Thành Vatican

Thành Vatican, tên chính thức: Thành quốc Vatican (tiếng Ý: Stato della Città del Vaticano; tiếng Latinh: Status Civitatis Vaticanae) là một quốc gia có chủ quyền với lãnh thổ bao gồm một vùng đất có tường bao kín nằm trong lòng thành phố Roma, Ý. Với diện tích khoảng 44 hécta (110 mẫu Anh), và dân số khoảng 1000 người,[1] khiến Vatican được quốc tế công nhận là thành phố, quốc gia độc lập nhỏ nhất thế giới về diện tích và dân số.

Quốc gia này được thành lập năm 1929 theo Hiệp ước Latêranô[2] với tư cách là hậu thân của Quốc gia Giáo hoàng vốn rộng lớn hơn tồn tại từ năm 756 đến năm 1870. Vì được vị Giám mục Rôma (tức giáo hoàng) lãnh đạo nên Thành Vatican chính thức là một nền quân chủ thần quyền.[3] Các viên chức cao cấp nhất của nhà nước này đều là các giáo sĩ thuộc Giáo hội Công giáo Rôma xuất thân từ nhiều quốc gia khác nhau. Đây là lãnh thổ có chủ quyền của Tòa Thánh (Latinh: Sancta Sedes), là nơi có Điện Tông Tòa - nơi ở của giáo hoàng, và nơi đặt các cơ quan của Giáo triều Rôma. Dù trụ sở Giáo hội Công giáo theo nguyên tắc là Vương cung thánh đường Thánh Gioan Latêranô - được mệnh danh là nhà thờ mẹ của các nhà thờ Công giáo - nằm ở Rôma, ngoài biên giới của quốc gia, nhưng thuật ngữ Vatican vẫn được cho là trung tâm giáo quyền của Giáo hội Công giáo Rôma.

Trong thành phố còn có các công trình quy mô lớn như Vương cung thánh đường Thánh Phêrô với quảng trường của nó, nhà nguyện SistinaBảo tàng Vatican. Chúng là nơi lưu trữ một số bức tranh và tác phẩm điêu khắc nổi tiếng nhất thế giới. Nền kinh tế của Vatican độc đáo ở chỗ nó được tài trợ bằng việc bán tem bưu chính và đồ lưu niệm du lịch, lệ phí tham quan bảo tàng và bán các ấn phẩm tôn giáo và văn hóa.

Thành quốc Vatican và Tòa Thánh là hai thực thể riêng biệt. Trong khi "Vatican" là thuật ngữ thường để chỉ về lãnh thổ của một quốc gia với vài trăm công dân, gắn bó mật thiết với thành phố Roma thì "Tòa Thánh" lại là thuật ngữ bao hàm ý nghĩa rộng lớn trên khía cạnh tôn giáo và cơ cấu điều hành với trên 1,2 tỷ tín hữu trên thế giới. Văn kiện chính thức của thành phố Vatican được ban hành bằng tiếng Ý, còn của Tòa Thánh được ban hành chủ yếu bằng tiếng Latinh. Hai thực thể này cũng có hộ chiếu riêng biệt: Tòa Thánh cấp hộ chiếu ngoại giao và công vụ, trong khi Thành quốc Vatican cấp hộ chiếu phổ thông cho công dân.

Thành quốc Vatican

Flag of the Vatican City Coat of arms of the Vatican City
Quốc kỳ Huy hiệu
Bản đồ
Vị trí của Tòa Thánh Vatican
Quốc ca
Inno e Marcia Pontificale  (Tiếng Ý)
Pontifical Anthem and March

Hành chính
Chính phủGiáo triều Rôma
Giáo hoàngPhanxicô
Quốc vụ khanhPietro Parolin
Thủ hiếnGiuseppe Bertello
Thủ đôThành Vatican (thành quốc)
41°54.2′B 12°27.2′Đ / 41,9033°B 12,4533°Đ
Địa lý
Diện tích0,44 km² (hạng 252)
Múi giờgiờ châu Âu (CET) (UTC+1); mùa hè: Giờ mùa hè châu Âu (UTC+2)
Lịch sử
Ngày thành lậpNgày 11 tháng 2 năm 1929
Ngôn ngữ chính thứcLatinh, Ý[a]
Dân số (2013)839 người
Mật độ1906.8 người/km²
Đơn vị tiền tệEuro (EUR)
Thông tin khác
Tên miền Internet.va

Lãnh thổ

Thành Vatican
UNESCO logo.svg Welterbe.svg
Di sản thế giới của UNESCO
St. Peter's Basilica
Thông tin khái quát
Quốc giaFlag of the Vatican City.svg Vatican
KiểuVăn hoá
Tiêu chuẩni, ii, iv, vi
Tham khảo286
Vùng UNESCOChâu Âu
Lịch sử công nhận
Công nhận1984 (kỳ họp thứ 8)

Cái tên Vatican có từ thời xưa, trước khi Kitô giáo ra đời, xuất phát từ chữ La tinh Mons Vaticanus, nghĩa là ngọn đồi Vatican.[4] Lãnh thổ Vatican là một phần của Mons Vaticanus, nằm sát kề Cánh đồng Vatican nơi Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, Cung điện Giáo hoàng, Nhà nguyện Sistine và nhiều bảo tàng được xây dựng, cùng với nhiều công trình kiến trúc khác. Cho tới năm 1929 vùng này là một phần của rione Borgo Rôma. Tách biệt khỏi thành phố và nằm trên bờ phía tây sông Tevere. Đây là vùng mở rộng về sau của thành phố và được bảo vệ khi Giáo hoàng Lêô IV cho gộp vào trong bức tường bao thành phố và sau này được mở rộng thành những bức tường kiểu pháo đài hiện nay bởi các Giáo hoàng Phaolô III, Piô IV, Ubanô VIII. Khi Hiệp ước Latêranô năm 1929 quy định hình dạng hiện nay của Thành phố được khởi thảo, thực tế rằng đa phần lãnh thổ đề nghị đều nằm bên trong vòng tường này khiến nó được dùng để định nghĩa ranh giới. Ở một số đoạn biên giới không có tường xây khiến những dãy nhà ở đó trở thành một phần biên giới, và một phần nhỏ biên giới được xây dựng mới ở thời hiện đại. Lãnh thổ bao gồm Quảng trường Thánh Phêrô, không thể tách rời với phần còn lại của Rôma, vì thế một đường biên giới ảo với Ý được quy định chạy dọc giới hạn bên ngoài của quảng trường nơi nó giáp với Piazza Pio XII và Via Paolo VI. Via della Conciliazione nối Quảng trường Thánh Phêrô với Rôma qua Cầu Thiên Thần (Ponte Sant'Angelo). Con đường nối to lớn này được Mussolini xây dựng sau khi ký kết Hiệp ước Latêranô.

Theo Hiệp ước Latêranô, một số tài sản của Tòa Thánh nằm trong lãnh thổ Ý, mà nổi tiếng nhất là Castel GandolfoNhà thờ Thánh Phêrô, được trao quy chế lãnh thổ bên ngoài tương tự như đối với các đại sứ quán.[5][6] Những tài sản đó, rải rác trên toàn bộ RômaÝ, nơi đóng trụ sở và làm việc của các định chế cần thiết cho tính chất và nhiệm vụ truyền đạo của Tòa Thánh.[6]

Vườn

Vatican Gardens
Một phần của những khu vườn thành Vatican

Trong lãnh thổ của thành Vatican là những khu vườn thành Vatican (tiếng Ý: Giardini Vaticani),[7] chiếm hơn một nửa diện tích lãnh thổ. Những khu vườn được thành lập từ thời đại Phục Hưng và thời kỳ Baroque. Chúng chiếm xấp xỉ 23 hecta (57 mẫu Anh), chiến phần lớn đồi Vatican. Điểm cao nhất là 60 mét (200 ft) trên mực nước biển. Những bức tường đá bao quanh khu vực trên ở phía Bắc, Nam và Tây.

Lãnh đạo nhà nước

Giáo hoàngex officio nguyên thủ quốc gialãnh đạo chính phủ của Thành Vatican. Giáo hoàng đồng thời là Giám mục Giáo phận Rôma, và là nhà lãnh đạo Tòa ThánhGiáo hội Công giáo Rôma. Danh hiệu chính thức của Giáo hoàng tại Thành Vatican là Quốc trưởng Nhà nước Thành Vatican.

Giáo hoàng là một vị vua không truyền tử, nắm quyền lực tuyệt đối, có nghĩa là quyền lập pháp, hành pháptư pháp tối cao đối với Thành Vatican. Giáo hoàng là vị vua chuyên chế duy nhất tại Châu Âu.

Giáo hoàng được bầu với quyền lực trọn đời bởi Mật nghị Hồng y gồm các Hồng y dưới 80 tuổi. Các quan chức chính phủ chính của Thành Vatican là Quốc vụ khanh (đồng thời đóng vai trò ngoại trưởng), Chủ tịch Ủy ban lễ nghi Thành quốc Vatican (đồng thời là Thủ hiến), và Chưởng ấn Thành Vatican.

Giáo hoàng hiện tại là Giáo hoàng Phanxicô, tên khai sinh là Jorge Mario Bergoglio và là người Argentina. Quốc vụ khanh hiện nay là Pietro Parolin. Thủ hiến hiện nay là Giuseppe Bertello.

Lịch sử

Vatican City annex
Lãnh thổ Thành Vatican theo Hiệp ước Lateran 1929.

Tên gọi "Vatican" đã được dùng trong thời đại của Cộng hòa La Mã là một vùng đầm lầy vên bờ tây sông Tiber cắt qua thành phố Rome. Dưới thời kỳ Đế quốc La Mã, nhiều ngôi làng được xây dựng ở đây, sau khi Agrippina the Elder (14 TCN – 18 tháng 10, 33) tháo khô vùng này và xây dựng các khu vườn của bà vào đầu thế kỷ 1. Năm 40, con trai bà là hoàng đế Caligula (31 tháng 8, 12–24 tháng 1, 41; r. 37–41) xây dựng trong các khu vườn của bà một đấu trường (năm 40) mà sau này được Nero hoàn thiện, có tên gọi Circus Gaii et Neronis,[8] hay gọi tắt là "Rạp xiếc của Nero"].[9]

Ngay trước sự chuyển đến của Kitô giáo, nó được cho rằng đây là phần đất hoang không có người sinh sống của Rome. Vùng đất ấy được thần thánh bảo vệ chu đáo hoặc ít nhất là nơi không thích hợp để sinh sống. Khu vực này cũng đã là nơi trước kia thờ phượng nữ thần Phrygian Cybele và người chồng là Attis suốt thời gian của Đế quốc La Mã Cổ đại.[10] Agrippina Cả (14 trước Công nguyên - 18/10 năm 33 sau Công nguyên) đã rút nước ở ngọn đồi và những khu vực lân cận để xây khu vườn của bà từ trước thế kỉ thứ nhất sau Công nguyên. Hoàng đế Caligula (31/8/12 - 24/1/41 sau Công nguyên, triều đại: 37 - 41 sau Công nguyên) bắt đầu xây dựng một trường đấu vào năm 40 sau Công nguyên và được hoàn thành bởi Nero, trường đấu Gaii et Neronis. Tháp kỉ niệm Vatican được sáng tạo một cách độc đáo bởi Caligula đến từ Heliopolis để trang hoàng trường đấu và cũng là vật còn sót lại đến ngay nay.[11] Khu vực này trở thành nơi tử đạo của nhiều Kitô hữu bởi ngọn lửa lớn ở Rome vào năm 64. Truyền thuyết cổ xưa kể rằng nơi này Thánh Phêrô bị đóng đinh treo ngược vào thập giá.[12] Đối diện đấu trường là một nghĩa trang tách ra bởi Via Cormelia. Những công trình chôn cất, lăng tẩm và mồ mả nhỏ cũng như bàn thờ thần ngoại của những tôn giáo khác được xây dựng kiên cố trước khi công trình quảng trường Constrantinian Thánh Peter được xây dựng một nửa vào thế kỷ 4 sau Công nguyên. Những tàn tích của nghĩa trang ngày một tăng dần lên qua các triều đại Giáo hoàng khác nhau suốt thời kì Phục Hưng, cho đến khi chúng được khai quật có hệ thống theo lệnh của Giáo hoàng Piô XII từ năm 1939 đến năm 1941.

Vào năm 326, ngôi thánh đường đầu tiên, quảng trường Constantinian, được xây dựng trên mộ của thánh Peter.[13] Từ khi xuất hiện thánh đường, bắt đầu có dân cư nhưng thưa thớt quanh quảng trường. Nơi ở của Giáo hoàng nằm gần quảng trường, được xây dựng ngay từ thế kỉ V trong suốt triều đại Giáo hoàng Symmachus (? - 19/6/514, triều đại: 498 - 514).[14]

Các Giáo hoàng trong một vai trò không thuộc tôn giáo đã đến cầm quyền các khu vực lân cận, lập ra Nhà nước của Giáo hoàng, có quyền lực trên phần lớn bán đảo Ý hơn một nghìn năm đến giữa thế kỷ 19, khi lãnh thổ của Nhà nước của Giáo hoàng bị tịch thu bởi sự thành lập của Vương quốc Ý. Trong thời gian ấy, Vatican, nhưng đúng hơn là điện Lateran, những thế kỉ gần đây là lâu đài chính phủ Ý không phải là nơi ở thường xuyên của Giáo hoàng, mà là tại Avignon, Pháp.

Vào năm 1870, tài sản của Giáo hoàng bị bỏ lại trong một trường hợp không rõ ràng khi Rome tự sáp nhập bởi Piedmontese sau sự kháng cự yếu ớt của lính Giáo hoàng. Giữa năm 1861 và 1929, uy tín của Giáo hoàng được đề cập trong quyển "Những câu hỏi về Giáo hội Công giáo Rôma". Giáo hoàng không bị làm phiền tại nơi ở của các Ngài, và được công nhận bởi sự bảo lãnh của pháp luật. Nhưng các Ngài không được vua Ý công nhận khi ra luật ở Rome, và họ từ chối cho phép vùng đất Vatican cho đến khi sự bất hòa của đôi bên được giải quyết vào năm 1929. Các nước khác tiếp tục duy trì sự công nhận quốc tế rằng Tòa Thánh là một thực thể tối cao. Ý không có ý định can thiệp vào Tòa Thánh trong thành Vatican. Tuy nhiên, họ đã tịch thu tài sản của Giáo hội ở nhiều nơi, đặc biệt bao gồm lâu đài chính phủ Ý, nơi ở chính thức trước kia của Giáo hoàng. Giáo hoàng Pius IX (13/3/1792 - 7/2/1878, triều đại: 1846 - 1878), quốc trưởng cuối cùng của Nhà nước của các Giáo hoàng, đã nói rằng sau khi Rome sáp nhập, Ngài là "Người tù của Vatican". Mốc quan trọng là vào ngày 11/2/1929 giữa Tòa Thánh và vương quốc Ý. Hiệp ước được ký kết giữa Benito Mussolini và Pietro Cardinal Gasparri thay mặt cho vua Victor Emanuel III và Giáo hoàng Pius XI (31/5/1857 - 10/2/1939, triều đại: 1922 - 1939) thay mặt cho Tòa Thánh.[2] Hiệp ước Lateran và giáo ước (hiệp ước giữa Giáo hoàng và chính phủ một nước) đã thành lập Thành Quốc Vatican (nước Vatican), cùng với việc công nhận Công giáo có vai trò quan trọng tại Ý.[15] Năm 1984, một giáo ước mới giữa Tòa Thánh và Ý sửa đổi một số điều khoản của giáo ước trước đây, bao gồm vị thế của Công giáo như quốc giáo của Ý.[15]

Quân đội

Quân đội thành Vatican rất đặc biệt vì nó là đội quân chính quy nhỏ nhất và lâu đời nhất trên thế giới, Đội cận vệ Thụy Sĩ. Được thành lập vào ngày 22 tháng 1 năm 1506 bởi Giáo hoàng Julius II, nó trước tiên được cấu thành bởi lính đánh thuê Thụy Sĩ từ Liên bang Thụy Sĩ. Quân số hiện nay vào khoảng trên 100 người đồng thời kiêm luôn công tác cận vệ Đức Giáo hoàng. Việc tuyển mộ lính mới rất hạn chế, chỉ đàn ông Công giáo Thụy Sĩ mới được đăng ký.

Palatine Guard of Honor and the Noble Guard đã bị giải tán dưới triều đại Giáo hoàng Phaolô VI.[16]

Body of the Gendarmeria (Corpo della Gendarmeria) hoạt động như lực lượng cảnh sát của vùng.

Vatican không có lực lượng không quân cũng như hải quân. Việc phòng thủ bên ngoài được đảm nhận bởi những bang nước Ý xung quanh.

Quản trị

Vatican City map EN
Bản đồ Thành Vatican với các công trình nổi bật và khu vườn.

Thống đốc Vatican, thường được biết đến như Thủ hiến hay Thủ tướng Vatican, có trách nhiệm như một thị trưởng, tập trung vào các vấn đề lễ nghi và đối nội Vatican, trong đó có an ninh quốc gia. Hiện nay Vatican có hai lực lượng giữ gìn an ninh là Đội Cận vệ Thụy Sĩ cho Giáo hoàng (Guardia Svizzera Pontificia) và Đội Hiến binh Thành Quốc Vatican (Corpo della Gendarmeria dello Stato della Città del Vaticano).

Quyền lập pháp được trao cho các Hội đồng thuộc Giáo hoàng. Các thành viên là những Hồng y được Giáo hoàng bổ nhiệm, nhiệm kì 5 năm. Về tư pháp, Thành Vatican có Tòa án riêng của thành quốc, bên cạnh ba tòa án thuộc Giáo triều Rôma: Tòa Ân giải Tối cao, Tòa Thượng thẩm Rota, và Tối cao Pháp viện. Hệ thống pháp luật dựa trên cơ sở Giáo luật. Nếu Giáo luật không thích hợp, một bộ luật đặc biệt của khu vực sẽ được áp dụng, thường theo sự cung cấp của nước Ý.

Địa lý

Thành Quốc Vatican, một trong những nước châu Âu nhỏ, nằm trên ngọn đồi Vatican, ở phía tây bắc của Rome, vài trăm mét phía tây sông Tiber. Vatican có đường biên giới (tổng cộng dài 3.2 km hay 2 dặm, tất cả đều nằm trong nước Ý) là một bức tường thành được xây dựng nhằm bảo vệ Giáo hoàng khỏi các thế lực tấn công từ bên ngoài. Tình hình biên giới phức tạp hơn tại quảng trường thánh Peter đối diện thánh đường thánh Peter, nơi đường biên giới chính xác phải nằm cắt ngang quảng trường, vì thế có một đường biên giới ảo được Ý quy định chạy dọc giới hạn bên ngoài quảng trường được quy định bởi cột Basilica, giáp với Piazza Pio XII và Via Paolo VI. Thành Quốc Vatican là quốc gia nhỏ nhất trên thế giới với diện tích khoảng 0.44 km2 (108.7 mẫu Anh (acres)).

Khí hậu Vatican giống như khí hậu Rome; nhiệt độ, thời tiết Địa Trung Hải êm dịu, những cơn mưa tuyết bắt đầu từ tháng 9 đến giữa tháng 10 và mùa hạ khô nóng từ tháng 5 đến tháng 8. Một nét đặc trưng của khí hậu Vatican là thường có sương mù đọng lại nhiều.

Văn hóa

Vatican, chính thành phố đã là một công trình văn hóa có ý nghĩa rất lớn, rất quan trọng. Những công trình như Vương cung thánh đường Thánh Phêrônhà nguyện Sistine là nơi tập hợp nhiều tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng trên thế giới, trong đó có những tác phẩm của những nhà nghệ thuật lừng danh như Botticelli, Bernini và Michelangelo. Thư viện Vatican và những bộ sưu tập của viện bảo tàng Vatican có tầm quan trọng rất lớn về lịch sử, khoa họcvăn hóa. Năm 1984, Vatican được UNESCO công nhận là Di sản thế giới, đặc biệt là chỉ một Vatican thôi nhưng lại bao gồm cả đất nước (Vatican là một thành phố, nhưng cũng là một đất nước).

Dân số thường trực của Vatican, nam chiếm ưu thế hơn, mặc dù có hai dòng tu của các sơ ở Vatican. Một bộ phận chiếm số dân nhỏ là các tu sĩ cao niên và các thành viên còn lại (thường là người dân) của các giáo phận, giáo xứ. Những công dân, nhân viên tòa đại sứ ở Vatican thường sống ngoài thành.

Du lịch và các cuộc hành hương là các nhân số quan trọng trong đời sống hằng ngày của Vatican. Giáo hoàng thường làm lễ Misa hàng tuần và các lễ khác, và thường xuất hiện vào các ngày lễ lớn như lễ Phục sinh. Trong những sự kiện đầy ý nghĩa, như những nghi thức ban phước lành, các lễ tấn phong (Giám mục, phong Chân phước...), Ngài thường làm lễ ngoài trời ở quảng trường Thánh Phêrô.

Thể thao

Vatican không có một liên đoàn thể thao hay sân vận động nào. Đôi khi nó được xem như có một đội tuyển bóng đá quốc gia. Đội tuyển chơi tại Stadio Pio XII ở Ý.

Tội phạm

Theo một kết quả khảo sát, Vatican có số dân thường trú nhỏ, nhưng với hàng triệu khách du lịch mỗi năm, Thành Vatican có tỷ lệ tội phạm trên đầu người thuộc hàng cao nhất trên thế giới, hơn gấp hai mươi lần so với Ý. Năm 2002, một kết quả từ Tòa án Giáo hoàng, chánh công tố Nicola Picardi trích dẫn từ những thống kê cho thấy: có 397 vụ vi phạm pháp luật dân sự và 608 vụ vi phạm pháp luật hình sự. Mỗi năm, hàng trăm khách du lịch trở thành nạn nhân của nạn móc túi và giật giỏ, giật tiền. Thủ phạm gây ra, không ai khác chính là các du khách, nhưng ngoài ra còn đến 90% vụ vi phạm chưa được giải quyết.

Lực lượng cảnh sát Vatican là Corpo Della Vigilanza.

Như theo Hiệp ước Lateran 1929 giữa Tòa thánh Vatian và Ý, chính quyền Vatican có quyền khởi tố và giam giữ các nghi can.

Vụ giết người gần đây nhất ở Vatican xảy ra vào năm 1998, khi một thành viên của đội cận vệ Thụy sĩ giết hai người trước khi tự sát.

Vatican đã bãi bỏ việc kết án tử hình vào năm 1969, nhưng nó vẫn được thực hiện vào thời gian trước, Nhà nước của các Giáo hoàng vào ngày 9 tháng 7 năm 1870 tại Palestrina, khi Agabito (Agapito) Bellomo bị chém đầu (bởi máy chém) vì tội giết người.

Văn hoá

Kiểu trang phục sử dụng khi vào Vương cung thánh đường Thánh Phêrô phải là kiểu được thiết kế nhã nhặn và thích hợp cho việc viếng thăm các khu vực tôn giáo. Các du khách và người hành hương đều được nhác nhở về việc đó, vì Tòa thánh Vatican không chỉ là công trình kiến trúc nghệ thuật mà còn là một nhà thờ. Sau đây là các kiểu trang phục bị ngăn cấm (khi bước vào thánh đường)

  • Nón
  • Quần short hay váy ngắn trên đầu gối
  • Áo không có tay áo
  • Áo hở rốn
  • Áo (phụ nữ) hở giữa
  • Áo in/mang những lời tục tĩu, báng bổ
  • Có quá nhiều đồ trang sức

Hệ thống chính trị

Do những lý do lịch sử, hệ thống nhà nước của Vatican rất đặc biệt, một hệ thống nhà nước "độc nhất vô nhị". Dưới Giáo hoàng, những người đứng đầu là Quốc vụ khanh và Thủ hiến Vatican. Ở đây, giống như những viên chức khác, tất cả đều được sự bổ nhiệm của Đức Giáo hoàng, cũng như có thể bị cách chức bởi Ngài bất kì lúc nào.

Khi Tòa thánh trống ngôi, một Mật nghị Hồng y được triệu tập để bầu giáo hoàng mới.

Đọc thêm

  • Morley, John. 1980. Vatican diplomacy and the Jews during the Holocaust, 1939-1943. New York: KTAV Pub. House. ISBN 0-87068-701-8
  • Nichols, Fiona (ngày 1 tháng 8 năm 2006). Rome and the Vatican. New Holland Publishers. tr. 85–. ISBN 9781845375003. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2010.
  • Chadwick, Owen. 1988. Britain and the Vatican During the Second World War. Cambridge University Press
  • Kent, Peter. 2002. The Lonely Cold War of Pope Pius XII: The Roman Catholic Church and the Division of Europe, 1943–1950. Ithaca: McGill-Queen's University Press. ISBN 0-7735-2326-X
  • Ricci, Corrado. "Vatican: Its History Its Treasures" Contributor Ernesto Begni. © 2003 Published by Kessinger Publishing, ISBN 0-7661-3941-7, ISBN 978-0-7661-3941-1

Tham khảo

Ghi chú

  1. ^ Thành Quốc Vatican không xác nhận ngôn ngữ chính thức nhưng các văn bản hành pháp chính thức được viết bằng tiếng Latinh và tiếng Ý. Ngoài ra, chủ yếu tiếng Latinh là ngôn ngữ chính thức của Tòa Thánh, tiếng Ý là ngôn ngữ làm việc và tiếng Pháp là ngôn ngữ ngoại giao. Bên cạnh đó, Phủ quốc vụ khanh còn sử dụng các tiếng Anh, Đức, Ba Lan, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha.

Chú thích

  1. ^ “Holy See (Vatican City)”. CIA—The World Factbook. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2013.
  2. ^ a ă Preamble of the Lateran Treaty
  3. ^ “Vatican City”. Catholic-Pages.com. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2013.
  4. ^ “Vatican (search)”. Online Dictionary. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2007.
  5. ^ Treaty between the Holy See and ItalyPDF
  6. ^ a ă Lateran Treaty of 1929, Articles 13–16
  7. ^ “Map of Vatican City”. www.saintpetersbasilica.org. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2009.
  8. ^ Lanciani, Rodolfo (1892). Pagan and Christian Rome Houghton, Mifflin.
  9. ^ Vatican City in the Past
  10. ^ “Altar dedicated to Cybele and Attis”. Vatican Museums. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2013.
  11. ^ Pliny the Elder, Natural History XVI.76.
  12. ^ “St. Peter, Prince of the Apostles”. Catholic Encyclopedia. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2013.
  13. ^ Fred S. Kleiner, Gardner's Art through the Ages (Cengage Learning 2012 ISBN 978-1-13395479-8), p. 126
  14. ^ Columbia Encyclopedia, Sixth Edition, 2001–2005
  15. ^ a ă Lateran Treaty, article 1: "L'Italia riconosce e riafferma il principio consacrato nell’articolo 1° dello Statuto del Regno 4 marzo 1848, pel quale la religione cattolica, apostolica e romana è la sola religione dello Stato." (Italy recognizes and re-affirms the principle consecrated in Article 1 of the Statute of the Kingdom ngày 4 tháng 3 năm 1848, by which the Catholic, Apostolic and Roman Religion is the sole religion of the State.)
  16. ^ “Vatican City Today”. Vatican City Government. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2007.
  17. ^ “Roma/Ciampino (Roma)” (PDF). Servizio Meteorologico. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2014.
  18. ^ “STAZIONE 239 ROMA CIAMPINO: medie mensili periodo 61 - 90”. Servizio Meteorologico. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2014.
  19. ^ “Roma Ciampino: Record mensili dal 1944” (bằng tiếng Italy). Servizio Meteorologico dell’Aeronautica Militare. Tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2014.

Liên kết ngoài

Tiếng Anh

.va

.va là tên miền quốc gia cấp cao nhất (ccTLD) của Thành Vatican. Nó được quản lý bởi Phòng Internet của Tòa Thánh.

Những tên miền.va được biết rộng rãi là:

benedettoxvi.va

benedictumxvi.va

ossrom.va (chỉ email)

sistinechapel.va

www.sistinechapel.va

vatican.va (chỉ email)

www.vatican.va

asv.vatican.va

mv.vatican.va

search.vatican.va

seraphin.vatican.va

mlists.vatican.va

bav.vatican.va

isidoro.vatican.va

webmail.mailservice.va

www.osservatoreromano.va

www.pcf.va

www.photo.va

www.va

www.vaticanstate.vaTên miền cấp 2 không được phép đăng ký bên ngoài.

Máy chủ tên và email với tên miền.va bao gồm (DNS và email), michael.vatican.va (DNS), paul.vatican.va (email), lists.vatican.va (email), và vatiradio.va (email).

Chính sách thị thực của Thành Vatican

Mặc dù Thành Vantican không phải một thành viên của Liên minh Châu Âu hoặc Khu vực Kinh tế Châu Âu, nó vẫn duy trì biên giới mở với Ý và được coi là một phần của Khối Schengen. Vì chỉ có thể đến Thành Vatican qua Ý nên không thể đến đây nếu không đến Khối Schengen và vì thế phải xin thị thực Khối Schengen. Tuy nhiên, Thành Vatican City không có chỗ ở cho du khách (khách sạn hay căn hộ cho thuê), vì thế khách không thể ở qua đêm tại đây.

Galileo Galilei

Galileo Galilei (thường được phiên âm trong tiếng Việt là Ga-li-lê; phát âm tiếng Ý: [ɡaliˈlɛːo ɡaliˈlɛi]; 15 tháng 2 năm 1564 – 8 tháng 1 năm 1642) là một nhà thiên văn học, vật lý học, toán học và triết học người Ý, người đóng vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng khoa học. Các thành tựu của ông gồm những cải tiến cho kính thiên văn và các quan sát thiên văn sau đó, và ủng hộ Chủ nghĩa Kopernik. Galileo đã được gọi là "cha đẻ của việc quan sát thiên văn học hiện đại", "cha đẻ của vật lý hiện đại", "cha đẻ của khoa học", và "cha đẻ của Khoa học hiện đại." Stephen Hawking đã nói, "Galileo, có lẽ hơn bất kỳ một người riêng biệt nào, chịu trách nhiệm về sự khai sinh khoa học hiện đại."Sự chuyển động của các vật thể tăng tốc đều, được dạy ở hầu hết trong các khóa học về vật lý của các trường trung học và cao đẳng, đã được Galileo nghiên cứu trong chủ đề về chuyển động học. Những đóng góp của ông trong thiên văn học quan sát gồm vệc xác nhận các tuần của Sao Kim bằng kính thiên văn, phát hiện bốn vệ tinh lớn nhất của Sao Mộc, được đặt tên là các vệ tinh Galileo để vinh danh ông, và sự quan sát và phân tích vết đen Mặt Trời. Galileo cũng làm việc trong khoa học và công nghệ ứng dụng, cải tiến thiết kế la bàn.

Sự bênh vực của Galileo dành cho thuyết nhật tâm của Kopernik đã gây tranh cãi trong đời ông. Quan điểm địa tâm đã là thống trị từ thời Aristoteles, và sự tranh cãi nảy sinh sau khi Galileo trình bày thuyết nhật tâm như một minh chứng khiến Giáo hội Công giáo Rôma cấm tuyên truyền nó như một sự thực đã được chứng minh, vì nó chưa có thể chứng minh được theo kinh nghiệm ở thời điểm ấy và cũng trái ngược với cách giải nghĩa Kinh Thánh phổ biến đương thời. Theo lệnh của Tòa án dị giáo Rôma, Galileo cuối cùng buộc phải từ bỏ thuyết nhật tâm của mình và bị quản thúc tại gia cho tới khi qua đời.

Giới quý tộc

Giới quý tộc là một tầng lớp, giai cấp xã hội, có những đặc quyền, quyền lực hoặc địa vị cao trọng được công nhận so với các tầng lớp khác trong xã hội, địa vị này thường được lưu truyền trong gia đình từ đời này sang đời khác. Thuật ngữ này tuy nhiên không được định nghĩa rõ ràng. Ngay cả tại lục địa châu Âu mỗi nước có những tiêu chuẩn khác nhau, để xem ai thuộc giới quý tộc, huống chi là ở các nền văn hóa khác.

Các đặc quyền gắn liền với giới quý tộc có thể tạo lợi thế đáng kể so với các giới khác, hoặc có thể có danh tiếng (do vậy được ưu tiên), và thay đổi từ nước này sang nước, thời đại này sang thời đại khác. Trong lịch sử, thành viên trong giới quý tộc và các đặc quyền của họ được quy định hoặc được thừa nhận bởi các vị vua hay nhà nước, do đó phân biệt nó từ các lĩnh vực khác của tầng lớp thượng lưu của một quốc gia trong đó sự giàu có, lối sống hoặc những quan hệ đánh dấu sự nổi bật của họ. Mặc dù vậy, giới quý tộc ít khi thành lập một đẳng cấp khép kín; đạt đủ quyền lực, sự giàu có, sức mạnh quân sự hay được sự ủng hộ của hoàng gia, cho phép người thường lên thành giới quý tộc.

Thường thì có nhiều cấp bậc trong lớp quý tộc. Công nhận pháp lý của giới quý tộc được phổ biến hơn trong các chế độ quân chủ, nhưng giới quý tộc cũng tồn tại trong chế độ như Cộng hòa Hà Lan (1581-1795), Cộng hòa Genoa (1005-1815) và Cộng hòa Venice (697-1797), và vẫn là một phần của cấu trúc xã hội hợp pháp của một số chế độ không lưu truyền quyền lực, ví dụ, San Marino và Thành Vatican ở châu Âu. Danh hiệu lưu truyền sang đời sau thường phân biệt quý tộc với phi quý tộc, mặc dù ở nhiều quốc gia hầu hết giới quý tộc không có danh hiệu, và một danh hiệu lưu truyền không nhất thiết thuộc giới quý tộc (ví dụ, xem bài baronet tiếng Anh). Một số nước lại có giới quý tộc không lưu truyền, như Đế chế Brasil.

Hiệp ước Latêranô

Hiệp ước Latêranô (Lateran) là thỏa thuận được ký kết vào năm 1929 giữa Tòa Thánh và Vương quốc Ý gồm ba nội dung:

Một hiệp ước chính trị công nhận quyền tối cao đầy đủ thuộc về Tòa Thánh ngay trong Thành Vatican được thiết lập từ lúc này.

Một giáo ước điều chỉnh địa vị của Giáo hội Công giáo ở nước Ý.

Một hiệp ước ưu đãi tài chính đối với Tòa Thánh như là một sự giải quyết cho những nhượng bộ về lãnh thổ của Tòa Thánh.

Lãnh địa Giáo hoàng

Lãnh địa Giáo hoàng, tên chính thức là Lãnh địa Giáo hội, là những lãnh địa nằm trên bán đảo Ý nằm dưới quyền của Giáo hoàng, từ thế kỷ 8 đến 1870. Đây từng là một trong những nhà nước lớn tại Ý cho tới năm 1861 khi bán đảo Ý dần được thống nhất. Ở đỉnh cao, Lãnh địa Giáo hoàng gồm hầu hết Lazio (có cả Roma), Marche, Umbria và Romagna, và một phần Emilia.

Tới năm 1861, đa phần Lãnh địa Giáo hoàng đã bị đánh chiếm bởi Vương quốc Ý. Chỉ Lazio, gồm cả Roma, vẫn nằm trong tầm kiểm soát của Giáo hoàng. Năm 1870, Giáo hoàng mất cả Lazio và Roma. Thủ lĩnh phát xít Benito Mussolini đã kết thúc cuộc khủng hoảng giữa nước Ý thống nhất và Vatican bằng việc ký kết Hiệp ước Lateran, chấp nhận chủ quyền Thành Vatican.

Nhà nguyện Sistina

Nhà nguyện Sistina (tiếng Latinh: Sixtinum) là nhà nguyện nổi tiếng nhất trong Điện Tông Tòa, là nơi dùng tổ chức các Mật nghị Hồng y để bầu chọn một giáo hoàng mới. Nhà nguyện này được đặt theo tên của Giáo hoàng Sixtus IV, người đã cho phục hồi Cappella Magna cũ giữa giai đoạn 1477 và 1480. Trong thời gian này một nhóm các họa sĩ trong đó có Pietro Perugino, Sandro Botticelli và Domenico Ghirlandaio tạo ra một loạt các tấm tranh tường miêu tả cuộc đời của Moses và đời sống của Chúa Kitô, ốp-xét bằng những bức chân dung của Giáo hoàng trên và màn trompe l'oeil treo bên dưới. Những bức tranh được hoàn thành vào năm 1482, và vào ngày 15 tháng 8 1483, Sixtus IV thánh hóa khối lượng đầu tiên tỏ lòng tôn kinh Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Kể từ thời Sixtus IV, nhà nguyện đã phục vụ như là một nơi của cả hai hoạt động tôn giáo và nơi làm việc của Giáo hoàng.

Nhà nguyện nổi tiếng với kiến trúc và trang trí của trần nhà đã được vẽ trên tường bởi các nghệ sĩ vĩ đại nhất thời Phục hưng, gồm có Michelangelo, Raphael, Bernini, và Sandro Botticelli. Dưới sự bảo trợ của Giáo hoàng Julius II, Michelangelo đã vẽ 12.000 1.100 m² trần nhà nguyện giữa giai đoạn 1508 và 1512. Ông bực bội với công việc này, và tin rằng công việc của mình chỉ phục vụ nhu cầu thể hiện quyền thế Giáo hoàng. Tuy nhiên ngày nay, trần nhà của nhà nguyện này, đặc biệt là bức tranh Sự phán quyết cuối cùng, được nhiều người cho là thành tựu hoàn thiện của Michelangelo.

Quyền LGBT ở Thành Vatican

Quyền đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính và chuyển giới (tiếng Ý: lesbiche, gay, bisessuali e transgender) ở Thành Vatican. Bộ luật hợp pháp liên quan đến đồng tính luyến ái trong Thành Vatican dựa trên bộ luật hình sự của Ý năm 1929, thời điểm thành lập nhà nước có chủ quyền của Thành Vatican. Từ năm 1929 đến 2008, Thành Vatican tự động áp dụng hầu hết các luật của Ý; tuy nhiên, vào cuối năm 2008, Vatican đã không còn tự động áp dụng luật mới của Ý nữa.

Quốc kỳ Thành Vatican

Quốc kỳ của Thành Vatican (tiếng Ý: Bandiera della Città del Vaticano) được thông qua vào ngày 7 tháng 6 năm 1929 khi Giáo hoàng Piô XI ký Hiệp ước Latêranô với Ý để thành lập một nhà nước độc lập do Tòa Thánh quản trị. Lá cờ Vatican được thiết kế mô phỏng từ lá cờ của Lãnh thổ Giáo hoàng trước đó. Cờ Vatican còn được coi là "cờ Tòa Thánh".

Quốc kỳ Thụy Sĩ

Quốc kỳ Thụy Sĩ (tiếng Đức: Fahne und Wappen der Schweiz; tiếng Pháp: Drapeau et armoiries de la Suisse; tiếng Ý: Bandiera della Svizzera là một lá cờ có hình vuông màu đỏ, có hình thập tự màu trắng.

Đây là một trong hai quốc kỳ có hình vuông, quốc kỳ hình vuông kia là Quốc kỳ Thành Vatican.

Roma

Roma (tiếng Latinh và tiếng Ý: Roma; còn phổ biến với tên gọi Rome trong tiếng Anh và tiếng Pháp hay La Mã theo phiên âm Hán Việt) là thủ đô của nước Ý và là một đô thị cấp huyện (comune) loại đặc biệt (có tên đầy đủ là Comune di Roma Capitale), đồng thời đóng vai trò là thủ phủ vùng Lazio của quốc gia này. Roma là thành phố lớn nhất và đông dân nhất ở Ý với hơn 2,8 triệu cư dân trong phạm vi 1.285 km². Đây là thành phố đông dân thứ tư của Liên minh châu Âu, sau Luân Đôn, Berlin và Madrid, tính theo số dân sinh sống bên trong phạm vi thành phố. Roma cũng đồng thời là trung tâm của Thành phố đô thị Roma Thủ đô với hơn 4,3 triệu cư dân, do đó là thành phố đô thị đông dân nhất của nước Ý. Roma tọa lạc ở vùng Lazio, dọc theo con sông Tevere (khu vực Latium lịch sử) thuộc Trung Tây của bán đảo Ý. Thành quốc Vatican (quốc gia nhỏ nhất thế giới) là một đất nước độc lập nằm trong lòng Roma, đây là ví dụ duy nhất về một quốc gia nằm trong lãnh thổ của một thành phố; cũng vì lý do này mà Roma thường được xem là thủ đô lưỡng quốc.Lịch sử Roma trải dài 28 thế kỷ. Mặc dù thần thoại La Mã đặt mốc thời gian thành lập Roma vào khoảng năm 753 TCN, tuy nhiên thành phố đã có mặt cư dân sinh sống lâu hơn thế, khiến nó trở thành một trong những khu định cư lâu đời nhất có con người vẫn đang tiếp tục sinh sống tại châu Âu. Cư dân ban đầu của thành phố có nguồn gốc hỗn hợp từ người Latinh, Etrusca và Sabine. Sau đó, thành phố trở thành thủ đô của Vương quốc La Mã, Cộng hòa La Mã và Đế quốc La Mã, và được nhận định là cái nôi của nền văn minh phương Tây cũng như là kiểu mẫu đô thị trung tâm đầu tiên từng xuất hiện. Roma ban đầu được gọi là Thành phố vĩnh hằng (tiếng Latinh: Urbs Aeterna) bởi thi hào Tibullus người La Mã trong thế kỷ thứ nhất TCN và ý tưởng đó đã được Ovidius, Vergilius và Livius tiếp nối. Thành phố còn nổi tiếng với danh hiệu "Caput Mundi" trong tiếng Latinh có nghĩa là Kinh đô thế giới. Theo sau sự sụp đổ của Đế quốc Tây La Mã đánh dấu khởi đầu của Đêm trường Trung Cổ, Roma dần rơi vào sự thống trị của giáo hoàng (đã cư ngụ tại thành phố kể từ thế kỷ 1) và chính thức thế kỷ 8 trở thành thủ đô của Vương quốc Giáo hoàng tồn tại cho đến năm 1870. Bắt đầu từ thời kỳ Phục Hưng, hầu như tất cả các giáo hoàng từ Nicôla V (1447–1455) trở đi đều chủ trương theo đuổi tiến trình mang tính kiến trúc và đô thị hóa liên tục suốt 400 năm nhằm mục đích biến thành phố trở thành trung tâm nghệ thuật và văn hóa của thế giới. Do vậy, Roma trở thành trung tâm lớn của nền Phục Hưng Ý, và sau đó là nơi khai sinh của trường phái Baroque và chủ nghĩa Tân cổ điển. Các nghệ sĩ, họa sĩ, nhà điêu khắc và kiến trúc sư nổi tiếng đã biến Roma trở thành trung tâm hoạt động của họ, tạo ra những kiệt tác khắp toàn thành phố. Năm 1871, Roma chính thức trở thành thủ đô của Vương quốc Ý thống nhất và sau đó là Cộng hòa Ý từ năm 1946 cho đến ngày nay.

Roma mang đẳng cấp của một thành phố toàn cầu. Trong năm 2016, Roma xếp thứ 14 trong số những thành phố được viếng thăm nhiều nhất thế giới, đứng thứ 3 tại châu Âu và là điểm thu hút khách du lịch nổi tiếng nhất tại Ý. Khu trung tâm lịch sử của Roma được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới. Bảo tàng Vatican nổi tiếng nằm trong số những bảo tàng được viếng thăm nhiều nhất thế giới và Đấu trường La Mã trở thành điểm thu hút khách du lịch phổ biến nhất thế giới với 7,4 triệu lượt khách trong năm 2018. Roma cũng là nơi tổ chức Thế vận hội Mùa hè 1960. Roma là trụ sở của các cơ quan chuyên môn thuộc Liên Hiệp Quốc như Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO), Chương trình Lương thực Thế giới (WFP) và Quỹ quốc tế về phát triển nông nghiệp (IFAD). Thành phố cũng là nơi đặt văn phòng Tổng thư ký Hội đồng Nghị viện Liên minh Địa Trung Hải (UfM) cũng như trụ sở của nhiều tập đoàn kinh doanh quốc tế như Eni, Enel, TIM, Leonardo S.p.A., và các ngân hàng nhà nước và quốc tế như Unicredit và BNL. Khu vực quận kinh tế và trung tâm thương mại của thành phố được gọi là EUR, là cơ sở của nhiều công ty quan trọng tham gia vào các ngành công nghiệp dầu mỏ, công nghiệp dược phẩm và dịch vụ tài chính. Roma cũng là một trung tâm thiết kế và thời trang quan trọng nhờ các thương hiệu quốc tế nổi tiếng có trụ sở tại thành phố, và đứng ở vị trí thứ 5 trong bảng xếp hạng các kinh đô thời trang của thế giới trong những năm gần đây. Phim trường Cinecittà của Roma, phim trường lớn nhất tại châu Âu, đã trở thành nơi bấm máy của rất nhiều bộ phim đoạt giải Oscar.

Tiếng Latinh

Tiếng Latinh hay Latin (tiếng Latinh: lingua latīna, IPA: [ˈlɪŋɡʷa laˈtiːna]) là ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ gốc Ý của ngữ hệ Ấn-Âu, được dùng ban đầu ở Latium, vùng xung quanh thành Roma (còn gọi là La Mã). Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì là ngôn ngữ chính thức của Đế quốc La Mã. Tất cả các ngôn ngữ trong nhóm ngôn ngữ Rôman đều có nguồn gốc từ tiếng Latinh, và nhiều từ trong các ngôn ngữ hiện đại ngày nay như tiếng Anh đều dựa trên tiếng Latinh. Người ta cho rằng 80% các từ tiếng Anh có tính học thuật đều bắt nguồn từ tiếng Latinh (trong đa số trường hợp là thông qua tiếng Pháp). Hơn nữa, ở phương Tây, tiếng Latinh là một ngôn ngữ quốc tế (tiếng Ý: lingua franca), thứ tiếng dùng trong khoa học và chính trị trong suốt hơn một nghìn năm, và cuối cùng bị thay thế bởi tiếng Pháp vào thế kỷ thứ XVIII và tiếng Anh vào cuối thế kỷ thứ XIX. Tiếng Latinh giáo hội vẫn còn là ngôn ngữ chính thức của Giáo hội Công giáo Rôma cho đến ngày nay, khiến nó trở thành ngôn ngữ chủ yếu của Thành quốc Vatican. Giáo hội Công giáo đã sử dụng tiếng Latinh làm ngôn ngữ phụng vụ chính cho đến tận những năm 1960. Tiếng Latinh cũng vẫn được dùng (chủ yếu lấy từ các gốc trong tiếng Hy Lạp) để đặt tên trong việc phân loại khoa học các vật thể sống.

Tiếng Ý

Tiếng Ý (italiano) là một ngôn ngữ thuộc nhóm Rôman của hệ Ấn-Âu và được dùng bởi khoảng 70 triệu người, đa số sinh sống tại Ý. Giọng Ý được xem như chuẩn hiện nay là giọng của vùng Toscana (tiếng Anh: Tuscany, tiếng Pháp: Toscane), nhất là giọng của những người sống tại thành phố Firenze (còn được gọi là Florence). Trên bán đảo Ý và các đảo phụ cận, nó được xem như đứng trung gian giữa các tiếng miền nam (thuộc nhánh phía Nam của nhóm Rôman) và các tiếng miền bắc (thuộc nhóm ngôn ngữ Gaul-Rôman, một phân nhóm của nhóm Rôman). Trong nhóm Rôman, nó là tiếng gần tiếng Latinh nhất và, giống như các ngôn ngữ khác trong nhóm, dùng rất nhiều trọng âm (stress) trong lối phát âm.

Vương cung thánh đường Thánh Phaolô Ngoại thành

Vương cung thánh đường Thánh Phaolô Ngoại thành (tiếng Ý: Basilica Papale di San Paolo fuori le Mura, có tên khác là Nhà thờ Thánh Phaolô) là một trong bốn vương cung thánh đường lớn của Vatican. Vương cung thánh đường này do hoàng đế La Mã Constantine I cho xây dựng vào khoảng năm 370 với một tại nơi có phần mộ của Thánh Phaolô, ban đầu là một đài tưởng niệm. Đến năm 386, hoàng đế Theodosius I bắt đầu xây dựng một nhà thờ to lớn hơn nhưng công việc này kéo dài mãi đến triều đại Giáo hoàng Lêô I (440-461) mới hoàn thành khiến nó trở thành nhà thờ lớn hơn cả vương cung thánh đường Thánh Phêrô trong suốt thế kỉ thứ 5. Hiện nay, Tổng linh mục của Vương cung thánh đường là Hồng y James Michael Harvey.

Vệ binh Thụy Sĩ

Vệ binh Thụy Sĩ (tiếng Latinh: Custodes Helvetici) là những người lính Thụy Sĩ đã từng phục vụ với vai trò là vệ sĩ tại các triều đình nước ngoài ở châu Âu kể từ cuối thế kỷ 15. Ngoài ra, họ cũng tham gia trong vai trò là lính đánh thuê tại các quân đội khác nhau, đặc biệt là quân đội Pháp, Tây Ban Nha và Naples cho đến tận thế kỷ 19. Đội Cận vệ Thụy Sĩ cho Giáo hoàng (Pontificia Cohors Helvetica) đề cập lực lượng chịu trách nhiệm bảo vệ giáo hoàng kể từ năm 1506, bao gồm cả việc đảm bảo an ninh khi ra vào Điện Tông Tòa và Thành Vatican. Đây là đơn vị duy nhất còn sót lại của Vệ binh Thụy Sĩ cho đến ngày nay. Thực tế, họ còn phục vụ như là lực lượng quân đội của thành Vatican, dù không chính thức, họ được coi là quân đội kế thừa lâu đời nhất trên thế giới. Đến năm 2003, đội cận vệ này gồm 134 chiến sĩ. Tuy Vatican dùng tiếng Latinh làm ngôn ngữ chính thức và tiếng Ý trong công việc hằng ngày nhưng Đội cận vệ Thụy Sĩ lại chủ yếu nói tiếng Đức.

Điện Tông Tòa

Điện Tông Tòa (hay còn gọi là Phủ Giáo hoàng hay Thánh Điện) là nơi ở chính thức của giáo hoàng, tọa lạc tại Vatican. Điện Tông Tòa thực tế bao gồm một loạt các công trình kiến trúc, trong đó có: Căn hộ Giáo hoàng, các văn phòng của Giáo hội Công giáo Rôma, nhà nguyện, Bảo tàng Vatican và các Thư viện Vatican.

Công trình hoàn thành ngày 30 tháng 4 năm 1589.

Vatican gọi tòa điện này là Cung điện Sixtus V vinh danh Giáo hoàng Sixtus V. nhắc đến Điện Tông Tòa chúng ta không thể không thể không nhắc đến công báo tông tòa, trong hiến chế tín lý về hội thánh, bộ giáo luật, các tác phẩm liên quan đến truyền giáo thường xuyên nhắc đến công báo tông tòa.

Đế quốc Đông La Mã

Đế quốc Đông La Mã (tiếng Hy Lạp cổ đại: Βασιλεία Ῥωμαίων, phiên âm: Basileia Rhōmaiōn, tiếng Latinh: Imperium Romanum tạm dịch là "Đế quốc La Mã") còn được gọi Đế quốc Byzantium, Đế quốc Byzantine, Đế quốc Byzance hay Đế quốc Hy Lạp là một đế quốc tồn tại từ năm 330 đến năm 1453, đóng đô ở Constantinopolis. Trước khi thành lập, phạm vi của Đế quốc Đông La Mã trước đây nằm trong lãnh thổ của Đế quốc La Mã. Năm 330, khi Constantinus I, con của hoàng đế Constantius, nắm quyền trị vì và dời đô từ thành La Mã về Constantinopolis, được xem là thời điểm thành lập đế quốc Đông La Mã. Khi ông qua đời, đế quốc bị các con trai ông phân chia thành Đông và Tây. Sau khi vị hoàng đế cuối cùng của đế quốc phía tây là Romulus Augustus bị một thủ lĩnh người Giéc-man hạ bệ, đế quốc Tây La Mã sụp đổ. Nhưng đế quốc phía đông vẫn tiếp tục phát triển, trở thành một cường quốc có vai trò quan trọng ở châu Âu và được xem là một trong những trung tâm đạo Ki-tô lúc bấy giờ.

Không thấy một tư liệu chính xác nào về sự khởi đầu của đế quốc Đông La Mã. Một vài ý kiến cho rằng đế quốc này được thành lập dưới thời cai trị của Hoàng đế Diocletianus (284–305), người đã chia đế quốc La Mã thành hai nửa đông và tây. Một vài người lại nói rằng đế quốc bắt đầu vào thời của Constantinus I, vị hoàng đế đầu tiên đóng đô tại Constantinopolis. Những ý kiến khẳng định vào thời trị vì của Hoàng đế Theodosius I (379–395) hoặc theo sau cái chết của ông vào năm 395. Một vài người cho vào thời điểm xa hơn vào năm 476 khi đế quốc phía tây sụp đổ. Nhưng hiện nay tư liệu khá chính xác là vào năm 330, khi Constantinus I thành lập tân đô Constantinopolis dưới sự phát triển vượt bậc của văn hóa Ki-tô giáo và thời kỳ văn hóa chịu ảnh hưởng Hy Lạp (quá trình Hy Lạp hóa văn hóa). Đế quốc Đông La Mã đã tồn tại hơn một ngàn năm, từ thế kỷ thứ IV cho đến năm 1453. Trong thời gian tồn tại của nó, Đông La Mã vẫn là một trong những cường quốc kinh tế, văn hóa, và quân sự lớn mạnh nhất ở châu Âu, bất chấp những thất bại và mất mát lãnh thổ, đặc biệt là trong cuộc Chiến tranh La Mã-Ba Tư và Chiến tranh Ả Rập-Đông La Mã. Đế quốc sau đó đã phục hưng dưới triều đại Macedonia, một lần nữa Đông La Mã vươn lên thành liệt cường hàng đầu của vùng Đông Địa Trung Hải vào cuối thế kỷ thứ X, đối địch với Nhà Fatima của người Hồi giáo.Tuy nhiên, sau năm 1071, nhiều lãnh đổ ở Tiểu Á - trung tâm của đế quốc, bị người Thổ Nhĩ Kỳ Seljuk chiếm đoạt. Mặc dù Vương triều nhà Komnenos đã giành lại một số đất đai và hưng thịnh lại Đế quốc trong một thời gian ngắn trong thế kỷ thứ XII, sau khi Hoàng đế Andronikos I Komnenos qua đời và Vương triều Komnennos cáo chung ở cuối thế kỷ thứ XII, một lần nữa Đế quốc lâm vào suy vong. Đế quốc Đông La Mã bị cuộc Thập tự chinh lần thứ tư giáng một đòn chí mạng vào năm 1204, khiến Đế quốc bị giải thể và các lãnh thổ La Tinh và Hy Lạp thuộc Đông La Mã bị chia cắt.

Vào năm 1261, kinh đô Constantinopolis được giải phóng và Đế quốc Đông La Mã trung hưng, thế nhưng dưới triều các hoàng đế nhà Palaiologos, Đông La Mã chỉ còn là một trong nhiều quốc gia nhỏ đối địch nhau ở khu vực, trong suốt 200 năm tồn tại cuối cùng của nó. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, nền văn hóa của Đế quốc sinh sôi nảy nở. Các cuộc biến loạn cung đình xảy ra liên tiếp trong thế kỷ XIV tiếp tục hủy hoại sự thịnh vượng của Đế quốc Đông La Mã, trong khi các lãnh thổ còn lại của Đông La Mã lần lượt bị lấy mất trong cuộc Chiến tranh Đông La Mã-Ottoman, mà đỉnh điểm là sự thất thủ của Constantinopolis và các vùng lãnh thổ còn lại bị Đế quốc Ottoman chinh phục vào thế kỷ thứ XV.

Đồng 2 euro kỷ niệm

Đồng 2 € kỷ niệm là những tiền kỷ niệm euro đặc biệt được các quốc gia thành viên của khu vực đồng euro đúc và phát hành từ năm 2004 dùng làm tiền pháp định tại tất cả các quốc gia thành viên khu vực đồng euro. Những đồng xu này thường để kỷ niệm các sự kiện lịch sử hoặc để thu hút sự chú ý vào những sự kiện quan trọng đặc biệt đang diễn ra. Vào năm 2009, đã có 69 mẫu thiết kế (phiên bản) của đồng kỷ niệm 2 € được đúc—sáu phiên bản vào năm 2004, tám phiên bản vào năm 2005, bảy phiên bản vào năm 2006, 20 loại năm 2007 (gồm mười ba phiên bản của đồng thông thường), 10 vào năm 2008, 18 vào năm 2009 (gồm cả 16 phiên bản của đồng thông thường). Người ta đã lên kế hoạch đúc thêm ít nhất 6 mẫu thiết kế nữa vào năm 2009. Những đồng kỷ niệm 2 € đã trở thành vật sưu tập. Không nên nhầm lẫn tiền kỷ niệm 2 € với các tiền kỷ niệm (giá trị in trên mặt lớn hơn 2 €), được quy định chính thức là "tiền sưu tập" và thường được làm từ kim loại quý.

Dữ liệu khí hậu của Vatican City (Sân bay Ciampino Roma)
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 20.8 22.4 26.6 30.0 34.2 37.8 39.6 40.6 40.0 32.0 25.4 21.2 40,6
Trung bình cao °C (°F) 11.9 13.0 15.2 17.7 22.8 26.9 30.3 30.6 26.5 21.4 15.9 12.6 20,4
Trung bình ngày, °C (°F) 7.5 8.2 10.2 12.6 17.2 21.1 24.1 24.5 20.8 16.4 11.4 8.4 15,2
Trung bình thấp, °C (°F) 3.1 3.5 5.2 7.5 11.6 15.3 18.0 18.3 15.2 11.3 6.9 4.2 10,0
Thấp kỉ lục, °C (°F) −11 −6.9 −6.5 −2.4 1.8 5.6 9.1 9.3 4.3 0.8 −5.2 −6.6 −11
Giáng thủy mm (inch) 66.9
(2.634)
73.3
(2.886)
57.8
(2.276)
80.5
(3.169)
52.8
(2.079)
34.0
(1.339)
19.2
(0.756)
36.8
(1.449)
73.3
(2.886)
113.3
(4.461)
115.4
(4.543)
81.0
(3.189)
804,3
(31,665)
độ ẩm 77 75 72 73 71 68 67 66 69 74 78 78 72
Số ngày giáng thủy TB (≥ 1.0 mm) 7.0 7.6 7.6 9.2 6.2 4.3 2.1 3.3 6.2 8.2 9.7 8.0 79,4
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 120.9 132.8 167.4 201.0 263.5 285.0 331.7 297.6 237.0 195.3 129.0 111.6 2.472,8
Nguồn: Servizio Meteorologico (nắng, độ ẩm, 1961–1990)[17][18][19]
Bắc Âu
Đông Âu
Nam Âu
Tây Âu

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.