Thế kỷ 7

Thế kỷ 7 là khoảng thời gian tính từ thời điểm năm 601 đến hết năm 700, nghĩa là bằng 100 năm, trong lịch Gregory.

Theo thập niên: 60 61 62 63 64
65 66 67 68 69
Theo thế kỷ: 6 7 8
Theo thiên niên kỷ: 1 TCN 1 2
Chăm Pa

Chăm Pa (Tiếng Phạn: चम्पा, Chữ Hán: 占婆 Chiêm Bà, tiếng Chăm: Campa) là một quốc gia cổ từng tồn tại độc lập liên tục qua các thời kỳ từ năm 192 đến năm 1832. Cương vực của Chăm Pa lúc mở rộng nhất trải dài từ dãy núi Hoành Sơn, Quảng Bình ở phía Bắc cho đến Bình Thuận ở phía nam và từ biển Đông cho đến tận miền núi phía tây của nước Lào ngày nay.

Qua một số danh xưng Lâm Ấp, Panduranga, Chăm Pa trên phần đất nay thuộc miền Trung Việt Nam. Văn hóa Chăm Pa chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ và Java đã từng phát triển rực rỡ với những đỉnh cao nghệ thuật là phong cách Đồng Dương và phong cách Mỹ Sơn A1 mà nhiều di tích đền tháp và các công trình điêu khắc đá, đặc biệt là các hiện vật có hình linga vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay cho thấy ảnh hưởng của Ấn giáo và Phật giáo là hai tôn giáo chính của chủ nhân vương quốc Chăm Pa xưa.

Chăm Pa hưng thịnh nhất vào thế kỷ 9 và 10 và sau đó dần dần suy yếu dưới sức ép của các vương triều Đại Việt từ phía Bắc và các cuộc chiến tranh với Đế quốc Khmer. Năm 1471, Chăm Pa chịu thất bại nặng nề trước Đại Việt và bị mất phần lớn lãnh thổ phía bắc vào Đại Việt. Phần lãnh thổ còn lại của Chăm Pa bị chia nhỏ thành các tiểu quốc, và tiếp tục sau đó dần dần bị các chúa Nguyễn thôn tính và đến năm 1832 toàn bộ vương quốc chính thức bị sáp nhập vào Việt Nam dưới triều vua Minh Mạng.

Giáo hoàng Constantinô

Constantinô (Tiếng Latinh: Constantinus) là vị giáo hoàng thứ 88 của Giáo hội Công giáo. Sau khi giáo hoàng Sisinnius chỉ cai trị trong một thời gian rất ngắn kéo dài 20 ngày Constantinus trở thành người kế nhiệm của Giáo hoàng Sisinnius. Theo niên giám tòa thánh năm 1806 thì ông đắc cử Giáo hoàng vào năm 708 và cai quan giáo hội trong 7 năm 12 ngày. Niên giám tòa thánh năm 2003 xác định Triều đại của ông kéo dài từ ngày 25 tháng 3 năm 708 cho tới ngày 9 tháng 4 năm 715.

Giáo hoàng Constantinus sinh tại Syria. Ông tiếp tục công việc của vị tiền nhiệm. Ông rất bận tâm về các vấn đề thần học tôn giáo. Ông lên án lạc thuyết Nhất tính. Do đó có sự tranh cãi với các đại diện của Giáo hội Công giáo.

Ông cổ vũ việc hôn chân Thánh Phêrô như một hành động phục tùng. Các sử gia thuật lại rằng hoàng đế Justinianô II, kẻ thù của những người Marônít, mười năm sau về lại Constantinopolis và cai trị còn tàn bạo hơn nữa. Ông cố nài Giáo hoàng Constantinus đến kinh đô Constantinopolis để thống nhất với nhau về các quyết định đã được đưa ra ở công đồng Constantinopolis vừa qua mà Giáo hoàng Sergiô I đã từ chối.

Sau một thời gian do dự, Giáo hoàng đã rời Rôma và tới Constantinopolis ngày 5 tháng 10 năm 710, ông được đón tiếp long trọng tại các thàh phố. Như các đấng tiền nhiệm của mình, Giáo hoàng Constantinus đã làm cho hoàng đế Giustinianô II chấp nhận các lý do khiến đấng tiền nhiệm của ông tức Giáo hoàng Sergiô I (678-701) từ chối chuẩn y các nghị quyết của công đồng "vòm" năm 691. Sự dàn xếp tạm thời này được ký kết tại Byzancia, và Constantinô là vị Giáo hoàng cuối cùng đặt chân tới Constantinôpôli (mãi gần đây Giáo hoàng Phaolô VI mới lại tới Istanbul).

Sau một năm vắng mặt, ông chiến thắng trở về nơi ở của ông ở Rô-ma thì hoàng đế Jutinianô II lại thử rút lời. Hàng giáo sĩ và dân chúng chống đối ông. Cũng vậy, quân đội nổi dậy và ám sát ông năm 771. Về phần Giáo hoàng Constantinus, ông qua đời ngày 9 tháng 4 năm 715. Ông được an táng tại nhà thờ chính tòa thánh Phê-rô ở Vatican.

Giáo hoàng Gioan VI

Gioan VI (Tiếng Latinh: Johnnes VI) là vị giáo hoàng thứ 85 của Giáo hội Công giáo. Theo niên giám tòa thánh năm 1806 thì ông đắc cử Giáo hoàng vào năm 701 và cai quản giáo hội trong 8 năm 2 tháng và 13 ngày. Niên giám tòa thánh năm 2003 xác định triều đại của ông kéo dài từ ngày 10 tháng 10 năm 701 cho tới ngày 11 tháng 1 năm 705.

Joannes sinh tại Ephesus, Hy Lạp. Triều đại của ông ở trong một giai đoạn cực kỳ khó khăn của Kitô giáo, vừa loại trừ quân Saracens ở phía Đông và ở Tây Ban Nha,ông vẫn bảo vệ các quyền lợi của Giáo hội chống lại hoàng đế và chuộc lại nhiều nô lệ.

Joan VI cũng đã phải đương đầu với hoàng đế Phương Tây. Khi hoàng đế Phương Tây cố bỏ tù Đức John thì có một cuộc tổng nổi dậy nhằm bảo vệ ông.

Giáo hoàng Gioan VII

Gioan VII (Tiếng Latinh: Joannes VII) là vị giáo hoàng thứ 86 của Giáo hội Công giáo. Theo niên giám tòa thánh năm 1806 thì ông đắc cử Giáo hoàng năm 705 và cai quản giáo hội trong 2 năm 7 tháng và 17 ngày. Niên giám tòa thánh năm 2003 xác định triều đại của ông kéo dài từ ngày 1 tháng 3 năm 705 cho tới ngày 18 tháng 10 năm 707.

Giáo hoàng Joannes sinh tại Rossano di Calabria. Ông không chấp nhận mưu đồ đen tối của hoàng đế Justinianus II là kẻ đã khởi xướng những cuộc tàn sát khiến cho các dân tộc La Tinh ngày càng xa cách nhau và xa cách với Đông Phương. Ông chống lại Justinian II. Ông trở lại nắm quyền và đưa ý kiến của một vị Giáo hoàng lên như thể một giáo huấn để chống lại Constantinople.

Giáo hoàng Sergiô I

Sergiô I (Tiếng Latinh: Sergius I) là vị giáo hoàng thứ 84 của Giáo hội Công giáo. Ông đã được giáo hội suy tôn là thánh sau khi qua đời. Theo niên giám tòa thánh năm 1806 thì ông đắc cử Giáo hoàng vào năm 687 và ở ngôi Giáo hoàng trong 13 năm 8 tháng và 24 ngày. Niên giám tòa thánh năm 2003 xác định triều đại của ông bắt đầu từ ngày 15 tháng 12 năm 687 và kết thúc vào ngày 8 tháng 9 năm 701.

Sergius sinh tại Antioch, Syria. Ông xuất thân từ một gia đình Syria gốc Antiôkia, sau đó đến định cư tại Palermô trong xứ Sicilia. Ông được tuyển chọn sau hai Giáo hoàng giả là Theodoreus,...687, và Pascal, 687. Yếu tố gia đình đã giúp ông chiến thắng hai đối thủ. Ông đã cương quyết loại trừ phái lạc giáo nổi dậy ở Rôma và chặn đứng được cuộc ly giáo của Aquileia. Ông đưa vào phụng vụ Kinh Lạy Chiên Thiên Chúa.

Sergius gặp phải xung đột căng thẳng với Hoàng Đế Justinian II mới, hoàng đế này cho triệu tập một công đồng nhưng không mời Giáo hoàng và ông đệ trình lên Giáo hoàng để xin phê chuẩn các kết luận. Dĩ nhiên, Đức Sergius I từ chối ký và vì thế Justinian đã ra lệnh bắt ông. Sự kiện này dẫn đến cuộc nổi dậy của dân chúng và hoàng đế Justinian bị lưu đày.

Năm 691, công đồng "Vòm" (Coupole) còn gọi là công đồng Năm-Sáu (Quinisexite), vì phụ trách bổ sung thêm các khoản về kỷ luật vào các nghị quyết của hai công đồng V và VI, càng làm Constantinôpôli tách xa Rôma thêm. Công đồng này khẳng định: toà Constantinôpôli "cũng có các quyền" như Rôma, điều này lại mở lại cuộc bàn cãi về Khoản 28 Công Đồng Chalcêđôni. Bằng cách liệt kê các tập tục của Giáo hội Byzancia, công đồng đã đụng chạm tới các tập tục Rôma, như:

Công đồng cho phép các giáo sĩ có gia đình trước khi chịu chức, được sống đời đôi bạn, trừ trường hợp Giám mục, trong khi Tây Phương buộc các giáo sĩ ấy phải xa người phối ngẫu của mình. Cấm ăn chay ngày thứ bảy, trong khi theo phụng vụ Latinh ngày này không có đặc ân nào cả.

Tóm lại, đây là lần đầu tiên, công đồng nới rộng việc bàn cãi với Rôma, về mặt kỷ luật. Đức Giáo hoàng Sergius I từ chối chuẩn y các nghị quyết của công đồng. Ngày 10 tháng 4 năm 689, ông rửa tội cho vua anglosaxon Caedwalla de Wessex. Ông này đã chết mười ngày sau đó.

Giáo hoàng Sisinniô

Sisinniô (Latinh: Sisinnius) là vị Giáo hoàng thứ 87 của Giáo hội công giáo. Ông là người kế nhiệm Giáo hoàng John VII. Theo niên giám tòa thánh năm 1806 thì Ông đắc cử Giáo hoàng vào năm 708 và ở ngôi Giáo hoàng trong một thời gian rất ngắn chỉ có 20 ngày. Niên giám tòa thánh năm 2003 xác định rằng triều đại của ông bắt đầu vào ngày 15 tháng 1 năm 708 và kết thúc vào ngày 4 tháng 2 năm 708.

Giáo hoàng Sisinnius sinh tại Syria. Triều đại Giáo hoàng của ông rất ngắn ngủi và chỉ kéo dài có 20 ngày do ông qua đời vì lâm trọng bệnh. Người ta cho rằng ông bị bệnh gút và không thể tự mình ăn uống, nhưng ông được phú cho một cá tính mạnh mẽ và muốn điều tốt cho Giáo hội.

Sisinnius chỉ mới bắt đầu gây quỹ để khôi phục lại các bức tường của thành Roma đã bị quân Lombard và Saracens đe doạ thường xuyên. Ông đã ra lệnh sản xuất vôi để dùng sửa chữa các tường thành Rôma và trước khi chết ông đã tấn phong một giám mục đảo Corse. Giáo hoàng Sisinniô được mai táng trong Vương cung thánh đường thánh Phêrô ở Rôma.

Kahramanmaraş

Kahramanmaraş, hay đơn giản là Maraş, là một thành phố tự trị (büyük şehir) đồng thời cũng là một tỉnh (il) ở phía nam Thổ Nhĩ Kỳ, ở dãy núi Taurus, gần sông Seyhan. Kahramanmaraş là trung tâm thương mại khu vực với các ngành chế biến thực phẩm và dệt, ngành khai thác vàng. Thành phố này có một pháo đài thời Trung cổ xây trên nền móng của Hittite từ thế kỷ 12 trước Công nguyên. Vào thế kỷ 8 trước Công nguyên, người Assyria gọi đây là Markasi còn người La Mã gọi địa danh này là Germanicia Caesarea. Thành phố này bị người Ả Rập chiếm vào thế kỷ 7, người Thổ Nhĩ Kỳ Seljuk chiếm vào thế kỷ 12. Thành phố này thuộc lãnh thổ của đế quốc Ottoman vào thế kỷ 16.

Leontios

Leontios (tiếng Hy Lạp: Λεόντιος, tiếng Latinh: LEONTIVS) (Không rõ năm sinh, mất ngày 15 tháng 2 năm 706) là Hoàng đế Đông La Mã từ năm 695 đến 698. Ông lên nắm quyền bằng cách lật đổ Hoàng đế Justinianos II để rồi về sau lại bị Tiberios III lật đổ. Tên gọi thực tế và chính thức của ông là Leon (Λέων, Leōn), nhưng trong biên niên sử Đông La Mã thường gọi bằng cái tên Leontios.

Madius

Madius là một vị vua người Scythia. Theo Herodotus, ông là con của Prtotohyes. Madius đã ra quân đánh chiếm xứ Media, do vua Cyaxares cai trị. Ông trị vì Media khoảng 28 năm (theo Herodotus), có thể là từ 653 TCN đến 625 TCN. Cuối cùng, nhà vua Cyaxares trung hưng quốc gia, đánh đuổi được người Scythia ra khỏi Vương quốc Media.

Nhà Rashidun

Nhà Rashidun (tiếng Ả Rập: الخلافة الراشدية‎ al-khilāfat ar-Rāshidīyah), (khoảng 632-661) là thuật ngữ chung để chỉ khoảng thời gian cai trị của bốn vị khalip đầu tiên trong lịch sử Hồi giáo, và được thành lập sau khi cái chết của Muhammad năm 632 (năm thứ 10 trong lịch Hồi giáo). Ở thời đỉnh cao, đế quốc kiểm soát một đế chế rộng lớn từ bán đảo Ả Rập, vùng Cận Đông, đến vùng Kavkaz ở phía bắc, Bắc Phi từ Ai Cập cho đến ngày nay Tunisia ở phía tây, và vùng cao nguyên Iran tại Trung Á ở phía đông.

Bốn vị khalip đầu tiên được coi là « chính thống » vì được đa số chi phái công nhận. Danh từ « chính thống » dịch từ chữ 'orthodox' thường dùng trong tiếng Anh hoặc Pháp. Trong tiếng Ả Rập họ được gọi là « Rashidun » (« được dẫn dắt đúng đắn ») vì được tin là những người tuân theo đúng kinh Koran, và làm đúng theo đường lối cư xử ('sunnah') của nhà tiên tri Muhammad của đạo Hồi. Bốn vị khalip ấy là:

Abu Bakar, cũng viết là Abu Bakr (632 - 634). Dưới thời của ông, phần lớn bán đảo Ả Rập nổi dậy tấn công thủ đô Medina, gọi là cuộc « chiến tranh Ridda ». Các thế lực này bị đánh bại, nhưng chiến tranh lan sang Ba Tư và Đông La Mã (Byzantine).

Omar bin Khattab, cũng viết là Umar bin al-Khattab (634 - 644). Ông quy định tổ chức các giáo hạt và khiến ghi chép thêm giáo luật Sharia. Thời này, quốc gia Hồi giáo thắng Ba Tư và Đông La Mã, chiếm được các vùng lãnh thổ tương đương với Iraq, Iran, Syria, Jordan, Palestine, Ai Cập, Libya ngày nay.

Othman bin Affan, cũng viết là Uthman ibn Affan (644 - 656). Khalip Othman tổ chức công cuộc kết tập kinh Koran. Thời ông, quốc gia Hồi giáo sáp nhập toàn bộ đế quốc Ba Tư, mở rộng đến Uzbekistan, Kazakhstan, Turkmenistan ngày nay.

Ali bin Abu Talib, cũng viết là Ali bin Abi Talib (656 - 661).Các vị khalip này đều đóng đô ở Medina, trên lãnh thổ nguyên thủy của người Ả Rập, ngoại trừ vị khalip cuối là Ali dời đô đi Kufa (nay ở Iraq).

Đến khalip Ali thì có sự chia rẽ, vùng Iraq và Iran ngày nay theo khalip Ali, từ Syria trở về tây thì theo tổng đốc Syria là Mu'Awiya. Sau cái chết của khalip Ali năm 661, Mu'Awiya thống nhất lãnh thổ và lập nhà Omeyyad.

Philippikos Bardanes

Philippikos (tiếng Hy Lạp: Φιλιππικός) là Hoàng đế Đông La Mã từ năm 711 đến 713.

Potsdam

Potsdam là thủ phủ của tiều bang Brandenburg (Đức) và là thành phố đông dân cư nhất của tiểu bang. Postdam có biên giới chung với thủ đô Berlin về phía đông-bắc và thuộc về Vùng đô thị Berlin/Brandenburg.

Potsdam đặc biệt nổi tiếng về di sản là thành phố ngự trị của Vương quốc Phổ với nhiều lâu đài và vườn hoa. Vua Friedrich II, tức Friedrich Đại Đế (1712 - 1786), trị vì nước Phổ từ năm 1740 cho đến năm 1786 (đồng thời là Bá tước xứ Brandenburg), đã đưa thành phố Potsdam trở thành miền cực lạc của triết học, theo miêu tả của nhà triết học Pháp nổi tiếng Voltaire - bạn thân của vị vua Phổ vĩ đại. Nhà vua chiêu dụ nhân tài nhiều nơi về thành phố Potsdam. Ông được mệnh danh là "Nhà triết học khu Sanssouci", gắn bó với chủ nghĩa nhân đạo và lòng yêu hòa bình trong những năm tháng vàng son tại cung điện Sanssouci, Potsdam. Trong cuộc Chiến tranh Bảy năm (1756 - 1763), ông vẫn nhớ đến cung điện Sanssouci. Sau năm 1763, sau thắng trận, ông dành phần lớn thời gian ngự tại các cung điện tại thành phố này, như cung điện Sanssouci, và thường dắt chó săn thỏ Ý dạo chơi. Vào năm 1763, ông cũng cho xây "Tân Hoàng cung" (Neues Palais) huy hoàng theo kiến trúc barốc, để thể hiện sự phồn thịnh của đất nước. Quang cảnh văn hóa của thành phố đã được UNESCO đưa vào trong danh sách di sản văn hóa thế giới năm 1990, là quần thể Đức lớn nhất của di sản thế giới. Vì thế mà thành phố là một điểm du lịch hấp dẫn cho du khách từ khắp nơi trên thế giới.

Từ giữa thế kỷ 19 Potsdam đã phát triển thành một trung tâm khoa học. Ngày nay có 3 trường đại nhà nước và hơn 30 viện nghiên cứu đặt trụ sở tại đây. Tròn 15% dân cư là sinh viên, tỷ lệ nhà khoa học trên đầu người là tỷ lệ cao nhất nước Đức. Potsdam Đại học nằm ở thành phố này.

Roma

Roma (tiếng Latinh và tiếng Ý: Roma; còn phổ biến với tên gọi Rome trong tiếng Anh và tiếng Pháp hay La Mã theo phiên âm Hán Việt) là thủ đô của nước Ý và là một đô thị cấp huyện (comune) loại đặc biệt (có tên đầy đủ là Comune di Roma Capitale), đồng thời đóng vai trò là thủ phủ vùng Lazio của quốc gia này. Roma là thành phố lớn nhất và đông dân nhất ở Ý với hơn 2,8 triệu cư dân trong phạm vi 1.285 km². Đây là thành phố đông dân thứ tư của Liên minh châu Âu, sau Luân Đôn, Berlin và Madrid, tính theo số dân sinh sống bên trong phạm vi thành phố. Roma cũng đồng thời là trung tâm của Thành phố đô thị Roma Thủ đô với hơn 4,3 triệu cư dân, do đó là thành phố đô thị đông dân nhất của nước Ý. Roma tọa lạc ở vùng Lazio, dọc theo con sông Tevere (khu vực Latium lịch sử) thuộc Trung Tây của bán đảo Ý. Thành quốc Vatican (quốc gia nhỏ nhất thế giới) là một đất nước độc lập nằm trong lòng Roma, đây là ví dụ duy nhất về một quốc gia nằm trong lãnh thổ của một thành phố; cũng vì lý do này mà Roma thường được xem là thủ đô lưỡng quốc.Lịch sử Roma trải dài 28 thế kỷ. Mặc dù thần thoại La Mã đặt mốc thời gian thành lập Roma vào khoảng năm 753 TCN, tuy nhiên thành phố đã có mặt cư dân sinh sống lâu hơn thế, khiến nó trở thành một trong những khu định cư lâu đời nhất có con người vẫn đang tiếp tục sinh sống tại châu Âu. Cư dân ban đầu của thành phố có nguồn gốc hỗn hợp từ người Latinh, Etrusca và Sabine. Sau đó, thành phố trở thành thủ đô của Vương quốc La Mã, Cộng hòa La Mã và Đế quốc La Mã, và được nhận định là cái nôi của nền văn minh phương Tây cũng như là kiểu mẫu đô thị trung tâm đầu tiên từng xuất hiện. Roma ban đầu được gọi là Thành phố vĩnh hằng (tiếng Latinh: Urbs Aeterna) bởi thi hào Tibullus người La Mã trong thế kỷ thứ nhất TCN và ý tưởng đó đã được Ovidius, Vergilius và Livius tiếp nối. Thành phố còn nổi tiếng với danh hiệu "Caput Mundi" trong tiếng Latinh có nghĩa là Kinh đô thế giới. Theo sau sự sụp đổ của Đế quốc Tây La Mã đánh dấu khởi đầu của Đêm trường Trung Cổ, Roma dần rơi vào sự thống trị của giáo hoàng (đã cư ngụ tại thành phố kể từ thế kỷ 1) và chính thức thế kỷ 8 trở thành thủ đô của Vương quốc Giáo hoàng tồn tại cho đến năm 1870. Bắt đầu từ thời kỳ Phục Hưng, hầu như tất cả các giáo hoàng từ Nicôla V (1447–1455) trở đi đều chủ trương theo đuổi tiến trình mang tính kiến trúc và đô thị hóa liên tục suốt 400 năm nhằm mục đích biến thành phố trở thành trung tâm nghệ thuật và văn hóa của thế giới. Do vậy, Roma trở thành trung tâm lớn của nền Phục Hưng Ý, và sau đó là nơi khai sinh của trường phái Baroque và chủ nghĩa Tân cổ điển. Các nghệ sĩ, họa sĩ, nhà điêu khắc và kiến trúc sư nổi tiếng đã biến Roma trở thành trung tâm hoạt động của họ, tạo ra những kiệt tác khắp toàn thành phố. Năm 1871, Roma chính thức trở thành thủ đô của Vương quốc Ý thống nhất và sau đó là Cộng hòa Ý từ năm 1946 cho đến ngày nay.

Roma mang đẳng cấp của một thành phố toàn cầu. Trong năm 2016, Roma xếp thứ 14 trong số những thành phố được viếng thăm nhiều nhất thế giới, đứng thứ 3 tại châu Âu và là điểm thu hút khách du lịch nổi tiếng nhất tại Ý. Khu trung tâm lịch sử của Roma được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới. Bảo tàng Vatican nổi tiếng nằm trong số những bảo tàng được viếng thăm nhiều nhất thế giới và Đấu trường La Mã trở thành điểm thu hút khách du lịch phổ biến nhất thế giới với 7,4 triệu lượt khách trong năm 2018. Roma cũng là nơi tổ chức Thế vận hội Mùa hè 1960. Roma là trụ sở của các cơ quan chuyên môn thuộc Liên Hiệp Quốc như Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO), Chương trình Lương thực Thế giới (WFP) và Quỹ quốc tế về phát triển nông nghiệp (IFAD). Thành phố cũng là nơi đặt văn phòng Tổng thư ký Hội đồng Nghị viện Liên minh Địa Trung Hải (UfM) cũng như trụ sở của nhiều tập đoàn kinh doanh quốc tế như Eni, Enel, TIM, Leonardo S.p.A., và các ngân hàng nhà nước và quốc tế như Unicredit và BNL. Khu vực quận kinh tế và trung tâm thương mại của thành phố được gọi là EUR, là cơ sở của nhiều công ty quan trọng tham gia vào các ngành công nghiệp dầu mỏ, công nghiệp dược phẩm và dịch vụ tài chính. Roma cũng là một trung tâm thiết kế và thời trang quan trọng nhờ các thương hiệu quốc tế nổi tiếng có trụ sở tại thành phố, và đứng ở vị trí thứ 5 trong bảng xếp hạng các kinh đô thời trang của thế giới trong những năm gần đây. Phim trường Cinecittà của Roma, phim trường lớn nhất tại châu Âu, đã trở thành nơi bấm máy của rất nhiều bộ phim đoạt giải Oscar.

San Donato Milanese

San Donato Milanese là một đô thị ở tỉnh Milano, vùng Lombardia của Italia, khoảng 10 km về phía đông nam của tỉnh lỵ Milano.

San Donato Milanese giáp các đô thị: Milano, Peschiera Borromeo, Mediglia, San Giuliano Milanese, Opera, Locate di Triulzi. Đây là một trung tâm công nghiệp và dịch vụ.

Dù khu vực này có dân định cư từ thời cổ đại, nguồn gốc của San Donato lại bắt đầu từ thế kỷ 7, khi một pieve đã được lập ở đây bởi quân đội của Grimoald I, công tước Benevento. Sau một thời gian thuộc dòng họ Milanese De Advocati, thị xã đã thuộc sở hữu của tổng giám mục Milano cho đến thế kỷ 16.

Một loạt các tu viện đã được Bernard of Clairvaux thiết lập vào thế kỷ 11. Sau này, Frederick Barbarossa đã ở đây sau khi phá hủy Milano.

Sao Mộc

Sao Mộc hay Mộc tinh (chữ Hán: 木星) là hành tinh thứ năm tính từ Mặt Trời và là hành tinh lớn nhất trong Hệ Mặt Trời. Nó là hành tinh khí khổng lồ với khối lượng bằng một phần nghìn của Mặt Trời nhưng bằng hai lần rưỡi tổng khối lượng của tất cả các hành tinh khác trong Hệ Mặt Trời cộng lại. Sao Mộc được xếp vào nhóm hành tinh khí khổng lồ cùng với Sao Thổ (Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương được xếp vào hành tinh băng khổng lồ). Hai hành tinh này đôi khi được gọi là hành tinh kiểu Mộc Tinh hoặc hành tinh vòng ngoài. Các nhà thiên văn học cổ đại đã biết đến hành tinh này, và gắn với thần thoại và niềm tin tôn giáo trong nhiều nền văn hóa. Người La Mã đặt tên hành tinh theo tên của vị thần Jupiter, vị thần quan trọng nhất trong số các vị thần. Tên gọi trong tiếng Trung Quốc, tiếng Triều Tiên, tiếng Nhật và tiếng Việt của hành tinh này được đặt dựa vào hành "mộc" trong ngũ hành. Khi nhìn từ Trái Đất, Sao Mộc có cấp sao biểu kiến −2,94, đủ sáng để tạo bóng; và là thiên thể sáng thứ ba trên bầu trời đêm sau Mặt Trăng và Sao Kim. (Sao Hỏa hầu như sáng bằng Sao Mộc khi Sao Hỏa ở những vị trí xung đối trên quỹ đạo của nó với Trái Đất.)

Sao Mộc chứa chủ yếu hiđrô và heli - chiếm một phần tư khối lượng của nó, mặc dù heli chỉ chiếm một phần mười số lượng phân tử. Có thể có một lõi đá trong hành tinh chứa các nguyên tố nặng hơn, nhưng giống như những hành tinh khí khổng lồ khác, Sao Mộc không có một bề mặt rắn định hình. Bởi vì có tốc độ tự quay nhanh, hình dạng của hành tinh có hình phỏng cầu dẹt (nó hơi phình ra tại xích đạo). Lớp khí quyển ngoài cùng hiện lên với nhiều dải mây ở những độ cao khác nhau, do kết quả của hiện tượng nhiễu loạn khí động và tương tác với những cơn bão tại biên. Một đặc điểm nổi bật trên ảnh chụp của nó đó là Vết Đỏ Lớn, một cơn bão khổng lồ được biết đến tồn tại ít nhất từ thế kỷ 17 khi các nhà thiên văn lần đầu tiên quan sát nó bằng kính thiên văn. Bao quanh Mộc Tinh là một hệ thống vành đai mờ nhạt cũng như từ quyển mạnh. Có ít nhất 67 vệ tinh tự nhiên quay quanh nó, bao gồm bốn vệ tinh lớn nhất gọi là các vệ tinh Galileo do nhà bác học Galileo Galilei lần đầu tiên quan sát năm 1610. Ganymede, vệ tinh lớn nhất, có đường kính lớn hơn Sao Thủy.

Đã có một vài tàu không gian thám hiểm đến Sao Mộc, bao gồm tàu Pioneer và Voyager trong các phi vụ bay ngang qua và sau đó tàu Galileo bay quay hành tinh này. Con tàu gần đây nhất bay qua Sao Mộc trên hành trình đến Sao Diêm Vương - tàu New Horizons bay qua vào cuối 2007. Con tàu sử dụng sự hỗ trợ của hấp dẫn từ Sao Mộc nhằm tăng tốc độ của nó. Hiện nay tàu Juno của NASA đã đến vào ngày 5 tháng 7 năm 2016. Trong tương lai có phi vụ của ESA đến thám hiểm các vệ tinh Galileo nói chung và Europa nói riêng.

Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh (tên cũ nhưng vẫn thường gọi là Sài Gòn) là thành phố lớn nhất Việt Nam, đồng thời cũng là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và giáo dục quan trọng nhất của Việt Nam. Hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố trực thuộc trung ương được xếp loại đô thị đặc biệt của Việt Nam, cùng với thủ đô Hà Nội.

Năm 2018, Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị hành chính Việt Nam xếp thứ nhất về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ nhất về GRDP bình quân đầu người, đứng thứ 24 về tốc độ tăng trưởng GRDP. GRDP đạt 1.331.440 tỉ Đồng (tương ứng với 52,92 tỉ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 154,84 triệu đồng (tương ứng với 6.725 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 8,30%.

Vùng đất này ban đầu được gọi là Prey Nokor theo tiếng Khmer của người dân bản địa. Tên gọi này có nghĩa là "thành trong rừng". Vì sự sụp đổ của đế chế Khmer, vùng Nam Bộ trở thành đất vô chủ, về sau đã sáp nhập vào Đại Việt nhờ công cuộc khai phá miền Nam của chúa Nguyễn. Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh cho lập phủ Gia Định, đánh dấu sự ra đời thành phố. Khi Pháp vào Đông Dương, để phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa, thành phố Sài Gòn được thành lập và nhanh chóng phát triển, trở thành một trong hai đô thị quan trọng nhất Việt Nam. Sài Gòn cũng là thủ đô của Liên bang Đông Dương giai đoạn 1887–1901 (về sau, Pháp chuyển thủ đô Liên bang Đông Dương ra Hà Nội). Năm 1949, Sài Gòn trở thành thủ đô của Quốc gia Việt Nam, một chế độ do thực dân Pháp thành lập trong thời kỳ tái chiếm Việt Nam, và sau này là thủ đô của Việt Nam Cộng hòa (chế độ kế tục Quốc gia Việt Nam trong thời kỳ Mỹ đổ quân vào Việt Nam). Kể từ đó, thành phố này trở thành một trong những đô thị quan trọng nhất của miền Nam Việt Nam. Sau khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ trong sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, quân Mỹ rút lui hoàn toàn và lãnh thổ Việt Nam được thống nhất. Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất quyết định đổi tên Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh, theo tên vị Chủ tịch nước đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích 2.095,06 km². Theo kết quả điều tra dân số chính thức vào thời điểm ngày 1 tháng 4 năm 2009, thì dân số thành phố là 7.162.864 người (chiếm 8,34% dân số Việt Nam), mật độ dân số trung bình 3.419 người/km². Đến năm 2019, dân số thành phố tăng lên 8.993.082 người và cũng là nơi có mật độ dân số cao nhất Việt Nam. Tuy nhiên, nếu tính những người cư trú không đăng ký thì dân số thực tế của thành phố này năm 2018 là gần 14 triệu người. Giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 21,3% tổng sản phẩm (GDP) và 29,38% tổng thu ngân sách của cả nước. Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam và Đông Nam Á, bao gồm cả đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường không. Vào năm 2007, thành phố đón khoảng 3 triệu khách du lịch quốc tế, tức 70% lượng khách vào Việt Nam. Các lĩnh vực giáo dục, truyền thông, thể thao, giải trí, Thành phố Hồ Chí Minh đều giữ vai trò quan trọng bậc nhất.

Tuy vậy, Thành phố Hồ Chí Minh đang phải đối diện với những vấn đề của một đô thị lớn có dân số tăng quá nhanh. Trong nội ô thành phố, đường sá trở nên quá tải, thường xuyên ùn tắc. Hệ thống giao thông công cộng kém hiệu quả. Môi trường thành phố cũng đang bị ô nhiễm do phương tiện giao thông, các công trường xây dựng và công nghiệp sản xuất. Triều cường gây ngập sâu ở một vài quận cũng là vấn đề nan giải của thành phố này.

Thế kỷ 7 TCN

Thế kỷ 7 TCN bắt đầu vào ngày đầu tiên của năm 700 TCN và kết thúc vào ngày cuối cùng của năm 601 TCN.

Tiberios III

Tiberios III (tiếng Hy Lạp: Τιβέριος Γ') (mất ngày 15 tháng 2 năm 706) là Hoàng đế Đông La Mã từ năm 698 đến 21 tháng 8 năm 705. Dù thời kỳ trị vì của ông được coi là khá thành công, đặc biệt là trong việc ngăn chặn các mối đe dọa từ người Ả Rập ở phía đông, về sau ông bị hoàng đế tiền nhiệm Justinianos II lật đổ và xử tử.

Trung Cổ

Thời kỳ Trung Cổ (hay Trung Đại) là giai đoạn trong lịch sử châu Âu bắt đầu từ sự sụp đổ của Đế quốc Tây Rôma vào thế kỷ 5, kéo dài tới thế kỉ 15, hòa vào thời Phục hưng và Thời đại khám phá. Thời Trung Cổ (Trung đại) là thời đại thứ hai trong ba thời đại lịch sử theo cách phân kỳ truyền thống của lịch sử phương Tây, cùng với Cổ đại và Hiện đại. Thời kỳ Trung Cổ tự nó chia làm ba giai đoạn, Sơ kỳ Trung Cổ, Trung kỳ Trung Cổ và Hậu kỳ Trung Cổ.

Suy giảm dân số, sự đảo ngược đô thị hóa, xâm lược, và di dân, bắt đầu từ Hậu kỳ Cổ đại, tiếp diễn trong thời Sơ kỳ Trung Cổ. Những man tộc xâm lược, bao gồm các dân tộc German, lập nên những vương quốc mới trên tàn tích của Đế quốc Tây Rôma. Bắc Phi, Trung Đông và bán đảo Iberia rơi vào tay người Hồi giáo, tuy Đế quốc Đông Rôma (tức Byzantine) vẫn duy trì vai trò một cường quốc quan trọng ở phương Đông. Quá trình Kitô hóa vẫn tiếp tục, chế độ tu viện được thành lập. Người Frank, dưới triều đại Nhà Carolingien, đã thiết lập nên một đế chế ngắn ngủi bao phủ phần lớn Tây Âu, trước khi tàn lụi dưới áp lực của nội chiến cộng với ngoại xâm.

Trong thời Trung kỳ Trung Cổ, bắt đầu từ thế kỉ 11, dân số châu Âu tăng nhanh khi các tiến bộ kĩ thuật và thời tiết thuận lợi giúp sản xuất phát triển và theo đó là thương mại phát đạt. Chế độ trang viên và chế độ phong kiến xác lập nên cấu trúc kinh tế-chính trị của xã hội thời Trung kỳ Trung Cổ. Giáo hội Công giáo củng cố sức ảnh hưởng trong khi những cuộc thập tự chinh được kêu gọi để tái chiếm Đất Thánh từ tay người Hồi giáo. Các nhà quân chủ ở nhiều quốc gia củng cố nhà nước trung ương tập quyền, giảm bớt tình trạng cát cứ. Đời sống trí thức ghi nhận sự thống trị của chủ nghĩa kinh viện và sự thành lập những trường đại học, trong khi nghệ thuật chứng kiến phong cách Gothic lên đến đỉnh cao.

Thời Hậu kỳ Trung Cổ đánh dấu một loạt những khó khăn và tai họa bao gồm nạn đói, dịch hạch, và chiến tranh, gây suy giảm nghiêm trọng dân số Tây Âu; chỉ riêng Cái chết Đen đã hủy diệt một phần ba dân số châu Âu. Tranh cãi giáo lý, dị giáo và ly giáo bên trong Giáo hội song hành với chiến tranh quy mô giữa các cường quốc, nội chiến, khởi nghĩa nông dân nổ ra trong khắp châu lục. Trong khi đó, những phát triển và văn hóa biến đổi xã hội châu Âu, khép lại thời Trung Cổ và bắt đầu thời kỳ Cận đại.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.