và các vị còn lại trong khoảng 1807 - 1812.[1] Quân hàm này được đổi tên lại thành Thống chế Pháp sau khi Hoàng gia Bourbon lấy lại quyền lực năm 1814. Sau thời kì gần như không được sử dụng dưới thời Đệ Tam Cộng hòa, quân hàm thống chế Pháp lại được phong trong cuộc Thế chiến thứ nhất. Đó là các Thống chế Joseph Joffre, Philippe PétainFerdinand Foch - được nước Pháp tôn vinh làm anh hùng dân tộc nhờ đóng góp to lớn cho chiến thắng của quân Đồng Minh trước Đế chế Đức trong cuộc Chiến tranh thế giới này.[2] Hai người cuối cùng cho đến nay được phong quân hàm này là Alphonse Juin và Marie Pierre Kœnig (đều phong năm 1984).

Hiện nay Thống chế Pháp (và Đô đốc Pháp) được coi là một chức vụ của Nhà nước và một danh hiệu chứ không phải một cấp bậc trong quân đội. Nó được tượng trưng bằng 7 sao so với 5 sao của chức vụ cao nhất trong quân đội là Đại tướng (Général d'armée). Một biểu tượng khác của Thống chế Pháp là chiếc gậy phủ lụa xanh có điểm các ngôi sao, trên cây gậy có dòng chữ:

Terror belli, decus pacis - Nỗi khiếp sợ trong chiến tranh, nét trang hoàng trong thời bình

Điểm đặc biệt của quân hàm Thống chế Pháp là nó được quyết định thông qua một đạo luật (loi) được biểu quyết tại quốc hội như mọi đạo luật thông thường khác, đây là một trong số rất ít luật dùng cho cá nhân (loi personnelle). Chính vì lý do này mà Philippe Pétain, được phong hàm năm 1918, vẫn là Thống chế Pháp đến khi qua đời năm 1951 mặc dù mọi chức vụ và quyền miễn truy tố của ông này đã bị tòa án tước bỏ sau năm 1945, chỉ riêng quân hàm Thống chế của Pétain là được giữ nguyên vì tòa án cũng không thể đi ngược lại luật, trừ trường hợp (rất khó xảy ra) là quốc hội ra một luật mới phủ quyết luật cũ.

Danh sách cụ thể

Thời quân chủ

Vua Số lượng Chi tiết
Philippe II Auguste
(1180 - 1223)
6
  • 1190, Albéric Clément, Thống chế Pháp đầu tiên
  • 1192, Guillaume de Bournel
  • 1202, Nivelon d'Arras
  • 1204, Henri I Clément
  • 1214, Jean III Clément
  • 1220, Guillaume de La Tournelle
Thánh Louis
(1226 - 1270)
8
  • 1240, Ferry Pasté
  • 1250, Jean Guillaume de Beaumont
  • 1257, Gauthier III de Nemours
  • 1262, Henri II Clément
  • 1265, Héric de Beaujeu
  • 1265, Renaud de Précigny
  • 1270, Raoul II Sores
  • 1270, Lancelot de Saint-Maard
Philippe III Gan dạ
(1270 - 1285)
4
  • 1272, Ferry de Verneuil
  • 1283, Guillaume V du Bec Crespin
  • 1283, Jean II d'Harcourt
  • 1285, Raoul V Le Flamenc
Philippe IV le Bel
(1285 - 1314)
6
  • 1288, Jean de Varennes
  • 1290, Simon de Melun
  • 1292, Guy I de Clermont de Nesle
  • 1302, Foulques du Merle
  • 1302, Miles X de Noyers
  • 1308, Jean de Corbeil
Louis X le Hutin
(1314 - 1316)
1
  • 1315, Jean IV de Beaumont
Philippe V le Long
(1316 - 1322)
3
  • 1318, Mathieu de Trie
  • 1318, Jean II des Barres
  • 1322, Bernard VI de Moreuil
Charles IV le Bel
(1322 - 1328)
1
  • 1325, Robert VIII Bertrand de Bricquebec
Philippe VI de Valois
(1328 - 1350)
5
  • 1339, Anseau de Joinville
  • 1344, Charles de Montmorency
  • 1344, Robert de Waurin
  • 1345, Guy II de Nesle
  • 1347, Édouard de Beaujeu
Jean II le Bon
(1350 - 1364)
4
  • 1351, Arnoul d'Audrehem
  • 1352, Rogues de Hangest
  • 1352, Jean de Clermont
  • 1356, Jean I Le Meingre
Charles V Hiền triết
(1364 - 1380)
2
  • 1368, Jean IV de Mauquenchy
  • 1369, Louis de Sancerre
Charles VI, le Bien-Aimé
(1380 - 1422)
9
  • 1391, Jean II Le Meingre
  • 1397, Jean II de Rieux
  • 1417, Pierre de Rieux
  • 1418, Claude de Beauvoir
  • 1418, Jean de Villiers de L'Isle-Adam
  • 1418, Jacques de Montberon
  • 1421, Gilbert Motier de La Fayette
  • 1422, Antoine de Vergy
  • 1422, Jean de La Baume
Charles VII
(1422 - 1461)
6
  • 1421, Gilbert III Motier de la Fayette
  • 1424, Amaury de Séverac
  • 1426, Jean de Brosse
  • 1429, Gilles de Laval-Montmorency
  • 1439, André de Lohéac
  • 1441, Philippe de Culant
  • 1454, Jean Poton de Xaintrailles
Louis XI
(1461 - 1483)
4
  • 1461, Joachim Rouhault de Gamaches
  • 1461, Jean de Lescun
  • 1464, Wolfart VI Van Borselleen
  • 1476, Pierre de Rohan de Gié
Charles VIII
(1483 - 1498)
2
  • 1486, Philippe de Crèvecœur d'Esquerdes
  • 1486, Jean de Baudricourt
Louis XII
(1498 - 1515)
4
  • 1499, Jacques de Trivulce
  • 1506, Charles II d'Amboise de Chaumont
  • 1511, Odet de Foix de Lautrec
  • 1514, Robert Stuart d'Aubigny
François I
(1515 - 1544)
11
  • 1515, Jacques II de Chabannes
  • 1516, Gaspard I de Coligny
  • 1518, Thomas de Foix-Lescun
  • 1522, Anne I de Montmorency, được thăng lên hàm nguyên soái (connétable) năm 1538
  • 1526, Théodor Trivulce
  • 1526, Robert III de La Marck de Bouillon
  • 1538, Claude d'Annebaut
  • 1538, René de Montjean
  • 1542, Oudard du Biez
  • 1544, Antoine de Lettes-Desprez de Montpezat
  • 1544, Jean Caracciolo
Henri II
(1547 - 1559)
5
  • 1547, Jacques d'Albon de Saint-André
  • 1547, Robert IV de La Marck
  • 1550, Charles I de Cossé
  • 1554, Pierre Strozzi
  • 1558, Paul de La Barthe de Thermes
François II
(1559)
1
  • 1559, François de Montmorency
Charles IX
(1560 - 1574)
7
  • 1562, François de Scépeaux
  • 1564, Imbert de La Platière
  • 1566, Henri I de Montmorency
  • 1567, Artus de Cossé-Brissac
  • 1570, Gaspard de Saulx
  • 1571, Honorat II de Savoye
  • 1573, Albert de Gondi
Henri III
(1574 - 1589)
7
  • 1574, Roger I de Saint Larry
  • 1574, Blaise de Montluc
  • 1574, Louis Prévost de Sansac
  • 1577, Armant de Gontaut
  • 1579, Jacques II de Goyon de Matignon
  • 1579, Jean VI d'Aumont
  • 1582, Guillaume de Joyeuse
Henri IV
(1592 - 1602)
11
  • 1592, Henri de la Tour d'Auvergne
  • 1594, Charles de Gontaut-Biron
  • 1594, Claude de La Chatre de La Maisonfort
  • 1594, Charles II de Cossé
  • 1594, Jean de Montluc de Balagny
  • 1595, Jean de Beaumanoir
  • 1595, Henri de Joyeuse
  • 1595, Urbain de Montmorency-Laval
  • 1597, Alphonse d'Ornano
  • 1597, Guillaume de Hautemer de Grancey
  • 1608, François de Bonne de Lesdiguières
Louis XIII
(1613 - 1643)
32
  • 1613, Concino Concini
  • 1614, Gilles de Courtenvaux de Souvré
  • 1614, Antoine de Roquelaure
  • 1614, Louis de La Chatre de Maisonfort
  • 1616, Pons de Lauzières-Thémines-Cardaillac
  • 1616, François de La Grange d'Arquien
  • 1617, Nicolas de L'Hospital
  • 1619, Charles de Choiseul-Praslin
  • 1619, Jean François de La Guiche
  • 1620, Honoré d'Albert d'Ailly
  • 1620, François d'Esparbes de Lussan d'Aubeterre
  • 1621, Charles II de Créquy
  • 1621, Jacques de Caumont
  • 1622, François de Bassompierre
  • 1622, Gaspard III de Coligny
  • 1625, Henri de Schomberg
  • 1626, Jean-Baptiste d'Ornano
  • 1626, François Hannibal d'Estrées
  • 1627, Timoléon d'Epinay de Saint Luc
  • 1629, Louis de Marillac
  • 1630, Henri II de Montmorency
  • 1630, Jean de Saint-Bonnet de Toiras
  • 1631, Antoine Coëffier de Ruzé d'Effiat
  • 1632, Urbain de Maillé-Brézé
  • 1634, Maximilien de Béthune
  • 1637, Charles de Schomberg
  • 1639, Charles de La Porte
  • 1641, Antoine III de Gramont-Touloujon
  • 1642, Jean-Baptiste Budes, comte de Guébriant
  • 1642, Philippe de la Mothe-Houdancourt
  • 1643, François de l'Hôpital
  • 1643, Henri de la Tour d'Auvergne-Bouillon
Louis Mặt Trời
(1643 - 1715)
53
  • 1643, Jean de Gassion
  • 1645, César de Choiseul du Plessis-Praslin
  • 1645, Josias Rantzau
  • 1646, Nicolas de Neufville de Villeroy
  • 1649, Gaspard IV de Coligny
  • 1651, Antoine d'Aumont de Rochebaron
  • 1651, Jacques d'Estampes de La Ferté-Imbert
  • 1651, Henri de La Ferté-Senneterre
  • 1651, Charles de Monchy d'Hocquincourt
  • 1651, Jacques Rouxel de Grancey
  • 1652, Armand Nompar de Caumont-La Force
  • 1652, Philippe de Clérembault
  • 1653, César Phoebus d'Albret
  • 1653, Louis de Foucault de Saint-Germain Beaupré
  • 1658, Jean de Schulemberg de Montejeu
  • 1658, Abraham de Fabert d'Esternay
  • 1658, Jacques de Mauvisière de Castelnau
  • 1668, Bernardin Gigault de Bellefonds
  • 1668, François de Créquy
  • 1668, Louis de Crevant
  • 1675, Godefroi, comte d'Estrades
  • 1675, Philippe de Montaut-Bénac de Navailles
  • 1675, Armand-Frédéric de Schomberg
  • 1675, Jacques Henri de Durfort de Duras
  • 1675, François d'Aubusson de La Feuillade
  • 1675, Louis Victor de Rochechouart de Mortemart
  • 1675, François-Henri de Montmorency-Bouteville
  • 1675, Henri Louis d'Aloigny de Rochefort
  • 1676, Guy Aldonce de Durfort de Lorges
  • 1681, Jean II d'Estrées
  • 1693, Claude de Choiseul-Francières
  • 1693, Jean-Armand de Joyeuse-Grandpré
  • 1693, François de Neufville de Villeroy
  • 1693, Louis François de Boufflers
  • 1693, Anne Hilarion de Costentin de Tourville
  • 1693, Anne Jules de Noailles
  • 1693, Nicolas de Catinat
  • 1702, Claude Louis Hector de Villars, được thăng hàm Đại thống chế các chiến dịch và quân đội của nhà vua năm 1733
  • 1703, Noël Bouton de Chamilly
  • 1703, Victor Marie d'Estrées
  • 1703, François-Louis Rousselet de Château-Renault
  • 1703, Sébastien Le Prestre de Vauban
  • 1703, Conrad de Rosen
  • 1703, Nicolas Chalon du Blé
  • 1703, René de Froulay de Tessé
  • 1703, Camille d'Hostun
  • 1703, Nicolas Auguste de La Baume de Montrevel
  • 1703, Henry d'Harcourt
  • 1703, Ferdinand de Marcin
  • 1706, Jacques Fitz-James
  • 1708, Charles Auguste de Goyon-Matignon
  • 1709, Jacques Bazin de Bezons
  • 1709, Pierre de Montesquiou d'Artagnan
Louis XV
(1715 - 1774)
49
  • 1724, Victor-Maurice de Broglie
  • 1724, Antoine Gaston de Roquelaure
  • 1724, Jacques Eléonor Rouxel de Grancey
  • 1724, Léonor Marie du Maine du Bourg
  • 1724, Yves d'Alègre
  • 1724, Louis d'Aubusson de la Feuillade
  • 1724, Antoine V de Gramont
  • 1730, Alain Emmanuel de Coëtlogon
  • 1734, Charles Armand de Gontaut-Biron
  • 1734, Jacques François de Chastenet de Puységur
  • 1734, Claude François Bidal d'Asfeld
  • 1734, Adrien Maurice de Noailles
  • 1734, Christian Louis de Montmorency-Luxembourg
  • 1734, François-Marie de Broglie
  • 1734, François de Franquetot de Coigny
  • 1734, Charles Eugène de Lévis-Charlus
  • 1740, Louis de Brancas de Forcalquier de Céreste
  • 1741, Louis Auguste d'Albert d'Ailly
  • 1741, Louis Armand de Brinchanteau de Nangis
  • 1741, Louis de Gand de Mérode de Montmorency
  • 1741, Jean-Baptiste de Durfort de Duras
  • 1741, Jean-Baptiste Desmarets
  • 1741, Charles-Louis-Auguste Fouquet de Belle-Isle
  • 1741, Maurice de Saxe (1696-1750), được thăng hàm Đại thống chế các chiến dịch và quân đội của nhà vua năm 1747
  • 1745, Jean-Baptiste Louis Andrault de Maulévrier
  • 1746, Claude Guillaume Testu de Balincourt
  • 1746, Philippe Charles de La Fare
  • 1746, François d'Harcourt
  • 1747, Guy Claude Roland de Montmorency-Laval
  • 1747, Gaspard de Clermont-Tonnerre
  • 1747, Louis Claude de La Mothe-Houdancourt
  • 1747, Ulrich Frédéric Woldemar de Lowendal
  • 1748, Louis François Armand de Vignerot du Plessis
  • 1757, Jean Hector de Fay de La Tour-Maubourg
  • 1757, Louis Antoine de Gontaut-Biron
  • 1757, Daniel François de Gélas de Lautrec
  • 1757, Charles II Frédéric de Montmorency-Luxembourg
  • 1757, Louis Charles César Le Tellier
  • 1757, Jean Charles de la Ferté
  • 1757, Charles O'Brien de Thomond
  • 1757, Gaston Pierre de Lévis-Mirepoix
  • 1758, Ladislas Ignace de Bercheny
  • 1758, Hubert de Brienne de Conflans
  • 1758, Louis Georges Érasme de Contades
  • 1758, Charles de Rohan, hoàng tử Soubise
  • 1759, Victor-François, công tước Broglie
  • 1768, Guy Michel de Durfort de Lorge
  • 1768, Louis de Brienne de Conflans d'Armentières
  • 1768, Jean Paul Timoléon de Cossé Brissac
Louis XVI
(1774 - 1792)
20
  • 1775, Anne Pierre d'Harcourt
  • 1775, Louis de Noailles
  • 1775, Antoine Chrétien de Nicolaï
  • 1775, Charles de Fitz-James
  • 1775, Philippe de Noailles
  • 1775, Emmanuel Félicité de Durfort de Duras
  • 1775, Louis Nicolas Victor de Félix d'Ollières, bá tước Muy
  • 1775, Claude-Louis, bá tước Saint-Germain
  • 1783, Guy André Pierre de Montmorency-Laval
  • 1783, Augustin-Joseph de Mailly
  • 1783, Henri Joseph Bouchard d'Esparbès de Lussan d'Aubeterre
  • 1783, Charles Juste de Beauvau-Craon
  • 1783, Noël Jourda de Vaux
  • 1783, Philippe Henri de Ségur
  • 1783, Jacques Philippe de Choiseul-Stainville
  • 1783, Charles Eugène Gabriel de la Croix
  • 1783, Anne Emmanuel de Croÿ
  • 1783, François Gaston de Lévis
  • 1791, Nicolas de Luckner
  • 1791, Jean Marie Donatien de Vimeur de Rochambeau
Louis XVIII
(1816 - 1823)
6
  • 1816, François-Henri de Franquetot de Coigny
  • 1816, Henri Jacques Guillaume Clarke
  • 1816, Pierre Riel de Beurnonville
  • 1816, Charles du Houx de Viomesnil
  • 1823, Jacques Alexandre Law de Lauriston
  • 1823, Gabriel Jean Joseph Molitor
Charles X
(1827 - 1830)
3
  • 1827, Louis Aloy de Hohenlohe-Waldenburg-Bartenstein
  • 1829, Nicolas Joseph Maison
  • 1830, Louis Auguste Victor de Ghaisne de Bourmont
Louis-Philippe I
(1830 - 1848)
10
  • 1830, Étienne Maurice, bá tước Gérard
  • 1831, Bertrand Clausel
  • 1831, Emmanuel de Grouchy
  • 1831, Georges Mouton
  • 1837, Sylvain Charles Valée
  • 1840, Horace Sébastiani
  • 1843, Jean-Baptiste Drouet d'Erlon
  • 1843, Thomas-Robert Bugeaud
  • 1847, Honoré Charles Reille
  • 1847, Guillaume Dode de la Brunerie

Thời đế chế

Hoàng đế Số lượng Chi tiết
Napoléon I
(1804 - 1814)
26[3]
Napoléon III[4]
(1852 - 1870)
12
  • 1854, Achille Baraguey d'Hilliers
  • 1855, Aimable Pélissier
  • 1856, Jacques Louis Randon
  • 1856, François Certain Canrobert
  • 1856, Pierre Joseph François Bosquet
  • 1859, Patrice de Mac-Mahon
  • 1859, Auguste Michel Etienne Regnault
  • 1859, Adolphe Niel
  • 1861, Philippe Antoine d'Ornano
  • 1863, Élie Frédéric Forey
  • 1864, François Achille Bazaine
  • 1870, Edmond Le Bœuf

Thời Cộng hòa

Tổng thống Số lượng Chi tiết
Louis-Napoléon Bonaparte[5]
(1848 - 1852)
7
  • 1850, Jérôme Bonaparte
  • 1851, Isidore Exelmans
  • 1851, Jean Isidore Harispe
  • 1851, Jean Baptiste Philibert Vaillant
  • 1852, Armand Jacques Leroy de Saint-Arnaud
  • 1852, Bernard Pierre Magnan
  • 1852, Esprit Victor Boniface, hầu tước Castellane
Raymond Poincaré
(1913 - 1920)
3
Alexandre Millerand
(1920 - 1924)
5
  • 1921, Joseph Simon Gallieni (truy phong)
  • 1921, Louis Hubert Gonzalve Lyautey
  • 1921, Louis Franchet d'Esperey
  • 1921, Marie Émile Fayolle
  • 1923, Michel Joseph Maunoury (truy phong)
Vincent Auriol
(1947 - 1954)
3
François Mitterrand
(1981 - 1995)
1
  • 1984, Marie Pierre Kœnig (truy phong, người mới nhất được phong quân hàm này)

Xem thêm

Ghi chú

  1. ^ Gunther Erich Rothenberg, The art of warfare in the age of Napoleon, trang 131
  2. ^ William Fortescue, The Third Republic in France, 1870-1940: conflicts and continuities, trang 136
  3. ^ Hàm Thống chế Pháp được thay thế bằng Thống chế của Đế chế (Maréchal d'Empire)
  4. ^ Xét thời gian Louis-Napoléon Bonaparte làm hoàng đế
  5. ^ Xét thời gian Louis-Napoléon Bonaparte làm tổng thống
21 tháng 8

Ngày 21 tháng 8 là ngày thứ 233 (234 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 132 ngày trong năm.

Auguste de Marmont

Auguste-Frédéric-Louis Viesse de Marmont (20 tháng 7 năm 1774 – 22 tháng 3 năm 1852), Công tước xứ Raguse (1808), Thống chế (1809) và Thượng Nghị sĩ Pháp (1814), là một quân nhân người Pháp

Bar-le-Duc

Bar-le-Duc là tỉnh lỵ của tỉnh Meuse, thuộc vùng Grand Est của nước Pháp, có dân số là 16.944 người (thời điểm 1999).

Emmanuel de Grouchy

Emmanuel de Grouchy, Hầu tước de Grouchy (23 tháng 10 năm 1766 – 29 tháng 5 năm 1847) là một thống chế Pháp.

François Christophe Kellermann

François Christophe Kellermann hay de Kellermann, Công tước xứ Valmy (28 tháng 5 năm 1735 – 23 tháng 9 năm 1820) là một chỉ huy người Pháp, sau này là Đại tướng và thống chế Pháp. Thống chế Kellermann tham gia rất nhiều vị trí cho đến khi về hưu từ Chiến tranh Cách mạng Pháp cho đến Chiến tranh Napoleon.

Georgi Konstantinovich Zhukov

Georgi Konstantinovich Zhukov (tiếng Nga: Георгий Константинович Жуков, đọc là Ghê-oóc-ghi Can-xtan-chi-nô-vích Giu-cốp; 1 tháng 12 năm 1896 – 18 tháng 6 năm 1974) là danh tướng trong quân đội Liên Xô. Trong rất nhiều tướng lĩnh nổi danh thế giới trong Chiến tranh thế giới thứ hai, G.K. Zhukov được xếp đầu bảng về số lượng trận thắng nhiều và quy mô lớn, được nhiều người công nhận về tài năng chỉ đạo chiến dịch và chiến lược. Những chiến tích của ông đã trở thành những đóng góp rất lớn vào kho tàng di sản kiến thức quân sự nhân loại. Nó không những có ảnh hưởng lớn về lý luận quân sự của Liên Xô mà cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển của lý luận quân sự thế giới.Theo nhận định của Nguyên soái A. M. Vasilevsky, G. K. Zhukov là một trong những nhà cầm quân lỗi lạc của nền quân sự Xô Viết. Trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại của Liên bang Xô viết, ông đã giữ các chức vụ Tư lệnh Phương diện quân Dự bị, Tư lệnh Phương diện quân Tây, Tư lệnh Phương diện quân Beloussia 1, Tổng tham mưu trưởng quân đội Liên Xô, Thứ trưởng Bộ dân ủy Quốc phòng kiêm Phó Tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô, Ủy viên Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Hầu hết các nhà lãnh đạo quân sự nổi tiếng thế giới cùng thời với ông như Thống chế Anh Sir Bernard Law Montgomery, Thống tướng Hoa Kỳ Dwight David Eisenhower, Thống chế Pháp Jean de Lattre de Tassigny đều công nhận tên tuổi của ông đã gắn liền với hầu hết các chiến thắng lớn trong cuộc chiến như Trận Moskva (1941), Trận Stalingrad, Trận Kursk, Chiến dịch Bagration, Chiến dịch Visla-Oder và Chiến dịch Berlin. Trong giai đoạn sau chiến tranh, ông giữ các chức vụ Tổng tư lệnh quân đội Liên Xô tại nước Đức, tư lệnh các quân khu Odessa và Ural. Sau khi lãnh tụ tối cao I. V. Stalin qua đời, ông được gọi về Moskva và được bổ nhiệm chức vụ Thứ trưởng thứ nhất Bộ Quốc phòng Liên Xô. Trong thời gian từ năm 1955 đến năm 1957, ông giữ chức vụ Ủy viên trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô. Năm 1957, trong thời gian đang đi thăm Nam Tư, ông bị đưa ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Năm 1958, ông bị miễn nhiệm tất cả các chức vụ trong quân đội.

Gilbert du Motier de La Fayette

Marie-Joseph Paul Yves Roch Gilbert du Motier (6 tháng 9 năm 1757 – 20 tháng 5 năm 1834), thường được gọi Hầu tước La Fayette, là một quân nhân, nhà quý tộc người Pháp từng tham gia Cách mạng Hoa Kỳ với hàm trung tướng và là chỉ huy lực lượng Vệ binh quốc gia trong thời kỳ Cách mạng Pháp.

Tới Hoa Kỳ năm 1777 khi nước Pháp còn chưa tham dự vào cuộc chiến, La Fayette phục vụ trong Quân đội Lục địa dưới quyền George Washington. Trận Brandywine, trận đánh đầu tiên La Fayette tham gia, tuy bị thương nhưng ông vẫn chỉ huy thành công cuộc rút quân. Sau khi góp phần vào chiến thắng Monmouth, La Fayette tới Boston dàn xếp cuộc nổi loạn của những cư dân thành phố. Trở về Paris năm 1779, ông thuyết phục triều đình Pháp ủng hộ mạnh mẽ hơn cho Hoa Kỳ. Năm 1780, La Fayette – biểu tượng của mối quan hệ Pháp–Hoa Kỳ – quay lại với cuộc chiến. Tại Yorktown, ông ghìm chân tướng Charles Cornwallis trong khi Washington và Jean-Baptiste Donatien de Vimeur chuẩn bị cho trận đánh quyết định kết thúc chiến tranh.

Trở về nước Pháp, La Fayette tham dự Hội nghị các đẳng cấp vào tháng 5 năm 1789. Ông tham gia soạn thảo bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền cùng với Abbé Sieyès (có tham khảo ý kiến của Thomas Jefferson) và tham gia Hạ viện với vai trò Phó chủ tịch. Trong suốt thời kỳ Cách mạng Pháp, trên vị trí Tổng tư lệnh của Vệ binh quốc gia, La Fayette cố gắng duy trì trật tự và cuối cùng lâm vào thế đối đầu với phái Jacobin. Những hành động bảo vệ nhà vua cùng hoàng gia khiến ông bị kết tội vào tháng 8 năm 1792, thời điểm mà phái cực đoan quá lớn mạnh. La Fayette quyết định bỏ trốn sang Mỹ nhưng bị quân Áo bắt tại Hà Lan. Sau 5 năm giam giữ, ông được trả tự do và đến năm 1799 quay trở về Pháp. Năm 1830, trong cuộc Cách mạng tháng Bảy, một lần nữa, La Fayette lại giữ vai trò chỉ huy Vệ binh quốc gia và bằng sự ủng hộ của mình góp phần đưa Louis-Philippe I lên ngôi.

Do những đóng góp và vai trò trong ba cuộc cách mạng, La Fayette được vinh danh ở Pháp và cả Hoa Kỳ, nơi rất nhiều thành phố, thị trấn mang tên La Fayette.

Guillaume Marie Anne Brune

Guillaume Marie-Anne Brune, Bá tước Brune (13 tháng 3 năm 1763 – 2 tháng 8 năm 1815) là một Thống chế và nhà ngoại giao Pháp.

Jacques MacDonald

Étienne Jacques Joseph Alexandre MacDonald, Công tước xứ Taranto (17 tháng 11 năm 1765 – 7 tháng 9 năm 1840) là một thống chế Pháp thời kì Chiến tranh Cách mạng Pháp và Các cuộc chiến tranh của Napoléon.

Jean-Baptiste Jourdan

Jean-Baptiste Jourdan, Bá tước Jourdan (29 tháng 4 năm 1762 – 23 tháng 11 năm 1833), là một binh nhì trong quân đội hoàng gia Pháp và sau đó đã vươn lên vị trí chỉ huy quân đội trong thời kì Chiến tranh Cách mạng Pháp. Hoàng đế Napoleon I đã phong ông hàm Thống chế năm 1804 và tiếp tục tham chiến trong Các cuộc chiến tranh của Napoléon. Sau năm 1815, ông quay lại phục vụ trong vương triều Bourbon. Ông là một trong những tư lệnh thành công nhất trong Quân đội Cách mạng Pháp.

Jean-Mathieu-Philibert Sérurier

Jean-Mathieu-Philibert Sérurier, Bá tước Sérurier (8 tháng 12 năm 1742 – 21 tháng 12 năm 1819) là một thống chế dưới thời Napoleon I.

Jean-de-Dieu Soult

Nicolas Jean de Dieu Soult, công tước xứ Dalmatia, là nhà chỉ huy trong chiến tranh Napoleon và là một nhà chính trị, được phong thống chế năm 1804- lần phong đầu tiên của Napoleon, ông là một trong số sáu sĩ quan duy nhất trong lịch sử nước Pháp được phong lên cấp thống chế chỉ huy. Ông cũng làm Thủ tướng chính phủ nước Pháp ba lần.

Soult sinh ra ở Saint-Arnans-la-Bastide (nay là thị trấn Castres tỉnh Tarn- nước Pháp), gia đình làm công chứng viên thành phố. Soult được thụ hưởng một nền giáo dục tốt, và gia đình hướng ông theo nghề luật sư, nhưng cha ông chết khi ông còn bé, điều đó đã ảnh hưởng nhiều đến tương lai của ông, năm 1785, ông gia nhập vào bộ binh Pháp. Nền giáo dục tốt đã giúp ông nhiều trong việc thăng tiến, trong vòng 6 năm, ông đã được thăng lên cấp hạ sĩ quan, và vào tháng 7 năm 1791, ông trở thành người hướng dẫn cho tiểu đoàn quân tình nguyện tới Bas-Rhin, ông phục vụ trong quân đội ở đây tới năm 1792. Tới năm 1794 ông trở thành sĩ quan quản trị cao cấp (với hàm thiếu tá "chef de brigade").

Soult đóng góp một phần rất lớn vào tất cả những trận chiến nổi tiếng La Grande Armée, trừ trận Friedland, và sau hiệp ước hòa bình Tilsit, ông quay lại Pháp và được phong làm công tước xứ Dalmatia vào năm 1808, nhưng phần thưởng này lại làm ông cảm thấy rất khó chịu, theo ông, danh hiệu xứng đáng với ông phải là Công tước xứ Austerlitz, danh hiệu mà trước đó Napoleon đã hứa dành riêng cho ông. Những năm sau đó, ông được giao làm chỉ huy quân đoàn số 2 của quân đội xâm chiếm Tây Ban Nha, và sau chiến thắng tại Gamonal, Soul được lệnh của Hoàng đế truy bắt John Moore, cuối cùng bắt được Moore tại Corunna (Tây Ban Nha).

Trong bốn năm tiếp theo, ông vẫn tiếp tục ở Tây Ban Nha, và tham gia vào chiến tranh bán đảo (Peninsular war). Được lệnh tham gia chiến trường Bồ Đào Nha, Trong trận Porto, Soult bị đại bại trước một đạo quân Anh quá mạnh của Wellesley (tức Quận công Wellington), bị truy kích bởi Beresford và Silveira. Nhằm chấm dứt những ganh đua của các tướng lĩnh Pháp tại Tây Ban Nha, Napoleon chỉ định Soult làm chỉ huy quân sự tại chiến trường này, và sớm nhận được những lời đánh giá rất tốt đẹp của quân đội tại đây. Sau trận chiến Talavera (1809), chiến thắng tại Ocana vào ngày 19 tháng 11 năm 1809 đã chứng minh rằng niềm tin của Hoàng đế đã đặt đúng người.

Năm 1810 Soult tham gia xâm lược Andalusia, và đã tiến hành xâm lược một cách nhanh chóng, trừ một chút khó khăn tại trận Cádiz. Năm 1811, Soult tiến quân từ hướng Bắc vào Extramadura (Tây Ban Nha) chiếm được Badajoz, gần sau đó diễn ra trận đánh nổi tiếng giữa quân Pháp do Soult chỉ huy và liên quân Bồ Đào Nha- Anh tại Albuera.

Tháng 3 năm 1813, Soult được giao nhiệm vụ tới miền Bắc nước Pháp để khắc phục những thiệt hại bởi thất bại nặng nề của vua Joshep Bornaparte tại trận Vitoria. Chiến dịch lần này của Soult được đánh giá rất cao mặc dù kết quả là ông bị đại bại trước quân đội Anh của Quận công Wellington, bởi quân của ông trong chiến dịch này hoàn toàn thua xa quân của Wellington về kinh nghiệm chiến đấu và lòng dũng cảm. Cuộc tiến công lần cuối của Soult vào Tây Ban Nha- như nói ở trên- bị đẩy lùi tại trận Pyrenees. Cuối cùng Soult giao chiến với Quận công Wellington trận đánh đẫm máu tại Toulouse và một lần nữa quân Pháp thảm bại. Đây là trận đánh cuối cùng của cuộc Chiến tranh Bán đảo.sau lần thoái vị đầu tiên của Napoleon năm 1814, Soult công khai theo phe Bảo hoàng, nhận chức từ St.Louis, và đảm nhận chức vụ Bộ trưởng chiến tranh từ 03/12/1814 đến ngày 11/03/1815. Khi Napoleon từ đảo Elba trở về, Soult một lần nữa lại công khai thể hiện rằng ông là người theo Napoleon, ông tham gia vào chiến dịch một trăm ngày- trong đó ông thể hiện mình không thật sự hết khả năng, tại Waterloo Soult không còn là người anh hùng như tại Austerlitz, tại Waterloo ông đã mắc rất nhiều lỗi. Đến thời kỳ Second Restoration là giai đoạn Napoleon bị đầy ra đảo thánh bà Helen năm 1815, Soult bị bắt cùng với nhiều Thống chế Pháp khác, Soult bị đầy đi Dussesldorf- Nga, nhưng không lâu sau đó, vào năm 1819, ông ta được thả ra và vào năm 1820 quay lại làm Thống chế Pháp. Soult đã hơn một lần cố gắng thể hiện rằng ông ta là người nhiệt thành với Hoàng gia và được làm Thượng nghị sĩ vào năm 1827.

Nhưng đến sau Cách mạng 1830, Soult lại nhận ra rằng ông là một người theo Louis Philippe, với tài năng quân sự đã được rèn luyện trong chiến tranh Napoleon, Soult lúc này là một trong những nhân vật ưu tú nhất của giới quân sự, nhanh chóng được Philippe trọng dụng, phong làm Thống chế chỉ huy (Marchal- General)- danh hiệu cao quý chỉ có duy nhất sáu người trong lịch sử quân sự Pháp được nhận. Ông giữ chức vụ Bộ trưởng chiến tranh từ năm 1830 đến năm 1834, làm Thủ tướng từ 1832 đến 1834, quay lại làm Thủ tướng từ năm 1839 đến 1840 và từ 1840 đến 1847, làm Bộ trưởng chiến tranh từ 1840 tới 1844. Vào năm 1848, khi Louis Philippe bị lật đổ, Soult lại một lần nữa công khai thể hiện mình là người theo chế độ Cộng hòa.

Józef Antoni Poniatowski

Hoàng thân Józef Antoni Poniatowski (Polish pronunciation: [ˈjuzɛf anˈtɔɲi pɔɲaˈtɔfskʲi]; 7 tháng 5 năm 1763 – 19 tháng 10 năm 1813) là một lãnh đạo Ba Lan, chỉ huy quân sự, bộ trưởng chiến tranh và là một thống chế Pháp.

Louis Alexandre Berthier

Louis Alexandre Berthier, Hoàng tử Wagram, Công tước xứ Valangin, Thái tử Neuchâtel (20 Tháng 2 năm 1753 – 01 tháng 06 năm 1815), là một Thống chế và là Tổng Tham mưu trưởng của Napoleon.

Nicolas Oudinot

Nicolas Charles Oudinot, Bá tước Oudinot, Công tước xứ Reggio (25 tháng 4 năm 1767 tại Bar-le-Duc – 13 tháng 9 năm 1848 tại Paris), là một thống chế Pháp. Ông được biết đến bởi 34 vết thương trong cuộc đời binh nghiệp (bởi đạn đại bác, đạn súng hoả mai và kiếm).

Patrice de Mac Mahon

Thống chế Marie Esme Patrice Maurice de Mac-Mahon, Công tước Magenta (sinh ngày 13 tháng 7 năm 1808 - mất ngày 16 tháng 10 năm 1893) là một chính trị gia và tướng lĩnh Pháp, mang quân hàm Thống chế Pháp. Ông là người thuộc Đảng Bảo hoàng. Ông giữ chức tổng thống Đệ tam Cộng hoà Pháp giai đoạn từ ngày 24 tháng 5 năm 1873 đến khi từ chức vào ngày 30 tháng 1, 1879. Ông đã từ chức khi chưa hết nhiệm kỳ tổng thống.

Philippe Pétain

Henri Philippe Benoni Omer Joseph Pétain (1856 - 1951), thường được biết đến với tên Philippe Pétain, là thống chế quân đội Pháp đồng thời là thủ tướng trong chính phủ Vichy từ năm 1940 đến năm 1944. Ông là anh hùng dân tộc của Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ nhất nhưng đến cuối đời lại bị kết tội phản quốc vì đã hợp tác với Đức Quốc xã trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Do đó, những chiến công của ông trong cuộc Đại chiến thế giới lần thứ nhất đã bị che lấp bởi sự "bán nước" của ông trong cuộc Đại chiến thế giới lần thứ hai.

Pierre Augereau

Charles Pierre François Augereau, sinh ngày 21 tháng 10 năm 1757 tại Paris et mất ngày 12 tháng 6 năm 1816 tại La Houssaye-en-Brie (Seine-et-Marne), là một Thống chế Pháp et Công tước xứ Castiglione. Là một sư trưởng xuất sắc trong Chiến dịch ý lần thứ nhất, Augereau đã phụng sự Napoléon trong Chiến tranh Napoleon bởi tài năng của mình.

Édouard Mortier

Adolphe Édouard Casimir Joseph Mortier, Công tước xứ Trévise (13 tháng 2 năm 1768 – 28 tháng 7 năm 1835) là một thống chế dưới thời Napoleon I. Ông là một trong 18 người bị ám sát bởi Giuseppe Marco Fieschi theo lệnh vua Louis Philippe I vào năm 1835.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.