Thượng Ai Cập

Thượng Ai Cập (tiếng Ả Rập: صعيد مصر‎ Sa'id Misr) là dải đất liền, trên cả hai mặt của thung lũng sông Nile, kéo dài từ Nubia, và ở phía hạ lưu (phía bắc) Hạ Ai Cập.

Địa lý

Thượng Ai Cập nằm xen giữa các nhánh của sông Nile ở Aswan ngày nay, và nằm ở phía hạ lưu sông Nile hay phía Bắc của một khu vực giữa Zawyet Dahshur và El-Ayait, Ngày nay Thượng Ai Cập nằm ở phía nam của thủ đô Cairo. Phía Bắc Thượng Ai Cập (hạ lưu sông Nile) nằm giữa Sohag và El-Ayait, còn được gọi là Trung Ai Cập. Trong tiếng Ả Rập, cư dân của Thượng Ai Cập được gọi là Sa'idis, họ thường nói tiếng Ả Rập Sa'idi.

Trong thời đại Pharaoh, Thượng Ai Cập đã được biết đến với tên gọi Ta Shemau có nghĩa là "đất của lau sậy". Nó được chia thành 22 quận, huyện được gọi là nomes. Nome đầu tiên xuất hiện trong thời kỳ AswanVương triều thứ 22, ngày nay là Atfih (Aphroditopolis), phía nam Cairo.

Danh sách các nhà cai trị Thượng Ai Cập

Hedjet
Biểu tượng của Thượng Ai Cập - Hedjet

Danh sách vua sau có thể không hoàn toàn đầy đủ:

Tên Hình ảnh Ghi chú Thời gian
Voi End of 4th millennium BC
Trâu 4th millennium BC
Scorpion I Oldest tomb at Umm el-Qa'ab had scorpion insignia c. 3200 TCN?
Iry-Hor
Iry Hor name
Possibly the immediate predecessor of Ka. c. 3150 TCN?
Ka[1][2]
Ka vessel
May be read Sekhen rather than Ka. Possibly the immediate predecessor of Narmer. c. 3100 TCN
Scorpion II
Kingscorpion
Potentially read Serqet; possibly the same person as Narmer. c. 3150 TCN
Narmer
NarmerPalette-CloseUpOfNarmer-ROM
The king who combined Upper and Lower Egypt.[3] c. 3150 TCN

Danh sách các nome

Upper Egypt Nomes
Bản đồ của Thượng Ai Cập
Số thứ tự Tên bằng tiếng Ai Cập Thủ đô Thành phố hiện nay Chuyển ngữ
1 Ta-Seti Abu / Yebu (Elephantine) Aswan Land of the Bow
2 Wetjes-Hor Djeba (Apollonopolis Magna) Edfu Throne of Horus
3 Nekhen Nekhen (Hierakon polis) al-Kab Shrine
4 Waset Niwt-rst / Waset (Thebes) Karnak Sceptre
5 Harawî Gebtu (Coptos) Qift Two Falcons
6 Aa-ta Iunet / Tantere (Tentyra) Dendera Crocodile
7 Seshesh Seshesh (Diospolis Parva) Hu Sistrum
8 Abdju Abdju (Abydos) al-Birba Great Land
9 Min Apu / Khen-min (Panopolis) Akhmim Min
10 Wadjet Djew-qa / Tjebu (Aphroditopolis) Edfu Cobra
11 Set Shashotep (Hypselis) Shutb Set animal
12 Tu-ph Hut-Sekhem-Senusret (Antaeopolis) Qaw al-Kebir Viper Mountain
13 Atef-Khent z3wj-tj (Lycopolis) Asyut Upper Sycamore and Viper
14 Atef-Pehu Qesy (Cusae) al-Qusiya Lower Sycamore and Viper
15 Wenet Khemenu (Hermopolis) Hermopolis Hare[4]
16 Ma-hedj Herwer? Hur? Oryx[4]
17 Anpu Saka (Cynopolis) al-Kais Anubis
18 Sep Teudjoi / Hutnesut (Alabastronopolis) el-Hiba Set
19 Uab Per-Medjed (Oxyrhynchus) el-Bahnasa Two Sceptres
20 Atef-Khent Henen-nesut (Heracleopolis Magna) Ihnasiyyah al-Madinah Southern Sycamore
21 Atef-Pehu Shenakhen / Semenuhor (Crocodilopolis, Arsinoë) Faiyum Northern Sycamore
22 Maten Tepihu (Aphroditopolis) Atfih Knife

Xem thêm

Đọc thêm

  • Edel, Elmar (1961) Zu den Inschriften auf den Jahreszeitenreliefs der "Weltkammer" aus dem Sonnenheiligtum des Niuserre Vandenhoeck & Ruprecht, Göttingen, OCLC 309958651, in German.

Chú thích

  1. ^ Rice 1999, tr. 86.
  2. ^ Wilkinson 1999, tr. 57f.
  3. ^ Shaw 2000, tr. 196.
  4. ^ a ă Grajetzki (2006), tr. 109–111

Tham khảo

  • Ballais, Jean-Louis (2000). “Conquests and land degradation in the eastern Maghreb”. Trong Graeme Barker & David Gilbertson. Sahara and Sahel. The Archaeology of Drylands: Living at the Margin. Vol. 1, Part III. London: Routledge. tr. 125–136. ISBN 978-0-415-23001-8.
  • Bard, Katheryn A.; Shubert, Steven Blake (1999). Encyclopedia of the Archaeology of Ancient Egypt. London: Routledge. ISBN 0-415-18589-0.
  • Brice, William Charles (1981). An Historical Atlas of Islam. Leiden: Brill. ISBN 90-04-06116-9. OCLC 9194288.
  • Chauveau, Michel (2000). Egypt in the Age of Cleopatra: History and Society Under the Ptolemies. Ithaca, NY: Cornell University Press. ISBN 0-8014-3597-8.
  • David, Ann Rosalie (1975). The Egyptian Kingdoms. London: Elsevier Phaidon. OCLC 2122106.
  • Ermann, Johann Peter Adolf; Grapow, Hermann (1982). Wörterbuch der Ägyptischen Sprache [Dictionary of the Egyptian Language] (bằng tiếng Đức). Berlin: Akademie. ISBN 3-05-002263-9.
  • Grajetzki, Wolfram (2006). The Middle Kingdom of ancient Egypt: History, Archaeology and Society. London: Duckworth Egyptology. ISBN 978-0-7156-3435-6.
  • Rice, Michael (1999). Who's Who in Ancient Egypt. London: Routledge. ISBN 978-0-415-15449-9.
  • Roebuck, Carl (1966). The World of Ancient Times. New York, NY: Charles Scribner's Sons Publishing.
  • Shaw, Ian (2000). The Oxford History of Ancient Egypt. Oxford, UK: Oxford University Press. ISBN 978-0-19-280458-7.
  • Wilkinson, Toby A. H. (1999). Early Dynastic Egypt. London: Routledge. ISBN 0-415-18633-1.
Ai Cập cổ đại

Ai Cập cổ đại là một nền văn minh cổ đại nằm ở Đông Bắc châu Phi, tập trung dọc theo hạ lưu của sông Nile thuộc khu vực ngày nay là đất nước Ai Cập. Đây là một trong sáu nền văn minh phát sinh một cách độc lập trên thế giới. Nền văn minh Ai Cập được thống nhất lại vào năm 3150 TCN (theo trình tự thời gian của bảng niên đại Ai Cập) với sự thống nhất chính trị của Thượng và Hạ Ai Cập dưới thời vị pharaon đầu tiên (Narmer, thường được gọi là Menes). Lịch sử của Ai Cập cổ đại đã trải qua một loạt các thời kỳ vương quốc ổn định, và các giai đoạn hỗn loạn giữa chúng được gọi là các giai đoạn chuyển tiếp: Cổ Vương quốc thời kỳ Sơ kỳ Đồ đồng, Trung Vương quốc tương ứng giai đoạn Trung kỳ Đồ Đồng và Tân Vương quốc ứng với Hậu kỳ Đồ đồng.

Ai Cập đạt đến đỉnh cao của quyền lực vào giai đoạn Tân Vương quốc, trong thời kỳ Ramesside, vào thời điểm đó nó sánh ngang với đế quốc Hittite, đế quốc Assyria và đế chế Mitanni, trước khi bước vào giai đoạn dần suy yếu. Ai Cập đã bị xâm chiếm hoặc chinh phục bởi một loạt các cường quốc nước ngoài, chẳng hạn như người Canaan/Hyksos, Lybia, người Nubia, Assyria, Babylon, Ba Tư dưới triều đại Achaemenid, và người Macedonia trong Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Ba và cuối thời kỳ Ai Cập cổ đại. Sau khi Alexander Đại Đế qua đời, một trong những tướng lĩnh của ông, Ptolemy I Soter, đã tuyên bố ông là vị vua mới của Ai Cập. Triều đại Ptolemy gốc Hy Lạp này đã cai trị Ai Cập cho đến năm 30 TCN khi nó rơi vào tay đế quốc La Mã và trở thành một tỉnh La Mã.Sự thành công của nền văn minh Ai Cập cổ đại một phần đến từ khả năng thích ứng của nó với các điều kiện của thung lũng sông Nile cho sản xuất nông nghiệp. Từ việc có thể dự đoán trước lũ lụt và việc điều tiết thủy lợi ở khu vực thung lũng màu mỡ đã tạo ra nhiều nông sản dư thừa, giúp nuôi dưỡng một lượng dân số đông hơn, tạo điều kiện phát triển xã hội và văn hóa. Với việc có nhiều nguồn lực dư thừa, nhà nước đã tập trung vào việc khai thác khoáng sản ở các thung lũng và các khu vực sa mạc xung quanh, cũng như việc sớm phát triển một hệ thống chữ viết độc lập, tổ chức xây dựng tập thể và các dự án nông nghiệp, thương mại với khu vực xung quanh, và xây dựng một đội quân nhằm mục đích đánh bại kẻ thù nước ngoài và khẳng định sự thống trị của Ai Cập. Thúc đẩy và tổ chức những hoạt động này là một bộ máy quan lại gồm các ký lục ưu tú, những nhà lãnh đạo tôn giáo, và các quan lại dưới sự kiểm soát của một pharaon, người đảm bảo sự hợp tác và đoàn kết của toàn thể người dân Ai Cập dưới một hệ thống tín điều tôn giáo tinh vi.Những thành tựu của người Ai Cập cổ đại bao gồm khai thác đá, khảo sát và kỹ thuật xây dựng hỗ trợ cho việc xây dựng các công trình kim tự tháp, đền thờ, và cột tháp tưởng niệm; một hệ thống toán học, một hệ thống thực hành y học hiệu quả, hệ thống thủy lợi và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, những tàu thủy đầu tiên được biết đến trên thế giới, công nghệ gốm sứ và thủy tinh của Ai Cập, những thể loại văn học mới, và các hiệp ước hòa bình được biết đến sớm nhất, được ký kết với người Hittite. Ai Cập đã để lại một di sản lâu dài. Nghệ thuật và kiến ​​trúc của nó đã được sao chép rộng rãi, và các cổ vật của nó còn được đưa tới khắp mọi nơi trên thế giới. Những tàn tích hùng vĩ của nó đã truyền cảm hứng cho trí tưởng tượng của du khách và nhà văn trong nhiều thế kỷ. Sự quan tâm mới hình thành dành cho những cổ vật và các cuộc khai quật trong thời kỳ cận đại ở châu Âu và Ai Cập dẫn đến việc khai sinh ra ngành Ai Cập học để nghiên cứu nền văn minh Ai Cập và một sự đánh giá đúng đắn hơn đối với di sản văn hóa của nó.

Anput

Anput, còn được gọi là Input, Anupet hay Inpew, là một nữ thần trong văn hóa Ai Cập cổ đại. Bà là hiện thân của thần tang lễ Anubis, và đồng thời cũng là vợ của Anubis. Theo thần thoại, nữ thần Kebechet, người đảm nhiệm vai trò thanh tẩy thi hài người chết, là con gái của hai vị thần này.

Anput được mô tả là một người phụ nữ, trên đầu đội biểu tượng của một con chó rừng giữ lấy một con dao. Ít khi Anput xuất hiện dưới hình dạng người phụ nữ với đầu của chó rừng. Cũng như Anubis, Anput có vai trò bảo vệ những linh hồn của người đã chết. Bà hiếm khi được nhắc đến ngoại trừ tại nome thứ 17 của Thượng Ai Cập, là nơi được nữ thần bảo hộ.

Anput xuất hiện trên bức tượng của pharaon Menkaure cùng với nữ thần Hathor, và đây có lẽ là ví dụ đáng để ý nhất của Anput.

Apepi (Vương triều thứ 15)

Apepi (cũng là Ipepi; Tiếng Ai Cập ipp(i)) hoặc Apophis (tiếng Hy Lạp: Ἄποφις; tên trị vì Neb-khepesh-Re, A-qenen-Re và A-user-Re) là một vị vua của Hạ Ai Cập dưới thời vương triều thứ 15 và vào giai đoạn cuối thời kỳ Chuyển tiếp Thứ Hai mà vốn bị thống trị bởi vương triều của các vị vua ngoại quốc được gọi là người Hyksos. Theo bản danh sách vua Turin, ông đã cai trị phần phía Bắc của Ai Cập trong 40 năm. Ông đã trị vì trong giai đoạn nửa đầu của thế kỷ thứ 16 TCN và đã sống lâu hơn kình địch ở miền Nam của mình là Kamose, nhưng không lâu hơn Ahmose I. Mặc dù triều đại của ông chỉ giới hạn ở phía Bắc Ai Cập, Apepi đã chi phối gần như toàn bộ Ai Cập trong giai đoạn đầu triều đại của mình, và đã giao thương một cách hòa bình với vương triều thứ 17 của Thebes ở phía Nam.Trong giai đoạn đầu triều đại của mình, ông có thể đã áp đặt quyền bá chủ đối với Thượng Ai Cập, nhưng cuối cùng vương triều thứ 17 đã nắm được quyền kiểm soát đối với vùng đất này, và người Hyksos đã bị đánh đuổi khỏi Ai Cập chỉ trong vòng chưa đầy 15 năm sau khi ông qua đời.Kamose, vị vua cuối cùng của vương triều thứ 17 ở Thebes, nhắc tới Apepi như là một "Thủ lĩnh của Retjenu" trong một tấm bia đá nhằm ngụ ý về gốc gác Canaan dành cho vị vua Hyksos này.

Djedankhre Montemsaf

Djedankhre Montemsaf là một vị vua người Thebes của vương triều thứ 16 nằm ở Thượng Ai Cập trong Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Hai vào khoảng năm 1590 TCN. Như vậy ông sẽ cai trị đồng thời với vương triều thứ 15 mà kiểm soát miền Trung và Hạ Ai Cập.

Hedjet

Hedjet, hay Vương miện Trắng, là vương miện đội đầu của các pharaon cai trị Thượng Ai Cập. Đây cũng là miện của nữ thần kền kền Nekhbet, người bảo trợ của Thượng Ai Cập. Sau khi Ai Cập thống nhất, Hedjet cùng với Vương miện Đỏ Deshret hợp lại thành vương miện Pschent, hay còn gọi là Vương miện Kép.

Hạ Ai Cập

Hạ Ai Cập (tiếng Ả Rập: الدلتا‎ al-Diltā) là phần cực bắc nhất của Ai Cập. Nó dùng để chỉ các khu vực màu mỡ của đồng bằng sông Nin, trải dài từ khu vực giữa Thượng Ai Cập và Địa Trung Hải - từ El-Aiyat phía nam của Cairo ngày nay, và Zawyet Dahshur.

Ka (pharaông)

Ka, còn gọi là Sekhem Ka, là pharaông Thượng Ai Cập thời Tiền triều đại thuộc triều 0. Ka có thể trị vì ở Abydos vào cuối thế kỷ 32 hoặc đầu thế kỷ 31 TCN. Chiều dài của triều đại của ông là không rõ. Ông được xem là người kế vị của Iry-Hor và là tiên vương của Narmer. Thông qua nhiều hiện vật, ông được xem là vua Ai Cập đầu tiên có tên serekh. Ông qua đời khoảng năm 3100 TCN và được mai táng ở Umn el-Qa'ab.

Menkauhor Kaiu

Menkauhor Kaiu (còn được gọi là Ikauhor, tiếng Hy Lạp cổ là Mencherês, Μεγχερῆς) là một vị pharaon của Ai Cập cổ đại thuộc thời kỳ Cổ vương quốc. Ông là vị vua thứ bảy của Vương triều thứ Năm, triều đại của ông tồn tại vào khoảng cuối thế kỷ 25 hoặc đầu thế kỷ 24 TCN.

Menkauhor có thể đã trị vì tám hoặc chín năm, ông đã kế vị vua Nyuserre Ini, và sau này được Djedkare Isesi kế vị. Mặc dù Menkauhor đã được chứng thực thông qua các ghi chép lịch sử, chỉ còn sót lại rất ít các hiện vật có niên đại thuộc về vương triều của ông cho đến ngày nay. Bởi vậy, mối quan hệ huyết thống của ông với vị vua tiền nhiệm và vị vua kế nhiệm hiện vẫn chưa rõ ràng, và cũng chưa có bất cứ người con nào của ông được biết đến. Khentkaus III có thể là thân mẫu của Menkauhor, theo như những bằng chứng được phát hiện trong ngôi mộ của bà vào năm 2015.

Ngoài việc xây dựng các công trình kiến trúc, chúng ta chỉ biết được duy nhất một hoạt động đã diễn ra dưới vương triều của Menkauhor đó là một cuộc viễn chinh đến các mỏ đồng và ngọc lam ở Sinai. Menkauhor đã ra lệnh xây dựng một ngôi đền mặt trời, được gọi là "Akhet-Ra" nghĩa là "Chân Trời của Ra". Đây là ngôi đền mặt trời cuối cùng được xây dựng, tuy nhiên ngôi đền này chỉ được nhắc đến thông qua các dòng chữ khắc được tìm thấy trong những ngôi mộ thuộc về các vị tư tế của nó, vị trí của nó cũng chưa được xác định. Menkauhor đã được chôn cất trong một kim tự tháp nhỏ ở Saqqara, nó được người Ai Cập cổ đại gọi tên là Netjer-Ipet Menkauhor, "Ngôi nhà thiêng liêng của Menkauhor". Ngày nay, nó được biết đến với tên gọi là Kim tự tháp không đầu, tàn tích của nó đã bị cát vùi lấp cho đến khi được phát hiện lại vào năm 2008.

Menkauhor còn là hình tượng trung tâm của một sự thờ cúng tang lễ tồn tại lâu dài cho đến tận giai đoạn cuối thời kỳ Cổ vương quốc, với ít nhất bảy điền trang nông nghiệp sản xuất các hàng hoá cho các nghi lễ hiến tế cần thiết. Menkauhor được thờ cúng như một vị thần, được biết đến với danh hiệu "Vị Thần hùng mạnh của Hai vùng đất, Menkauhor Công Bằng" đã lặp lại trong suốt thời kỳ Tân Vương quốc (khoảng 1550 - 1077 TCN), và kéo dài ít nhất là cho đến vương triều thứ Mười Chín (khoảng năm 1292 - khoảng năm 1077 TCN), khoảng 1200 năm sau khi ông qua đời.

Merkawre Sobekhotep

Merkawre Sobekhotep (còn được biết đến là Sobekhotep VII) là vị pharaon thứ 37 của vương triều thứ 13 trong thời kỳ Chuyển tiếp thứ Hai. Ông có lẽ đã cai trị toàn bộ miền Trung Ai Cập và có thể là cả Thượng Ai Cập vào giai đoạn giữa thế kỷ thứ XVII TCN từ năm 1664 TCN cho đến năm 1663 TCN. Ngoài ra, nhà Ai Cập học người Đức Thomas Schneider xác định niên đại cho triều đại của vị vua cai trị ngắn ngủi này là từ năm 1646 TCN cho tới năm 1644 TCN

Merkheperre

Merkheperre là một pharaoh Ai Cập thuộc giai đoạn cuối của Vương triều thứ 13 trong thời kỳ Chuyển Tiếp thứ Hai, ông cai trị trong khoảng thời gian từ năm 1663 TCN và 1649 TCN. Như vậy Merkheperre sẽ cai trị Thượng Ai Cập từ Thebes hoặc Trung và Thượng Ai Cập từ Memphis. Vào thời điểm đó, khu vực miền đông châu thổ sông Nile nằm dưới sự thống trị của vương triều thứ 14.

Nekhbet

Nekhbet (hay Nekhebet, Nechbet) là nữ thần trong thần thoại Ai Cập cổ đại, người bảo trợ cho vùng Thượng Ai Cập. Nekhbet và Wadjet là 2 nữ thần xuất hiện trong tên Nebty (tên "Hai quý bà") của một pharaoh.

Bà còn được gọi là Hedjet, tức "Vương miện trắng" (loại vương miện của Thượng Ai Cập). Thành phố Nekheb cũng được đặt theo tên của vị nữ thần này. Sau khi Ai Cập thống nhất, bà cùng Nekhbet trở thành 2 vị nữ thần bảo vệ của Ai Cập. Ngoài ra, cả 2 cũng có nhiệm vụ bảo vệ cho các pharaoh, các bà mẹ và những đứa trẻ.

Osorkon II

Usermaatre Setepenamun Osorkon II là một pharaon cai trị thuộc Vương triều thứ 22 trong lịch sử Ai Cập cổ đại. Niên đại trị vì của ông kéo dài hơn 30 năm (872 – 837 TCN), nhiều hơn so với triều đại 13 năm của cha ông, Takelot I.

Sau khi kế vị Takelot I, Osorkon II đã phải đối mặt với vua Harsiese A (cháu nội của Osorkon I, tức anh em họ với Osorkon II), người nắm quyền kiểm soát Thượng Ai Cập và các ốc đảo ở sa mạc phía tây. Osorkon lo sợ Harsiese sẽ là mối đe dọa đến ngai vàng của ông, nhưng Harsiese đã mất vào năm 860 TCN, khiến mối lo này đã bị xóa bỏ.

Để đảm bảo việc này không tái diễn một lần nào nữa, Osorkon II đã đưa con trai mình, hoàng tử Nimlot C làm Đại tư tế Amun kết tiếp của tại Thebes. Osorkon cũng đã phong cho hai hoàng tử khác chức danh Đại tư tế nhằm củng cố quyền lực của nhà vua trên vùng Thượng Ai Cập: Đại tư tế Ptah Shoshenq D tại Memphis và Đại tư tế Amun Hornakht tại kinh đô Tanis.

Scorpion I

Scorpion I, hay Serket là vua Thượng Ai Cập thời Tiền Triều đại. Tên ông được đặt theo tên nữ thần bò cạp Serket. Ông được tin là đã trị vì ở Thinis trong khoảng 1 hoặc 2 thế kỷ trước vua Scorpion II xứ Nekhen.

Dưới thời Scorpion I, Thượng Ai Cập đã rất phát triển. Người ta khai quật ngôi mộ của ông ở Abydos thì tìm thấy khá nhiều chiếc ngà có đục lỗ để treo vật vào. Chữ khắc trên ngà cho thấy một cuộc xâm lăng của Scorpion vào một thành phố (thông qua việc "mở đường vào thành phố"). Hai trong số những chiếc ngà có khắc tên 2 thành phố đầu tiên là Buto và Delta Base, cho thấy đội quân của ông đã thâm nhập vào đồng bằng sông Nile. Cũng dưới thời ông, Ai Cập là nơi tiêu thụ rất nhiều rượu vang. Trong một cuộc tìm kiếm trên ngôi mộ của ông, các nhà khảo cổ phát hiện hàng chục bình gốm nhập khẩu có chứa dư lượng vàng phù hợp với rượu vang, có niên đại khoảng 3150 TCN. Trong hạt nho, da và bột giấy khô cũng đã được tìm thấyGần đây, một bức vẽ trên tường có niên đại 5.000 năm tuổi được phát hiện bởi John Darnell của Đại học Yale, cho thấy những biểu tượng của Scorpion và mô tả chiến thắng của mình trước những người cai trị tiền Triều đại khác. Địa điểm nơi vua đánh bại địch thủ có tên "Bull Head".

Seankhenre Mentuhotepi

Seankhenre Mentuhotepi là một pharaon của Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Hai của Ai Cập. Theo nhà Ai Cập học Kim Ryholt và Darrell Baker, ông là vị vua thứ năm của Vương triều thứ 16 trị vì ở khu vực ở Thượng Ai Cập. Niên đại trị vì từ 1628 - 1627 TCN.

Trái lại, Jürgen von Beckerath xếp ông vào những nhà cai trị của Vương triều thứ 17 trong những nghiên cứu trước đây.

Senakhtenre Ahmose

Senakhtenre Ahmose là vị vua thứ bảy thuộc Vương triều thứ 17 trong Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Hai của Ai Cập. Ông cai trị Thebes của Thượng Ai Cập trong một thời gian ngắn (có lẽ vài tháng đến 1 năm) khi người Hyksos chiếm đóng Hạ Ai Cập. Senakhtenre có thể mất vào năm 1558 TCN hoặc 1560 TCN.

Takelot II

Hedjkheperre Setepenre Takelot II Si-Ese là một pharaon thuộc Vương triều thứ 23 trong lịch sử Ai Cập cổ đại. Takelot II lên ngôi trong thời kỳ Ai Cập bị chia cắt và chỉ nắm quyền kiểm soát Trung và Thượng Ai Cập. Phần lớn các nhà Ai Cập học đều cho rằng, niên đại của ông bắt đầu từ khoảng năm 850 đến 825 TCN.

Cả hai vị vua Takelot (I và II) đều sử dụng cùng một tên ngai: Hedjkheperre Setepenre. Tuy nhiên, chỉ có Takelot II là sử dụng tính ngữ Si-Ese (Con của Isis) trong tên gọi của mình.

Thượng và Hạ Ai Cập

Thượng và Hạ Ai Cập cũng được gọi là Hai Vùng Đất là tên của hai vùng đất sử dụng cho Ai Cập Cổ đại. Các khái niệm xuất hiện trong danh hiệu của Ai Cập, như Vua và Hoàng hậu và xuất hiện trong những cảnh trong ngôi đền, ngôi mộ và các kim tự tháp. Khái niệm cũng đề cập đến sự phân chia của hai vùng dất riêng ở Ai Cập cổ đại.Biểu hiện của Thượng và Hạ Ai Cập là sema-tawy thường được dịch là "Tên hiệu của Hai Vùng Đất" và đã được mô tả như một khí quản con người gắn liền với giấy cói và cây lily.

Thời kỳ Sơ triều đại của Ai Cập

Thời kỳ vương triều Cổ xưa hoặc Sơ kỳ vương triều của Ai Cập hay Thời kỳ Tảo Vương quốc bắt đầu ngay sau khi diễn ra sự thống nhất Hạ và Thượng Ai Cập vào khoảng năm 3100 TCN. Nó thường được ghi chép lại là gồm Vương triều thứ Nhất và Vương triều thứ Hai kéo dài từ thời kỳ Tiền Vương triều của Ai Cập cho đến khoảng năm 2686 TCN, hay thời điểm khởi đầu của Cổ vương quốc. Dưới vương triều thứ nhất, kinh đô được chuyển từ Thinis tới Memphis với một nhà nước Ai Cập thống nhất được cai trị bởi một vị thần-vua. Abydos vẫn giữ vai trò là vùng đất thánh quan trọng ở miền nam. Và những tiêu chuẩn của nền văn minh Ai Cập cổ đại, chẳng hạn như nghệ thuật, kiến ​​trúc và nhiều khía cạnh của tôn giáo, đã được hình thành trong giai đoạn Sơ kỳ vương triều.

Trong giai đoạn Sơ kỳ vương triều, và trong phần lớn lịch sử Ai Cập sau đó, đất nước Ai Cập được biết đến với tên gọi hai vùng đất. Các vị vua đã thiết lập nên một bộ máy chính quyền trung ương và bổ nhiệm các thống đốc hoàng gia. Những công trình kiến trúc của nhà nước thường là những ngôi đền bằng gỗ hoặc bằng đá sa thạch. Những chữ tượng hình đầu tiên đã xuất hiện ngay trước khi giai đoạn này bắt đầu, mặc dù có ít đều được biết đến về các ngôn ngữ nói mà chúng đại diện.

Trung Ai Cập

Trung Ai Cập (tiếng Ả Rập: مصر الوسطى‎ Misr al-Wista) là một phần đất giữa Hạ Ai Cập (châu thổ sông Nin) và Thượng Ai Cập, kéo dài từ thượng nguồn sông Nin phía bắc thành phố Cairo đến phía nam của Memphis, Ai Cập. Vào lúc đó, Ai Cập cổ đại chỉ chia thành hai vùng đất là Hạ và Thượng Ai Cập, vì Trung Ai Cập được cho là một tiểu khu của Thượng Ai Cập. Nó đã không được công nhận cho đến thế kỷ 19, khi các nhà khảo cổ cảm thấy cần phải chia Thượng Ai Cập lại thành hai vùng. Kết quả là họ đặt ra thuật ngữ "Trung Ai cập" cho vùng giữa sông Nin, Cairo và Khúc cong Qena.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.