Thế Holocen

Thế Holocen (còn gọi là thế Toàn Tân) là một thế địa chất bắt đầu khi kết thúc thế Pleistocen, vào khoảng 11.700 năm trước[1][2] (vào khoảng 9.700 TCN) và còn tiếp tục ngày nay. Thế Holocen thuộc về kỷ Neogenphân đại Đệ Tứ. Tên của nó bắt nguồn từ ὅλος (holos, toàn bộ) và καινός (kainos, mới) trong tiếng Hy Lạp. Thế này được coi là một giai đoạn gian băng trong thời kỳ băng hà hiện nay.

Phần nhiều nhà khoa học chấp nhận rằng thế Holocen bắt đầu 10 ngàn năm trước theo định tuổi bằng cacbon C-14 (11.703 năm trước 1950). Thế này bắt đầu ngay sau băng hà Weichsel (thời kỳ băng hà Wisconsin hay thời kỳ băng hà Baltic-Scandinavia). Tại châu Âu, thế Holocene được chia ra thành 5 thời đới (chronozone) theo thay đổi khí hậu[3]: đới Tiền Boreal (Preboreal; 10–9 ngàn năm trước), đới Boreal (9–8 ngàn năm trước), đới Đại Tây Dương (Atlantic; 8–5 ngàn năm trước), đới Hạ Boreal (Subboreal; 5–2,5 ngàn năm trước), và đới Hạ Đại Tây Dương (Subatlantic; 2,5 ngàn năm trước đến ngày nay).

Tất cả văn minh con người xảy ra trong thế Holocen. Hệ thống giai đoạn khí hậu Blytt-Sernander, mới đầu được định nghĩa theo vết cây cối còn lại trong bãi than bùn, không còn được sử dụng. Hệ thống này được phát triển cho miền bắc châu Âu, nhưng các thay đổi khí hậu xảy ra rộng rãi hơn. Các thế trong hệ thống này bao gồm một vài dao động cuối cùng trước thế Holocen của thời kỳ băng hà cuối và phân loại các khí hậu của tiền sử gần đây hơn.

Các nhà cổ sinh vật học chưa định rõ tầng động vật cho thế Holocen. Khi cần chia ra thế này từng giai đoạn nhỏ hơn, các giai đoạn trong phát triển của con người, đó là thời đại đồ đá giữa (Mesolithic), thời đại đồ đá mới (Neolithic), và thời đại đồ đồng thường được sử dụng. Tuy nhiên, ba thuật ngữ này ứng với các thời gian sẽ khác ở các vùng khác trên thế giới, tùy lúc mà những công nghệ này nổi lên ở vùng đó. Vì thế, các nhà khoa học thường không sử dụng thuật ngữ "thời đại đồ đá giữa" đối với những vùng ở ngoài miền bắc châu Âu.

Theo khí hậu, có thể chia thế Holocen thành hai giai đoạn đều là Hypsithermal và Băng hà mới (Neoglacial); biên giới là lúc thời đại đồ đồng bắt đầu trong văn minh phương Tây. Theo một số nhà khoa học, giai đoạn thứ ba, thế Anthropocen (thế Nhân Sinh) bắt đầu vào thế kỷ XVIII với Cách mạng công nghiệp.[4]

Mực nước biển dâng lên từ -13 m đến + 5 m so với mực nước biển hiện tại trong khoảng thời gian cách đây 8.000 - 4.000 năm ở vùng eo biển Malacca.[5]

Dự đoán

Thời này là một kỉ băng hà, được dự đoán là kết thúc sau 25.000 năm.

Trái Đất đang trải qua Băng hà Đệ Tứ và cụ thể hơn là thời kỳ băng hà Holocen. Thời kỳ này được dự đoán là sẽ kết thúc trong 25.000 năm.[6] Tuy nhiên, sự gia tăng trong lượng cacbon điôxít được con người thải ra khí quyển có thể sẽ trì hoãn thời kỳ băng hà tiếp theo cho đến ít nhất là 50.000–130.000 năm nữa. Mặt khác, thời kỳ ấm lên toàn cầu hữu hạn (do việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch được cho là sẽ chấm dứt vào năm 2200) có thể sẽ chỉ tác động đến thời kỳ băng hà trong khoảng 5.000 năm. Hay nói cách khác, sự ấm lên toàn cầu do việc thải khí nhà kính trong một vài thế kỷ chỉ có thể gây ra những tác động không đáng kể trong dài hạn.

Chú thích

  1. ^ “International Stratigraphic Chart” (PDF). International Commission on Stratigraphy. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2012.
  2. ^ Walker M., Johnsen S., Rasmussen S. O., Popp T., Steffensen J.-P., Gibbard P., Hoek W., Lowe J., Andrews J., Bjo¨ rck S., Cwynar L. C., Hughen K., Kershaw P., Kromer B., Litt T., Lowe D. J., Nakagawa T., Newnham R. và Schwander J. 2009. Formal definition and dating of the GSSP (Global Stratotype Section and Point) for the base of the Holocene using the Greenland NGRIP ice core, and selected auxiliary records. J. Quaternary Sci., Vol. 24 tr. 3–17. ISSN 0267-8179.
  3. ^ Mangerud J, Anderson ST, Berglund BE, Donner JJ (ngày 1 tháng 10 năm 1974). “Quaternary stratigraphy of Norden, a proposal for terminology and classification” (PDF). Boreas 3: 109–128.
  4. ^ Fred Pearce (2007). With Speed and Violence. tr. 21. ISBN 978-0-8070-8576-9.
  5. ^ “Sea-level changes during the late Pleistocene and Holocene in the Strait of Malacca”. Nature. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2010.
  6. ^ Roberts 1998, tr. 60.

Xem thêm

kỷ Neogen
Miocen Pliocen Pleistocen Holocen
Aquitans | Burdigala | Langhe
Serravalle | Tortona | Messina
Zancle | Piacenza Gelasia | Calabria
Chiba (Trung Pleistocen)
Tarantia (Thượng Pleistocen)
Greenland | Northgrip
Meghalaya
Anthropocene

Anthropocene (tiếng Anh; còn gọi là thế Nhân Sinh hay Anthropocen) là thuật ngữ được một số nhà khoa học sử dụng để miêu tả giai đoạn gần đây nhất trong lịch sử Trái Đất. Nó không có điểm khởi đầu chính xác, nhưng có thể coi là bắt đầu vào khoảng cuối thế kỷ 18, khi những hoạt động của loài người mới bắt đầu có ảnh hưởng toàn cầu đến khí hậu và hệ sinh thái của Trái Đất. Điểm bắt đầu của nó cũng có thể coi là trùng với sự phát minh của James Watt ra động cơ hơi nước năm 1784. Thuật ngữ này do nhà khoa học Paul Crutzen đặt vào năm 2000; ông là người đoạt giải Nobel Hóa học và nghĩ rằng hoạt động con người trên Trái Đất vào những thế kỷ gần đây đáng kể đến độ cần chấp nhận một thế địa chất mới. Tuy nhiên, các nhà khoa học đang tranh cãi về việc đặt một giai đoạn mới; có người nghĩ rằng nó là một thế địa chất mới tiếp theo thế Holocen, còn có người khác nghĩ rằng Anthropocene chỉ là một kỳ địa chất trong thế Holocen.

Việc sử dụng khái niệm này như là một khái niệm địa chất chính thức bắt đầu đã thu được sự ủng hộ vào đầu năm 2008, với sự công bố 2 bài báo ủng hộ cho ý tưởng này

Bison priscus

Bò rừng thảo nguyên hay bò rừng đồng bằng (Danh pháp khoa học: Bison priscus) là một loài bò rừng đã tuyệt chủng được tìm thấy trên thảo nguyên trên khắp Châu Âu, Trung Á, Beringia, và Bắc Mỹ trong Kỷ Đệ tứ. Nó được cho là đã tiến hóa một nơi nào đó ở Nam Á, trong đó sẽ có nó xuất hiện tại khoảng cùng thời gian và khu vực như bò rừng ở châu Âu mà con cháu của nó đôi khi bị nhầm lẫn.

Bò rừng châu Âu

Bò rừng châu Âu (danh pháp: Bos primigenius) hay còn gọi là bò Tur. Người ta cho rằng đây là tổ tiên của bò nhà (bò thủy tổ). Bò Tur trước đây phân bố rộng rãi cả ở châu Á và châu Âu dưới vài dạng khác nhau. Bò Tur có lông mềm, dài, thẳng, lông ở trên trán thường xoắn lại, Màu sắc lông có thể đen, nâu hoặc trắng, xám có sọc vàng, trắng dọc theo sống lưng. Sừng bò dài như cánh cung, màu đen, khoảng 50 cm. Ở phía nam châu Á, bò có u vai cao, lông màu vàng, mình hơi lép về phía mông, chân cao, đuôi dài quá khuỷu. Bò Tur rất khỏe, nhanh nhẹn. Con cái cao khoảng 150–170 cm, con đực cao khoảng 175–200 cm. Nhóm bò Tur đựợc thuần hóa cả ở châu Á và châu Âu, hình thành nên bò nhà châu Á (Bos Indicus) và bò nhà châu Âu (Bos Taurus).

Hiện nay bò Tur đã bị tiệt chủng, không còn tồn tại ở trạng thái hoang dã, chỉ còn lại các con cháu của chúng đã được thuần hóa.

Heptaxodontidae

Heptaxodontidae là một họ động vật có vú trong bộ Gặm nhấm. Họ này được Anthony miêu tả năm 1917.

Kỷ Đệ Tứ

Kỷ Đệ Tứ, (trước đây gọi là Phân đại Đệ Tứ; tiếng Anh: Quaternary) là một giai đoạn trong niên đại địa chất theo Ủy ban quốc tế về địa tầng học. Theo truyền thống, nó bắt đầu sau khi kết thúc thế Pliocen vào khoảng 1,806 Ma (Mega annum, triệu năm) trước đây. Tuy nhiên, trong phiên bản 2009 về niên đại địa chất thì ICS đã chấp nhận điều chỉnh lại ranh giới bắt đầu của phân đại/kỷ này. Hiện tại (vào năm 2009), nó bắt đầu vào khoảng 2,588±0,005 Ma, khi bắt đầu tầng Gelasia. Phân đại (kỷ) này bao gồm 2 thế—là thế Pleistocen và thế Holocen.

Trong sửa đổi gần đây của phân loại quốc tế do Ủy ban quốc tế về địa tầng học (ICS) thực hiện về các thời kỳ địa chất thì kỷ Đệ Tứ đã được gộp vào trong kỷ Neogen. Sự chuyển dịch này đã vấp phải sự phản đối từ một số nhà địa chất. ICS đã đề nghị rằng kỷ Đệ Tứ nên được coi là một phân đại gọi là phân đại Đệ Tứ và nó là một phần của kỷ Neogen, với sự bắt đầu của nó vào khoảng 2,588 Ma, trùng với khi bắt đầu tầng Gelasia. Tuy nhiên, Liên đoàn Quốc tế về Nghiên cứu Kỷ Đệ Tứ (INQUA) lại đưa ra đề nghị ngược lại cho rằng kỷ Neogen và thế Pliocen kết thúc tại thời điểm khoảng 2,588 Ma, tầng Gelasia cần được chuyển sang thế Pleistocen và kỷ Đệ Tứ cần được công nhận là kỷ thứ ba của đại Tân Sinh bằng việc viện dẫn các thay đổi cơ bản trong khí hậu, đại dương và vùng sinh vật của Trái Đất đã diễn ra vào thời điểm 2,588 Ma và sự tương ứng của nó với ranh giới địa từ học Gauss-Matuyama.

Lừa hoang châu Âu

Lừa hoang châu Âu (Danh pháp khoa học: Equus hydruntinus) là một loài lừa hoang đã tuyệt chủng từng phân bố ở châu Âu. Chúng là một động vật họ Ngựa tuyệt chủng từ giữa và cuối kỷ Pleistocene của vùng Á-Âu. Tên của nó từ cụ thể, hydruntinus, nghĩa là từ Otranto (Hydruntum trong tiếng Latin).

Mòng biển Huahine

Mòng biển Huahine (Chroicocephalus utunui), là một loài chim mòng biển đã tuyệt chủng. Xương bán hóa thạch tìm được tại địa điểm khảo cổ học Fa'ahia trên đảo Huahine, thuộc quần đảo Société, Polynésie thuộc Pháp.

Ngựa Yukon

Equus lambei (tên gọi thông thường bao gồm Ngựa Yukon và Ngựa hoang Yukon) là một loài tuyệt chủng của chi Equus. Equus lambei dao động trên toàn Bắc Mỹ cho đến khoảng 10.000 năm trước đây. Nó có thể là giống như loài ngựa Tarpan đã tuyệt chủng hay ngựa Przewalski con sinh tồn.

Pelorovis

Pelorovis (cừu quái dị) là một chi động vật hoang dã châu Phi đã tuyệt chủng lần đầu tiên xuất hiện trong kỷ Pliocene, 2,5 triệu năm trước, và đã tuyệt chủng vào cuối của kỷ Pleistocen muộn khoảng 12.000 năm trước đây hay thậm chí trong suốt thế Holocene, khoảng 4.000 năm trước đây. Pelorovis có lẽ là không đơn ngành.

Theo những phát hiện này, các hình thức đầu của các chi (P. turkanensis và P. oldowayensis) là họ hàng gần gũi, và có thể là thành viên đầu tiên, thuộc chi Bos. Ngược lại, các hình thức Pleistocen muộn (Pelorovis antiquus) có vẻ là một họ hàng của trâu rừngchâu Phi hiện đại (Syncerus caffer).

Quemisia gravis

Quemisia gravis là một loài động vật có vú trong họ Heptaxodontidae, bộ Gặm nhấm. Loài này được Miller mô tả năm 1929.

Quần đảo Trường Sa

Quần đảo Trường Sa (tiếng Anh: Spratly Islands; giản thể: 南沙群岛; phồn thể: 南沙群島; bính âm: Nánshā Qúndǎo; tiếng Mã Lai và tiếng Indonesia: Kepulauan Spratly; tiếng Tagalog: Kapuluan ng Kalayaan) là một tập hợp thực thể địa lý được bao quanh bởi những vùng đánh cá trù phú và có tiềm năng dầu mỏ, khí đốt thuộc biển Đông. Tuy nhiên, quần đảo này đang trong tình trạng tranh chấp ở các mức độ khác nhau giữa sáu bên là Brunei, Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), Malaysia, Philippines, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) và Việt Nam. Ở cấp độ quốc tế, phạm vi của khái niệm Spratly Islands vẫn chưa được xác định rõ và đang trong vòng tranh cãi. Ở cấp độ quốc gia cũng có các cách hiểu khác nhau. Tuy Đài Loan, Trung Quốc và Việt Nam trên danh nghĩa đều tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo, nhưng khái niệm quần đảo Nam Sa trong nhận thức của Đài Loan và Trung Quốc là bao hàm toàn bộ các thực thể địa lý nằm bên trong phần phía nam của đường chín đoạn. Đối với Philippines, phạm vi tuyên bố chủ quyền của nước này bao trùm hầu hết quần đảo và được gọi là Nhóm đảo Kalayaan. Về phần Malaysia, nước này đòi hỏi một số thực thể ở phía nam của quần đảo. Cuối cùng, chưa rõ Brunei đòi hỏi cụ thể thực thể địa lý nào vì chỉ thấy nước này đưa ra yêu sách về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa mà trong vùng đó có vài thực thể thuộc biển Đông.

Tại Hội nghị San Francisco năm 1951 về việc phân định các lãnh thổ hải đảo mà Đế quốc Nhật Bản từng chiếm giữ, quần đảo Trường Sa là đối tượng tuyên bố chủ quyền của nhiều bên tranh chấp: Liên hiệp Pháp, Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Malaysia và Indonesia. Kết quả là Hội nghị không công nhận chủ quyền của quốc gia nào, quần đảo này được coi là vô chủ và càng gây ra tranh chấp dữ dội hơn sau này.

Tất cả những nước tham gia tranh chấp này, trừ Brunei, đều có quân đội đồn trú tại nhiều căn cứ trên các đảo nhỏ và đá ngầm khác nhau. Năm 1956, Đài Loan chiếm giữ đảo Ba Bình. Đầu thập niên 1970, Philippines chiếm 7 đảo và rạn đá phía đông quần đảo. Tháng 3 năm 1988, Việt Nam và Trung Quốc đụng độ quân sự tại ba rạn đá là Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao. Tháng 2 năm 1995 và tháng 11 năm 1998, giữa Trung Quốc và Philippines đã hai lần bùng phát căng thẳng chính trị do hành động giành và củng cố quyền kiểm soát đá Vành Khăn của phía Trung Quốc. Dù rằng Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển đã ra đời nhằm xác định các vấn đề về ranh giới trên biển nhưng bản thân Công ước không có điều khoản nào quy định cách giải quyết các tranh chấp về chủ quyền đối với đảo.

Spelaeomys florensis

Spelaeomys florensis là một loài động vật có vú trong họ Chuột, bộ Gặm nhấm. Loài này được Hooijer mô tả năm 1957.

Stegodon

Stegodon (có nghĩa là "răng mái" trong tiếng Hy Lạp từ stegein στέγειν 'để che' và 'răng ὀδούς odous'), là một chi đã tuyệt chủng thuộc phân họ Stegodontinae, bộ Proboscidea. Nó đã được xếp vào họ Elephantidae (Abel, 1919), nhưng cũng đã được xếp vào họ Stegodontidae (RL Carroll, 1988). Stegodonts sống đa số ở châu Á trong thế Pliocen và Pleistocen (11.6 triệu năm đến 11.000 năm trước đây).

Thế Pleistocen

Thế Pleistocen hay thế Canh Tân là một thế địa chất, từng được tính từ khoảng 1.806.000 tới 11.550 năm trước ngày nay, tuy nhiên kể từ ngày 30-6-2009, IUGS đã phê chuẩn đề nghị của ICS về việc kéo lùi thời điểm bắt đầu của thế này về 2,588±0,005 triệu năm để bao gồm cả tầng Gelasia. Thế Pleistocen là thế được tạo ra có chủ định để bao trùm thời kỳ gần đây nhất của các chu kỳ băng giá lặp đi lặp lại. Tên gọi pleistocen có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp πλεῖστος (pleistos "nhất, hơn cả") và καινός (kainos "mới").

Thế Pleistocen diễn ra sau thế Pliocen và ngay sau nó là thế Holocen. Thế Pleistocen là thế thứ ba trong kỷ Neogen hay thế thứ sáu của đại Tân Sinh. Sự kết thúc của thế Pleistocen tương ứng với sự kết thúc của thời kỳ đồ đá cũ được sử dụng trong khảo cổ học.

Thế Pleistocen được phân chia thành Pleistocen sớm, Pleistocen giữa và Pleistocen muộn còn trong thời địa tầng học thì nó bao gồm các bậc hay tầng động vật như tầng Gelasia, tầng Calabria, tầng Ionia và tầng Tarantia.

Thời kỳ băng hà

Thời kỳ băng hà hay còn gọi là thời kỳ đóng băng là một giai đoạn trong kỷ băng hà mà trong đó nhiệt độ lạnh hơn và băng phát triển nhiều hơn. Ngược lại, gian băng là các giai đoạn khí hậm ấm hơn trong kỷ băng hà, làm băng tan chảy.

Kỷ băng hà hiện tại diễn ra từ thời kỳ cuối của thế Pleistocen, từ ≈110 đến 10 Ka BP (Ka BP: Kilo annum before present, ngàn năm trước đây).Thời kỳ băng hà cuối cùng được coi là đạt cực đại vào 18 Ka BP, và kết thúc vào 10 Ka BP, nhưng theo Severinghaus et al. (1999) thì là đạt cực đại vào 20 Ka BP, và kết thúc vào 15 Ka BP. Thế Holocen mà chúng ta đang sống là một giai đoạn gian băng.

Tuyệt chủng Holocen

Tuyệt chủng Holocen, đôi khi còn được gọi là Tuyệt chủng lần thứ 6, là tên gọi được đề xuất để chỉ sự kiện tuyệt chủng của các loài đang diễn trong thế Holocene (từ khoảng 10.000 TCN). Một số lượng lớn các họ động và thực vật đã tuyệt chủng gồm động vật có vú, chim, lưỡng cư, bò sát và động vật chân đốt. Có khoảng 875 loài tuyệt chủng trong khoảng giữa 1500 và 2009 đã được Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế ghi nhận, trong khi đó phần lớn hơn là không được ghi nhận. Theo thuyết diện tích loài và dựa trên ước tính ràng buộc, tốc độ tuyệt chủng hiện nay có thể lên đến 140.000 loài mỗi năm.Tuyệt chủng Holocen bao gồm sự biến mất của các loài thú lớn bắt đầu từ 9.000 đến 13.000 năm trước đây, vào cuối thời kỳ băng hà cuối cùng. Điều này có thể là do sự tuyệt chủng của voi ma mút đã duy trì đồng cõ trở thành các khu rừng bạch dương mà không có voi ma mút. Các cánh rừng mới và kết quả của các vụ cháy rừng có thể bao gồm cả biến đổi khí hậu. Sự biến mất này có thể là kết quả của sự bùng nổ dân số loài người hiện đại dẫn đến sự biến đổi khí hậu. Sự tuyệt chủng này xuất hiện gần ranh giới địa chất giữa Pleistocene–Holocene đôi khi được gọi là sự kiện tuyệt chủng Đệ Tứ. Sự kiện tuyệt chủng Holocen vẫn đang diễn ra.

Không có sự đồng thuận nào về việc liệu có xem sự tuyệt chủng này là một phần của tuyệt chủng trong Đệ Tứ, hoặc chỉ là kết quả do những thay đổi mà con người gây ra hay không. Chỉ trong suốt thời gian gần đây nhất của sự tuyệt chủng, thực vật cũng chịu số phận tương tự Nhìn chung, tuyệt chủng Holocen có thể đặc trưng bởi những tác động từ các hoạt động con người hiện tại.

Tương lai của Trái Đất

Tương lai của Trái Đất về mặt sinh học và địa chất có thể được ngoại suy dựa trên việc ước lượng những tác động trong dài hạn của một số yếu tố, bao gồm thành phần hóa học của bề mặt Trái Đất, tốc độ nguội đi ở bên trong của nó, những tương tác trọng lực với các vật thể khác trong hệ Mặt Trời, và sự tăng dần lên trong độ sáng của Mặt Trời. Nhân tố bất định trong phép ngoại suy này là ảnh hưởng liên tục của những công nghệ mà loài người phát minh ra, chẳng hạn như kỹ thuật khí hậu, có khả năng gây ra những thay đổi lớn tới Trái Đất. Sự kiện tuyệt chủng Holocen đang diễn ra là hậu quả của công nghệ và những tác động của nó có thể kéo dài tới năm triệu năm. Từ đó, công nghệ có khả năng sẽ dẫn đến sự tuyệt chủng của loài người, để hành tinh quay trở lại nhịp độ tiến hóa chậm hơn chỉ nhờ vào những quá trình tự nhiên diễn ra một cách lâu dài.Giữa những khoảng thời gian dài tới hàng trăm triệu năm, các sự kiện vũ trụ ngẫu nhiên có khả năng đe dọa tới sinh quyển của Trái Đất trên quy mô toàn cầu và thậm chí gây tuyệt chủng hàng loạt. Chúng bao gồm những sự va chạm với sao chổi hoặc tiểu hành tinh có bán kính từ 5–10 km (3,1–6,2 mi) trở lên, và một vụ nổ siêu tân tinh xảy ra trong vòng bán kính 100 năm ánh sáng tính từ Mặt Trời (được gọi là siêu tân tinh gần Trái Đất. Các sự kiện địa chất quy mô lớn khác thì dễ dự đoán hơn. Nếu bỏ qua tác động lâu dài của sự ấm lên toàn cầu, học thuyết Milankovitch dự đoán rằng Trái Đất sẽ tiếp tục trải qua các thời kỳ băng hà ít nhất là cho đến khi kỷ băng hà Đệ tứ kết thúc. Điều này là kết quả của độ lệch tâm quỹ đạo, độ nghiêng trục quay và tiến động của quỹ đạo Trái Đất. Trong chu kỳ biến đổi của các siêu lục địa (chu kì siêu lục địa) đang tiếp diễn, hoạt động kiến tạo mảng có khả năng sẽ tạo nên một siêu lục địa sau 250–350 triệu năm. Trong khoảng 1,5–4,5 tỉ năm tới, độ nghiêng trục quay của Trái Đất có thể sẽ bắt đầu thay đổi một cách hỗn loạn với độ chênh lệch lên tới 90° so với hiện tại.

Trong suốt 4 tỉ năm tới, độ sáng của Mặt Trời sẽ ngày càng tăng lên, làm gia tăng lượng phóng xạ Mặt Trời ảnh hưởng tới Trái Đất. Điều này đẩy nhanh tốc độ phong hóa của các khoáng vật silicat, làm giảm hàm lượng cacbon điôxít trong khí quyển. Trong vòng khoảng 600 triệu năm, hàm lượng CO2 sẽ là không đủ để các thực vật C3 tiếp tục quang hợp. Mặc dù một số các thực vật khác sử dụng phương pháp cố định cacbon C4 vẫn có thể quang hợp với hàm lượng CO2 thấp tới 10 phần triệu, trong dài hạn toàn bộ thực vật vẫn sẽ không thể sống sót. Sự tuyệt chủng của thực vật, thành phần chủ chốt trong chuỗi thức ăn trên Trái Đất, cũng sẽ làm cho hầu hết các loài động vật diệt vong.Trong vòng 1,1 tỉ năm tới, mặt trời sẽ sáng hơn 10% so với hiện tại. Điều này khiến cho hiệu ứng nhà kính trong khí quyển Trái Đất không ngừng gia tăng và các đại dương sẽ dần bay hơi hết. Do đó, hoạt động kiến tạo mảng sẽ dừng lại và chu trình cacbon cũng chấm dứt theo. Kết quả là Trái Đất sẽ mất đi từ trường và từ quyển, làm gia tăng tốc độ mất vật chất trong khí quyển vào không gian. Đến thời điểm đó, hầu hết hoặc tất cả sự sống trên Trái Đất sẽ không còn tồn tại. Kết cục nhiều khả năng xảy ra nhất là Trái Đất sẽ bị Mặt Trời nuối chửng vào khoảng 7,5 tỉ năm tới, khi nó đã trở thành một sao khổng lồ đỏ và nở rộng ra tới quỹ đạo Trái Đất.

Voi ma mút

Chi Voi ma mút hay chi Voi lông dài (danh pháp khoa học: Mammuthus) là một chi voi cổ đại đã bị tuyệt chủng. Tồn tại ở thế Pliocen, vào khoảng 4,8 triệu năm đến 4.500 năm trước. Có đặc điểm lông dài (xấp xỉ 50 cm), rậm (hơn so với voi hiện tại), ngà dài và cong (hoá thạch ở Xibia có ngà dài 3,5 m), răng voi ma mút rất dài, cong quặp vào trong, dài nhất tới 5 cm, chân sau ngắn nên trọng tâm toàn thân nghiêng về phía sau, vai nhô cao. Chân chỉ có 4 ngón (kém 1 ngón so với voi hiện nay), da dày. Voi ma mút có răng lớn, sắc cạnh, thích hợp cho nghiền nát cỏ. Vòi của voi ma mút có hai chỗ lồi giống như ngón tay, một ở phía trước và một ở phía sau, giúp chúng dễ dàng túm lấy cỏ. Da màu đen, nâu và nâu đỏ, lông vàng, cao từ 3 đến 3,3 m.

Voi ma mút lùn

Voi ma mút lùn (danh pháp hai phần: Mammuthus exilis) là hậu duệ bị lùn hóa của voi ma mút, có thể là của Mammuthus columbi, tức voi ma mút Columbia. M. exilis đã sinh sống trên các đảo ven biển của California như đảo Santa Cruz, đảo Santa Rosa và đảo San Miguel. Những con voi ma mút tổ tiên của chúng có lẽ đã bơi qua eo biển Santa Barbara vào khoảng 20.000 năm trước đây. Vào thời gian đó, ba đảo này cùng với đảo Anacapa đã tạo thành một khu vực đất đai duy nhất gọi là Santa Rosae do mực nước biển xuống thấp.

M. exilis cao khoảng 120–240 cm (4–8 ft).

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.