Tanakh

Tanakh [תנ״ך;] (cũng viết là Tanach hoặc Tenach) là bộ quy điển của Kinh thánh Hebrew. Thuật từ này là từ viết tắt từ chữ đầu dựa trên các chữ cái Hebrew của tên gọi của 3 phần trong Kinh thánh Hebrew:

  1. Torah [תורה] mang một trong số các nghĩa: "Luật"; "Lời giảng"; "Giáo huấn". Còn gọi là Chumash [חומש] có nghĩa: "Bộ năm"; "Năm sách của Moses". Đây chính là Ngũ thư ("Pentateuch").
  2. Nevi'im [נביאים] có nghĩa: "Ngôn sứ"
  3. Ketuvim [כתובים;] có nghĩa "Văn chương" ("Hagiographa").

Tanakh còn được gọi là [מקרא;], Mikra hay Miqra.

Targum
Bản Targum vào thế kỉ 11

Thuật ngữ

Ba phần cấu tạo nên từ viết tắt Tanakh được thấy nhiều trong các tài liệu từ giai đoạn Đền Thờ thứ hai và trong văn chương rabbi. Tuy nhiên từ viết tắt Tanakh không được sử dụng trong giai đoạn đó mà thuật ngữ chính xác Mikra (Sách đọc) được sử dụng. Thuật ngữ Mikra tiếp tục được sử dụng cho đến ngày nay bên cạnh Tanakh để chỉ các văn bản kinh thánh Hebrew. (Trong ngôn ngữ nói tiếng Hebrew hiện đại, Mikra mang vẻ trịnh trọng hơn Tanakh.)

Vì các sách trong Tanakh phần lớn được viết bằng tiếng Hebrew nên nó còn được gọi là Kinh thánh Hebrew. (Một số phần của các sách Daniel và Ezra, cũng như một câu trong sách Jeremiah và từ địa danh hai chữ trong sách Sáng Thế, được viết bằng tiếng Aramaea - nhưng dù vậy, chúng vẫn được viết bằng hệ thống chữ viết Hebrew.)

Quy điển

Bài chính: Quy điển Do Thái.

Theo truyền thống Do Thái, Tanakh gồm 24 sách (được đánh số bên dưới). Torah có 5 sách, Nevi'im chứa 8 sách, Ketuvim có 11 sách.

Hai mươi bốn sách này cùng là các sách được có trong Cựu Ước của Kháng Cách, nhưng thứ tự các sách thì có khác. Việc đánh số cũng khác: người Kitô giáo xếp thành 39 sách. Đó là vì một số sách người Kitô giáo tính là vài sách nhưng người Do Thái chỉ tính một sách.

Vì vậy, người ta có thể chỉ ra khác biệt kĩ thuật giữa Tanakh của Do Thái giáo với cái tương tự, nhưng không giống hệt, được gọi là Cựu Ước của Kitô giáo. Vì vậy, một số học giả thường dùng thuật ngữ Kinh thánh Hebrew để đề cập đến phần tương đồng giữa Tanakh và Cựu Ước trong khi tránh được thiên kiến tôn giáo.

Cựu Ước của Công giáo RômaChính Thống giáo Đông phương bao gồm 6 sách không có trong Tanakh và một số phần trong Sách Daniel và Esther. Chúng được gọi là các sách thứ kinh (nguyên nghĩa là "đưa vào quy điển thứ phát", tức đưa vào quy điển sau).

Entire Tanakh scroll set

Các sách Tanakh

Văn bản tiếng Hebrew nguyên thuỷ chỉ gồm phụ âm cùng với một số chữ cái không nhất quán được dùng như nguyên âm (matres lectionis). Trong giai đoạn đầu của thời kì trung cổ, các Masoretes mã hoá truyền thống đọc Tanakh bằng miệng bằng cách thêm hai loại ký tự đặc biệt vào văn bản: niqqud (điểm nguyên âm) và dấu ngân tụng (cantillation). Dấu ngân tụng quy định cú pháp, nhấn (trọng âm) và giai điệu khi đọc.

Các sách Torah có các tên thường dùng đặt theo chữ nổi bật đầu tiên trong mỗi sách. Tên cách sách theo tiếng Anh cũng như tiếng Việt không được dịch từ tiếng Hebrew mà dựa trên các tên tiếng Hy Lạp dùng cho Bản Bảy Mươi (Septuaginta). Tên các sách trong Bản Bảy Mươi dựa trên tên được các rabbi đặt để miêu tả nội dung chủ đề của từng sách.

Torah

Các sách Torah (תּוֹרָה, nghĩa đen là "Giảng huấn") gồm:

  1. Sáng thế [בראשית] (Bereshit)
  2. Xuất hành [שמות] (Shemot)
  3. Lê-vi [ויקרא] (Vayiqra)
  4. Dân số [במדבר] (Bamidbar)
  5. Đệ nhị luật [דברים] (Devarim)

Nevi'im

Các sách Nevi'im (נְבִיאִים, "Ngôn sứ") gồm:

6. Joshua [יהושע] (Yeoshua)
7. Các Thủ lãnh [שופטים] (Shophtim)
8. Samuel (I & II) [שמואל] (Shemouel)
9. Các Vua (I & II) [מלכים] (Melakhim)
10. Isaiah [ישעיה] (Iescha'Yahou)
11. Jeremiah [ירמיה] (Irmeyahou)
12. Ezekiel [יחזקאל] (Ihezquel)
13. Mười hai ngôn sứ nhỏ [תרי עשר] (Schne-'Assar)
I. Hosea [הושע] (Hoshea)
II. Joel [יואל] (Ioel)
III. Amos [עמוס] ('Amos)
IV. Obadiah [עובדיה] ('Obadyah)
V. Jonah [יונה] (Iona)
VI. Micah [מיכה] (Mikha)
VII. Nahum [נחום] (Nahoum)
VIII. Habakkuk [חבקוק] (Habaqouq)
IX. Zephaniah [צפניה] (Sephanyah)
X. Haggai [חגי] (Hagaï)
XI. Zechariah [זכריה] (Zecharyah)
XII. Malachi [מלאכי] (Malakhi)

Ketuvim

Ketuvim (כְּתוּבִים, "Văn chương") gồm:

14. Thánh vịnh [תהלים] (Tehilim)
15. Châm ngôn [משלי] (Mishle)
16. Job [איוב] (Iob)
17. Diễm ca [שיר השירים] (Eikha)
18. Ruth [רות]
19. Ai ca [איכה]
20. Huấn ca [קהלת] (Qohelet)
21. Esther [אסתר] (Ester)
22. Daniel [דניאל]
23. Ezra-Nehemiah [עזרא ונחמיה] ('Ezra Nechemya)
24. Sử biên niên (I & II) [דברי הימים] (Dibre Hayamim)

Phân chương, câu và sách trong Tanakh

Việc phân chương và đánh số câu không quan trọng trong truyền thống Do Thái. Tuy nhiên, chúng được ghi trong mọi bản Tanakh hiện đại để định vị và trích dẫn. Các sách Samuel, Các Vua và Sử biên niên cũng được phân thành phần I và II và được đánh số chương và câu theo truyền thống văn bản Kitô giáo.

Việc áp dụng cách phân chương theo kiểu Kitô giáo trong Tanakt bắt đầu vào cuối thời trung cổTây Ban Nha, và điều này phản ánh sự diễn dịch kinh thánh của Kitô giáo.

Cựu Ước

Cựu Ước là phần đầu của toàn bộ Kinh Thánh Kitô giáo được tuyển chọn từ phần lớn kinh Tanakh của Do Thái giáo. Cựu Ước được sắp xếp thành các phần khác nhau như luật pháp, lịch sử, thi ca (hay các sách về sự khôn ngoan) và tiên tri. Tất cả các sách này đều được viết trước thời điểm sinh ra của Chúa Giêsu người Nazareth, người mà cuộc đời và tư tưởng là trọng tâm của Tân Ước.

Cần lưu ý rằng Do Thái giáo dùng từ Tanakh như là một thay thế cho thuật ngữ Cựu Ước, vì họ không chấp nhận Tân Ước là một phần của Kinh Thánh.

Danh sách nhân vật chính trong Kinh Thánh

Kinh Thánh là thuật ngữ chung chỉ các loại sách được tôn kính trong các tôn giáo như: Do Thái giáo, Kitô giáo, Hồi giáo. Do Thái giáo chỉ có Kinh thánh Do Thái còn gọi là Tanakh, họ không chấp nhận sử dụng thuật ngữ Cựu Ước dù rằng phần lớn sách của Cựu Ước là nằm trong Tanakh. cũng không chấp nhận quy điển Thánh Kinh hoặc Tân Ước mà Kitô giáo chọn lọc. Kitô giáo gọi Kinh Thánh là tất cả các sách Cựu Ước và Tân Ước. Sau đây là danh sách nhân vật lớn trong Kinh Thánh.

Do Thái giáo

Do Thái giáo (tiếng Hebrew יהודה, Yehudah, "Judah" theo tiếng Latin và tiếng Hy Lạp) là một tôn giáo độc thần cổ đại thuộc nhóm các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham đặt nền tảng trên Kinh Torah (là một phần của Kinh Tanakh hay Kinh Thánh Hebrew), gắn liền với lịch sử dân tộc Do Thái, như đã được diễn giải trong Kinh Talmud và các sách khác. Do Thái Giáo bao gồm tôn giáo, tư tưởng triết học và văn hoá của người Do Thái. Do Thái Giáo bao gồm một tập tài liệu văn bản tôn giáo đồ sộ, các cách thực hành đạo, các chức vụ thần học và các tổ chức cộng đồng tôn giáo. Kinh thánh Torah là một phần của văn bản tôn giáo đồ sộ này được gọi là Kinh Tanakh hoặc Kinh Thánh Hebrew, và bổ sung thêm là các giải thích kinh thánh truyền thống qua truyền miệng sau này được ghi chép qua các văn bản như Midrash và Talmud. Với khoảng 14,5 triệu cho đến 17,4 triệu tín đồ trên toàn thế giới, Do Thái giáo là tôn giáo lớn thứ mười trên toàn thế giới.

Chiều dài lịch sử của Do Thái Giáo đã trải qua hơn 3000 năm. Đạo Do Thái Giáo có nguồn gốc từ Trung Đông trong khoảng Thời đại đồ đồng. Do Thái Giáo được xem là một trong những tôn giáo độc thần cổ đại nhất thế giới. Đạo Do Thái giáo trong quan điểm của những người Do Thái sùng đạo thì tôn giáo này là mối quan hệ giao ước giữa Người Israel (cổ đại) (và sau này, người Do Thái) với Thiên Chúa, cho nên, nhiều người xem đây là tôn giáo độc thần đầu tiên. Do Thái giáo là một trong những tôn giáo cổ xưa nhất mà vẫn còn được thực hành cho đến ngày nay, sách thánh và rất nhiều truyền thống của Do Thái giáo tiếp tục được coi trọng trong các tôn giáo truyền thống Abraham nói chung. Vì thế, lịch sử và những luân lý đạo đức của Do Thái giáo có ảnh hưởng ít nhiều đến các tôn giáo khác, bao gồm cả Kitô giáo, Hồi giáo, và Bahá'í giáo.Nhiều phương diện của Do Thái giáo ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới các khái niệm về đạo đức và luật dân sự của phương Tây. Nền văn minh Hebrew cũng là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển nền văn minh phương Tây như Hellenism, và Do Thái giáo như là một tôn giáo mẹ đẻ của Kitô giáo, đã mài bén các lý tưởng và đạo đức phương Tây từ Kỷ nguyên Cơ Đốc giáo.Vì đại đa số người theo Do Thái giáo là người Do Thái nên tín đồ tôn giáo này cũng còn được gọi là người Do Thái, và gọi như thế là đang nói đến nhóm tôn giáo mang tính chất dân tộc, vì các lý do trong sách thánh đã xác định họ là một "dân riêng", một quốc gia, chứ không chỉ riêng những người theo đạo. Năm 2007, dân số Do Thái ước tính khoảng 13.2 triệu người, trong đó có 41% sinh sống ở Israel. Năm 2015, tổng dân số của người Do Thái trên toàn cầu được ước tính là khoảng 14.3 triệu người đóng góp 0.2% tổng dân số nhân loại. Khoảng 43% người Do thái sống ở quốc gia Israel và 43% người Do Thái sống ở nước Mỹ và Canada, đa số những người Do Thái còn lại thì đang sinh sống ở Châu Âu, và những nhóm người Do Thái dân tộc thiểu số khác thì sống ở vùng Nam Mỹ, Châu Á, Châu Phi, và Châu Úc.Trong Do Thái giáo hiện đại, giáo quyền không được trao cho một người riêng lẻ hay một cơ quan nào cả mà nó ở trong sách thánh, giáo luật, và các thầy giảng (Rabbi) là những người diễn dịch Kinh Thánh thành giáo luật. Theo những lời truyền của người Do Thái, tôn giáo này khởi nguồn bằng giao ước giữa Thiên Chúa và ông Abraham (khoảng năm 2000 trước Công nguyên), là tổ phụ và quốc tổ của nhà nước Do Thái. Qua nhiều thời đại, Do Thái giáo gắn liền với rất nhiều luân lý tôn giáo, mà quan trọng nhất là đức tin vào một Thiên Chúa duy nhất là đấng toàn năng, rất nhân từ, thông biết mọi sự, Người đã tạo dựng vũ trụ và tiếp tục thống trị nó. Theo tục truyền Do Thái, Thiên Chúa thiết lập giao ước với con cái Israel và hậu duệ, cho họ biết lề luật và giới răn của đấng này thông qua ông Moses trên Núi Sinai. Do Thái giáo trân trọng việc học hỏi Kinh Thánh và tuân giữ các điều răn đã ghi trong đó như đã được dẫn giải chi tiết trong sách Talmud.

Elisheba

Elisheba, còn được viết là Elisheva ( /əˈlɪʃᵻbə/; tiếng Hebrew: אֱלִישֶׁבַע‎, chuyển tự ’Ělîšeḇa‘ ) được đề cập đến trong Tanakh, là vợ của Aaron - tổ tiên của các thượng tế Do Thái.

Cô là con gái của Amminadab và em gái của Nahshon, chi tộc Giuđa (Exodus 6:23).Trong tiếng Do Thái, Eli có nghĩa là "Chúa tôi," và Sheba có nghĩa là "lời thề", vì vậy Eli-sheba tạm dịch là "Lời thề của Thiên Chúa", hoặc "Chúa là lời thề của tôi".

Kinh Thánh

Kinh Thánh (hoặc Thánh Kinh; từ gốc tiếng Hy Lạp: τὰ βιβλία, tà biblía, "những quyển sách") là từ ngữ để chỉ các văn bản thiêng liêng của nhiều niềm tin khác nhau, nhưng thường là từ các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham. Do Thái giáo và Kitô giáo chia sẻ cùng một thuật ngữ "Kinh Thánh", mặc dù giữa họ không đồng nhất về số lượng sách. Quy điển Kinh Thánh là cách thức tuyển chọn và công nhận sách nào được cho là thiêng liêng. Các văn bản này thường được viết trong giai đoạn hình thành của các niềm tin Do Thái giáo và Kitô giáo; những người lãnh đạo của các cộng đồng này tin đây là các sách được linh truyền từ Thiên Chúa để thể hiện lịch sử uy quyền của mối liên hệ giữa Thiên Chúa và dân của ngài. Kinh Thánh có thể nói là sự ghi chép theo sự truyền đạt của một vị Thánh trong Thánh đạo.

Người Do Thái gọi Kinh Thánh của họ là Tanakh, gồm 24 quyển, chia làm 3 phần: Sách Luật Giao Ước (Torah), Sách Ngôn Sứ (Nevi'im) và Sách Văn Chương (Ketuvim).

Kinh Thánh Kitô giáo gồm Cựu Ước (nghĩa là "Giao ước cũ") và Tân Ước (nghĩa là "Giao ước mới"). Cựu Ước là phần kế thừa từ Tanakh, được chia thành các nhóm sách: Ngũ Thư, Lịch sử, Ngôn Sứ và Giáo Huấn; còn Tân Ước là các văn bản do các môn đệ của Chúa Giêsu (và những người thừa kế họ) viết ra với nội dung liên quan đến cuộc đời ông. Tân Ước gồm 27 quyển, số lượng này được cố định vào thế kỷ thứ 4 và được hầu hết các giáo hội Kitô giáo chấp nhận. Chúng bao gồm sách Phúc Âm, sách Công vụ Tông đồ, các thư của Phaolô, các thư của các sứ đồ khác và sách Khải Huyền.

Dù Tanakh gồm 24 quyển, nhưng các nhóm Kháng Cách tính thành 39 quyển. Giáo hội Công giáo và các giáo hội Kitô khác có thêm một số sách trong Cựu Ước, lấy từ Bản Bảy Mươi (Septuaginta) của Do Thái vì họ giữ các sách này lại sau khi chúng bị những người Cải cách Kháng Cách (Tin Lành) loại bỏ.

Kinh Thánh là bộ sách bán chạy nhất mọi thời đại, ước tính mỗi năm có thêm 100 triệu bản, và nó đã gây sức ảnh hưởng lớn về văn học và lịch sử, đặc biệt là ở phương Tây, nơi mà nó là sách đầu tiên được in hàng loạt.

Kinh Thánh có lẽ là bộ sách gây ảnh hưởng nhiều nhất trong lịch sử loài người. Số bản in Kinh Thánh vượt mọi sách khác. Kinh Thánh Hebrew giáo cũng như Kinh Thánh Kitô giáo được dịch nhiều lần, sang nhiều ngôn ngữ hơn bất cứ sách nào khác. Kinh Thánh trọn bộ, hoặc một phần, đã được dịch sang hơn 2.100 ngôn ngữ của 90% dân số thế giới. Kể từ năm 1815, ước tính có khoảng hơn 5 tỉ ấn bản Kinh Thánh trọn bộ hoặc các phần quan trọng của Kinh Thánh được phân phối, trở nên sách bán chạy nhất trong mọi thời đại.

Thuật ngữ "Kinh Thánh" cũng được dùng cho các văn bản thiêng liêng của các niềm tin không Do Thái và không Ki-tô; vì vậy Guru Granth Sahib thường được dùng để chỉ "Kinh Thánh Sikh".

Nhiều nhà giáo dục thấy rằng Kinh Thánh Ki-tô giáo đã ăn rễ vững chắc vào văn hoá phương Tây đến nỗi "bất cứ ai, dù có niềm tin hay không, nếu không quen thuộc với các giá trị và giáo huấn của Kinh Thánh sẽ trở nên dốt nát về văn hoá."Từ "kinh Thánh" trong tiếng Hy Lạp là βιβλια (biblia), nghĩa là "sách", từ này lại có nguồn gốc từ βυβλος (byblos) có nghĩa "giấy cói" (papyrus), từ tên của thành phố Byblos xứ Phenicie (Phoenicia) cổ đại, là nơi xuất khẩu giấy cói.

Kinh Thánh Hebrew

Kinh Thánh Hebrew là phần chung của Kinh Thánh quy điển của Do Thái giáo và Kitô giáo. Tên gọi này được sử dụng bởi hầu hết các học giả Kinh Thánh trong môi trường học thuật vì nó là thuật ngữ không thiên vị khi đề cập đến Tanakh và Cựu Ước. Chữ Hebrew ở đây liên quan đến tiếng Hebrew hay người Hebrew (đặc biệt đề cập đến người Do Thái, sử dụng tiếng Hebrew làm ngôn ngữ nói ở Israel, hoặc làm ngôn ngữ cầu nguyện và học thuật trong cộng đồng dân tộc) hay cả hai.

Vì là phần chung của quy điển Kinh Thánh Hebrew giáo và Kitô giáo nên nó không bao gồm các Thứ Kinh, phần lớn từ Bản Bảy Mươi tiếng Hy Lạp, được dùng trong Cựu Ước của các giáo hội Công giáo Rôma và Chính Thống giáo Đông phương; vì vậy thuật ngữ "Kinh Thánh Hebrew" chỉ tương ứng với Cựu Ước của các giáo hội Tin Lành.

Ngôn sứ

Trong tôn giáo, ngôn sứ hay nhà tiên tri là người được cho là tiếp xúc với thần linh hoặc các lực lượng siêu nhiên, và là người phát ngôn, truyền đạt thông điệp của thần linh cho mọi người. Thông điệp mà nhà tiên tri truyền đạt được gọi là một lời tiên tri. Trong đạo Do Thái, một thông điệp chỉ đơn thuần là đoán mò, lễ bái, bói toán hoặc dự báo, và điểm nổi bật nhất ở các lời tiên tri trong Tanakh thường liên quan đến những vấn đề về cân bằng tự nhiên.

Chức vụ ngôn sứ đã xuất hiện trong nhiều nền văn hóa xuyên suốt dòng lịch sử, trong đó có Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo, Hồi giáo, cũng như trong Hy Lạp cổ đại, Hỏa giáo,v.v. Theo truyền thống, các ngôn sứ được coi là có vai trò thúc đẩy sự thay đổi trong xã hội do các thông điệp và hành động của họ.

Ngũ Thư

Ngũ Thư là năm quyển sách đầu tiên trong Kinh Thánh Hebrew, bao gồm: Sách Sáng thế, Sách Xuất hành, Sách Lêvi, Sách Dân số và Sách Đệ nhị luật. Trong Do Thái giáo, Ngũ Thư được gọi là Torah, và là phần đầu của Tanakh; trong khi đó với Kitô giáo, đây là phần đầu của Cựu Ước.

Năm sách này trình bày về công cuộc sáng tạo vũ trụ và muôn loài của Thiên Chúa, sự kiện cả dân tộc Israel được giải thoát ra khỏi Ai Cập, giao ước của dân với Thiên Chúa, hành trình tiến về miền đất hứa Canaan, các luật lệ tôn giáo và dân sự, những vấn đề lớn có liên quan đến lịch sử sơ khai của Israel v.v.

Sách Giôsuê

Sách Giôsuê hay Giosuê (tiếng Do Thái: ספר יהושע) là cuốn sách thứ sáu trong Kinh thánh Do Thái của người Do Thái (Tanakh) và Cựu Ước của Kitô giáo. Cuốn sách này viết về nhà tiên tri đầu tiên của Israel, người kế vị ông Moses. Sách của Giôsuê còn ghi chép về lịch sử của Israel, từ sau cái chết của Moses.

Sách Giảng Viên

Sách Giảng Viên (tiếng Hy Lạp: Ἐκκλησιαστής, Ekklesiastes; tiếng Do Thái: קֹהֶלֶת, Qoheleth, Koheleth) là một quyển sách Kinh Thánh Do Thái thuộc nhóm sách Ketuvim, đối với Kitô giáo, nó là một sách thuộc Cựu Ước. Nội dung sách là lời của một người tên là Côhelét (Koheleth) nên cũng được gọi là Sách của ông Côhelét. Côhelét tự giới thiệu mình là "con trai của David, vua cai trị Israel ở Jerusalem", có lẽ ngụ ý rằng ông là Salomon, nhưng thực tế tác phẩm được viết vào cuối thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên.

Sách Giảng Viên mang hình thức một cuốn tự truyện của Côhelét về những suy tư, thao thức về ý nghĩa của cuộc đời và phương cách để sống tốt trong cuộc đời của mỗi người. Ông tuyên bố rằng tất cả mọi chuyện con người làm đều là "phù vân", chóng qua; người khôn và kẻ dại cũng đều kết thúc bằng cái chết. Côhelét vẫn ủng hộ những hành động khôn ngoan như là một phương tiện để sống cuộc đời trần thế nhưng rồi ông vẫn không cho rằng nó mang đến ý nghĩa cho sự sống đời đời. Ông gợi ý rằng người ta nên tận hưởng những niềm vui đơn giản trong cuộc sống thường ngày, vì đó là quà tặng Thiên Chúa ban. Sách Giảng Viên kết thúc bằng câu: "Lời kết luận cho tất cả mọi điều bạn đã nghe ở trên đây là: hãy kính sợ Thiên Chúa và tuân giữ các mệnh lệnh Người truyền, đó là tất cả đạo làm người, 14 vì Thiên Chúa sẽ đưa ra xét xử tất cả mọi hành vi, kể cả những điều tiềm ẩn, tốt cũng như xấu." (12:13).

Sách Rút

Sách Rút là một quyển sách thuộc Tanakh (Kinh thánh Do Thái) và Cựu Ước. Đây là một cuốn sách khá ngắn, chỉ bao gồm bốn chương. Sách này kể chuyện về bà Rút. Bà là một phụ nữ ngoại bang gốc Môáp (Moab) lấy chồng là một người Israel, nhưng ông này chết sớm. Trung thành với người chống đã chết, bà Rút quyết định theo mẹ chồng về Palestine. Sau này, bà trở thành bà cố nội của vua David của Israel.

Sách Đệ Nhị Luật

Đệ nhị luật là cuốn sách thứ năm của Kinh thánh Do Thái và Cựu Ước. Đệ nhị luật tiếp tục ghi chép lại hành trình bốn mươi năm của dân tộc Israel trong sa mạc, nhưng được cách ngôn bởi Moses. Trung tâm của nó là hệ thống lề luật mà Moses tha thiết căn dặn Israel phải ghi nhớ và thực thi vì chính đây là những điều Thiên Chúa đã truyền dạy cho họ thông qua ông. Tất cả gồm ba bài đại thuyết giảng. Phần lớn giới nghiên cứu cho rằng, Đệ nhị luật có thể được biên soạn vào cuối thế kỷ 7 sau Công Nguyên, trong quá trình triển khai thực hiện cải cách tôn giáo theo vua Josiah (Giô-si-a), cho đến khi Judah (Giuđa) bị sụp đổ trước người Babylon năm 586 TCN.Tên gọi "Đệ nhị luật" trong tiếng Việt của Công giáo Rôma bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: Deuteronomion (Latinh: Deuteronomium), nghĩa là "pháp luật thứ hai". Tuy nhiên, Tin Lành lại gọi quyển sách này là "Phục truyền luật lệ ký".

Sông Jordan

Sông Jordan (tiếng Hebrew: נהר הירדן nehar hayarden, tiếng Ả Rập: نهر الأردن nahr al-urdun) là một sông ở Tây Nam Á, chảy từ chân núi Hermon vào biển Chết. Sông này được coi là một trong các sông thiêng liêng nhất thế giới. Sông dài 251 km (156 dặm Anh).

Thiên sứ

Thiên sứ, còn gọi là thiên thần (Chữ "thiên" nghĩa là trời còn chữ "thần" nghĩa là cái gì đó linh thiêng, gọp lại thành chữ có nghĩa là cái gì đó linh thiêng từ trời), là những thực thể ở trên cao, được tìm thấy trong nhiều tôn giáo. Bổn phận của thiên sứ là phục vụ Thiên Chúa. Theo niềm tin của ba tôn giáo chính thuộc độc thần giáo, các thiên sứ thường thi hành nhiệm vụ của các sứ giả.

Thiên thần bản thân cũng là một vị Thánh.

Thánh Vịnh

Sách Thánh Vịnh (hay còn gọi là Thi Thiên) là một sách nằm trong Kinh Tanakh và Cựu Ước. Sách Thánh Vịnh là tập hợp bao gồm 150 bài thơ, bài hát tôn giáo (gọi chung là các bài Thánh Vịnh sau là Thánh Ca). Khi Kinh Thánh được chia thành chương, mỗi bài Thánh Vịnh được coi là một chương riêng và chúng được đặt tên bằng cách đánh số. Tuy nhiên, việc đánh số Thánh Vịnh có sự khác biệt giữa bản Do Thái và bản Hy Lạp.

Tiếng Hebrew

Tiếng Hebrew (phiên âm tiếng Việt: Híp-ri, Hê-brơ, Hi-bru, hoặc Hy-bá-lai), cũng được gọi một cách đại khái là "tiếng Do Thái", là một ngôn ngữ bản địa tại Israel, được sử dụng bởi hơn 9 triệu người trên toàn cầu, trong đó 5 triệu ở Israel. Về mặt lịch sử, đây là ngôn ngữ của người Israel cổ đại và tổ tiên họ, dù nó không được gọi là "Hebrew" trong Tanakh. Những mẫu viết chữ Cổ Hebrew cổ nhất có niên đại từ thế kỷ 10 Trước Công Nguyên. Tiếng Hebrew thuộc về nhánh Semit của ngữ hệ Phi-Á. Tiếng Hebrew được viết và đọc từ phải sang trái, giống tiếng Ả Rập và tiếng Ba Tư.

Tiếng Hebrew biến mất như một ngôn ngữ nói hàng ngày từ khoảng năm 200 đến 400, do hậu quả của khởi nghĩa Bar Kokhba. Tiếng Aram và (ở mức độ thấp hơn) tiếng Hy Lạp lúc đó được sử dụng như lingua franca, đặc biệt trong giới thượng lưu và dân nhập cư. Nó tồn tại qua thời kỳ trung cổ như ngôn ngữ dùng trong phụng vụ Do Thái giáo và văn học giáo đoàn. Sau đó, vào thế kỷ 19, nó được hồi sinh như một ngôn ngữ nói và viết, và, theo Ethnologue, trở thành ngôn ngữ của 5 triệu người toàn cầu vào năm 1998. Sau Israel, Hoa Kỳ có số người nói tiếng Hebrew đông thứ nhì, với 220.000 người nói thành thạo, đa số đến từ Israel.

Tiếng Hebrew hiện đại là một trong hai ngôn ngữ chính thức của Nhà nước Israel (ngôn ngữ còn lại là tiếng Ả Rập chuẩn hiện đại), còn tiếng Hebrew tiền hiện đại được dùng khi cầu nguyện và nghiên cứu trong các cộng đồng người Do Thái hiện nay. Tiếng Hebrew cổ đại cũng là ngôn ngữ phụng vụ của người Samaria. Như một ngoại ngữ, nó được đa phần người Do Thái và các nghiên cứu sinh Do Thái giáo và Israel, các nhà khảo cổ và ngôn ngữ học chuyên về Trung Đông và các nền văn minh của nó, học và nghiên cứu.

Ngũ Thư (Torah) và hầu hết phần còn lại của Kinh Thánh Hebrew (Tanakh) được viết bằng tiếng Hebrew Cổ điển (hay tiếng Hebrew Kinh Thánh). Vì lý do này, từ thời cổ đại tiếng Hebrew đã được người Do Thái gọi là Leshon HaKodesh, "Thánh ngữ".

Torah

Torah (tiếng Hebrew: תּוֹרָה, "Hướng dẫn", "Dạy dỗ"), hoặc những gì thường được dịch là Ngũ Thư, là khái niệm trung tâm trong truyền thống Do Thái giáo. Nó có một loạt các ý nghĩa: nó có thể đề cập tới 5 cuốn sách đầu tiên trong 24 cuốn sách của bộ Tanakh; nó thường bao gồm thêm trong đó các bài chú giải rabbi; từ Torah có nghĩa là hướng dẫn và chỉ ra một cách sống cho những người theo nó; nó có thể mang nghĩa là câu chuyện tiếp tục từ Sáng Thế Ký đến cuối của Tanakh; thậm chí nó có thể có nghĩa là toàn bộ các giáo huấn, văn hóa và tục lệ Do Thái giáo. Nói chung, Torah bao gồm các câu chuyện nền tảng của người Do Thái: lời gọi của Thiên Chúa để hình thành nên dân tộc họ, những thử thách và đau khổ của họ, và giao ước của họ với Thiên Chúa, trong đó bao gồm việc tuân giữ cách sống được hiện thực hóa trong một tập hợp các nghĩa vụ tôn giáo và luân lý cũng như các luật pháp dân sự (halakha).

Tổng lãnh thiên thần Micae

Micae (tiếng Do Thái: מִיכָאֵל‎, Micha'el hoặc Mîkhā'ēl; tiếng Hy Lạp: Μιχαήλ, Mikhaḗl; tiếng Latin: Michael hoặc Míchaël; tiếng Ả Rập: ميخائيل‎, Mīkhā'īl) là một tổng lãnh thiên thần trong niềm tin của Do Thái giáo, các giáo hội Kitô giáo và Hồi giáo. Trong Giáo hội Công giáo Rôma, Chính Thống giáo Đông phương, Anh giáo và Lutheran, ông còn được xưng tụng là "Thánh Tổng lãnh thiên thần Micae" hoặc "Thánh Micae".

Trong tiếng Do Thái, Micae có nghĩa là "người giống Thiên Chúa". Micae được nhắc đến ba lần trong Sách tiên tri Daniel của Tanakh (Cựu Ước). Mặc dù Do Thái giáo tin Micae là một người che chở cho dân tộc họ nên ông chiếm một vị trí nhất định trong việc thờ phượng, nhưng họ không cho rằng ông là đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người.

Trong Sách Khải Huyền của Tân Ước, Micae được mô tả là người lãnh đạo các thiên thần trung thành với Thiên Chúa chống lại Lucifer và các thiên thần nổi loạn trong cuộc Chiến tranh trên Thiên đàng, phe ông đã chiến thắng và Lucifer bị trục xuất khỏi thiên đàng. Việc tôn kính Tổng lãnh thiên thần Micae đã phổ biến rộng rãi trong các Giáo hội Kitô giáo Đông phương lẫn Tây phương nhưng theo thời gian, quan điểm giáo lý về Micae đã bắt đầu có sự khác biệt giữa họ. Nhìn chung, Micae được biết đến nhiều hơn trong số các thiên thần có tên gọi.

Đất Thánh

Đất Thánh (tiếng Hebrew: ארץ הקודש‎; Eretz HaQodesh; tiếng Ả Rập: الأرض المقدسة Al-Ard Al-Muqaddasah) là thuật ngữ trong Do Thái giáo chỉ Vương quốc Israel như được xác định trong bộ kinh Tanakh. Đối với những người Do Thái, việc xác định vùng đất được coi là Thánh trong "Do Thái giáo" là để phân biệt với các vùng đất khác, do việc thực hành "Do Thái giáo" thường chỉ có thể diễn ra trong vùng Đất của Israel.

Thuật ngữ "Đất Thánh" cũng được những người Hồi giáo và Kitô giáo sử dụng để chỉ toàn bộ khu vực giữa sông Jordan và Địa Trung Hải.

Một phần tầm quan trọng của đất Thánh xuất phát từ ý nghĩa tôn giáo của Jerusalem, thành phố linh thiêng nhất đối với Do Thái giáo, nơi giảng đạo của Chúa Giêsu (trong Kitô giáo), và sự kiện Isra và Mi'raj trong Hồi giáo.

Nhiều nơi trong Đất Thánh là những địa điểm hành hương tôn giáo của người Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo từ thời Thánh Kinh.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.