Tổng thống Hoa Kỳ

Tổng thống Hoa Kỳnguyên thủ quốc gia (head of state) và cũng là người đứng đầu chính phủ (head of government) Hoa Kỳ. Đây là viên chức chính trị cao cấp nhất về mặt ảnh hưởng và được công nhận như vậy tại Hoa Kỳ. Tổng thống lãnh đạo ngành hành pháp của Chính phủ liên bang Hoa Kỳ và là một trong hai viên chức liên bang duy nhất được toàn quốc Hoa Kỳ bầu lên (người kia là Phó Tổng thống Hoa Kỳ).[7]

Trong số những trách nhiệm và quyền hạn khác, Điều khoản II Hiến pháp Hoa Kỳ giao cho Tổng thống hành xử một cách trung thành luật liên bang, đưa Tổng thống vào vai trò tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ, cho phép Tổng thống đề cử các viên chức tư pháp và hành pháp với sự góp ý và ưng thuận của Thượng viện và cho phép Tổng thống ban lệnh ân xá.

Tổng thống được dân chúng bầu lên một cách gián tiếp thông qua Đại cử tri đoàn trong một nhiệm kỳ 4 năm. Kể từ năm 1951, các Tổng thống Hoa Kỳ chỉ được phục vụ giới hạn hai nhiệm kỳ theo Tu chính án 22, Hiến pháp Hoa Kỳ.

44 cá nhân đã được bầu hoặc kế nhiệm trong chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ. Tổng thời gian phục vụ của tất cả các tổng thống là 56 nhiệm kỳ bốn năm.[8]

Tổng thống Hoa Kỳ
Seal of the President of the United States
Ấn Tổng thống
Flag of the President of the United States
Cờ Tổng thống
Donald Trump official portrait
Đương nhiệm
Donald Trump

từ 20 tháng 1 năm 2017
Chính quyền liên bang Hoa Kỳ
Văn phòng điều hành của phủ tổng thống Hoa Kỳ
Chức vụTổng thống
(Không chính thức)[1][2]
The Honorable
(Nghi thức)[3]
Excellency[4][5][6]
(Ngoại giao, ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ)
Thành viên củaNội các Hoa Kỳ
Hội đồng Chính sách Nội địa Hoa Kỳ
Hội đồng Kinh tế Quốc gia Hoa Kỳ
Hội đồng An ninh Quốc gia
Bổ nhiệm bởiĐại cử tri đoàn
Nhiệm kỳ4 năm
Một lần tái đắc cử
Tuân theoHiến pháp Hoa Kỳ
Người đầu tiên giữ chứcGeorge Washington
30 tháng 4 năm 1789
Thành lập4 tháng 3 năm 1789
Lương$400.000 hàng năm
Trụ sởNhà Trắng, Washington, D.C.
WebsiteWhite House

Ban đầu

Năm 1783, Hiệp định Paris (1783) đã mang lại cho Hoa Kỳ một nền độc lậphòa bình nhưng với một cơ cấu chính phủ chưa rõ ràng. Đệ Nhị Quốc hội Lục địa đã phác thảo ra Các điều khoản Hợp bang vào năm 1777 có nói đến một hợp bang vĩnh viễn nhưng chỉ cho phép Quốc hội là cơ quan liên bang duy nhất - quá ít quyền lực để tài trợ cho chính mình hay bảo đảm rằng những nghị quyết của quốc hội có được thi hành hay không. Việc này một phần phản ánh quan điểm chống vương quyền trong thời cách mạng và hệ thống chính trị Mỹ mới này rõ ràng được tạo dựng lên để ngăn chặn sự trỗi dậy của một bạo chúa Mỹ.

Tuy nhiên, trong suốt cuộc khủng hoảng kinh tế do sự sụp đổ của đồng tiền Lục địa theo sau cuộc Cách mạng Mỹ, sự sống còn của Chính phủ Mỹ bị đe dọa bởi sự bất ổn chính trị tại một số tiểu bang, bởi những nỗ lực của những người thiếu nợ muốn dùng chính phủ nhân dân để xóa nợ cho họ, và bởi sự bất lực thấy rõ của Quốc hội Lục địa trong việc cưỡng bách công chúng thi hành bổn phận của mình từng được áp dụng trong thời chiến. Quốc hội có vẻ cũng không thể trở thành một diễn đàn hợp tác sản xuất trong số các tiểu bang khuyến khích phát triển kinh tế và thương mại. Để đối phó, Hội nghị Philadelphia được triệu tập, bề ngoài như có vẻ phác thảo ra các tu chính cho Các điều khoản Hợp bang, nhưng thay vào đó đã bắt đầu thảo ra một hệ thống chính phủ mới gồm có ngành hành pháp có nhiều quyền lực hơn trong khi vẫn duy trì hệ thống kiểm soát và cân bằng quyền lực với chủ đích là ngăn chặn bất cứ ai có ý muốn trở thành "đế vương" khi đang làm tổng thống.

Các cá nhân chủ trì Quốc hội Lục địa trong thời Cách mạng Mỹ và dưới Hiến pháp Hợp bang có chức danh là "President of the United States in Congress Assembled" (có nghĩa là Tổng thống Hoa Kỳ tại Quốc hội nhóm họp), thường viết tắt thành "President of the United States" (Tổng thống Hoa Kỳ). Tuy nhiên, chức vụ này có ít quyền lực hành pháp riêng biệt. Sau khi Hiến pháp Hoa Kỳ được thông qua năm 1788, một ngành hành pháp riêng biệt được tạo ra và được Tổng thống Hoa Kỳ lãnh đạo.

Quyền hành pháp của tổng thống theo Hiến pháp Hoa Kỳ, bị kiềm chế bởi hệ thống kiểm soát và cân bằng quyền lực của hai ngành lập pháp và tư pháp của chính phủ liên bang, được tạo ra để giải quyết một số vấn đề chính trị mà quốc gia non trẻ đang đối diện và lại phải đối phó với các thử thách trong tương lai trong lúc đó vẫn ngăn cản được sự trỗi dậy của một kẻ độc tài.

Trách nhiệm và quyền lực

Vai trò lập pháp theo Điều khoản I Hiến pháp

Quyền lực đầu tiên được Hiến pháp Hoa Kỳ quy định dành cho tổng thống là quyền phủ quyết của tổng thống đối với các quy trình lập pháp của Quốc hội Hoa Kỳ. Đoạn 2 và 3, Phần 7, Điều khoản 1, Hiến pháp Hoa Kỳ bắt buộc bất cứ đạo luật nào mà Quốc hội Hoa Kỳ thông qua đều phải được trình lên tổng thống trước khi trở thành luật. Một khi đạo luật đã được trình lên thì tổng thống có ba sự chọn lựa:

  1. Ký văn bản luật và đạo luật sẽ trở thành luật.
  2. Phủ quyết văn bản luật, trả về Quốc hội kèm theo bất cứ lý do vì sao mình phản đối. Đạo luật sẽ không thành luật trừ khi cả hai viện lập pháp của Quốc hội biểu quyết với tỉ lệ 2/3 phiếu thuận để gạt bỏ sự phủ quyết của tổng thống.
  3. Không hành động gì. Trong trường hợp này, tổng thống không ký và cũng không phủ quyết văn bản luật. Sau 10 ngày, không kể chủ nhật, có hai trường hợp có thể xảy ra:
    • Nếu Quốc hội vẫn còn nhóm họp thì đạo luật trở thành luật.
    • Nếu Quốc hội không nhóm họp thì văn bản luật không thể trả về Quốc hội được. Lúc đó đạo luật không thành luật. Trường hợp này được biết đến là "pocket veto" (tạm dịch là "phủ quyết gián tiếp").

Năm 1996, Quốc hội tìm cách nâng cao quyền phủ quyết của tổng thống qua Đạo luật phủ quyết từng phần (Line Item Veto Act). Dự luật này cho phép tổng thống ký thành luật bất cứ đạo luật chi tiêu nào trong khi đó có quyền phủ quyết các mục chi tiêu nào đó trong đạo luật này, đặc biệt là bất cứ khoản chi tiêu mới nào, hay bất cứ tổng số chi tiêu nào, hoặc bất cứ lợi ích về thuế có giới hạn mới nào. Một khi tổng thống đã phủ quyết một mục nào đó trong đạo luật thì Quốc hội cũng có thể tái thông qua mục đó. Nếu tổng thống lại phủ quyết thì Quốc hội Hoa Kỳ có thể gạt bỏ sự phủ quyết của tổng thống bằng cách thông thường là biểu quyết với tỉ lệ 2/3 phiếu thuận tại cả hai viện lập pháp. Trong vụ kiện tụng Clinton đối đầu Thành phố New York, 524 U.S. 417 (1998), Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã phán quyết rằng việc thay đổi quyền lực phủ quyết như thế là vi hiến.

Điều khoản Hiến pháp II về quyền lực hành pháp

Quyền lực đối ngoại và chiến tranh

Abraham Lincoln O-116 by Gardner, 1865-crop
Abraham Lincoln, Tổng thống Hoa Kỳ thứ 16, người đã thành công giữ vững liên bang trong thời Nội chiến Hoa Kỳ.

Có lẽ điều quan trọng nhất trong số những quyền lực của tổng thống là quyền lực tư lệnh Quân đội Hoa Kỳ trong vai trò tổng tư lệnh. Trong lúc quyền lực tuyên chiến được Hiến pháp đặt nằm trong tay Quốc hội thì tổng thống là người nắm quyền tư lệnh và điều khiển trực tiếp quân đội và có trách nhiệm lập kế hoạch chiến lược quân sự. Những vị khai sinh ra Hiến pháp Hoa Kỳ đã thận trọng trong việc giới hạn các quyền lực của tổng thống liên quan đến quân sự; Alexander Hamilton giải thích điều này trong bài viết Federalist số 69:

Tổng thống phải là tổng tư lệnh lục quân và hải quân của Hoa Kỳ.... Điều này không bao trùm hơn quyền tư lệnh tối cao và quyền điều khiển các lực lượng hải quân và quân sự... trong khi đó quyền lực này của vua Anh bao trùm cả việc tuyên chiến, tuyển mộ thành lập quân đội và đặt ra các quy định đối với các hạm đội và lục quân. Tất cả những quyền lực như thế... phải do quốc hội đảm trách.[9]

Quốc hội, theo Nghị quyết về Quyền lực Chiến tranh, phải cho phép bất cứ một cuộc khai triển quân đội nào kéo dài hơn 60 ngày. Ngoài ra, Quốc hội cũng đảm trách việc theo dõi quyền lực quân sự của tổng thống qua việc kiểm soát các quy định và chi tiêu quân sự.

Song song việc nắm giữ các lực lượng vũ trang, tổng thống cũng là người nắm giữ chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ. Qua Bộ Ngoại giao Hoa KỳBộ Quốc phòng Hoa Kỳ, tổng thống có trách nhiệm bảo vệ người Mỹ ở hải ngoại và công dân ngoại quốc tại Hoa Kỳ. Tổng thống có quyền quyết định việc có nên công nhận các quốc gia mới và chính phủ mới hay không, và thương thuyết các hiệp định với các quốc gia khác. Các hiệp định này có hiệu lực khi được Thượng viện Hoa Kỳ chấp thuận với 2/3 số phiếu tán thành.

Mặc dù không được quy định trong hiến pháp nhưng tổng thống đôi khi cũng có quyền thực hiện những "thỏa ước hành pháp" trong quan hệ đối ngoại. Thông thường, những thỏa ước này có liên quan đến các vấn đề nằm trong phạm vi quyền lực hành pháp; thí dụ, thỏa ước với một quốc gia nào đó mà Hoa Kỳ có lực lượng quân sự hiện diện tại đó, cách nào để một quốc gia thi hành các hiệp định về bản quyền, hay làm sao để thực hiện việc giao dịch thư từ ngoại quốc. Tuy nhiên, thế kỷ XXI đã cho thấy rằng có một sự mở rộng rất lớn về những thỏa hiệp hành pháp như thế. Những người chỉ trích đã chống lại việc nới rộng việc sử dụng những thỏa ước hành pháp như thế vì chúng đã bỏ qua các quy trình tạo ra hiệp định và cũng như loại bỏ sự kiểm soát và cân bằng quyền lực mà hiến pháp đã quy định đối với ngành hành pháp trong quan hệ đối ngoại. Những người ủng hộ đáp trả lại rằng những thỏa ước như thế tạo ra một giải pháp mang tính thời đại khi nhu cầu hành động nhanh chóng, bí mật và đồng điệu ngày càng gia tăng.

Quyền lực hành pháp

Tổng thống là viên chức hành chính trưởng của Hoa Kỳ và như thế ông là người đứng đầu ngành hành pháp của chính phủ Hoa Kỳ. Trách nhiệm của tổng thống là "trông coi việc luật pháp được thi hành một cách trung thực." Để thực hiện bổn phận này, tổng thống được giao trách nhiệm nắm giữ 4 triệu công chức ngành hành pháp liên bang.

Tổng thống bổ nhiệm rất nhiều công chức trong ngành hành pháp: một vị tổng thống sắp nhận nhiệm sở có thể thâu nhận đến 6.000 viên chức trước khi ông nhận chức và thêm 8.000 người nữa trong suốt nhiệm kỳ của mình. Các đại sứ, các thành viên Nội các Hoa Kỳ, và những viên chức liên bang khác là được tổng thống bổ nhiệm với sự góp ý và ưng thuận của đa số tại Thượng viện Hoa Kỳ. Những cuộc bổ nhiệm viên chức được thực hiện vào thời điểm Thượng viện nghỉ họp chỉ có hiệu lực tạm thời và sẽ hết hạn vào lúc Thượng viện nhóm họp lại.

Quyền của tổng thống sa thải các viên chức hành pháp từ lâu nay là một vấn đề tranh chấp chính trị. Thông thường, tổng thống có quyền sa thải các viên chức hành pháp theo ý của mình.[10] Tuy nhiên, theo luật định thì Quốc hội có thể ngăn chặn và kiềm chế quyền của tổng thống khi sa thải các ủy viên của các cơ quan độc lập đặc trách về các quy định kiểm soát về các vấn đề đặc biệt nào đó hay một số các viên chức hành pháp cấp thấp.[11]

Tổng thống có khả năng điều hành phần nhiều ngành hành pháp bằng các sắc lệnh hành pháp. Những sắc lệnh này dựa vào luật liên bang hay quyền hành pháp mà Hiến pháp Hoa Kỳ ban cho và vì vậy có sức mạnh về mặt luật pháp. Những sắc lệnh hành pháp này có thể bị tòa án liên bang xem xét lại hoặc có thể bị vô hiệu quá bằng quy trình thay đổi luật.

Quyền tư pháp

Tổng thống cũng có quyền đề cử các thẩm phán liên bang trong đó bao gồm các phẩm phán tòa phúc thẩm và Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ. Tuy nhiên, các thẩm phán được đề cử này phải được Thượng viện Hoa Kỳ chấp thuận. Thật không dễ dàng đối với các vị tổng thống có ý định quay chiều hướng pháp lý liên bang về phía một lập trường tư tưởng đặc biệt nào đó bằng việc đề cử các vị thẩm phán có tư tưởng ủng hộ lập trường đó. Khi đề cử các thẩm phán tòa án sơ thẩm, tổng thống thường tôn trọng truyền thống xưa nay là hỏi thăm ý kiến của thượng nghị sĩ Hoa Kỳ đại diện cho tiểu bang mà thẩm phán sẽ được đề cử. Tổng thống cũng có thể ban hành lệnh ân xá hay giảm án và việc này thường hay xảy ra ngay trước khi kết thúc nhiệm kỳ tổng thống của mình.

SOU2007
Tổng thống George W. Bush đọc Diễn văn về Tình trạng Liên bang năm 2007, cùng với Phó tổng thống Dick CheneyChủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi phía sau ông.

Đặc quyền Hành pháp cho phép tổng thống cất giữ thông tin không cho Quốc hội và các tòa án liên bang xem với lý do vì vấn đề an ninh quốc gia. Tổng thống George Washington là người đầu tiên giành được đặc quyền này khi Quốc hội yêu cầu xem sổ ghi chép của Thẩm phán trưởng Hoa Kỳ, John Jay có liên quan đến một cuộc thương lượng điều đình không được công bố với Vương quốc Anh. Mặc dù không có ghi trong Hiến pháp Hoa Kỳ hay trong bất cứ luật nào nhưng hành động của Washington đã tạo ra tiền lệ cho đặc quyền này. Khi Tổng thống Richard Nixon tìm cách sử dụng đặc quyền hành pháp này như một lý do để không giao nộp những bằng chứng mà Quốc hội Hoa Kỳ đòi cung cấp trong Vụ tai tiếng Watergate, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã phán quyết vụ Hoa Kỳ đối đầu Nixon, 418 U.S. 683 (1974) rằng đặc quyền hành pháp không có hiệu lực trong trường hợp một vị tổng thống cố tìm cách tránh né truy tố hình sự. Khi Tổng thống Bill Clinton tìm cách sử dụng đặc quyền hành pháp có liên quan trong Vụ tai tiếng Lewinsky, Tối cao Pháp viện phán quyết vụ Clinton đối đầu Jones, 520 U.S. 681 (1997) rằng đặc quyền hành pháp cũng không được sử dụng trong những vụ thưa kiện dân sự. Các vụ kiện này đã lập nên tiền lệ rằng đặc quyền hành pháp được công nhận tuy nhiên phạm vi giới hạn của đặc quyền này vẫn chưa được định nghĩa rõ ràng.

Đề xuất và phụ trợ làm luật

Mặc dù tổng thống không thể trực tiếp giới thiệu luật nhưng ông có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra luật, đặc biệt nếu đảng chính trị của tổng thống chiếm đa số ghế tại một hoặc hai viện của quốc hội. Mặc dù các viên chức ngành hành pháp bị ngăn cấm không được cùng lúc giữ ghế trong quốc hội và ngược lại nhưng các viên chức hành pháp thường hay thảo ra các quy trình luật và nhờ cậy vào các Thượng nghị sĩ và Dân biểu để giới thiệu luật thay cho họ. Tổng thống có thể tạo thêm ảnh hưởng đối với ngành lập pháp bằng những báo cáo thường kỳ mà Hiến pháp bắt buộc trước Quốc hội. Những báo cáo này có thể bằng văn bản hay được đọc trước Quốc hội. Tuy nhiên trong thời hiện đại, các báo cáo này được đọc trong hình thức "Diễn văn về Tình trạng Liên bang" trong đó tổng thống nêu ra những đề nghị về luật của mình cho năm trước mắt.

Theo Đoạn 2, Phần 3 của Điều khoản II, Hiến pháp Hoa Kỳ, tổng thống có thể triệu tập một hoặc cả hai viện của Quốc hội. Ngược lại, nếu cả hai viện không thể đồng ý được với nhau về 1 ngày nhóm họp thì tổng thống có thể chọn 1 ngày cho Quốc hội nhóm họp.

Tiến trình bầu tổng thống

Gilbert Stuart Williamstown Portrait of George Washington
George Washington, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ

Điều kiện để trở thành tổng thống

Đoạn 5, Phần 1, Điều khoản II, Hiến pháp Hoa Kỳ có ấn định những điều kiện cơ bản mà một người cần hội đủ để trở thành Tổng thống Hoa Kỳ. Một vị tổng thống phải:

  • là một công dân Mỹ được sinh ra tại Hoa Kỳ;[12]
  • ít nhất là 35 tuổi;
  • là thường trú nhân tại Hoa Kỳ ít nhất là 14 năm.

Một người hội đủ các điều kiện nói trên nhưng vẫn không đủ tư cách để giữ chức tổng thống vì một trong các điều kiện sau đây:

  • Tu chính án 22 (năm 1951) quy định rằng không có người nào hội đủ điều kiện để được bầu làm tổng thống quá hai lần liên tiếp. Tu chính án 22 cũng có nói rõ rằng nếu bất cứ người nào hội đủ điều kiện để làm tổng thống hay quyền tổng thống trên hai năm của một nhiệm kỳ mà một người khác được bầu làm tổng thống (thí dụ người này thay thế một vị tổng thống bị truất phế) thì người này chỉ có thể được bầu làm tổng thống một lần mà thôi. Các học giả vẫn còn tranh cãi liệu có phải một người không còn hội đủ điều kiện để được bầu làm tổng thống vẫn có thể được bầu làm phó tổng thống theo như quy định về tiêu chuẩn đã được ấn định dưới Tu chính án 12.[13]
  • Theo Đoạn 7, Phần 3, Điều khoản I, Hiến pháp Hoa Kỳ, sau khi truy tố qua những cuộc luận tội, Thượng viện Hoa Kỳ có thể tước quyền của những cá nhân bị buộc tội và không cho phép họ giữ các chức vụ liên bang trong đó gồm có cả chức vụ tổng thống.[14]
  • Theo Phần 3 của Tu chính án 14, Hiến pháp Hoa Kỳ nghiêm cấm không cho một người hội đủ điều kiện (làm tổng thống) trở thành tổng thống nếu người này đã tuyện thệ trung thành ủng hộ Hiến pháp Hoa Kỳ nhưng sau đó lại nổi loạn chống Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Quốc hội có thể hủy bỏ lệnh cấm này bằng tỉ lệ 2/3 phiếu thuận ở cả hai viện quốc hội.

Đề cử và chiến dịch tranh cử

Trong thời hiện đại, chiến dịch tranh cử tổng thống sẽ bắt đầu trước khi có các cuộc bầu cử sơ bộ. Hai đảng chính trị lớn của Hoa Kỳ (Dân chủ và Cộng hòa) dùng các cuộc bầu cử sơ bộ để tìm ra một số ứng cử viên trong đảng của mình trước khi đại hội đề cử toàn quốc của đảng mình khai mạc. Tại đại hội đảng đề cử toàn quốc, ứng cử viên nào thành công nhất trong các cuộc bầu cử sơ bộ sẽ được đề cử ra đại diện đảng của mình tranh cử chức vụ tổng thống. Thông thường thì ứng cử viên tổng thống của đảng sẽ tự chọn ra ứng cử viên phó tổng thống cho liên danh của mình và rồi được đại hội đề cử thông qua cho có lệ.

Các ứng cử viên tổng thống sau đó sẽ tham gia vào các cuộc tranh luận trực tiếp trên truyền hình toàn quốc. Mặc dù các cuộc tranh luận trực tiếp trên truyền hình toàn quốc chỉ thu hẹp vào phạm vi dành riêng cho các ứng cử viên thuộc đảng Dân chủ và Cộng hòa nhưng các ứng cử viên thuộc đảng thứ ba cũng có thể được mời tham dự, thí dụ như trường hợp của Ross Perot không thuộc đảng Cộng hòa hay Dân chủ được mời tham dự các cuộc tranh luận vào năm 1992. Các ứng cử viên sẽ vận động tranh cử khắp nơi tại Hoa Kỳ để giải thích quan điểm của họ, thuyết phục cử tri bầu cho họ và vận động gây quỹ tranh cử. Phần nhiều tiến trình bầu cử hiện đại hay tập trung quan tâm đến việc chiến thắng các tiểu bang chưa rõ ràng thắng bại (swing states) bằng các cuộc viếng thăm thường xuyên của các ứng cử viên đến các tiểu bang đó hay dựa vào chiến dịch vận động bằng quảng cáo rầm rộ qua các hệ thống truyền thông đại chúng.

Bầu cử và tuyên thệ

US Electoral College Map
Bản đồ Hoa Kỳ biểu thi số phiếu đại cử tri được phân bố cho mỗi tiểu bang; 270 phiếu đại cử tri cần có để đạt được đa số trong tổng số 538 phiếu đại cử tri.

Tổng thống được bầu gián tiếp tại Hoa Kỳ. Các đại cử tri, được gọi chung là đại cử tri đoàn là những người chính thức bầu chọn tổng thống. Vào ngày bầu cử, các cử tri tại mỗi tiểu bang và Đặc khu Columbia sẽ bỏ lá phiếu của mình để chọn các đại cử tri này. Mỗi tiểu bang được phân bố một con số đại cử tri bằng với tổng số đại diện của họ tại cả hai viện của Quốc hội cộng lại (tổng số dân biểu và thượng nghị sĩ đại diện cho mỗi tiểu bang). Thông thường, liên danh nào thắng được nhiều phiếu nhất tại mỗi tiểu bang sẽ giành được hết số phiếu đại cử tri của tiểu bang đó. Như thế khối đại cử tri thắng cử này sẽ được chọn đại diện cho tiểu bang mình ra bỏ phiếu ở đại cử tri đoàn.

Khối đại cử tri thắng cử sẽ họp tại thủ phủ của tiểu bang mình vào ngày thứ hai đầu tiên sau thứ tư lần thứ hai trong tháng 12, khoảng 6 tuần sau khi cuộc bầu cử để bỏ phiếu của mình. Lúc đó họ sẽ gởi một bản báo cáo về cuộc bỏ phiếu đó đến Quốc hội. Phiếu của các đại cử tri sẽ được phó tổng thống đương nhiệm trong tư cách là Chủ tịch Thượng viện mở ra và đọc lớn trước một phiên họp chung gồm có cả hạ viện và thượng viện của Quốc hội sắp tới (Quốc hội này được bầu cùng lúc với cuộc bầu cử tổng thống).

Theo Tu chính án 12, nhiệm kỳ của tổng thống bắt đầu vào đúng trưa ngày 20 tháng 1 của năm theo sau cuộc bầu cử. Vào ngày này, được biết là ngày nhậm chức, đánh dấu sự khởi đầu nhiệm kỳ bốn năm của cả tổng thống và phó tổng thống. Trước khi hành xử quyền lực chức vụ, một vị tổng thống, theo hiến pháp quy định, phải tuyên thệ nhậm chức:

Tôi trịnh trọng tuyên thệ (hay xác nhận) rằng tôi sẽ hành xử chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ một cách trung thành, và sẽ cố gắng hết khả năng của mình bảo tồn, bảo vệ và che chở Hiến pháp Hoa Kỳ.[15]

Mặc dù không bắt buộc nhưng các tổng thống có truyền thống sử dụng một quyển thánh kinh để tuyên thệ nhậm chức và đọc thêm lời cuối "thế xin Thượng đế giúp tôi!" để kết thúc lời tuyên thệ. Hơn nữa, mặc dù không có luật lệ nào quy định rằng lời tuyên thệ nhậm chức phải được một người đặc biệt nào đó chủ trì nhưng theo truyền thống thì người đó là Thẩm phán trưởng Hoa Kỳ.

Nhiệm kỳ và giới hạn nhiệm kỳ

FDR 1944 Color Portrait
Franklin D. Roosevelt được bầu bốn nhiệm kỳ trước khi Tu chính án 22 được thông qua.

Nhiệm kỳ chức vụ tổng thống và phó tổng thống là bốn năm. George Washington, Tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên, đã tạo ra một tiền lệ không chính thức khi chỉ phục vụ hai nhiệm kỳ bốn năm mà sau đó đã được các tổng thống kế nhiệm làm theo cho đến năm 1940. Trước thời Tổng thống Franklin D. Roosevelt cũng đã có hai tổng thống đã tìm cách ra tranh cử nhiệm kỳ ba vì được những người ủng hộ khuyến khích, đó là Tổng thống Ulysses S. GrantTheodore Roosevelt. Tuy nhiên cả hai đều không thành công. Năm 1940, Franklin Roosevelt từ chối ứng cử nhiệm kỳ ba nhưng đã cho phép đảng chính trị của mình "chiêu mộ" mình làm ứng cử viên tổng thống cho đảng và sau đó được bầu làm tổng thống nhiệm kỳ 3. Năm 1941, Hoa Kỳ lâm trận trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Chính vì Chiến tranh thế giới thứ hai nên cử tri sau đó lại bầu Roosevelt lần thứ tư vào năm 1944.

Sau chiến tranh và để đối phó với tình trạng làm đảo lộn tiền lệ của Roosevelt, Tu chính án 22 được thông qua. Tu chính án này nghiêm cấm không cho bất cứ một ai được bầu làm tổng thống quá hai lần hoặc quá 1 lần nếu như người đó đã phục vụ hơn phân nửa nhiệm kỳ của một vị tổng thống khác (thay thế hoặc làm quyền tổng thống). Tổng thống Harry S. Truman, người làm tổng thống khi tu chính án này được thông qua, và vì thế không bị ảnh hưởng bởi quy định của tu chính án này nên ông đã tìm cách ứng cử lần thứ ba nhưng sau đó rút lui khỏi cuộc bầu cử tổng thống năm 1952.

Kể từ khi tu chính án 22 được thông qua, năm vị tổng thống đã phục vụ hết hai nhiệm kỳ của mình: Dwight D. Eisenhower, Ronald Reagan, Bill Clinton, George W. BushBarack Obama. Jimmy CarterGeorge H. W. Bush tái ứng cử lần thứ hai nhưng bị đánh bại. Richard Nixon được bầu vào nhiệm kỳ hai nhưng từ chức trước khi kết thúc nhiệm kỳ hai của minh. Lyndon B. Johnson là tổng thống duy nhất theo tu chính án 22 có quyền phục vụ hơn hai nhiệm kỳ vì ông thay thế chức vụ tổng thống có 14 tháng sau khi Tổng thống John F. Kennedy bị ám sát (ít hơn 2 năm). Tuy nhiên, Johnson rút tên ra khỏi cuộc bầu cử sơ bộ của đảng Dân chủ năm 1968 và làm cho người Mỹ ngạc nhiêm khi tuyên bố rằng "Tôi sẽ không tìm cách và tôi sẽ không chấp thuận sự đề cử từ đảng của tôi cho một nhiệm kỳ nữa trong vai trò tổng thống." Gerald Ford ra tranh cử cho một nhiệm kỳ sau khi phục vụ 2 năm và 5 tháng cuối trong nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Nixon nhưng thất cử.

Chức vụ bỏ trống hay tàn tật

Ghế tổng thống bị bỏ trống có thể xảy ra trong một số tình trạng khả dĩ như sau: qua đời, từ chức và bị truất phế.

Phần 4, Điều khoản II, Hiến pháp Hoa Kỳ cho phép Hạ viện Hoa Kỳ luận tội các viên chức cao cấp liên bang trong đó có tổng thống vì tội "phản quốc, hối lộ, hoặc tội đại hình và những sai trái khác." Đoạn 6, Phần 3, Điều khoản I cho phép Thượng viện Hoa Kỳ quyền lực truất phế các viên chức bị luận tội bằng việc biểu quyết với tỉ lệ 2/3 số phiếu để có hiệu lực. Tính đến nay, Hạ viện Hoa Kỳ đã luận tội hai vị tổng thống: Andrew Johnson năm 1868Bill Clinton năm 1998. Đến cuối cùng cả hai đều không bị Thượng viện kết tội; tuy nhiên, Johnson được tha bổng bởi tỉ lệ bằng một lá phiếu.

Theo Phần 3, Tu chính án 25, tổng thống có thể chuyển giao quyền lực và trách nhiệm của tổng thống cho phó tổng thống, người sau đó trở thành quyền tổng thống bằng cách gởi 1 lời tuyên bố đến Chủ tịch Hạ viện Hoa KỳChủ tịch Thượng viện Tạm quyền Hoa Kỳ nói rõ những lý do vì sao có sự chuyển quyền. Tổng thống nhận lại quyền lực và trách nhiệm tổng thống bằng việc chuyển một bản thông báo viết tay đến hai viên chức kể trên, nói rõ việc nhận lại quyền lực. Sự chuyển giao quyền lực này có thể xảy ra vì nhiều lý do khi tổng thống nghĩ rằng thích hợp; năm 2002 và rồi năm 2007, Tổng thống George W. Bush đã chuyển giao quyền lực tổng thống ngắn ngủi cho Phó Tổng thống Dick Cheney. Trong cả hai trường hợp, việc chuyển giao quyền lực được thực hiện để giúp tiện lợi cho 1 quá trình kiểm tra y khoa mà khi đó Tổng thống Bush phải được gây mê; cả hai lần, Tổng thống Bush nhận lại quyền lực sau đó trong ngày.[16]

Theo Phần 4, Tu chính án 25, phó tổng thống và đa số viên chức trong nội các có thể chuyển giao trách nhiệm và quyền lực tổng thống từ tổng thống đến phó tổng thống một khi họ chuyển đạt một thông báo viết tay đến Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ và Chủ tịch Thượng viện Tạm quyền rằng tổng thống không thể đảm trách được quyền lực và trách nhiệm tổng thống. Nếu điều này xảy ra, lúc đó phó tổng thống sẽ nhận trách nhiệm và quyền lực tổng thống trong vai trò quyền tổng thống; tuy nhiên, tổng thống có thể tuyên bố rằng không có chuyện tổng thống không thể đảm trách được trách nhiệm và quyền lực tổng thống và như vậy tổng thống có thể tiếp nhận lại quyền lực và trách nhiệm tổng thống của mình. Nếu như phó tổng thống và nội các vẫn tranh chấp tuyên bố của tổng thống thì sự việc phải được đưa ra Quốc hội quyết định. Quốc hội phải họp trong vòng hai ngày nếu Quốc hội đang trong lúc nghỉ họp để quyết định tính xác thật của lời tuyên bố nói trên.

Hiến pháp Hoa Kỳ có nói đến sự từ chức tổng thống nhưng không có quy định về hình thức của một sự từ chức như thế hay những điều kiện đáng để từ chức. Theo luật liên bang, bằng chứng của việc từ chức tổng thống có giá trị duy nhất là một văn kiện viết tay đề cập đến hiệu lực của việc từ chức đó, được tổng thống ký tên và được chuyển giao đến văn phòng của bộ trưởng ngoại giao.[17] Vào ngày 9 tháng 8 năm 1974, khi đối mặt với một cuộc luận tội có thể xảy ra vì Vụ tai tiếng Watergate, Tổng thống Richard Nixon đã trở thành vị Tổng thống Hoa Kỳ duy nhất từ chức.

Thứ tự kế nhiệm Tổng thống

Hiến pháp Hoa Kỳ có nói rằng phó tổng thống sẽ trở thành tổng thống nếu như Tổng thống đương nhiệm bị truất phế, qua đời hay từ chức. Nếu như cả hai văn phòng tổng thống và phó tổng thống đều bị bỏ trống hay có người bị thương tật tàn phế thì viên chức kế tiếp trong thứ tự kế nhiệm tổng thống sẽ là Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ. Thứ tự kế nhiệm sau đó được mở rộng xuống đến Chủ tịch Thượng viện Tạm quyền, rồi đến các thành viên nội các với một thứ tự đã được định trước.

Dưới đây là danh sách thứ tự kế nhiệm tổng thống hiện thời,[18] như đã được ghi rõ chi tiết trong Hiến pháp Hoa Kỳ và Đạo luật Kế nhiệm Tổng thống năm 1947 (Bản mẫu:USCode) và các tu chính án sau này để thêm vào các bộ trưởng mới được thành lập.

Đảng chính trị
Chú thích Cộng hoà
Dân chủ
Độc lập
# Văn phòng Viên chức hiện tại
1 Phó tổng thống Mike Pence
2 Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi
3 Chủ tịch Thượng viện Tạm quyền Charles Grassley
4 Bộ trưởng Ngoại giao Mike Pompeo
5 Bộ trưởng Ngân khố Steven Mnuchin
6 Bộ trưởng Quốc phòng Mark Esper
7 Bộ trưởng Tư pháp William P. Barr
8 Bộ trưởng Nội vụ David Bernhardt
9 Bộ trưởng Nông nghiệp Sonny Perdue
10 Bộ trưởng Thương mại Wilbur Ross
11 Bộ trưởng Lao động Eugene Scalia
12 Bộ trưởng Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Alex Azar
13 Bộ trưởng Gia cư và Phát triển Đô thị Ben Carson
Bộ trưởng Giao thông Elaine Chao [c]
14 Bộ trưởng Năng lượng Rick Perry
15 Bộ trưởng Giáo dục Betsy DeVos
16 Bộ trưởng Cựu Chiến binh Robert Wilkie
17 Bộ trưởng Nội an Kevin McAleenan[a]

[a]: Quyền Bộ trưởng và đủ điều kiện kế vị chức vụ Tổng thống

[b]: Quyền Bộ trưởng nhưng không đủ điều kiện kế vị chức vụ Tổng thống

[c]: Công dân không sinh tại lãnh thổ Hoa Kỳ, vì vậy không đủ điều kiện làm Tổng thống

Bổng lộc

Lịch sử lương tổng thống
Ngày lập Lương Lương tính theo giá trị đô la Mỹ năm 2009

dollars

24 tháng 9 năm 1789 $25.000 $566.000
3 tháng 3 năm 1873 $50.000 $865.000
4 tháng 3 năm 1909 $75.000 $1.714.000
19 tháng 1 năm 1949 $100.000 $906.000
20 tháng 1 năm 1969 $200.000 $1.175.000
20 tháng 1 năm 2001 $400.000 $487.000
Nguồn:[19][20][21]

Tổng thống Hoa Kỳ nhận được tiền lương là $400.000/năm cùng với 1 tài khoản chi tiêu $50.000/năm, một tài khoản $100.000 không tính thuế dành cho du hành và $19.000 cho giải trí.[22][23] Việc tăng lương tổng thống gần đây nhất đã được Quốc hội Hoa Kỳ và Tổng thống Bill Clinton chấp thuận vào năm 1999 và có hiệu lực vào năm 2001.

Nhà TrắngWashington, D.C. phục vụ trong vai trò là nơi cư ngụ dành cho tổng thống; ông được quyền sử dụng toàn bộ nhân viên và cơ sở của tòa nhà này trong đó gồm có các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giải trí, giúp việc nhà, và an ninh. Cơ sở Hỗ trợ Hải quân Thurmont, nổi tiếng với biệt danh Trại David, là một trại quân sự nằm trên núi trong Quận Frederick, Maryland được dùng làm nơi nghỉ ngơi miền quê cũng như được dùng để bảo vệ tổng thống và khách mời của ông khi có mức báo động cao. Blair House, nằm gần Tòa Cựu Văn phòng Hành chính ở Khu phức hợp Tòa Bạch Ốc và Công viên Lafayette, là một tòa nhà phức hợp gồm có bốn ngôi nhà phố dính liền nhau có tổng diện tích sàn rộng hơn 70.000 foot vuông (6.500 m2) và phục vụ trong vai trò của một nhà khách chính thức của tổng thống và nó cũng là nơi cư ngụ thứ hai của tổng thống khi cần thiết.[24]

Để du hành bằng đường bộ, tổng thống sử dụng công xa tổng thống, đây là một chiếc xe limousine bọc thép được chế tạo với sườn xe Cadillac được cải tiến rất nhiều.[25] Một trong hai phi cơ Boeing VC-25 giống nhau, phiên bản cải tiến từ loại phi cơ chở khách Boeing 747-200B, phục vụ tổng thống trên những đoạn đường du hành dài. Chúng được gọi tên là Air Force One khi tổng thống có mặt trên phi cơ.[26][27] Tổng thống cũng dùng một chiếc trực thăng của Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, được gọi tên là Marine One khi tổng thống lên chiếc phi cơ trực thăng này.

Sở Mật vụ Hoa Kỳ có nhiệm vụ bảo vệ tổng thống đương nhiệm và gia đình của ông. Như một phần của công việc bảo vệ họ, tổng thống, Đệ Nhất Phu nhân, con cái và thân nhân gần khác của họ, các yếu nhân khác hay những địa điểm khác đều có mật danh do Sở Mật vụ Hoa Kỳ đặt.[28] Lúc đầu việc sử dụng những mật danh như thế là vì mục đích an ninh và có lịch sử trở về thời kỳ mà việc liên lạc điện tử có yếu tố nhạy cảm chưa được mã hóa; ngày nay, các mật danh này chỉ phục vụ vì mục đích ngắn ngọn, rõ ràng và theo truyền thống.[29][30]

Blair House daylight

Blair House

Cadillac One (September 2018)

Công xa Tổng thống

VH-60 Marine One

Marine One

Hậu tổng thống

State Funeral for President Bush 181205-D-DY697-252
Các Tổng thống George W. Bush, Donald Trump, Barack Obama, Bill Clinton, và Jimmy Carter trong lễ Quốc tang Tổng thống George H. W. Bush năm 2018.

Bắt đầu vào năm 1959, tất cả các cựu tổng thống còn sống được nhận tiền hưu bổng, một văn phòng làm việc và một ban nhân sự. Tiền hưu bổng đã được tăng nhiều lần với sự chấp thuận của Quốc hội. Các tổng thống về hưu hiện nay nhận được tiền hưu bổng theo tiền lương của các bộ trưởng nội các của chính phủ đương nhiệm là $191.300 tính đến năm 2008.[31] Một số cựu tổng thống cũng nhận được tiền hưu bổng quốc hội.[32] Đạo luật Cựu Tổng thống, như đã được tu chính, cũng cung cấp cho các cựu tổng thống quỹ du hành và những đặc quyền ưu tiên.

Tính đến năm 1997, tất cả các cựu tổng thống và gia đình của họ đều được Sở Mật vụ Hoa Kỳ bảo vệ cho đến khi cựu tổng thống qua đời. Cựu tổng thống cuối cùng được Sở Mật vụ Hoa Kỳ bảo vệ trọn đời là Bill Clinton. Các cựu tổng thống về sau này như George W. Bush và các cựu tổng thống tương lại sẽ được Sở Mật vụ Hoa Kỳ bảo vệ tối đa là 10 năm sau khi rời nhiệm sở.[33]

Một số tổng thống có nghiệp vụ nổi bật sau khi rời nhiệm sở. Thí dụ nổi bật gồm có William Howard Taft trở thành Thẩm phán trưởng Hoa Kỳ và Herbert Hoover làm việc trong chương trình tái tổ chức chính phủ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Grover Cleveland thất bại trong cuộc tái ứng cử chức vụ tổng thống vào năm 1888 nhưng lại đắc cử tổng thống 4 năm sau đó vào năm 1892. Hai cựu tổng thống phục vụ tại Quốc hội Hoa Kỳ sau khi rời Nhà Trắng: John Quincy Adams được bầu vào Hạ viện Hoa Kỳ, phục vụ ở đó 17 năm và Andrew Johnson trở lại Thượng viện Hoa Kỳ năm 1875. John Tyler phục vụ trong Quốc hội tạm thời của Liên minh miền Nam Hoa Kỳ trong thời Nội chiến Hoa Kỳ và được bầu vào Hạ viện Liên minh miền Nam nhưng qua đời trước khi hạ viên này nhóm họp. Gần đây hơn, Richard Nixon đã thực hiện rất nhiều chuyến du hành ngoại quốc đến các quốc gia như Trung Quốc, Nga và được ca ngợi như một chính khách lão thành.[34] Jimmy Carter trở thành người vận động cho nhân quyền trên toàn cầu, giám sát bầu cử và phân giải quốc tế và là người nhận Giải Nobel Hòa bình. Bill Clinton đã làm một số công việc như một chính khách lão thành, nổi bật nhất là việc ông thực hiện các cuộc điều đình dẫn đến việc Bắc Hàn thả hai nhà báo Mỹ là Laura Ling và Euna Lee. Bill Clinton cũng tích cực hoạt động chính trị từ khi rời nhiệm sở. Ông đã làm việc cùng với phu nhân của mình là Hillary Clinton trong chiến dịch tranh cử tổng thống của bà.

Hiện nay có bốn cựu tổng thống còn sống:

President Carter visits Georgia Tech (cropped)

Jimmy Carter
1977–1981

Bill and Hillary Clinton at 58th Inauguration 01-20-17 (cropped) (cropped)

Bill Clinton
1993–2001

Bush 2k14

George W. Bush
2001–2009

Barack Obama in October 2016

Barack Obama
2009–2017

Thư viện tổng thống

Mỗi tổng thống kể từ Herbert Hoover đã xây dựng một kho sách được biết với tên gọi là Thư viện Tổng thống để lưu giữ và giúp bạn đọc có thể tìm đọc các bài viết, tài liệu và những văn kiện khác của tổng thống. Các thư viện này khi hoàn thành sẽ được làm chứng thư giao cho Cơ quan Quản trị Văn khố và Hồ sơ Quốc gia Hoa Kỳ bảo trì; ngân quỹ ban đầu để xây dựng và trang bị mỗi thư viện phải là ngân quỹ tư nhân, không phải ngân quỹ liên bang. Hiện thời có tất cả 13 thư viện tổng thống trong hệ thống của Cơ quan Quản trị Văn khố và Hồ sơ. Cũng có một số thư viện tổng thống được chính quyền tiểu bang và quỹ tư nhân bảo trì, thí dụ như Bảo tàng và Thư viện Tổng thống Abraham Lincoln được điều hành bởi tiểu bang Illinois.

Dòng thời gian các tổng thống

Donald TrumpBarack ObamaGeorge W. BushBill ClintonGeorge H. W. BushRonald ReaganJimmy CarterGerald FordRichard NixonLyndon B. JohnsonJohn F. KennedyDwight D. EisenhowerHarry S. TrumanFranklin D. RooseveltHerbert HooverCalvin CoolidgeWarren G. HardingWoodrow WilsonWilliam Howard TaftTheodore RooseveltWilliam McKinleyGrover ClevelandBenjamin HarrisonGrover ClevelandChester A. ArthurJames A. GarfieldRutherford B. HayesUlysses S. GrantAndrew JohnsonAbraham LincolnJames BuchananFranklin PierceMillard FillmoreZachary TaylorJames K. PolkJohn TylerWilliam Henry HarrisonMartin Van BurenAndrew JacksonJohn Quincy AdamsJames MonroeJames MadisonThomas JeffersonJohn AdamsGeorge Washington

Chỉ trích

Những chỉ trích đối với tổng thống thường rơi vào một trong các mục sau đây:

Tổng thống quá quyền lực
Đa số những người lập quốc Hoa Kỳ kỳ vọng rằng Quốc hội Hoa Kỳ, được nói đến trước tiên trong Hiến pháp Hoa Kỳ, sẽ là ngành có nhiều ảnh hưởng chi phối chính phủ. Họ không muốn hay kỳ vọng đến một ngành hành pháp mạnh mẽ.[35] Tuy nhiên, vô số những người chỉ trích ngày nay cho rằng tổng thống quá nhiều quyền lực,[36][37] không bị kiểm soát và cân bằng quyền lực[38] và bản chất giống như "đế vương".[39] Người chỉ trích là Dana D. Nelson tin rằng các vị tổng thống suốt hơn 30 năm qua đã tìm cách tiến tới việc nắm trọn, không phân chia quyền lực tổng thống đối với ngành hành pháp và các cơ quan của ngành."[40] Bà chỉ trích những người ủng hộ hành pháp đơn nhất vì điều đó khiến mở rộng "nhiều quyền lực hành pháp không bị kiểm soát vốn đã tồn tại – thí dụ như những lệnh hành pháp, sắc lệnh, tuyên cáo, giác thư, chỉ thị an ninh quốc gia – đã cho phép tổng thống hành xử rất nhiều chính sách đối nội và đối ngoại mà không cần sự trợ giúp, can thiệp hoặc ưng thuận từ Quốc hội."[40] Những học giả về hiến pháp đã chỉ quyền lực quá mức của tổng thống[41] và cho rằng tổng thống giống như "những nhà độc tài lập hiến" có "động cơ để tuyên bố tình trạng khẩn cấp" nhằm nắm lấy quyền lực "gần giống như độc tài."[42] David Sirota nhận thấy có một mô hình "với mục tiêu cung cấp một cơ sở hợp pháp cho quyền lực tối cao toàn phần của Tòa Bạch Ốc đối với toàn chính phủ."[43][44] Một người chỉ trích khác viết rằng quyền lực tổng thống mở rộng là "mối đe dọa lớn nhất chưa từng thấy đối với sự tự do cá nhân và luật pháp dân chủ."[45]
Hình ảnh và quan hệ công chúng
Một số người cho rằng hình ảnh của tổng thống có chiều hướng bị các viên chức hành pháp đặc trách quan hệ công chúng và chính tổng thống ngụy tạo nên. Một người chỉ trích diễn tả tổng thống giống như "giới lãnh đạo bị tuyên truyền" mà có một "quyền lực mê hoặc quanh chức vị này";[46] một người chỉ trích khác diễn tả hiện tượng quanh chức vị tổng thống bằng từ "cult", có nghĩa là sự sùng bái[44] Những quan chức điều hành về quan hệ công chúng của chính phủ đã dàn cảnh một cách mưu mẹo những dịp ghi hình có tổng thống đang tươi cười với đám đông cũng đang tươi cười cho các máy quay thu hình; chẳng hạn về một buổi ghi hình truyền hình, những khán giả xem truyền hình đã bị yếu tố hình ảnh của tổng thống chi phối hơn là câu chuyện thật về buổi thu hình đó.[47] Một người chỉ trích viết rằng hình ảnh của John F. Kennedy được diễn tả hư cấu một cách thận trọng với đầy đủ chi tiết nhằm "vẽ ra một huyền thoại" có liên quan đến sự kiện PT 109[48] và tuyên bố rằng Kennedy đã hiểu cách sử dụng hình ảnh để nâng cao tham vọng tổng thống của mình.[49] Ngay cả tang lễ tổng thống cũng được sắp đặt cẩn thận với giá trị năng suất cao nhằm tạo ra một cảm xúc về "uy quyền đế vương".[50] Kết quả là người Mỹ có những kỳ vọng không thực tiễn từ tổng thống, người được kỳ vọng "lèo lái nền kinh tế, chế ngự kẻ thù, dẫn dắt thế giới tự do, an ủi nạn nhân lốc xoáy, làm lành linh hồn quốc gia và bảo vệ người mượn nợ chống lại những loại tiền phí ẩn hình mà các loại thẻ tín dụng áp đặt."[51]
Chi tiêu thâm thủng
Trong suốt 100 năm qua, ít có vị tổng thống nào tinh thông trong việc kiềm chế mức chi tiêu nằm trong giới hạn. Các tổng thống hứa hẹn kiểm soát chi tiêu nhưng trên thực tế đã khó kiểm soát nổi ngân sách.[52] Mô hình lịch sử dài hạn đối với việc chi tiêu của chính phủ Hoa Kỳ là có chút ít thặng dư trừ khi quốc gia gặp phải suy soái kinh tế hay chiến tranh, và mô hình này đã kéo dài cho đến thập niên 1980.[53] Tổng thống Ronald Reagan đã làm gia tăng thâm thủng chi tiêu rất đáng kể trong lúc quốc gia không bị khủng hoảng kinh tế hay chiến tranh, và những thâm thủng ngân sách này, tính theo phần trăm GDP, tăng lên từ 1,6% năm 1979 đến 4,0% và 6,0% trong phần lớn thập niên 1980[54] mặc dù có một thời gian dài 4 năm có thặng dư, bắt đầu từ năm 1998 trong thời Tổng thống Bill Clinton và Tổng thống George W. Bush. Sau sự kiện 11 tháng 9, chi tiêu thâm thủng trở lại dưới thời Tổng thống Bush và giữ ở mức độ cao.[54] Năm 2009, văn phòng ngân sách ước tính tổng số nợ liên bang sẽ lên đến $12 ngàn tỷ đô la, trong đó gồm có 565 tỷ USD tiền lời phải trả, hay 4% GDP.[55] Trong 10 năm đầu của thế kỷ XXI, $632 tỉ đã được thêm vào ngân sách.[56] Năm 2009, theo ước tính, Hoa Kỳ có thể bị bắt buộc mượn nợ gần $9,3 ngàn tỉ trong vòng 10 năm tới.[57] Một người chỉ trích đồng thời cũng là một thượng nghị sĩ cảnh báo rằng điều này "gần như tạo ra một kịch bản mà trong đó quốc gia này sẽ lâm vào tình trạng phá sản."[57] Năm 2009, Tổng thống Barack Obama thừa kế một ngân sách thâm thủng choáng váng lên đến 10% GDP.[54] Mức độ cao những việc làm liên bang được mang đến từ chương trình New Deal của Tổng thống Franklin D. Roosevelt vẫn được duy trì ở mức độ đều so với sự tăng trưởng dân số và kinh tế. Thí dụ, năm 1962 có khoảng 13,3 nhân công liên bang cho mỗi 1000 người trong khi đó vào năm 2007 chỉ có 8,7 nhân công liên bang cho mỗi 1000 người, tổng cộng giảm khoảng 1 triệu việc làm.[58] Dù vậy, tổng số nhân sự liên bang năm 2007 là 4.127.000 làm việc trong các cơ quan của chính phủ liên bang. Ngoài ra, con số nhân viên làm việc cho tiểu bang và chính quyền địa phương đã tăng gấp đôi kể từ thập niên 1960.[58]
Chi tiêu của chính phủ liên bang từ năm 1940–nay
Thập niên Chi tiêu tính theo % GDP Thặng dư (+) hay Thâm thủng (-)?
1940 -9,67 Thâm thủng
1950 -0,39 Thâm thủng
1960 -0,79 Thâm thủng
1970 -2,37 Thâm thủng
1980 -3,93 Thâm thủng
1990 -2,16 Thâm thủng
2000 -1,62 Thâm thủng
Ghi chú: Thâm thủng lớn nhất là thời Chiến tranh thế giới thứ hai. 1998–2002 có thặng dư. Để cho ngắn gọn, các con số hàng năm được kết hợp lại thành con số trung bình cho 10 năm. Nguồn: Sở thống kê Chính phủ Hoa Kỳ.[53]
Quyền lực đối với lập pháp và ngân sách
Một số người chỉ trích tố cáo rằng các tổng thống đã lấn chiếm nhiều quyền lực quan trọng thuộc lập pháp và ngân sách mà thông thường phải thuộc về Quốc hội Hoa Kỳ. Tổng thống kiểm soát một số lượng lớn các cơ quan liên bang đặc trách việc tạo ra những quy định luật lệ nhưng chỉ có ít sự theo dõi của quốc hội. Một người chỉ trích khác tố cáo rằng tổng thống có thể bổ nhiệm một "đội quân gồm nhiều 'sa hoàng' ảo – những người này hoàn toàn không có trách nhiệm gì với Quốc hội nhưng được giao phó nhiệm vụ dẫn đầu những nỗ lực về chính sách lớn của Nhà Trắng".[59] Các tổng thống đã bị chỉ trích vì thực hiện những tuyên bố bằng văn thư để giải thích họ hiểu một đạo luật ra sao hay có kế hoạch gì để thực thi đạo luật này (signing statements) khi ký các đạo luật quốc hội. Những người chỉ trích diễn tả hành động này là ngược lại tinh thần của Hiến pháp Hoa Kỳ.[60] Những tuyên bố bằng văn thư như thế "làm lật cán cân quyền lực giữa Quốc hội và Nhà Trắng một ít theo chiều có lợi cho ngành hành pháp"[61] và chúng đã được bốn tổng thống trước đây sử dụng.[62][63] Hành vi này bị Hội Luật sư Mỹ chỉ trích là bất hợp hiến.[64] Một người chỉ trích là George F. Will nhận thấy "một ngành hành pháp càng ngày càng phình to ra" và "sự lu mờ của Quốc hội". Ông cho rằng diễn biến này đã và đang tiếp tục kéo dài "hàng thập niên"[65] và ông cũng đã chỉ trích "sự lu mờ" của Quốc hội.[65]
Lạm quyền
Đôi khi các tổng thống dùng đến các hoạt động ngoài pháp chế và bất hợp pháp, đặc biệt là trong thời chiến. Tổng thống Abraham Lincoln đã đình chỉ luật bảo hộ giam giữ (habeas corpus) trong thời Nội chiến Hoa Kỳ;[66] Woodrow Wilson tống giam những phần tử tình nghi là cộng sản mà không đưa ra xét xử trong vụ bố ráp Palmer;[66]Franklin Roosevelt giam cầm trên một trăm ngàn người Mỹ gốc Nhật trong thời Chiến tranh thế giới thứ hai.[66] Franklin D. Roosevelt sử dụng những nhà điều tra liên bang để nghiên cứu hồ sơ tài chính và thuế của những nhà chính trị đối lập.[67] Trong một nỗ lực nhằm ngăn ngừa khủng bố, George W. Bush cho phép nghe lén trên hệ thống điện thoại mà không cần lệnh từ tòa án. Hành động này[68] cũng như việc tra trấn và từ chối quyền pháp lý của những người bị giam giữ đã bị tòa án liên bang phán quyết là vi hiến.[69] Richard Nixon phạm vô số luật lệ khi yêu cầu một nhóm người đột nhập văn phòng của một nhà tâm lý học thuộc đảng đối lập cũng như văn phòng của Ủy ban Quốc gia Đảng Dân chủ Hoa Kỳ rồi tìm cách che giấu sự nhúng tay của Nhà Trắng qua việc mua chuộc những nhân chứng trong một sự kiện mà sau đó trở thành vụ tai tiếng Watergate.[70] Hành động của Nixon theo 1 khía cạnh nào đó đã được Alexis de Tocqueville tiên tri trong một cuốn sách xuất bản vào năm 1835 có tựa đề là Democracy in America (Dân chủ tại Mỹ). Tocqueville cho rằng sự việc tổng thống có thể tái cử là một điều nghiêm trọng đáng quan tâm vì tổng thống ra tái tranh cử sẽ bị mê ngoặc, không chỉ làm mất tính công bằng của mình mà còn dùng cả một bộ máy quốc gia đồ sộ để giúp họ tái thắng cử.[71]
Phát động chiến tranh mà không có sự tuyên chiến từ Quốc hội
Một số người chỉ trích tố cáo rằng ngành hành pháp đã lấn quyền tuyên chiến, vốn đã được Hiến pháp Hoa Kỳ giao phó cho Quốc hội.[72][73][74] Mặc dù trong lịch sử các tổng thống đã khởi động tiến trình tiến tới chiến tranh nhưng họ đều xin phép và nhận được lệnh tuyên chiến chính thức từ Quốc hội Hoa Kỳ trong Chiến tranh 1812, Chiến tranh México – Mỹ, Chiến tranh Tây Ban Nha – Mỹ, Chiến tranh thế giới thứ nhấtChiến tranh thế giới thứ hai.[74][75] Tuy nhiên, các tổng thống đã không nhận được lệnh tuyên chiến chính thức đối với các hành động quân sự khác trong đó có sự việc Tổng thống Theodore Roosevelt đưa quân vào Panama năm 1903,[74] Chiến tranh Triều Tiên,[74] Chiến tranh Việt Nam,[74] các vụ xâm chiếm Grenada[76]Panama (1990).[77] Tuy nhiên, dù không có sự tuyên chiến chính thức từ Quốc hội, tổng thống đã được Quốc hội chấp thuận tiến hành Chiến tranh Iraq lần thứ nhất vào năm 1991[78][79]Chiến tranh Iraq lần thứ 2 năm 2003[80][81] Năm 1993, một người chỉ trích viết rằng "Quyền tuyên chiến của Quốc hội đã trở thành điều khoản bị xem thường rõ ràng nhất trong Hiến pháp Hoa Kỳ."[82]
Ưu thế bầu cử của đương kim tổng thống
Các đương kim tổng thống tìm cách tái cử cho nhiệm kỳ 2 đều có lợi thế hơn đối thủ của mình,[83] và những người chỉ trích tố cáo rằng đều này là không công bằng. Từ năm 1936, trong 13 lần bầu cử tổng thống có đương kim tổng thống ứng cử thì đã có đến 10 lần đương kim tổng thống thắng cử và đối thủ chỉ thắng có 3 lần (xem bảng dưới đây). Các đương kim tổng thống tái tranh cử luôn có được lợi thế mà đối thủ của họ không có, trong đó phải kể đến quyền lực dẫn dắt giới truyền thông đưa tin nhiều hơn và gây ảnh hưởng với những sự kiện cũng như sử dụng nhiều nguồn tài trợ của chính phủ.[84] Một thông tín viên ghi nhận rằng "gần như tất cả đương kim tổng thống đều gây quỹ nhiều hơn đối thủ của mình". Điều này đã mang lợi thế hơn cho những đương kim tổng thống.[85] Ủy ban Hành động chính trị trao phần lớn số tiền của họ cho các đương kim tổng thống vì họ là những người dễ thắng cử hơn.[86] Một nhà dự báo chính trị cho rằng nên cộng thêm 5% số điểm vào trong kết quả tái cử khả dĩ của một đương kim tổng thống cho dù các tình huống như sự phát triển kinh tếlạm phát có thể làm ảnh hưởng đến kết quả bầu cử.[87][88]
Các cuộc bầu cử tổng thống từ năm 1936 có đương kim tổng thống
Năm Ứng viên Phiếu bầu Ứng viên Phiếu bầu Thắng cử Ghi chú
1936 Roosevelt 523 Landon 8 Đương kim [89]
1940 Roosevelt 449 Willkie 82 Đương kim [90]
1944 Roosevelt 432 Dewey 99 Đương kim [90]
1948 Truman 303 Dewey 189 Đương kim [90]
1956 Eisenhower 457 Stevenson 73 Đương kim [90]
1964 Johnson 486 Goldwater 52 Đương kim [90]
1972 Nixon 520 McGovern 17 Đương kim [90]
1976 Carter 297 Ford 240 Đối thủ [90]
1980 Reagan 489 Carter 49 Đối thủ [90]
1984 Reagan 525 Mondale 13 Đương kim [90]
1992 Clinton 370 GHW Bush 168 Đối thủ [90]
1996 Clinton 379 Dole 159 Đương kim [90]
2004 GW Bush 286 Kerry 252 Đương kim [90]
2012 Obama 332 Romney 206 Đương kim [91]
Ghi chú: các cuộc bầu cử không có sự tham dự của ứng cử viên đương kim tổng thống cũng như các cuộc bầu cử có các ứng cử viên thuộc đảng thứ 3 đều không được đưa vào danh sách này. Số phiếu được ghi trên danh sách là số phiếu đại cử tri đoàn.
Lạm dụng quyền ân xá
Các tổng thống đã bị chỉ trích vì lạm dụng quyền lực này. Thí dụ, Gerald Ford ân xá người đã từng chọn mình làm phó tổng thống trước đó, Richard Nixon; Quyết định của Tổng thống Ford đã bị chỉ trích như là 1 hành động lạm dụng quyền ân xá.[92] Các tổng thống cũng bị chỉ trích vì những quyết định ân xá khác. George H. W. Bush ân xá cho một viên chức bị tình nghi dấu diếm các tài liệu có liên quan đến vụ tai tiếng Iran-Contra.[93] Bill Clinton đề xuất 140 lệnh ân xá trong những ngày cuối cùng còn tại chức,[94] ân xá cho những người đào phạm[94] và những người đóng góp quỹ vận động tranh cử nổi tiếng.[94] George W. Bush giảm án cho một nhân viên văn phòng bị truy tố vì che giấu sự dính líu của chính phủ trong vụ Valerie Plame Wilson.[95][96]
Điều hành chính sách ngoại giao
Vì không có bắt buộc là các ứng cử viên tổng thống phải tinh thông về ngoại giao, quân sự hay chính sách ngoại giao và vì các tổng thống tự điều hành các chính sách ngoại giao nên chất lượng tạo ra quyết định khá khác nhau từ tổng thống này đến tổng thống khác. Nhiều đánh giá được các nhà chuyên môn về chính sách ngoại giao lập thành danh sách gồm những thành công và thất bại trong nữa thế kỷ trước. Những thành công quan trọng trong nữa thế kỷ trước gồm có việc Liên Xô sụp đổ và tránh để xảy ra Đệ tam Thế chiến[97] cũng như việc xử lý cuộc Khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962.[98] Nhưng vô số quyết định của tổng thống đã bị chỉ trích trong đó có vụ xâm nhập Vịnh Con Heo tại Cuba,[99] những chọn lựa quân sự đặc biệt,[100] trao đổi vũ khí để lấy con tin với Iran,[101] và những quyết định khởi động chiến tranh.[102][103][104] Việc chiếm đóng theo sau Chiến tranh Iraq bị chỉ trích là "không có kế hoạch một cách thê thảm" và toàn bộ chiến lược với Iraq bị gọi là một "việc tự đánh bại mình và làm cho đồng minh xa lánh"[105] Một người chỉ trích nhận thấy rằng có một chiều hướng "quân sự hóa chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ."[106] Các tổng thống bị tố cáo là ủng hộ những nhà độc tài như quốc vương của Iran,[107] Pervez Musharraf của Pakistan,[108]Ferdinand Marcos của Philippines.[109] Toàn bộ chiến lược có liên quan đến Trung Đông bị chỉ trích[110] cũng như việc xử lý vấn đề Bắc Hàn[110]Iran.[111] Những người chỉ trích đã tố cáo rằng nền chính trị lưỡng đảng đã can thiệp vào chính sách ngoại giao.[112]

Địa vị

Tổng thống Hoa Kỳ là viên chức chính trị cao nhất tại Hoa Kỳ xét về mặt ảnh hưởng và công nhận. Vì địa vị của Hoa Kỳ trong vai trò siêu cường duy nhất còn lại trên thế giới nên Tổng thống Hoa Kỳ thường được xem là cá nhân quyền lực nhất trên thế giới[113] và được gọi theo thông lệ là Nhà lãnh đạo của Thế giới Tự do.

Chú thích

  1. ^ “How To Address The President; He Is Not Your Excellency Or Your Honor, But Mr. President”. The New York Times. Ngày 2 tháng 8 năm 1891.
  2. ^ “USGS Correspondence Handbook - Chapter 4”. Usgs.gov. Ngày 18 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2012.
  3. ^ “Models of Address and Salutation”. Ita.doc.gov. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2010.
  4. ^ HEADS OF STATE, HEADS OF GOVERNMENT, MINISTERS FOR FOREIGN AFFAIRS, Protocol and Liaison Service, United Nations. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2012.
  5. ^ The White House Office of the Press Secretary (ngày 1 tháng 9 năm 2010). “Remarks by President Obama, President Mubarak, His Majesty King Abdullah, Prime Minister Netanyahu and President Abbas Before Working Dinner”. WhiteHouse.gov. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2011.
  6. ^ “Exchange of Letters”. Permanent Observer Mission of Palestine to the United Nations. Tháng 9 năm 1978. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2011.
  7. ^ Our Government • The Executive Branch, The White House
  8. ^ “The Executive Branch”. Whitehouse.gov. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2009.. Grover Cleveland served two non-consecutive terms and is counted as both the 22nd and the 24th President. Because of this, all presidents after the 23rd have their official listing increased by one.
  9. ^ Hamilton, Alexander. The Federalist #69 (reposting). Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2007.
  10. ^ Shurtleff v. United States, 189 U.S. 311 (1903); Myers v. United States, 272 U.S. 52 (1926).
  11. ^ Humphrey's Executor v. United States, 295 U.S. 602 (1935) and Morrison v. Olson, 487 U.S. 654 (1988), respectively.
  12. ^ Foreign-born Americans who were citizens at the time the Constitution was adopted were also eligible to become president, provided they met the age and residency requirements. However, this allowance has since become obsolete.
  13. ^ See: Peabody, Bruce G.; Gant, Scott E. (1999). “The Twice and Future President: Constitutional Interstices and the Twenty-Second Amendment”. Minnesota Law Review (Minneapolis, MN: Minnesota Law Review) 83 (565).; alternatively, see: Albert, Richard (2005). “The Evolving Vice Presidency”. Temple Law Review (Philadelphia, PA: Temple University of the Commonwealth System of Higher Education) 78 (811, at 856–9).
  14. ^ See S. Doc. 108-17 - The Constitution of the United States of America: Analysis, and Interpretation - 2002 Edition, at 611 & nn.772–73.
  15. ^ U.S. Const. art. II, § 1, cl. 8.
  16. ^ Guardian, "Bush colonoscopy leaves Cheney in charge", 20/7, 2007 18.24 BST
  17. ^ 3 U.S.C. § 20
  18. ^ Presidential and Vice Presidential Succession: Overview and Current Legislation Thomas H. Neale cập nhật 27/9/2004 bản lưu 25/10/2005
  19. ^ Presidential and Vice Presidential Salaries “Presidential and Vice Presidential Salaries, 1789+”. University of Michigan. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2009.
  20. ^ Relative Value in US Dollars. Measuring Worth. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2006.
  21. ^ Dept. of Labor Inflation Calculator. Inflation Calculator. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2009.
  22. ^ "How much does the U.S. president get paid?". Howstuffworks. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2007.
  23. ^ Salaries of Federal Officials: A Fact Sheet. United States Senate website. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2009.
  24. ^ “President's Guest House (includes Lee House and Blair House), Washington, DC”. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2009.
  25. ^ New Presidential Limousine enters Secret Service Fleet US Secret Service Press Release (ngày 14 tháng 1 năm 2009) Retrieved on 2009-01-20
  26. ^ Air Force One. White House Military Office. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2007.
  27. ^ Any U.S. Air Force aircraft carrying the president will use the call sign "Air Force One." Similarly, "Navy One", "Army One", and "Coast Guard One" are the call signs used if the president is aboard a craft belonging to these services. "Executive One" becomes the call sign of any civilian aircraft when the president boards.
  28. ^ “Junior Secret Service Program: Assignment 7. Code Names”. National Park Service. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2007.
  29. ^ “Candidate Code Names Secret Service Monikers Used On The Campaign Trail”. CBS. Ngày 16 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2008.
  30. ^ “Obama's Secret Service Code Name revealed”. Eurweb. Ngày 16 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2008.
  31. ^ “Former Presidents Act (FPA)” (PDF). U.S. Senate. 1958. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2007.
  32. ^ “Former presidents cost U.S. taxpayers big bucks”. Toledo Blade. Ngày 7 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2007.
  33. ^ 18 U.S.C. § 3056
  34. ^ Biography of Richard M. Nixon, The White House
  35. ^ Michiko Kakutani (book reviewer) (ngày 6 tháng 7 năm 2007). “Unchecked and Unbalanced”. New York Times. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2009. the founding fathers had 'scant affection for strong executives' like England’s king, and... Bush White House’s claims are rooted in ideas "about the ‘divine’ right of kings"... and that certainly did not find their 'way into our founding documents, the 1776 Declaration of Independence and the Constitution of 1787.'
  36. ^ “The Conquest of Presidentialism”. The Huffington Post. Ngày 22 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2009.
  37. ^ interview by David Schimke (September–October 2008). “Presidential Power to the People – Author Dana D. Nelson on why democracy demands that the next president be taken down a notch”. Utne Reader. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2009.
  38. ^ Ross Linker (ngày 27 tháng 9 năm 2007). “Critical of Presidency, Prof. Ginsberg and Crenson unite”. The Johns-Hopkins Newsletter. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2009. presidents slowly but surely gain more and more power with both the public at large and other political institutions doing nothing to prevent it.
  39. ^ Michiko Kakutani (book reviewer) (ngày 6 tháng 7 năm 2007). “Unchecked and Unbalanced”. New York Times. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2009. UNCHECKED AND UNBALANCED: Presidential Power in a Time of Terror By Frederick A. O. Schwarz Jr. and Aziz Z. Huq (authors)
  40. ^ a ă By Dana D. Nelson (ngày 11 tháng 10 năm 2008). “Opinion–The 'unitary executive' question – What do McCain and Obama think of the concept?”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009.
  41. ^ Sanford Levinson (ngày 5 tháng 2 năm 2009). "Wartime Presidents and the Constitution: From Lincoln to Obama" – speech by Sanford Levinson at Wayne Morse Center”. Wayne Morse Center for Law and Politics. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2009.
  42. ^ Anand Giridharadas (ngày 25 tháng 9 năm 2009). “Edging Out Congress and the Public”. New York Times. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2009.
  43. ^ David Sirota (ngày 18 tháng 1 năm 2009). “U.S. moving toward czarism, away from democracy”. San Francisco Chronicle. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009.
  44. ^ a ă David Sirota (ngày 22 tháng 8 năm 2008). “Why cult of presidency is bad for democracy”. San Francisco Chronicle. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2009.
  45. ^ Scott Shane (ngày 25 tháng 9 năm 2009). “A Critic Finds Obama Policies a Perfect Target”. New York Times. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2009. There is the small, minority-owned firm with deep ties to President Obama’s Chicago backers, made eligible by the Federal Reserve to handle potentially lucrative credit deals. 'I want to know how these firms are picked and who picked them,' Mr. Wilson, the group’s president, tells his eager researchers.
  46. ^ Rachel Dykoski (ngày 1 tháng 11 năm 2008). “Book note: Presidential idolatry is "Bad for Democracy". Twin Cities Daily Planet. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. Dana D. Nelson's book makes the case that we've had 200+ years of propagandized leadership...
  47. ^ John Neffinger (ngày 2 tháng 4 năm 2007). “Democrats vs. Science: Why We're So Damn Good at Losing Elections”. Huffington Post. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. ...back in the 1980s Lesley Stahl of 60 Minutes ran a piece skewering Reagan's policies on the elderly... But while her voiceover delivered a scathing critique, the video footage was all drawn from carefully-staged photo-ops of Reagan smiling with seniors and addressing large crowds... Deaver thanked... Stahl...for broadcasting all those images of Reagan looking his best.
  48. ^ Dana D. Nelson (2008). “Bad for democracy: how the Presidency undermines the power of the people”. U of Minnesota Press. ISBN 9780816656776. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. in rich detail how Kennedy drew on the power of myth as he framed his experience during World War II, when his PT boat was sliced in half by a Japanese...
  49. ^ Dana D. Nelson (2008). “Bad for democracy: how the Presidency undermines the power of the people”. U of Minnesota Press. ISBN 9780816656776. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. Even before Kennedy ran for Congress, he had become fascinated, through his Hollywood acquaintances and visits, with the idea of image... (p.54)
  50. ^ Alessandra Stanley (ngày 10 tháng 6 năm 2004). “THE 40TH PRESIDENT: CRITIC'S NOTEBOOK; A Pageant Over 2 Decades in the Making”. New York Times. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2009. If anyone is to be credited for providing regal grandeur to the ceremony it is Mrs. Reagan, who, with the help of the loyal aide Michael K. Deaver, had always managed the stagecraft of her husband's political career.
  51. ^ Lexington (ngày 21 tháng 7 năm 2009). “The Cult of the Presidency”. The Economist. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2009. Gene Healy argues that because voters expect the president to do everything... When they inevitably fail to keep their promises, voters swiftly become disillusioned. Yet they never lose their romantic idea that the president should drive the economy, vanquish enemies, lead the free world, comfort tornado victims, heal the national soul and protect borrowers from hidden credit-card fees.
  52. ^ Justin Ewers (ngày 28 tháng 4 năm 2009). “Why Obama Is Leaving the Reagan Era Behind When It Comes to Economic Policy”. US News & World Report. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2009. Despite his years of lip service to balancing the budget, total discretionary spending had climbed almost 16 percent by the time he left office, dwarfing the Carter budgets he had once criticized. Revenues, limited by Reagan's tax cuts, were never able to keep pace. The result was a spiraling national debt that nearly tripled during his two terms, hitting $2.7 trillion.
  53. ^ a ă United States Government (2009). “Historical Tables–Budget of the United States Government–Fiscal Year 2009” (PDF). United States Government. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2009. see pages 11–12, 25–26, 28–29, 30–31, 333–334 The traditional pattern of running large deficits only in times of war or economic downturns was broken during much of the 1980s. In 1982, partly in response to a recession, large tax cuts were enacted. However, these were accompanied by substantial increases in defense spending. Although reductions were made to nondefense spending, they were not sufficient to offset the impact on the deficit. As a result, deficits averaging $206 billion were incurred between 1983 and 1992. These unprecedented peacetime deficits increased debt held by the public from $789 billion in 1981 to $3.0 trillion (48.1% of GDP) in 1992.(from p.11)
  54. ^ a ă â Timothy Taylor (ngày 14 tháng 11 năm 2009). “The deficit doves”. Minneapolis–St. Paul Star Tribune. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2009. The Congressional Budget Office projects that the accumulation of government debt from 2009 to 2012, relative to the size of the economy, will outstrip the accumulation of debt in Reagan's first term of office.
  55. ^ Peter S. Goodman (ngày 7 tháng 7 năm 2009). “Staggering Budget Gap and a Reluctance to Fill It”. The New York Times. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2009. The deficit has grown in part because of the $787 billion spending package championed by the Obama administration to aid states, generate jobs and increase benefits for the jobless. But these expenditures landed atop huge deficits run up by the Bush administration, which had cut taxes and prosecuted an expensive war in Iraq. The Congressional Budget Office projects federal spending will exceed revenues by $1.7 trillion this year, or about 12 percent of the nation’s annual economic output — the largest deficit since World War II.
  56. ^ Nick Gillespie (ngày 24 tháng 1 năm 2009). “Bush Was a Big-Government Disaster”. Wall Street Journal. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2009. Mr. Bush... increased the size and scope of the federal government to unprecedented levels... he added a whopping $345 billion (in constant dollars) to the federal budget... added... an additional $287 billion on top of that... Mr. Bush has massively expanded the government
  57. ^ a ă Lori Montgomery (ngày 21 tháng 3 năm 2009). “Deficit Projected To Swell Beyond Earlier Estimates”. Washington Post. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2009. Tax collections, meanwhile, would lag well behind spending, producing huge annual budget deficits that would force the nation to borrow nearly $9.3 trillion over the next decade – $2.3 trillion more than the president predicted when he unveiled his budget request just one month ago.
  58. ^ a ă United States Government (2009). “Historical Tables–Budget of the United States Government–Fiscal Year” (PDF). United States Government. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2009. Table 17.5—GOVERNMENT EMPLOYMENT AND POPULATION: 1962–2007 (page 339)
  59. ^ Eric Cantor (ngày 30 tháng 7 năm 2009). “Obama's 32 Czars”. The Washington Post. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2009.
  60. ^ Dana D. Nelson (ngày 11 tháng 10 năm 2008). “The 'unitary executive' question”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2009.
  61. ^ Christopher Lee (ngày 2 tháng 1 năm 2006). “Alito Once Made Case For Presidential Power”. Washington Post. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2009.
  62. ^ Dan Froomkin (ngày 10 tháng 3 năm 2009). “Playing by the Rules”. Washington Post. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2009.
  63. ^ Charlie Savage (ngày 16 tháng 3 năm 2009). “Obama Undercuts Whistle-Blowers, Senator Says”. New York Times. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2009.
  64. ^ Transcript – Ray Suarez and others (ngày 24 tháng 7 năm 2006). “President's Use of 'Signing Statements' Raises Constitutional Concerns”. PBS Online NewsHour. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. The American Bar Association said President Bush's use of "signing statements," which allow him to sign a bill into law but not enforce certain provisions, disregards the rule of law and the separation of powers. Legal experts discuss the implications.
  65. ^ a ă George F. Will – op-ed columnist (ngày 21 tháng 12 năm 2008). “Making Congress Moot”. The Washington Post. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2009.
  66. ^ a ă â Albert Gore (CQ Transcripts Wire) (16 tháng 1 năm 2006). “Transcript: Former Vice President Gore's Speech on Constitutional Issues”. Washington Post. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2009. GORE: President Lincoln, of course, suspended habeas corpus during the Civil War, and some of the worst abuses prior to those of the current administration were committed by President Wilson during and after World War I, with the notorious red scare and "Palmer Raids."
  67. ^ Grigg, William Norman (ngày 16 tháng 6 năm 2003). “FDR's patriot purge. (Cover Story History)”. The New American. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2009. federal investigators 'were free to devote a great deal of energy and attention to the tax records and finances of politicians who sought to use anti-Semitic appeals to attack the Roosevelt administration'
  68. ^ Dan Eggen and Dafna Linzer (ngày 18 tháng 8 năm 2006). “Judge Rules Against Wiretaps–NSA Program Called Unconstitutional”. Washington Post. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2009. U.S. District Judge Anna Diggs Taylor ordered a halt to the wiretap program, secretly authorized by President Bush in 2001, but both sides in the lawsuit agreed to delay that action until a Sept. 7 hearing.
  69. ^ Staff writer (ngày 15 tháng 7 năm 2008). “Book World: 'The Dark Side': The Inside Story of How The War on Terror Turned into a War on American Ideals (by Jane Mayer)”. Washington Post. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2009. Since embarking upon its global war on terror, the United States has blatantly disregarded the Geneva Conventions. It has imprisoned suspects, including U.S. citizens, without charge, holding them indefinitely and denying them due process. It has created an American gulag in which thousands of detainees, including many innocent of any wrongdoing, have been subjected to ritual abuse and humiliation.
  70. ^ Richard Zoglin (ngày 8 tháng 8 năm 1994). “TELEVISION: Nixon Without Nostalgia”. Time Magazine. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2009. paranoid Nixon White House of the early '70s, so obsessed with political foes that it had a psychiatrist's office burglarized to get dirt on Daniel Ellsberg (who had released the Pentagon papers) and ordered the fateful break-in at the offices of the Democratic National Committee.
  71. ^ Alexis de Tocqueville, translated by Henry Reeve (1899). “Democracy in America, Volume 1”. Google Books. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2009. Intrigue and corruption are the natural defects of elective government; but when the head of the State can be re-elected these evils rise to a great height, and compromise the very existence of the country. When a simple candidate seeks to rise by intrigue, his manoeuvres must necessarily be limited to a narrow sphere; but when the chief magistrate enters the lists, he borrows the strength of the Government for his own purposes.
  72. ^ Dana D. Nelson (ngày 11 tháng 10 năm 2008). “The 'unitary executive' question”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2009.
  73. ^ Steve Holland (ngày 1 tháng 5 năm 2009). “Obama revelling in U.S. power unseen in decades”. Reuters UK. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2009.
  74. ^ a ă â b c “The Law: The President's War Powers”. Time Magazine. Ngày 1 tháng 6 năm 1970. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2009.
  75. ^ Alison Mitchell (ngày 2 tháng 5 năm 1999). “The World; Only Congress Can Declare War. Really. It's True.”. New York Times. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2009. Presidents have sent forces abroad more than 100 times; Congress has declared war only five times: the War of 1812, the Mexican War, the Spanish-American War, World War I and World War II.
  76. ^ Alison Mitchell (ngày 2 tháng 5 năm 1999). “The World; Only Congress Can Declare War. Really. It's True.”. New York Times. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2009. President Reagan told Congress of the invasion of Grenada two hours after he had ordered the landing. He told Congressional leaders of the bombing of Libya while the aircraft were on their way.
  77. ^ Michael R. Gordon (ngày 20 tháng 12 năm 1990). “U.s. troops move in panama in effort to seize noriega; gunfire is heard in capital”. New York Times. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2009. It was not clear whether the White House consulted with Congressional leaders about the military action, or notified them in advance. Thomas S. Foley, the Speaker of the House, said on Tuesday night that he had not been alerted by the Administration.
  78. ^ Stuart Taylor Jr. (ngày 4 tháng 9 năm 2002). “An Invasion of Iraq Requires the Approval of Congress”. The Atlantic. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2009. Bush may eventually ask for a congressional vote. That would clearly be the wiser course, politically. And that's what Bush's father did in early 1991—notwithstanding his insistence then that he did not need congressional approval as a legal matter and his subsequent boast, "I didn't have to get permission from some old goat in Congress to kick Saddam Hussein out of Kuwait."
  79. ^ Andrew Rosenthal (ngày 28 tháng 2 năm 1991). “Bush Halts Offensive Combat; Kuwait Freed, Iraqis Crushed”. New York Times. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2009. The Speaker of the House, Thomas S. Foley, said: 'The majority in Congress voted to give the President the authority, and he has taken that authority and I think conducted this operation brilliantly.'
  80. ^ David E. Sanger with John F. Burns (ngày 20 tháng 3 năm 2003). “Bush Declares Start of Iraq War; Missile Said to Be Aimed at Hussein”. New York Times. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2009. Mr. Bush formally informed Congress in... a seven-page message to Congress, he argued that force was now the only way to 'adequately protect the national security of the United States' and that topping the Iraqi government was 'a vital part' of a broader war against terrorism. The message was required under a statute passed last fall explicitly authorizing war against Iraq after the president determined that a diplomatic solution was impossible.
  81. ^ “Time Essay: Where's Congress?”. Time Magazine. Ngày 22 tháng 5 năm 1972. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2009.
  82. ^ Michael Kinsley (ngày 15 tháng 3 năm 1993). “The Case for a Big Power Swap”. Time Magazine. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2009.
  83. ^ David R. Francis (ngày 2 tháng 9 năm 2008). “Will pocketbooks pick the president?”. Christian Science Monitor. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2009. Nonetheless, after recognizing that an incumbent president has an advantage, the two models depend on the economic numbers for their results and have done better than many sophisticated political analysts in their predictive ability.
  84. ^ Schantz (editor), Harvey L. (1996). American Presidential Elections: Process, Policy, and Political Change. Albany: State University of New York Press. tr. 41. ISBN 0-7914-2864-8. The advantages of incumbency are many: presidents have the aura and experience of the office; they command media coverage; they are able to influence events; and they are able to dispense government grants. (p.41)
  85. ^ Richard E. Cohen (ngày 12 tháng 8 năm 1990). “PAC Paranoia: Congress Faces Campaign Spending – Politics: Hysteria was the operative word when legislators realized they could not return home without tougher campaign finance laws.”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2009.
  86. ^ Joseph A. Califano Jr. (ngày 27 tháng 5 năm 1988). “PAC's Remain a Pox”. The New York Times. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2009.
  87. ^ Peter Passell (ngày 28 tháng 11 năm 1990). “Economic Scene; George Bush's Secret Weapon”. The New York Times. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2009. The election game presented by Mr. Fair is so easy that anyone with a pencil can play. In the latest version of the formula, derived from what statisticians call regression analysis, a Democrat starts with a presumptive claim to 48 percent of the two-party vote. If he is an incumbent, add five percentage points; if he is running against an incumbent Republican, subtract five.
  88. ^ Peter Passell (ngày 28 tháng 11 năm 1990). “Economic Scene; George Bush's Secret Weapon”. The New York Times. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2009. Mr. Fair, who has just updated his remarkably accurate statistical model for explaining Presidential election results to include the Bush-Dukakis contest, suggests that nothing much can change the predisposition of voters to elect Republicans (especially incumbent Republicans) except parlous economic times.
  89. ^ Staff writer (ngày 13 tháng 10 năm 1987). “Alf Landon, G.O.P. Stand-Bearer, Dies at 100”. NEW YORK TIMES. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2009. 523 Electoral Votes to 8 Roosevelt, running for his second term, won 27,747,636 votes to 16,679,543 for his Republican rival. Mr. Landon received 8 electoral votes to Roosevelt's 523.
  90. ^ a ă â b c d đ e ê g h i Matthew Ericson (ngày 3 tháng 11 năm 2004). “THE 2004 ELECTIONS: THE PAST; Electoral College Shifts, In Red and Blue”. NEW YORK TIMES. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2009. The coloring indicates which party's candidate received electoral votes in the state. Darker shades indicate that a different party captured the state than in the previous election. E.V.: Electoral votes received by a candidate P.V.: Share of the popular vote received by a candidate
  91. ^ Mike Allen (ngày 3 tháng 11 năm 2004). “Bush Aides Pushed to Declare Victory”. Washington Post. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2009. Even before receiving a concession call from his opponent, President Bush scheduled a victory announcement in Washington today, with officials of his reelection campaign asserting that he has won at least 286 electoral votes
  92. ^ David Johnston (ngày 24 tháng 12 năm 1992). “Bush Pardons 6 in Iran Affair, Aborting a Weinberger Trial; Prosecutor Assails 'Cover-Up'. New York Times. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2009. But not since President Gerald R. Ford granted clemency to former President Richard M. Nixon for possible crimes in Watergate has a Presidential pardon so pointedly raised the issue of whether the President was trying to shield officials for political purposes.
  93. ^ David Johnston (ngày 24 tháng 12 năm 1992). “Bush Pardons 6 in Iran Affair, Aborting a Weinberger Trial; Prosecutor Assails 'Cover-Up'. New York Times. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2009. The prosecutor charged that Mr. Weinberger's efforts to hide his notes may have 'forestalled impeachment proceedings against President Reagan' and formed part of a pattern of 'deception and obstruction.'... In light of President Bush's own misconduct, we are gravely concerned about his decision to pardon others who lied to Congress and obstructed official investigations.
  94. ^ a ă â Peter Eisler (ngày 7 tháng 3 năm 2008). “Clinton-papers release blocked”. USA TODAY. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2009. Former president Clinton issued 140 pardons on his last day in office, including several to controversial figures, such as commodities trader Rich, then a fugitive on tax evasion charges. Rich's ex-wife, Denise, contributed $2,000 in 1999 to Hillary Clinton's Senate campaign; $5,000 to a related political action committee; and $450,000 to a fund set up to build the Clinton library.
  95. ^ Johanna Neuman (ngày 19 tháng 8 năm 2009). “Robert Novak dies at 78; syndicated columnist and TV commentator”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2009. President George W. Bush later commuted Libby's 2½ -year sentence.
  96. ^ Sheryl Gay Stolberg (ngày 3 tháng 7 năm 2007). “For President, Libby Case Was a Test of Will”. New York Times. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2009. Indeed, to administration critics, the commutation was a subversion of justice, an act of hypocrisy by a president who once vowed that anyone in his administration who broke the law would 'be taken care of.'
  97. ^ Philip D. Zelikow (tháng 11 năm 2009). “The Suicide of the East? 1989 and the Fall of Communism”. Foreign Affairs Magazine. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2009. There was no World War III... The Soviet Union and Poland held limited elections in early 1989... By the end of 1991, the Soviet empire had disintegrated. Although there had been some bloodshed in China and Romania, there had been no great war.
  98. ^ “Essay: The Lessons of the Cuban Missile Crisis”. Time Magazine. Ngày 27 tháng 9 năm 1982. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. Kennedy assembled a task force of advisers. Some of them wanted to invade Cuba. In the end, Kennedy chose a course of artful restraint; he laid down a naval quarantine. After six days, Khrushchev announced that the Soviet missiles would be dismantled.
  99. ^ “Essay: BAY OF PIGS REVISITED: Lessons from a Failure”. Time Magazine. Ngày 30 tháng 7 năm 1965. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2009. U.S.-sponsored Bay of Pigs invasion that had ended in disaster about a year and a half before.
  100. ^ David Ignatius (ngày 8 tháng 6 năm 2004). “Protean Leader”. Washington Post. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2009. But after suicide bombers destroyed the U.S. Embassy and Marine barracks there in 1983, Reagan decided to cut his losses and evacuate American troops... The pullout from Lebanon was either an amoral retreat under fire or a prudent exercise of realpolitik, depending on your perspective.
  101. ^ David Ignatius (ngày 8 tháng 6 năm 2004). “Protean Leader”. Washington Post. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2009. A somewhat more dubious example of the Reagan administration's realpolitik in the Middle East was the decision to trade arms to Iran to secure the release of U.S. hostages in Lebanon. When the secret deal became public, Reagan managed the political fallout partly by insisting he had done nothing of the sort.
  102. ^ Amy Chua (ngày 22 tháng 10 năm 2009). “Where Is U.S. Foreign Policy Headed?”. New York Times. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2009. One of Bacevich’s most interesting arguments is that the astronomical costs of the Iraq war — not just unregulated hedge funds and subprime mortgages — contributed directly to the 2008 financial collapse. By 2007, he writes, 'the U.S. command in Baghdad was burning through $3 billion per week. That same year, the overall costs of the Iraq war topped the $500 billion mark.'
  103. ^ Dennis Ross (tháng 1 năm 2005). “The Middle East Predicament”. Foreign Affairs Magazine. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2009. Iraq is a mess—from which the United States cannot easily extricate itself.
  104. ^ Lelyveld, Joseph (ngày 8 tháng 11 năm 2009). “Chuck Hagel–Biography”. New York Times. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2009. A staunch conservative and a Vietnam veteran, Senator Chuck Hagel of Nebraska is best known as the most outspoken Republican critic of President Bush's policies in Iraq.
  105. ^ Jacob Weisberg (ngày 29 tháng 8 năm 2004). “All the President's Critics”. New York Times: Books. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2009. But these are largely stand-ins for their opposition to the Bush administration's catastrophically unplanned occupation of Iraq, its self-defeating alienation of allies...
  106. ^ Robert G. Kaiser (ngày 27 tháng 10 năm 2008). “Iraq Aside, Nominees Have Like Views on Use of Force”. Washington Post. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2009. Bacevich, who has endorsed Obama, is a stern critic of what he considers the militarization of U.S. foreign policy, and he regards this consensus as "far more important than any apparent differences" between the candidates and their advisers.
  107. ^ “The Mystic Who Lit The Fires of Hatred”. Time Magazine. 7 tháng 1 năm 1980. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2009. But the U.S. saw the Shah as a stable and valuable ally.... the U.S. lent the Shah its all-out support. President Richard Nixon and Secretary of State Henry Kissinger allowed him to buy all the modern weapons he wanted. Washington also gave its blessing to a flood of American business investment in Iran and dispatched an army of technocrats there.
  108. ^ Michael Abramowitz and Robin Wright (ngày 21 tháng 11 năm 2007). “Bush More Emphatic In Backing Musharraf”. Washington Post. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2009. President Bush yesterday offered his strongest support of embattled Pakistani President Pervez Musharraf, saying the general 'hasn't crossed the line' and 'truly is somebody who believes in democracy.'
  109. ^ Henry Grunwald (ngày 12 tháng 5 năm 1986). “Essay: Marcos, Baby Doc – Why Not the Rest?”. Time Magazine. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2009. Some critics blame the U.S. for the existence of just about all the world's non-Communist dictatorships. While it is true that many of these receive U.S. support, the forces that lead to dictatorship are usually beyond American control.
  110. ^ a ă Joshua Micah Marshall (tháng 11 năm 2003). “Remaking the World: Bush and the Neoconservatives”. Foreign Affairs Magazine. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2009. In Israel... After giving a low priority to the peace process during his first two years in office, George W. Bush pushed the 'road map' for peace while relegating Yasir Arafat to the sidelines... Finding himself stymied, the new Palestinian prime minister, Mahmoud Abbas, resigned; Arafat faces death or expulsion while being lionized among his constituents; bombings continue; and the region is as volatile and violent as ever.
  111. ^ “Iran's Nuclear Program”. New York Times. Ngày 21 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2009. American officials and international inspectors are concerned that Iran seems to have made significant progress in the three technologies necessary to field an effective nuclear weapon: enriching uranium to weapons grade; developing a missile capable of reaching Israel and parts of Western Europe; and designing a warhead that will fit on the missile.
  112. ^ Eric M. Weiss and Charles Lane (ngày 14 tháng 7 năm 2006). “Vice President Sued by Plame And Husband”. Washington Post. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2009. Plame and Wilson say that, after Wilson accused Bush of twisting intelligence about Iraq's pursuit of weapons of mass destruction, Cheney, Rove and Libby conspired to 'discredit, punish and seek revenge against the plaintiffs that included, among other things, disclosing to members of the press Plaintiff Valerie Plame Wilson's classified CIA employment.'
  113. ^ Michael Noer and Nicole Perlroth (ngày 11 tháng 11 năm 2009). “The World's Most Powerful People”. Forbes. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2009.

Xem thêm

Tham khảo

  • Leonard Leo, James Taranto, and William J. Bennett. Presidential Leadership: Rating the Best and the Worst in the White House. Simon and Schuster, June, 2004, hardcover, 304 pages, ISBN 0-7432-5433-3
  • Waldman, Michael, and George Stephanopoulos, My Fellow Americans: The Most Important Speeches of America's Presidents, from George Washington to George W. Bush. Sourcebooks Trade. September 2003. ISBN 1-4022-0027-7
  • Couch, Ernie, Presidential Trivia. Rutledge Hill Press. ngày 1 tháng 3 năm 1996. ISBN 1-55853-412-1
  • Lang, J. Stephen, The Complete Book of Presidential Trivia. Pelican Publishing. September 2001. ISBN 1-56554-877-9
  • Bầu cử tổng thống Mỹ diễn ra như thế nào?

Liên kết ngoài

Barack Obama

Barack Hussein Obama II (IPA: /bəˈɹɑk oʊˈbɑː.mə/; sinh ngày 4 tháng 8 năm 1961) là tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ từ năm 2009 đến năm 2017. Ông là người Mỹ gốc Phi đầu tiên được bầu vào chức vụ này. Lớn lên ở Honolulu, Hawaii, cá nhân ông thừa hưởng những nền văn hoá Phi-Âu-Á-Mỹ của thế giới từ thuở thiếu thời, Obama tốt nghiệp Viện Đại học Columbia và Trường Luật Viện Đại học Harvard, nơi ông từng là chủ tịch Harvard Law Review. Obama có thiên hướng hoạt động vì cộng đồng từ thời thanh niên và hoạt động cộng đồng tại Chicago trước khi nhận văn bằng luật, rồi làm luật sư về dân quyền và dạy luật hiến pháp tại Trường Luật Viện Đại học Chicago từ năm 1992 đến 2004. Ông phục vụ ba nhiệm kỳ đại diện cho Hạt 13 tại Thượng viện Tiểu bang Illinois từ năm 1997 đến 2004. Năm 2000, ông ứng cử vào Viện Dân biểu Hoa Kỳ nhưng thất bại.

Năm 2004, Obama gây tiếng vang toàn quốc khi đọc bài diễn văn then chốt tại Đại hội Toàn quốc Đảng Dân chủ vào tháng 7, sau đó vào tháng 11, ông đắc cử vào Thượng viện Hoa Kỳ. Trong chiến dịch tranh cử tổng thống khởi đầu từ năm 2007, đến năm 2008, Obama thắng sít sao Hillary Clinton để nhận sự đề cử của Đảng Dân chủ. Ông đánh bại ứng cử viên Cộng hòa John McCain trong cuộc tổng tuyển cử, và tuyên thệ nhậm chức Tổng thống Hoa Kỳ ngày 20 tháng 1 năm 2009. Chín tháng sau, Obama được trao giải Nobel Hòa bình.

Trong nhiệm kỳ đầu, những sáng kiến của Obama nhằm kích thích nền kinh tế dẫn đến việc ban hành Đạo luật Phục hồi và Tái đầu tư (2009), Đạo luật Giảm thuế và Tạo việc làm (2010) hầu có thể ứng phó với cuộc suy thoái tại Mỹ giai đoạn 2007-2009; ông cũng ký ban hành Đạo luật chăm sóc và bảo vệ bệnh nhân hợp túi tiền; Đạo luật bảo vệ người tiêu dùng; Bãi bỏ đạo luật Don’t Ask, Don’t Tell Repeal Act (2010).

Tháng 1 năm 2011, Đảng Cộng hòa giành quyền kiểm soát Viện Dân biểu sau khi Đảng Dân chủ mất 63 ghế, tiếp đó bùng nổ một cuộc tranh luận kéo về chi tiêu liên bang và về quyết định nên hay không nâng cao mức nợ quốc gia, Obama ký ban hành Đạo luật Kiểm soát Ngân sách 2011 và Đạo luật American Taxpayer Relief 2012.

Tháng 11 năm 2012, Obama đánh bại ứng viên Đảng Cộng hòa Mitt Romney và tuyên thệ nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai ngày 20 tháng 1 năm 2013. Obama là ứng cử viên Dân chủ đầu tiên kể từ Franklin D. Roosevelt chiến thắng trong hai cuộc bầu cử tổng thống với đa số phiếu phổ thông. Trong nhiệm kỳ này, Obama chú trọng đến các chính sách nội địa như gia tăng biện pháp kiểm soát vũ khí sau khi xảy ra vụ thảm sát Trường tiểu học Sandy Hook, kêu gọi người dân Mỹ có thái độ cởi mở hơn đối với cộng đồng LGBT, hối thúc Tối cao Pháp viện tuyên bố vi hiến những cấm đoán hôn nhân đồng tính tại một số tiểu bang. Về đối ngoại, Obama ra lệnh cho quân đội Hoa Kỳ can thiệp tại Iraq nhằm đối phó với những thắng lợi của ISIS sau khi người Mỹ rút quân khỏi Iraq trong năm 2011,chấm dứt những cuộc hành quân ở Afghanistan, cổ xúy những cuộc thảo luận dẫn đến Hiệp ước Paris 2015 về biến đổi khí hậu toàn cầu, áp đặt lệnh trừng phạt kinh tế đối với Nga sau khi Nga sáp nhập Crimea bất hợp pháp, đàm phán với Iran để ký thỏa ước hạt nhân, và bình thường hóa bang giao với Cuba.

Boeing 747

Boeing 747, thường được gọi với biệt danh "Jumbo Jet", là một trong những loại máy bay dễ nhận biết trên thế giới, và là máy bay phản lực dân dụng thương mại cỡ lớn thân rộng đầu tiên được sản xuất. Loại máy bay này được đơn vị Commercial Airplane của Boeing tại Hoa Kỳ sản xuất. Phiên bản đầu tiên của Boeing 747 có kích thước gấp 2,5 lần Boeing 707, một trong những máy bay thương mại lớn của thập niên 1960. Từ chuyến bay thương mại đầu tiên năm 1970, Boeing 747 giữ kỷ lục về sức chứa hành khách lớn nhất trong 37 năm cho đến khi nó bị đối thủ là Airbus A380 vượt mặt.

Máy bay Boeing 747 sử dụng 4 động cơ trên cấu hình hai tầng trong phần thân được dùng ở phiên bản chở khách, chở hàng hay ở các phiên bản khác. Phần hình bướu của 747 nằm phía trên sàn ngăn, tạo điều kiện cho các phiên bản chở hàng có thể nhận hàng qua cửa lớn phía mũi máy bay. Phần bướu trong đa số các phiên bản chở khách là phần đặt chỗ ngồi bổ sung.

Phiên bản mới đang hoạt động của 747, 747-400 là một trong những loại máy bay dân dụng cỡ lớn nhanh nhất đang hoạt động trong các hãng hàng không với tốc độ đạt Mach 0,85 (567 mph hay 913 km/h), tầm bay liên lục địa là 7.260 hải lý (8.350 dặm hay 13.450 km). Phiên bản chở khách 747-400 có thể chở 416 khách với ba hạng ghế hoặc 524 khách với bố trí cho hai hạng ghế ngồi.

Sau khi đã bán được 400 chiếc, có những lúc 747 bị cho là lỗi thời do sự phát triển của những máy bay dân dụng siêu thanh nhưng thực tế, tổng số sản xuất ở con số 1.000 chiếc vào năm 1993 đã vượt quá sức tưởng tượng của những người chỉ trích. Tính đến tháng 4-2008, có 1.402 chiếc 747 được chế tạo với 122 cấu hình khác nhau. Phiên bản mới nhất của loại 747 là 747-8, được lên kế hoạch đi vào hoạt động vào năm 2009.

Cher

Cher (;) tên thật là Cherilyn Sarkisian, sinh ngày 20 tháng 5 năm 1946, là nữ ca sĩ và diễn viên người Mỹ, được mô tả là hiện thân của nữ quyền trong ngành công nghiệp thống trị bởi nam giới.

Bà nổi tiếng với chất giọng contralto đặc trưng và tính linh hoạt trong nhiều lĩnh vực giải trí, cũng như khả năng áp dụng nhiều diện mạo và phong cách trong sự nghiệp kéo dài 5 thập kỷ, giúp bà được vinh danh là "Nữ thần nhạc Pop."

Cher bắt đầu nổi danh vào năm 1965, lúc còn là thành viên trong nhóm song ca nhạc folk rock Sonny & Cher, sau khi bài hát "I Got You Babe" đạt ngôi quán quân tại các bảng xếp hạng Hoa Kỳ và Anh Quốc. Sau đó, bà bắt đầu sự nghiệp đơn ca và phát hành bài hát ăn khách "Bang Bang (My Baby Shot Me Down)" vào năm 1966. Bà trở nên phổ biến trên truyền hình vào thập niên 1970, với chương trình The Sonny & Cher Comedy Hour, thu hút hơn 30 triệu người xem mỗi tuần trong vòng 3 năm lên sóng; và Cher. Bà theo đuổi hình tượng của một nhà tiên phong trong thời trang, khi diện nhiều bộ trang phục công phu trong các chương trình truyền hình của mình. Đồng thời, bà cũng phát triển sự nghiệp đơn ca với các đĩa đơn dẫn đầu bảng xếp hạng Billboard Hot 100 Hoa Kỳ "Gypsys, Tramps & Thieves", "Half-Breed" và "Dark Lady". Sau khi ly hôn Sonny Bono vào năm 1975, Cher trở lại làng nhạc vào năm 1979 với album mang phong cách disco, Take Me Home và thu về 300.000 đô-la Mỹ mỗi tuần trong chương trình cố định 1980 – 82 tại Las Vegas.

Vào năm 1982, Cher lần đầu xuất hiện trên sân khấu Broadway với vở Come Back to the Five and Dime, Jimmy Dean, Jimmy Dean và tham gia vào phiên bản chuyển thể điện ảnh cùng tên. Trong những năm kế đến, bà góp mặt trong nhiều bộ phim như Silkwood (1983), Mask (1985) và Moonstruck (1987), giúp bà giành giải Oscar cho "Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất". Sau đó, bà hồi sinh sự nghiệp âm nhạc bằng nhiều đĩa thu âm mang hơi hướng rock như Cher (1987), Heart of Stone (1989) và Love Hurts (1991), tất cả đều cho ra mắt nhiều đĩa đơn đạt thành công. Bà vươn đến đỉnh cao thương mại với bài hát "Believe" vào năm 1998, nơi bà sử dụng hiệu ứng Auto-Tune, còn được biết đến như "hiệu ứng Cher". Living Proof: The Farewell Tour 2002 – 05 trở thành một trong những chuyến lưu diễn đạt doanh thu cao nhất mọi thời đại, với 250 triệu đô-la Mỹ. Vào năm 2008, bà ký kết một hợp đồng trị giá 180 triệu đô-la Mỹ cùng the Colosseum at Caesars Palace, Las Vegas trong 3 năm. Sau 7 năm vắng bóng, bà trở lại màn ảnh với bộ phim nhạc kịch Burlesque (2010). Album phòng thu đầu tiên của Cher trong 12 năm, Closer to the Truth (2013) trở thành đĩa nhạc đơn ca đạt hạng cao nhất của bà tại Hoa Kỳ.

Cher là chủ nhân của một giải Oscar, một giải Grammy, một giải Emmy, một giải Thời trang CFDA đặc biệt, 3 giải Quả cầu vàng và một giải Liên hoan phim Cannes, cùng nhiều vinh danh khác. Trong sự nghiệp, bà đã bán hơn 200 triệu đĩa nhạc trên toàn cầu. Bà là nghệ sĩ duy nhất cho đến nay có đĩa đơn quán quân trên bảng xếp hạng Billboard trong 6 thập kỷ, suốt từ thập niên 1960 đến thập niên 2010. Ngoài sự nghiệp âm nhạc và diễn xuất, Cher còn gây chú ý bởi quan điểm chính trị, nỗ lực từ thiện và các hoạt động xã hội của bà, trong đó có đấu tranh cho quyền LGBT và ngăn chặn HIV/AIDS.

Chiến dịch Mãn Châu (1945)

Chiến dịch Mãn Châu hay Chiến dịch tấn công chiến lược Mãn Châu (tiếng Nga: Манчжурская стратегическая наступательная операция), hay Cuộc tấn công của Liên Xô vào Mãn Châu hay Chiến tranh chống lại Nhật Bản của Liên Xô (tiếng Nhật:ソ連対日参戦) theo cách gọi của phía Nhật Bản, là một chiến dịch quân sự của Quân đội Liên Xô nhằm vào Đạo quân Quan Đông của Đế quốc Nhật Bản tại Mãn Châu, được thực hiện theo thoả thuận của Liên Xô với các nước Đồng Minh tại Hội nghị Yalta tháng 2 năm 1945. Đây cũng là chiến dịch quân sự trên bộ lớn nhất trong Chiến tranh Thái Bình Dương, được bắt đầu vào ngày 9 tháng 8 và kết thúc ngày 2 tháng 9 năm 1945.

Được chỉ huy bởi một thế hệ tướng lĩnh trưởng thành trong nghệ thuật quân sự Xô viết, Quân đội Liên Xô đã thực hành vận động chiến một cách linh hoạt ở mọi cấp độ, nhanh chóng xuyên thủng các khu vực phòng thủ ngoại vi, thọc sâu vào trung tâm, chia cắt, làm tê liệt và bức hàng đạo quân Quan Đông, kiểm soát Mãn Châu, Bắc Triều Tiên và miền Nam Sakhalin chỉ trong vòng 2 tuần, tạo tiền đề cho việc đổ bộ chiếm đóng thành công quần đảo Kuril trong thời gian ngắn sau đó.

Cùng với hai quả bom nguyên tử được ném xuống Nhật Bản ngày 6 và 9 tháng 8 năm 1945, thành công của chiến dịch Mãn Châu đã góp phần thúc đẩy Đế quốc Nhật Bản nhanh chóng chấp nhận đầu hàng vô điều kiện, kết thúc chiến tranh và tạo thời cơ cho một loạt quốc gia châu Á giành quyền độc lập tự chủ.

Chiến tranh Triều Tiên

Chiến tranh Triều Tiên (ở Hàn Quốc Hangul: 한국전쟁; Hanja: 韓國戰爭; Romaja: Hanguk Jeonjaeng, "Korean War"; ở CHDCND Triều Tiên Chosŏn'gŭl: 조국해방전쟁; Hancha: 祖國解放戰爭; MR: Choguk haebang chǒnjaeng là cuộc chiến xảy ra và kéo dài từ giữa năm 1950 đến năm 1953 trên bán đảo Triều Tiên bị chia cắt vì sự chiếm đóng tạm thời của Liên Xô và Hoa Kỳ. Chiến sự được châm ngòi vào ngày 25 tháng 6 năm 1950 khi Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên) tấn công Đại Hàn Dân quốc (Nam Triều Tiên). Từ một cuộc chiến quy mô nhỏ giữa hai lực lượng đối nghịch trên bán đảo Triều Tiên, quy mô cuộc chiến đã trở nên lớn khi lực lượng của Liên hiệp quốc được Hoa Kỳ lãnh đạo và sau đó là Chí nguyện quân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa can thiệp.

Lực lượng hỗ trợ chính cho miền Bắc là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa với sự tiếp ứng hạn chế của Liên Xô trong hình thức các cố vấn quân sự, phi công quân sự và vũ khí. Đại Hàn Dân quốc được lực lượng Liên Hiệp Quốc, chủ yếu là quân đội Hoa Kỳ, hỗ trợ. Trước cuộc xung đột, CHDCND Triều Tiên và Đại Hàn Dân quốc tồn tại như hai chính phủ lâm thời đang tranh giành ảnh hưởng kiểm soát toàn bộ Bán đảo Triều Tiên.

Sau ba năm, chiến cuộc tạm ngưng khi hai miền đạt được một thỏa hiệp ngừng bắn vào ngày 27 tháng 7 năm 1953, và vì không có hiệp định hòa bình nên trên thực tế, cuộc chiến này vẫn chưa kết thúc cho đến tận nay. Xung đột quy mô nhỏ vẫn diễn ra, hai bên tiếp tục ở trong tình trạng chiến tranh và có thể phát động tấn công bất ngờ mà không cần tuyên chiến. Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên) vẫn tiếp tục đầu tư rất lớn cho quân đội và coi việc thống nhất đất nước Triều Tiên là mục tiêu cao nhất của họ. Trong khi đó, Mỹ vẫn duy trì 28.000 quân tại Hàn Quốc để ngăn chặn việc Bắc Triều Tiên tấn công Hàn Quốc một lần nữa. Hiện nay, lập trường của hai bên là đối nghịch nhau khi họ đều cho rằng chính phủ mình mới là hợp pháp và chính danh trong việc tấn công đối phương nhằm thống nhất đất nước Triều Tiên.

Danh sách Tổng thống Hoa Kỳ

Theo Hiến pháp Hoa Kỳ, Tổng thống Hoa Kỳ là người đứng đầu nhà nước và đứng đầu chính phủ Hoa Kỳ. Là người đứng đầu hành pháp và người đứng đầu chính phủ liên bang toàn thể, tổng thống là chức vụ chính trị cao nhất tại Hoa Kỳ. Tổng thống cũng là Tổng tư lệnh của các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ. Kể từ khi phê chuẩn tu chính án Hai mươi hai của Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1951, không ai có thể được bầu làm Tổng thống quá hai nhiệm kỳ. Nếu một Tổng thống đương nhiệm qua đời, từ chức hay bị bãi nhiệm, Phó Tổng thống sẽ thay thế. Tổng thống phải ít nhất 35 tuổi, đã từng sống ở Hoa Kỳ trong 14 năm, phải sinh ra ở Hoa Kỳ và là công dân Hoa Kỳ.

Danh sách này chỉ tính những nhiệm kỳ liên tục của một tổng thống, những người đã tuyên thệ nhậm chức tổng thống sau khi Hiến pháp Hoa Kỳ phê chuẩn, có hiệu lực từ ngày 04 tháng 3 năm 1789. Các nhà lãnh đạo Mỹ trước khi cuộc phê chuẩn này, như Chủ tịch Quốc hội Lục địa sẽ không có trong danh sách. Danh sách này không bao gồm bất kỳ quyền tổng thống nào theo Tu chính án Hai mươi lăm của Hiến pháp Hoa Kỳ.

Đã có 44 người tuyên thệ nhậm chức tổng thống, và 45 đời tổng thống, vì Grover Cleveland phục vụ hai nhiệm kỳ không liên tiếp và được tính theo thứ tự là tổng thống thứ 22 và 24 của Hoa Kỳ, bởi vậy, danh sách dưới đây bao hàm 45 đời tổng thống nhưng thực chất chỉ là 44 người. Trong số các cá nhân được bầu làm tổng thống, có bốn người qua đời trong nhiệm kỳ vì bệnh (William Henry Harrison, Zachary Taylor, Warren G. Harding , và Franklin D. Roosevelt), bốn người bị ám sát (Abraham Lincoln, James A. Garfield William McKinley, và John F. Kennedy) và một từ chức (Richard Nixon).

George Washington, tổng thống đầu tiên, đã được bầu làm Tổng thống vào năm 1789 sau một cuộc bỏ phiếu nhất trí của các đại cử tri đoàn. William Henry Harrison là tổng thống tại nhiệm ngắn nhất với 32 ngày trong năm 1841. Franklin D. Roosevelt có thời gian làm tổng thống dài nhất với hơn mười hai năm, nhưng đã qua đời ngay vào nhiệm kỳ thứ tư trong năm 1945; ông là tổng thống duy nhất đã phục vụ hơn hai nhiệm kỳ. Một sửa đổi hiến pháp, ảnh hưởng đến những Tổng thống sau Harry Truman, đã được thông qua để hạn chế số nhiệm kỳ một người có thể được bầu làm tổng thống. Andrew Jackson Tổng thống thứ bảy, là người đầu tiên được bầu bởi những tất cả những tầng lớp nam giới người da trắng vào năm 1828, sau khi hầu hết các luật cấm ngoài luật chủ sở hữu đất có quyền biểu quyết được xóa bỏ. Warren Harding là người đầu tiên được bầu sau khi phụ nữ được quyền bỏ phiếu vào năm 1920. Năm Tổng thống - John Q. Adams, Rutherford B. Hayes, Benjamin Harrison, George W. Bush và Donald Trump - không đủ phiếu phổ thông khi bầu cử nhưng vẫn thắng cử. Bush sau đó đã tái đắc cử với đa số phiếu phổ thông. John F. Kennedy là tổng thống duy nhất là tín hữu Công giáo La Mã, và Barack Obama là tổng thống gốc Phi đầu tiên.

Dãy núi Cascade

Dãy Cascade (tiếng Anh: Cascade Range hay Cascade Mountains) là một dãy núi kéo dài nằm đối diện với bờ biển phía tây của Bắc Mỹ, giữa tiểu bang California, Oregon, Washington của Mỹ và tỉnh British Columbia của Canada. Dãy núi là một phần của vành đai núi lửa Cascade trong đó ngọn núi lửa Rainier là đỉnh núi cao nhất với độ cao 4.392 mét so với mực nước biển, nằm ở vị trí nhìn ra thành phố Seattle và núi St. Helens, ngọn núi từng phun trào vào năm 1980. Vòng cung núi lửa này vẫn còn hoạt động, nó bắt đầu hình thành từ 36 triệu năm trước do sự hút chìm của mảng Juan de Fuca bên dưới mảng Bắc Mỹ. Sự đe dọa bởi hoạt động núi lửa vẫn còn nghiêm trọng.

Sông Columbia làm gián đoạn địa hình chính của dãy núi, cắt qua dãy núi từ đông sang tây, lưu vực của sông bao phủ một phần lớn các sườn dốc của Cascade. Hai phần của dãy bắc - nam ngăn cản sự xâm nhập của khí hậu đại dương nóng ẩm đến từ Thái Bình Dương. Do độ cao, lượng mưa lớn chuyển thành một lượng tuyết đáng kể, xảy ra như tại núi Baker, đây là khu vực băng hà lớn nhất ở Hoa Kỳ ngoài Alaska. Ở phía đông của dãy, lượng mưa thấp hơn nhiều, khí hậu đậm chất lục địa với khác biệt lớn hơn về nhiệt độ hàng ngày và theo mùa. Sự khác biệt này có thể được nhìn thấy ở thảm thực vật chủ yếu là rừng lá kim: linh sam Douglas và thông Tsuga heterophylla chiếm ưu thế ở phía tây dãy núi, nhưng thông Pinus ponderosa, thông Pinus contorta và thông Pinus contorta chiếm ưu thế ở phía đông, là những vùng đất khô cằn. Phần phía bắc của dãy, Bắc Cascade, lạnh hơn và có địa hình cao hơn, nơi đây có nhiều sông băng. Đây là vùng đất của các loài cây thông: tsuga mertensiana, abies alba và abies lasiocarpa. Hệ động vật rất đa dạng nhưng trong tình trạng bị đe dọa. Để bảo vệ đa dạng sinh học và tài nguyên thiên nhiên khu vực này, hầu hết dãy núi đã được bảo vệ, đặc biệt là ở bốn vườn quốc gia.

Dãy núi này đã có người sinh sống trong ít nhất 11.000 năm, những người Mỹ bản địa đã sáng tác ra nhiều thần thoại và truyền thuyết về ngọn núi lửa. Người châu Âu đã khám phá dãy núi vào cuối thế kỷ 18. Tên của nó bắt nguồn từ Cuộc thám hiểm của Lewis và Clark vào năm 1806, từ những ghềnh đá có vị trí nằm trong Hẻm núi sông Columbia. Các cuộc thám hiểm và hoạt động thương mại sau đó giữa Công ty Tây Bắc và Công ty Vịnh Hudson gia tăng. Chủ yếu là việc buôn bán lông thú sau đó được thay thế bằng mua bán gỗ. Nếu những cải tiến được thực hiện để giúp vượt qua dãy núi, thì dãy sẽ bị tàn phá phần lớn. Hoạt động leo núi ở giữa thế kỷ 19 và trượt tuyết vào đầu thế kỷ 20 cuối cùng dẫn đến lần đầu tiên con người leo lên đỉnh núi cao nhất. Trong thế kỷ 21, vẻ đẹp hoang dã của dãy núi Cascade khiến cho nó trở thành một điểm thu hút du lịch.

Franklin D. Roosevelt

Franklin Delano Roosevelt (30 tháng 1 năm 1882 – 12 tháng 4 năm 1945, thường được gọi tắt là FDR) là Tổng thống Hoa Kỳ thứ 32 và là một khuôn mặt trung tâm của các sự kiện thế giới trong giữa thế kỷ XX. Là tổng thống Hoa Kỳ duy nhất được bầu hơn hai nhiệm kỳ, ông tạo ra một liên minh bền vững giúp tái tổ chức nền chính trị Hoa Kỳ trong nhiều thập niên. FDR đánh bại đương kim tổng thống Cộng hòa là Herbert Hoover trong cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 11 năm 1932 ở thời điểm tệ hại nhất của cuộc Đại khủng hoảng. Chính nhờ vào chủ nghĩa lạc quan và sự năng nổ hoạt động của ông đã làm cho tinh thần quốc gia sống dậy. Tuy nhiên các sử gia và kinh tế gia vẫn còn đang tranh luận về tính thông thái trong các chính sách của ông. Ông lãnh đạo Hoa Kỳ qua Chiến tranh thế giới thứ hai, mất khi đang bắt đầu nhiệm kỳ thứ tư của mình khi chiến thắng Đức và Nhật gần kề một bên.

Trong một trăm ngày đầu tiên với vai trò tổng thống, bắt đầu từ ngày 4 tháng 3 năm 1933, Roosevelt đã khởi động rất nhiều chương trình lớn khác nhau. Trong nhiệm kỳ đầu tiên (1933–37), FDR đã hướng dẫn Quốc hội Hoa Kỳ thông qua chương trình kinh tế Kinh tế Mới. Đây là một loạt gồm nhiều chương trình phức hợp lớn có liên quan với nhau nhằm giải cứu khủng hoảng (đặc biệt là tạo ra các việc làm của chính phủ dành cho người thất nghiệp) và cải cách kinh tế (theo ông có nghĩa là lập ra quy định kiểm soát đối với Phố Wall, ngân hàng và giao thông). Nền kinh tế cải thiện nhanh chóng từ năm 1933 đến 1937 nhưng lúc đó cũng đang rơi vào một tình trạng khủng hoảng sâu. Liên minh bảo thủ lưỡng đảng hình thành vào năm 1937 đã ngăn cản ông "đưa người" vào Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ hoặc thông qua quá nhiều luật mới; liên minh này cũng đã hủy bỏ phần lớn các chương trình trợ cấp khi tình trạng thất nghiệp thực tế chấm dứt trong suốt Chiến tranh thế giới thứ hai. Phần lớn các quy định kiểm soát thương nghiệp chấm dứt vào khoảng thời gian từ năm 1975–85, trừ quy định kiểm soát đối với Phố Wall do Ủy ban Giao dịch và Chứng khoán Hoa Kỳ đảm trách vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Cùng với một số chương trình nhỏ hơn, chương trình lớn còn tồn tại đến ngày nay là chương trình An sinh Xã hội được quốc hội thông qua năm 1935.

Vào lúc Chiến tranh thế giới thứ hai sắp bùng nổ sau năm 1938 khi Nhật Bản xâm lược Trung Hoa và Đức Quốc xã trở nên hiếu chiến, FDR đã giang tay hỗ trợ tài chính và ngoại giao mạnh mẽ cho Trung Hoa và Anh Quốc trong lúc vẫn duy trì chính thức tình trạng trung lập. Mục tiêu của ông là phải tạo cho nước Mỹ thành "kho vũ khí dân chủ" — cung cấp đạn dược vũ khí trong khi các quốc gia khác thực hiện việc chiến đấu. Tháng 2 năm 1941, với sự chấp thuận của Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Lend-Lease, Roosevelt cung cấp viện trợ cho các quốc gia chiến đấu chống Đức Quốc xã bên cạnh Anh Quốc. Ông được Quốc hội Hoa Kỳ gần như nhất trí cho phép tuyên chiến với Nhật Bản sau khi Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng vào ngày 7 tháng 12 năm 1941. Ông trông coi việc tổng động viên toàn lực nền kinh tế Hoa Kỳ để hỗ trợ cho những nỗ lực chiến tranh của đồng minh, bị chỉ trích vì lúng túng lúc ban đầu nhưng chứng kiến tình trạng thất nghiệp biến mất và nền kinh tế phát triển lên đỉnh cao chưa từng có trước đó.

Roosevelt đã chi phối nền chính trị Mỹ, không chỉ trong suốt 12 năm làm tổng thống mà còn nhiều thập niên về sau. Ông là nhạc trưởng của việc tái phối trí cử tri mà sau đó hình thành nên Hệ thống đảng phái lần thứ 5. Liên minh New Deal của ông đã qui tụ được các công đoàn lao động, những cỗ máy thành phố lớn (?), các sắc tộc da trắng, những người nhận trợ cấp xã hội, người Mỹ gốc châu Phi và những người nông dân da trắng ở miền Nam Hoa Kỳ. Ảnh hưởng ngoại giao của Roosevelt cũng vang dội trên sân khấu thế giới rất lâu sau khi ông qua đời trong đó phải kể đến Liên Hiệp Quốc và Hệ thống Bretton Woods là những thí dụ về sức ảnh hưởng rộng lớn của chính phủ ông. Roosevelt từ trước đến nay luôn được các học giả đánh giá là một trong số các tổng thống vĩ đại của Hoa Kỳ.

George H. W. Bush

George Herbert Walker Bush (còn gọi là George Bush cha, Bush Sr hoặc là Bush 41, 12 tháng 6 năm 1924 – 30 tháng 11 năm 2018) là Tổng thống thứ 41 của Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ (1989–1993). Ông cũng là cha của George W. Bush (còn gọi là Bush con), tổng thống thứ 43 của Hoa Kỳ và Jeb Bush, thống đốc thứ 43 của tiểu bang Florida.

Trước khi trở thành Tổng thống, Bush từng là một Dân biểu Hoa Kỳ của tiểu bang Texas (1967-1971), Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hợp Quốc (1971-1973), Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Đảng Cộng hòa (1973-1974),

Trưởng Văn phòng Đại diện Hoa Kỳ tại Trung Quốc (1974-1976), Giám

đốc CIA (1976-1977), Chủ tịch Ngân

hàng Quốc tế I tại Houston (1977-1980), và là Phó Tổng thống thứ 43 của Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Ronald Reagan (1981-1989). Là một

phi công hải quân được tặng thưởng huân chương, Bush là cựu chiến binh cuối cùng của Chiến tranh thế giới thứ hai phục vụ như là một Tổng thống Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ

Hoa Kỳ (tiếng Anh: United States - U.S) hay Mỹ (tiếng Anh: America) tên gọi đầy đủ là Hợp chúng quốc Hoa Kỳ hoặc Hợp chúng quốc Mỹ (tiếng Anh: United States of America - USA) là một nước cộng hòa lập hiến liên bang gồm 50 tiểu bang và 1 đặc khu liên bang. Quốc gia này nằm gần hoàn toàn trong Tây Bán cầu: 48 tiểu bang lục địa và thủ đô Washington, D.C., nằm giữa Bắc Mỹ, giáp Thái Bình Dương ở phía tây, Đại Tây Dương ở phía đông, Canada ở phía bắc, và México ở phía nam. Tiểu bang Alaska nằm trong vùng tây bắc của lục địa Bắc Mỹ, giáp với Canada ở phía đông. Tiểu bang Hawaii nằm giữa Thái Bình Dương. Hoa Kỳ cũng có 14 lãnh thổ hay còn được gọi là vùng quốc hải rải rác trong vùng biển Caribe và Thái Bình Dương.

Với 3,79 triệu dặm vuông (9.833.520 triệu km²) và 324,1 triệu dân (2018), Hoa Kỳ là quốc gia lớn thứ 3 hoặc thứ 4 về tổng diện tích (xem phần địa lý để biết thêm chi tiết) và thứ 3 về dân số trên thế giới. Hoa Kỳ là một trong những quốc gia đa dạng chủng tộc nhất trên thế giới, do kết quả của những cuộc di dân đến từ nhiều quốc gia khác trên thế giới. Nền kinh tế quốc dân của Hoa Kỳ lớn nhất trên thế giới và đứng thứ 2 thế giới (tính theo sức mua tương đương). Tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Mỹ được ước tính cho năm 2015 là trên 18,1 ngàn tỷ đô la (khoảng 23% tổng sản lượng thế giới dựa trên GDP danh nghĩa, và khoảng 16% theo sức mua tương đương). GDP bình quân đầu người của Hoa Kỳ là 56.421 đô la, đứng hạng 5 thế giới theo giá trị thực và hạng 10 theo sức mua tương đương.Quốc gia được thành lập ban đầu với 13 thuộc địa của Liên hiệp Anh nằm dọc theo bờ biển Đại Tây Dương. Sau khi tự tuyên bố trở thành các "tiểu quốc", cả 13 cựu thuộc địa này đã đưa ra tuyên ngôn độc lập vào ngày 4 tháng 7 năm 1776. Các tiểu bang nổi loạn đã đánh bại Đế quốc Anh trong Chiến tranh Cách mạng Mỹ, đây là cuộc chiến tranh thuộc địa giành độc lập đầu tiên thành công trong lịch sử. Hội nghị Liên bang quyết định sử dụng bản Hiến pháp Hoa Kỳ hiện tại vào ngày 17 tháng 9 năm 1787. Việc thông qua bản hiến pháp một năm sau đó đã biến các cựu thuộc địa thành một phần của một nước cộng hòa duy nhất. Đạo luật nhân quyền Hoa Kỳ gồm có mười tu chính án hiến pháp được thông qua năm 1791.

Theo tư tưởng Vận mệnh hiển nhiên, Hoa Kỳ đã bắt đầu cuộc mở rộng lãnh thổ mạnh mẽ trên khắp Bắc Mỹ trong thế kỷ XIX. Sự kiện này bao gồm việc tiêu diệt các dân tộc bản địa (Diệt chủng người da đỏ), đánh chiếm những lãnh thổ mới, và từng bước thành lập các tiểu bang mới. Nội chiến Hoa Kỳ kết thúc chế độ nô lệ tại Hoa Kỳ và ngăn ngừa sự chia xé quốc gia. Đến cuối thế kỷ XIX, Hoa Kỳ đã mở rộng đến Thái Bình Dương, và trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Chiến tranh Tây Ban Nha – Hoa Kỳ và Chiến tranh thế giới thứ nhất đã xác định vị thế cường quốc quân sự toàn cầu của Hoa Kỳ. Chiến tranh thế giới thứ hai đã xác định vị thế siêu cường toàn cầu của Hoa Kỳ, là quốc gia đầu tiên có vũ khí hạt nhân, và là một trong năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Là siêu cường duy nhất còn lại sau Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ được nhiều quốc gia nhìn nhận như là một thế lực quân sự, văn hóa, và kinh tế có ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới. Tuy nhiên, xã hội Hoa Kỳ cũng đang tồn tại những vấn đề nan giải khó giải quyết (chênh lệch giàu nghèo cao, nạn xả súng bừa bãi, nạn phân biệt chủng tộc, tỷ lệ tội phạm cao, chi phí y tế đắt đỏ...).

Madonna (ca sĩ)

Madonna Louise Veronica Ciccone (; tiếng Ý: [tʃikˈkoːne]; sinh ngày 16 tháng 8 năm 1958) là nữ ca sĩ, người viết bài hát, diễn viên và thương nhân người Mỹ. Bà nổi danh trong việc phá bỏ giới hạn nội dung ca từ trong văn hóa âm nhạc đại chúng và hình tượng trong các video âm nhạc, thường xuyên xuất hiện trên MTV. Madonna còn được biết đến bởi khả năng biến hóa âm nhạc và hình ảnh của mình, đồng thời giữ vững quyền tự chủ trong ngành công nghiệp thu âm. Các nhà phê bình thường đón nhận các sản phẩm âm nhạc của bà một cách nồng nhiệt, cho dù gây nên một vài tranh cãi. Được mệnh danh là "Nữ hoàng nhạc pop", bà là nguồn cảm hứng cho nhiều nghệ sĩ khác trên toàn thế giới.

Sinh ra tại Thành phố Bay, Michigan, Madonna tìm đến thành phố New York để theo đuổi nghiệp vũ công vào năm 1977. Sau khi trình diễn trong nhóm nhạc Breakfast Club và Emmy, bà ký kết hợp đồng cùng Sire Records (một hãng thu âm con của Warner Bros. Records) vào năm 1982 và phát hành album đầu tay cùng tên trong năm kế tiếp. Bà tiếp tục thực hiện một chuỗi các album thành công về thương mại, bao gồm chủ nhân giải Grammy Ray of Light (1998) và Confessions on a Dance Floor (2005). Trong xuyên suốt sự nghiệp, Madonna đã sáng tác và sản xuất cho hầu hết các bài hát của mình, bao gồm nhiều đĩa đơn đạt vị trí số 1 tại các bảng xếp hạng thu âm như "Like a Virgin", "Into the Groove", "Papa Don't Preach", "Like a Prayer", "Vogue", "Frozen", "Music", "Hung Up" và "4 Minutes".

Madonna còn nổi tiếng qua các vai diễn trong Desperately Seeking Susan (1985), Dick Tracy (1990) và Evita (1996) mang về cho bà giải Quả cầu vàng cho "Nữ diễn viên xuất sắc nhất". Dù vậy, hầu hết các bộ phim khác của bà đều vấp phải những ý kiến chỉ trích từ các nhà phê bình. Ngoài ra, bà cũng tham gia làm phim, thiết kế thời trang và sáng tác sách dành cho trẻ em. Bà được khen ngợi trong vai trò của một nữ thương nhân, đặc biệt sau khi sáng lập nên công ty giải trí Maverick (trong đó có hãng thu âm Maverick Records). Vào năm 2007, bà ký một hợp đồng kỷ lục trị giá 120 triệu đô-la Mỹ cùng Live Nation.

Với hơn 300 triệu đĩa thu âm đã tiêu thụ trên toàn cầu, Madonna được công nhận là nữ nghệ sĩ thu âm bán chạy nhất mọi thời đại bởi Sách Kỷ lục Guinness. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ (RIAA) xếp Madonna là nữ nghệ sĩ rock bán chạy nhất thế kỷ 20 và là nữ nghệ sĩ bán chạy thứ hai tại Hoa Kỳ, với 64.5 triệu chứng nhận album. Theo Billboard, Madonna là nữ nghệ sĩ lưu diễn hàng đầu mọi thời đại, thu về hơn 1 tỷ đô-la Mỹ từ các chuyến lưu diễn của mình. Bà đứng ở vị trí thứ 2, chỉ sau ban nhạc The Beatles, trong danh sách Billboard Hot 100 All-Time Top Artists, giúp bà là nghệ sĩ đơn ca thành công nhất lịch sử bảng xếp hạng đĩa đơn Hoa Kỳ. Madonna là một trong 5 thành viên sáng lập nên Đại sảnh Danh vọng Âm nhạc Liên hiệp Anh và được bổ nhiệm vào Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll trong năm hợp lệ đầu tiên.

Mariah Carey

Mariah Carey (sinh ngày 27 tháng 3 năm 1969 hoặc 1970) là nữ ca sĩ kiêm người viết bài hát, nhà sản xuất thu âm và diễn viên người Mỹ. Bà nổi danh sau khi phát hành album phòng thu đầu tay Mariah Carey vào năm 1990, giành chứng nhận đa Bạch kim và ra mắt 4 đĩa đơn quán quân bảng xếp hạng Billboard Hot 100 Hoa Kỳ; "Vision of Love", "Someday", "I Don't Wanna Cry" và "Love Takes Time". Dưới sự dìu dắt của người chồng là giám đốc hãng đĩa Columbia Records Tommy Mottola, Carey tiếp tục gặt hái thành công với các album Emotions (1991), Music Box (1993) và Merry Christmas (1994), trở thành nghệ sĩ thành công nhất của hãng đĩa Columbia. Daydream (1995) làm nên lịch sử khi "One Sweet Day", đĩa đơn thứ hai do Carey song ca cùng ban nhạc Boyz II Men, dẫn đầu Billboard Hot 100 trong 16 tuần liên tiếp và vẫn đang là đĩa đơn quán quân có thời gian trụ hạng dài nhất lịch sử xếp hạng Hoa Kỳ. Trong thời gian thu âm album này, Carey bắt đầu chuyển đổi từ phong cách R&B và ballad nhẹ nhàng ban đầu sang giai điệu hip-hop. Sự thay đổi trở nên rõ rệt hơn khi Carey phát hành Butterfly (1997), cùng lúc khi bà đang trong quá trình chia tay với Mottola.

Carey rời hãng Columbia vào năm 2000 và ký một hợp đồng thu âm trị giá 100 triệu đô-la Mỹ cùng Virgin Records America. Trước khi phát hành bộ phim Glitter (2001), bà trải qua hàng loạt những suy sụp nặng nề về thể chất lẫn tinh thần. Sau khi nhận được những phản hồi tiêu cực đến bộ phim lẫn album, hãng thu âm đã cắt đứt hợp đồng cùng bà với 50 triệu đô-la Mỹ. Bà ký một hợp đồng thu âm mới cùng Island Records vào năm 2002 và tiếp tục trải qua một giai đoạn thất bại khác, trước khi trở lại vị trí hàng đầu trên các bảng xếp hạng cùng The Emancipation of Mimi (2005). Đĩa đơn thứ hai trích từ album, "We Belong Together" trở thành đĩa đơn thành công nhất của bà trong thập kỷ 2000 và được vinh danh là "Bài hát của thập niên" bởi Billboard. Carey tiếp tục sự nghiệp điện ảnh trong Precious (2009), mang về cho bà "Giải thưởng diễn xuất đột phá" tại Liên hoan phim quốc tế Palm Springs.

Trong xuyên suốt sự nghiệp, Carey đã bán ra hơn 230 triệu đĩa hát toàn thế giới, giúp bà trở thành một trong những nghệ sĩ thu âm bán chạy nhất mọi thời đại. Vào năm 1998, bà được vinh danh là nghệ sĩ bán nhiều đĩa hát nhất thập niên 1990 và giành giải "Nữ nghệ sĩ bán chạy nhất thiên niên kỷ" tại giải thưởng Âm nhạc Thế giới. Theo Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ (RIAA), bà đứng thứ ba trong số những nữ nghệ sĩ âm nhạc có lượng đĩa bán chạy nhất tại quốc gia này, với 63.5 triệu chứng nhận album. Với "Touch My Body" (2008), Carey có tổng cộng 18 đĩa đơn quán quân tại Hoa Kỳ, nhiều hơn bất kỳ nghệ sĩ đơn ca nào. Vào năm 2012, Carey xếp thứ 2 trong danh sách "100 người phụ nữ vĩ đại nhất trong âm nhạc" do VH1 bình chọn. Bên cạnh các thành tựu thương mại, Carey đã giành 5 giải Grammy, 19 giải thưởng Âm nhạc Thế giới, 11 giải thưởng Âm nhạc Mỹ và 14 giải thưởng Âm nhạc Billboard. Được Sách Kỷ lục Guinness tôn vinh là "chim sơn ca tuyệt đỉnh", Carey nổi tiếng bởi âm vực trải dài 5 quãng tám, kỹ thuật hát luyến (melisma) và khả năng sử dụng quãng sáo (whistle register) trứ danh.

Michael Jackson

Michael Joseph Jackson (29 tháng 8 năm 1958 – 25 tháng 6 năm 2009) là một ca sĩ, nhạc sĩ, nhà sản xuất thu âm, vũ công và diễn viên người Mỹ. Ông được mệnh danh là "Vua nhạc pop" hay "Ông hoàng nhạc pop" (tiếng Anh: "King of pop"). Với những đóng góp không ngừng nghỉ của ông đối với ngành công nghiệp âm nhạc, khiêu vũ, thời trang cùng những biến động xung quanh cuộc sống cá nhân, Jackson đã trở thành một trong những cái tên phổ biến nhất nền văn hóa nghệ thuật toàn cầu trong hơn bốn thập kỷ qua.

Là người con thứ 8 trong gia đình nhà Jackson, ông bắt đầu sự nghiệp âm nhạc chuyên nghiệp từ năm lên 11 với vị trí thành viên út trong nhóm nhạc The Jackson 5 và khởi nghiệp đơn ca năm 1971. Trong những năm đầu của thập niên 80, Jackson được xem là nghệ sĩ giải trí thành công nhất. Các video ca nhạc của ông như "Beat It", "Billie Jean" và "Thriller" đã phá vỡ rào cản chủng tộc và nâng tầm giá trị của video ca nhạc như một hình thức nghệ thuật và công cụ [[quảng cáo♧♧. Sự phổ biến của những video này sau đó đã giúp kênh truyền hình âm nhạc non trẻ lúc bấy giờ là MTV trở nên nổi tiếng. Những video sau này như "Black or White" hay "Scream" tiếp tục khẳng định vị trí của ông trên MTV trong thập niên 1990, cũng như xây dựng danh tiếng như một nghệ sĩ lưu diễn đơn ca. Với những màn biểu diễn trên sân khấu hay trong video ca nhạc, Jackson giúp phổ biến nhiều màn vũ đạo phức tạp như robot hay moonwalk. Thêm vào đó, giọng ca và phong cách hát đặc biệt của ông cũng ảnh hưởng lớn tới nhiều thế hệ nghệ sĩ nhạc hip-hop, pop và R&B đương đại sau này.

Thriller phát hành năm 1982 là album bán chạy nhất mọi thời đại. Những album khác của Jackson, như: Off the Wall (1979), Bad (1987), Dangerous (1991) và HIStory (1995) cũng nằm trong số những đĩa nhạc bán chạy nhất thế giới. Là một trong số ít nghệ sĩ hai lần được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll, Jackson còn đạt nhiều thành tựu nổi bật khác như hàng loạt kỷ lục Guinness, 13 giải Grammy, 13 đĩa đơn quán quân trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 của Mỹ–nhiều hơn bất cứ nam ca sĩ đơn ca nào trong kỷ nguyên Hot 100 và trên 400 triệu album được tiêu thụ trên toàn thế giới. Jackson đã giành hàng trăm giải thưởng, khiến ông trở thành nghệ sĩ thu âm được trao thưởng nhiều nhất trong lịch sử âm nhạc đại chúng. Jackson là nghệ sĩ đầu tiên có một loạt các ca khúc nằm trong top 10 Billboard Hot 100 trong 5 thập kỷ khác nhau khi "Love Never Felt So Good" đạt vị trí thứ 9 vào ngày 21 tháng 5 năm 2014. Jackson thường xuyên tham gia các sự kiện tôn vinh chủ nghĩa nhân đạo của mình; vào năm 2000, sách kỷ lục Guinness công nhận ông đã ủng hộ hơn 39 tổ chức từ thiện, nhiều hơn bất cứ nghệ sĩ giải trí nào khác.Tuy nhiên, những vấn đề xung quanh đời tư, trong đó có sự thay đổi ngoại hình và lối cư xử, đã trở thành tâm điểm của dư luận và làm tổn hại tới hình ảnh của Jackson. Giữa thập niên 90, ông bị buộc tội xâm hại tình dục trẻ em, nhưng sau đó được tuyên trắng án vì không đủ chứng cứ. Năm 2005, một lần nữa Jackson phải hầu tòa vì lời cáo buộc tội danh tương tự; sau nhiều lần trì hoãn và xét xử rắc rối, Jackson được tuyên bố trắng án với tất cả các tội danh. Trong khi chuẩn bị cho hàng loạt buổi hòa nhạc đánh dấu sự trở lại mang tên This Is It, ông không may qua đời do cáo buộc nhiễm độc cấp tính propofol và benzodiazepine vào ngày 25 tháng 6 năm 2009, sau khi tim ngừng đập. Tòa Thượng thẩm Los Angles (Mỹ) liệt cái chết của Jackson là một vụ giết người và bác sĩ riêng của ông, Murray, bị kết tội ngộ sát. Cái chết của Jackson gây nên sự tiếc nuối trên toàn cầu và lễ tưởng niệm của ông được truyền hình trực tiếp công khai trên toàn thế giới. Forbes xếp Jackson là nhân vật nổi tiếng quá cố giàu có nhất, danh hiệu mà ông đã giữ vững suốt 6 năm liền, với thu nhập 115 triệu đô-la Mỹ.

Mặt Trăng

Mặt Trăng (tiếng Latin: Luna, ký hiệu: ☾) là vệ tinh tự nhiên duy nhất của Trái Đất và là vệ tinh tự nhiên lớn thứ năm trong Hệ Mặt Trời.

Khoảng cách trung bình tính từ tâm Trái Đất đến Mặt Trăng là 384.403 km, lớn khoảng 30 lần đường kính Trái Đất. Đường kính Mặt Trăng là 3.474 km, bằng 27% đường kính Trái Đất. Khối lượng Mặt Trăng khoảng bằng 2% khối lượng Trái Đất và lực hấp dẫn tại bề mặt Mặt Trăng bằng 17% lực hấp dẫn trên bề mặt Trái Đất. Mặt Trăng quay một vòng quanh Trái Đất với chu kỳ quỹ đạo 27,32 ngày, và các biến đổi định kỳ trong hình học của hệ Trái Đất – Mặt Trăng – Mặt Trời là nguyên nhân gây ra các pha Mặt Trăng, lặp lại sau mỗi chu kỳ giao hội 29,53 ngày.

Mặt Trăng là thiên thể duy nhất ngoài Trái Đất mà con người đã đặt chân tới. Năm 1959 là năm mang tính lịch sử đối với công cuộc khám phá Mặt Trăng, mở đầu bằng chuyến bay của vệ tinh nhân tạo Luna 1 của Liên bang Xô viết đến phạm vi của Mặt Trăng, tiếp đó Luna 2 rơi xuống bề mặt của Mặt Trăng và Luna 3 lần đầu tiên cung cấp ảnh mặt sau của Mặt Trăng. Năm 1966, Luna 9 trở thành tàu vũ trụ đầu tiên hạ cánh thành công và Luna 10 là tàu vũ trụ không người lái đầu tiên bay quanh Mặt Trăng. Hiện nay, các miệng hố đen ở vùng cực Nam của Mặt Trăng là nơi lạnh nhất trong hệ Mặt Trời.Cho đến nay, Chương trình Apollo của Hoa Kỳ đã thực hiện được những cuộc đổ bộ duy nhất của con người xuống Mặt Trăng, tổng cộng gồm 6 lần hạ cánh trong giai đoạn từ 1969 tới 1972. Năm 1969, Neil Armstrong và Buzz Aldrin là những người đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng trong chuyến bay Apollo 11. Việc thám hiểm Mặt Trăng của loài người đã ngừng lại với sự chấm dứt của chương trình Apollo, dù nhiều quốc gia đã thông báo các kế hoạch đưa người hay tàu vũ trụ robot tới Mặt Trăng.

Richard Nixon

Richard Milhous Nixon (phiên âm tiếng Việt: Ri-chớt Min-hau Ních-xơn) (9 tháng 1 năm 1913 – 22 tháng 4 năm 1994) là tổng thống thứ 37 của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Nhiệm kỳ tổng thống của ông bắt đầu từ năm 1969, kết thúc khi ông từ chức vào năm 1974, khiến ông là tổng thống duy nhất từ chức trong lịch sử Hoa Kỳ. Trước đó, Nixon từng phục vụ trong vai trò là một nghị sĩ của Đảng Cộng hòa tại Hạ viện và Thượng viện liên bang, đại diện cho California; và từng đảm nhiệm chức vụ Phó Tổng thống thứ 36 của Hoa Kỳ từ năm 1953 đến năm 1961.

Nixon sinh tại Yorba Linda, California; ông tốt nghiệp Học viện Whittier vào năm 1934 và Trường Luật Đại học Duke vào năm 1937, rồi quay về California hành nghề luật. Đến năm 1942, ông cùng phu nhân là Pat Nixon chuyển đến Washington, D.C. để làm việc cho chính phủ liên bang. Sau đó, ông phục vụ cho Hải quân Hoa Kỳ trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Đến năm 1946, Nixon được cử tri tại California bầu vào Hạ nghị viện liên bang, ông tái cử vào năm 1948, và được bầu vào Thượng nghị viện liên bang vào năm 1950. Hành động theo đuổi vụ án Alger Hiss đem lại Nixon danh tiếng là một nhân vật chống Cộng hàng đầu, khiến ông trở nên nổi bật trên toàn quốc. Ông là nhân vật đồng tranh cử với Dwight D. Eisenhower trong bầu cử tổng thống năm 1952, sau đó ông phục vụ tám năm trong cương vị phó tổng thống. Ông tiến hành một chiến dịch tranh cử tổng thống không thành công vào năm 1960, thất bại sít sao trước John F. Kennedy, và thất bại khi tranh cử Thống đốc California vào năm 1962. Năm 1968, ông lại tiến hành chiến dịch tranh cử tổng thống và đắc cử.

Nixon ban đầu gia tăng sự tham dự của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam, song đến năm 1972 thì ông chấm dứt sự tham dự này. Chuyến công du của Nixon đến Trung Quốc vào năm 1972 mở ra những giao thiệp giữa hai quốc gia và cuối cùng dẫn đến bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Ông đề xướng chính sách hòa hoãn và ký Hiệp ước Chống tên lửa đạn đạo với Liên Xô trong cùng năm. Về đối nội, chính phủ của ông thường đi theo các chính sách nhằm chuyển giao quyền lực từ trung ương cho các bang. Trong các vấn đề khác, ông đưa ra các sáng kiến nhằm chống ung thư và ma túy bất hợp pháp, áp đặt kiểm soát lương và giá, thúc đẩy cấm chỉ kỳ thị chủng tộc trong các trường học miền Nam, thi hành các cải cách môi trường, và ban hành các điều luật nhằm cải cách y tế và phúc lợi. Ông chỉ huy các cuộc đổ bộ mặt Trăng bằng Apollo 11, thay thế thăm dò không gian có người lái bằng các sứ mệnh con thoi. Ông tái đắc cử vào năm 1972 với chênh lệch phiếu lớn.

Trong thời gian nhiệm kỳ thứ nhì của Nixon, tại Trung Đông xảy ra một cuộc khủng hoảng, dẫn đến một lệnh cấm vận dầu mỏ và tái khởi động tiến trình hòa bình Trung Đông. Cùng với đó là một loạt tiết lộ liên tục về bê bối Watergate, Nixon mất đi phần lớn ủng hộ chính trị của mình khi bê bối leo thang, và đến ngày 9 tháng 8 năm 1974 thì ông từ chức khi phải đối diện với tình hình gần như chắc chắn bị luận tội và bãi chức. Sau khi từ chức, Nixon được người kế nhiệm là Gerald Ford ân xá. Khi về hưu, công việc của Nixon giống như của một nguyên lão, ông là tác giả của chín cuốn sách và thực hiện nhiều chuyến đi ra ngoại quốc, giúp khôi phục hình ảnh công chúng của mình. Ông suy nhược do đột quỵ vào ngày 18 tháng 4 năm 1994, và từ trần 4 ngày sau đó.

Ronald Reagan

Ronald Wilson Reagan (; 6 tháng 2 năm 1911 – 5 tháng 6 năm 2004) là tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ (1981–1989). Trước đó, ông là Thống đốc thứ 33 của bang California (1967–1975), và từng là diễn viên truyền hình, truyền thanh và điện ảnh.

Reagan sinh ra tại thành phố Tampico, Illinois, và lớn lên ở Dixon. Ông học Đại học Eureka và có bằng cử nhân về kinh tế và xã hội học. Sau khi tốt nghiệp, đầu tiên ông chuyển đến tiểu bang Iowa để làm việc trong vai trò phát thanh viên, sau đó vào năm 1937, ông đến thành phố Los Angeles nơi ông khởi nghiệp trong vai trò diễn viên điện ảnh và sau đó là diễn viên truyền hình. Một số bộ phim nổi bật nhất của ông gồm có Knute Rockne, All American (1940), Kings Row (1942), và Bedtime for Bonzo (1951). Reagan làm chủ tịch liên đoàn lao động Screen Actors Guild và sau đó là người phát ngôn cho công ty General Electric (GE). Ông bắt đầu tham gia chính trị trong thời kỳ làm việc cho công ty GE. Ban đầu ông là đảng viên Dân chủ. Thiên hướng của ông bắt đầu chuyển đổi sang cánh hữu vào thập niên 1950 và sau đó ông đổi sang đảng Cộng hòa vào năm 1962. Sau khi đọc một bài diễn văn mạnh mẽ ủng hộ ứng cử viên tổng thống Barry Goldwater năm 1964, mọi người thuyết phục ông chạy đua vào chức Thống đốc tiểu bang California. Ông thắng cử thống đốc tiểu bang California hai năm sau đó và tái đắc cử lần nữa vào năm 1970. Ông thất bại trong các lần chạy đua tìm sự đề cử của đảng Cộng hòa ra tranh cử tổng thống Hoa Kỳ vào các năm 1968 và năm 1976 nhưng sau cùng ông giành được sự đề cử của đảng Cộng hòa và chiến thắng trong Tổng tuyển cử năm 1980, đánh bại đương kim tổng thống Jimmy Carter.Trong vai trò tổng thống, Reagan thực hiện các đề xướng kinh tế và chính trị mới có tầm cỡ. Các chính sách kinh tế trọng cung của ông, được gọi là "Reaganomics", chủ trương giảm tỉ lệ thuế để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát nguồn tiền để giảm lạm phát, bãi bỏ kiểm soát kinh tế, và giảm chi tiêu của chính phủ. Trong nhiệm kỳ đầu tiên, ông thoát chết trong một vụ ám sát; ông kiên quyết chống lại các công đoàn lao động, và ra lệnh xâm chiếm Grenada. Reagan tái đắc cử tổng thống một cách vang dội vào năm 1984 và tuyên bố rằng điều này là "bình minh tại Mỹ". Nhiệm kỳ thứ hai của ông để lại với những vấn đề còn gây tranh cãi, chủ yếu vì các vấn đề đối ngoại, thí dụ như sự kết thúc Chiến tranh lạnh, vụ không kích Libya năm 1986, và vụ bê bối Iran-Contra bị phơi bày. Công khai mô tả Liên Xô là một "đế quốc ma quỷ", Reagan ủng hộ các phong trào chống cộng sản trên toàn thế giới và dành ra nhiệm kỳ đầu tiên của mình hủy bỏ chiến lược giảm thiểu tối đa căng thẳng giữa phương Tây và khối Xô Viết, thường được gọi là chiến lược détente, bằng cách ra lệnh tăng cường mạnh mẽ sức mạnh quân sự trong cuộc chạy đua vũ trang với Liên Xô. Reagan thương thuyết với Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô là Mikhail Gorbachev và kết quả đỉnh điểm là sự ra đời của Hiệp ước Lực lượng Hạt nhân tầm trung và việc giảm thiểu kho vũ khí hạt nhân của cả hai nước.

Reagan rời chức tổng thống vào năm 1989. Năm 1994, Reagan tiết lộ rằng ông bị mắc bệnh mất trí nhớ; ông mất 10 năm sau đó ở tuổi 93. Là một hình tượng bảo thủ, Reagan được xếp cao trong các cuộc thăm dò ý kiến công chúng và được công nhận vì đã tạo ra cuộc phục sinh ý tưởng chính trị cánh hữu Mỹ.

Sao Kim

Sao Kim hay Kim tinh (chữ Hán: 金星), còn gọi là sao Thái Bạch (太白), Thái Bạch Kim tinh (太白金星), là hành tinh thứ hai trong hệ Mặt Trời, tự quay quanh nó với chu kỳ 224,7 ngày Trái Đất. Xếp sau Mặt Trăng, nó là thiên thể tự nhiên sáng nhất trong bầu trời tối, với cấp sao biểu kiến bằng −4.6, đủ sáng để tạo nên bóng trên mặt nước. Bởi vì Sao Kim là hành tinh phía trong tính từ Trái Đất, nó không bao giờ xuất hiện trên bầu trời mà quá xa Mặt Trời: góc ly giác đạt cực đại bằng 47,8°. Sao Kim đạt độ sáng lớn nhất ngay sát thời điểm hoàng hôn hoặc bình minh, do vậy mà dân gian còn gọi là sao Hôm, khi hành tinh này mọc lên lúc hoàng hôn, và sao Mai, khi hành tinh này mọc lên lúc bình minh.

Sao Kim được xếp vào nhóm hành tinh đất đá và đôi khi người ta còn coi nó là "hành tinh chị em" với Trái Đất do kích cỡ, gia tốc hấp dẫn, tham số quỹ đạo gần giống với Trái Đất. Tuy nhiên, người ta đã chỉ ra rằng nó rất khác Trái Đất trên những mặt khác. Sao Kim bị bao bọc bởi lớp mây dày có tính phản xạ cao chứa axít sunfuric, và khiến chúng ta không thể quan sát bề mặt của nó dưới bước sóng ánh sáng khả kiến. Mật độ không khí trong khí quyển của nó lớn nhất trong số bốn hành tinh đất đá, thành phần chủ yếu là cacbon điôxít. Áp suất khí quyển tại bề mặt hành tinh cao gấp 92 lần so với của Trái Đất. Với nhiệt độ bề mặt trung bình bằng 735 K (462 °C), Sao Kim là hành tinh nóng nhất trong Hệ Mặt Trời. Nó không có chu trình cacbon để đưa cacbon trở lại đá và đất trên bề mặt, do vậy không thể có một tổ chức sống hữu cơ nào có thể hấp thụ nó trong sinh khối. Một số nhà khoa học từng cho rằng Sao Kim đã có những đại dương trong quá khứ, nhưng đã bốc hơi khi nhiệt độ hành tinh tăng lên do hiệu ứng nhà kính mất kiểm soát. Nước có thể đã bị quang ly, và bởi vì không có từ quyển hành tinh, hiđrô tự do có thể thoát vào vũ trụ bởi tác động của gió Mặt Trời. Toàn bộ bề mặt của Sao Kim là một hoang mạc khô cằn với đá và bụi và có lẽ vẫn còn núi lửa hoạt động trên hành tinh này.

Washington, D.C.

Washington, D.C. là thủ đô của Hoa Kỳ, được thành lập vào ngày 16 tháng 7 năm 1790, thường được gọi ngắn gọn là Washington, hoặc D.C. Địa danh này mang tên vị Tổng thống đầu tiên George Washington của Hợp chúng quốc, kết hợp với tên của người khám phá ra châu Mỹ Cristoforo Colombo. Tên chính thức là District of Columbia (viết tắt D.C.), có nghĩa Đặc khu Columbia, trong tiếng Việt cũng được dịch là Quận Columbia nhưng dễ nhầm lẫn vì có đến 8 quận tại Hoa Kỳ mang tên Columbia, đặc biệt nhất là quận Columbia, Washington, một quận nằm trong tiểu bang Washington; trong nhiệm kỳ tổng thống của George Washington, thành phố được kế hoạch bởi kỹ sư Pierre-Charles L'Enfant (1754–1825) và được xây dựng làm thủ đô. Về địa vị chính trị thì Washington, D.C. được xem là gần như tương đương với các tiểu bang của Hoa Kỳ.Thành phố Washington ban đầu là một đô thị tự quản riêng biệt bên trong Lãnh thổ Columbia cho đến khi một đạo luật của Quốc hội Hoa Kỳ năm 1871 có hiệu lực kết hợp thành phố và lãnh thổ này thành một thực thể duy nhất được gọi là Đặc khu Columbia. Đó là lý do tại sao thành phố này trong khi có tên gọi chính thức là Đặc khu Columbia lại được biết với tên gọi là Washington, D.C., có nghĩa là thành phố Washington, Đặc khu Columbia. Thành phố nằm bên bờ bắc sông Potomac và có ranh giới với tiểu bang Virginia ở phía tây nam và tiểu bang Maryland ở các phía còn lại. Tuy đặc khu này có dân số 672.228 người nhưng do nhiều người di chuyển ra vào từ các vùng ngoại ô lân cận nên dân số thực tế lên đến trên 1,1 triệu người trong suốt tuần làm việc. Vùng đô thị Washington, bao gồm cả thành phố, có dân số 6,1 triệu người là vùng đô thị lớn thứ 6 tại Hoa Kỳ.

Điều một trong Hiến pháp Hoa Kỳ có nói đến việc lập ra một đặc khu liên bang, không phụ thuộc vào bất cứ tiểu bang nào, để phục vụ như thủ đô vĩnh viễn của quốc gia. Các trung tâm của ba ngành trong chính phủ liên bang Hoa Kỳ cùng nhiều đài tưởng niệm và bảo tàng quốc gia đều nằm trong đặc khu. Washington, D.C. là nơi tiếp nhận 173 đại sứ quán ngoại quốc cũng như các tổng hành dinh của Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chức các quốc gia châu Mỹ (OAS), Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ, và Tổ chức Y tế Liên Mỹ (PAHO). Ngoài ra còn có tổng hành dinh của các cơ quan khác như các liên đoàn lao động, các nhóm vận động hành lang, và các hội đoàn nghiệp vụ cũng đặt tại nơi đây.

Quốc hội Hoa Kỳ có quyền hành tối cao đối với Washington, D.C. vì vậy cư dân của thành phố có ít quyền tự trị hơn cư dân của các tiểu bang Hoa Kỳ. Đặc khu có một đại biểu quốc hội chung nhưng không có quyền biểu quyết và cũng không có thượng nghị sĩ nào. Cư dân Đặc khu Columbia trước đây không thể tham gia bầu Tổng thống Hoa Kỳ cho đến khi Tu chính án 23 Hiến pháp Hoa Kỳ được thông qua năm 1961. Nếu Washington, D.C. là một tiểu bang thì nó sẽ đứng cuối cùng tính theo diện tích, hạng hai từ cuối nếu tính theo dân số, đứng đầu tính theo mật độ dân số, đứng thứ 35 tính theo tổng sản phẩm nội địa tiểu bang, và đứng hạng nhất về phần trăm dân số người Mỹ gốc châu Phi, khiến cho Washington, D.C. trở thành một tiểu bang có đa số dân thiểu số.

Đế quốc Anh

Đế quốc Anh (tiếng Anh: British Empire) bao gồm các quốc gia tự trị, các thuộc địa, các lãnh thổ bảo hộ, các lãnh thổ ủy thác và các lãnh thổ khác do Anh cai trị và quản lý. Đế quốc Anh khởi nguồn với các thuộc địa và trạm mậu dịch hải ngoại do Anh thiết lập từ cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVIII. Vào giai đoạn đỉnh cao của nó, đây là đế quốc hùng mạnh nhất trong lịch sử và là thế lực đứng đầu toàn cầu trong hơn một thế kỷ. Đến năm 1913, Đế quốc Anh cai trị khoảng 412,2 triệu người, chiếm 23% dân số thế giới lúc đó và bao phủ diện tích hơn 35.500.000 km², gần một phần tư tổng diện tích toàn cầu. Do vậy, những di sản về văn hóa, ngôn ngữ, luật pháp của Đế quốc Anh được truyền bá rộng rãi. Vào thời điểm nó đạt tới đỉnh cao của quyền lực, Đế quốc Anh thường được ví với câu nói "đế quốc có mặt trời không bao giờ lặn" bởi vì sự mở rộng cương thổ ra toàn địa cầu đồng nghĩa với việc mặt trời luôn chiếu sáng trên ít nhất một trong những vùng lãnh thổ của nó.

Trong suốt Thời đại Khám phá vào thế kỷ XV và XVI, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là hai quốc gia châu Âu đi tiên phong trong phong trào thám hiểm thế giới và trong quá trình đó họ đã thiết lập các đế quốc hải ngoại lớn. Đố kỵ với sự thịnh vượng vô cùng lớn mà hai đế quốc thực dân này giành được, các nước Anh, Pháp và Hà Lan bắt đầu thiết lập các thuộc địa và các mạng lưới mậu dịch của họ tại châu Mỹ và châu Á. Một loạt cuộc chiến với Pháp và Hà Lan trong thế kỷ XVII và XVIII đã giúp Anh trở thành một cường quốc chi phối thống trị tại Bắc Mỹ và Ấn Độ. Nhưng đồng thời, uy thế của nước Anh (và cả Pháp) bị hạn chế tại châu Âu sau năm 1763, trước sự phát triển lớn mạnh của các cường quốc phía Đông như Phổ, Áo và Nga.Sự kiện Mười ba thuộc địa tại Bắc Mỹ giành được độc lập vào năm 1783 sau cuộc Chiến tranh Cách mạng Mỹ khiến cho nước Anh mất đi một số thuộc địa lâu đời nhất và đông dân nhất của mình. Ngay sau đó nước Anh nhanh chóng chuyển sự quan tâm sang châu Phi, châu Á và Thái Bình Dương. Sau thất bại của nước Pháp trong cuộc chiến tranh Cách mạng Pháp và chiến tranh Napoléon (1792 – 1815), nước Anh tận hưởng một thế kỷ thống trị hầu như không có đối thủ, và mở rộng phạm vi trên khắp toàn cầu. Địa vị thống trị của Anh sau này được ca ngợi như là Pax Britannica (Thái bình Anh Quốc), một giai đoạn mà châu Âu và thế giới tương đối thái bình (1815 – 1914), đây là thời điểm mà nước Anh nắm quyền bá chủ toàn cầu và trở thành người canh giữ cho hoà bình thế giới. Vào đầu thể kỷ 19, cuộc Cách mạng công nghiệp bắt đẩu biến đổi nước Anh; tại thời điểm diễn ra cuộc "Đại Triển Lãm" vào năm 1851, nước Anh được ca ngợi như là "công xưởng của thế giới". Đế quốc Anh còn bành trướng đến Ấn Độ, phần lớn Châu Phi và nhiều khu vực khác trên thế giới. Cùng với sự kiểm soát chính thức của nước Anh đối với các thuộc địa riêng của mình, nó còn thống trị gần như toàn bộ nền thương mại của thế giới đồng nghĩa với việc là nó kiểm soát nền kinh tế của nhiều khu vực khác như châu Á và Mỹ Latinh.Tại nước Anh, những quan điểm chính trị đã thay đổi theo hướng ủng hộ chính sách tự do thương mại cùng chính sách tự do và phổ cập hoá đặc quyền bầu cử. Vào thế kỷ XIX, dân số của nước Anh đã gia tăng một cách mạnh mẽ, cùng với đó quá trình đô thị hoá nhanh chóng mà gây nên những căng thẳng nghiêm trọng về cả kinh tế cũng như xã hội. Để tìm kiếm các thị trường và các nguồn tài nguyên mới, Đảng Bảo thủ dưới thời Benjamin Disraeli đã khởi động một kỷ nguyên mới của chủ nghĩa bành trướng đế quốc tại Ai Cập, Nam Phi và nhiều nơi khác. Nhiều thuộc địa như Canada, Úc và New Zealand được trao quyền tự trị, một vài trong số đó được tái phân loại là quốc gia tự trị.Đến đầu thế kỷ XX, sự phát triển lớn mạnh của Đức và Hoa Kỳ làm xói mòi phần nào vị thế dẫn đầu về kinh tế của nước Anh. Chính sách đối ngoại của Anh quốc tập trung vào mối quan hệ hợp tác chặt chẽ và hữu nghị với Hoa Kỳ, nhưng những căng thẳng về vấn đề ngoại giao và quân sự khiến quan hệ với nước Đức ngày càng trở nên xấu đi và là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Trong thời kỳ diễn ra cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, nước Anh đã phải dựa nhiều vào đế quốc của mình về mặt nhân sự cũng như lương thực. Cuộc chiến này đã tạo ra một gánh nặng to lớn cả về mặt quân sự, tài chính và nguồn nhân lực cho nước Anh. Mặc dù sau cuộc chiến này, cương thổ của Đế quốc Anh đã được mở rộng lên tới cực điểm, bản thân nó đã không còn giữ được vị thế như là một cường quốc vô song về quân sự và công nghiệp được nữa. Trong Chiến tranh thế giới lần hai, các thuộc địa của Anh tại Đông Nam Á đã bị Nhật Bản chiếm đóng, điều này đã làm cho uy tín của đế quốc Anh bị suy giảm nghiêm trọng và đẩy nhanh quá trình sụp đổ của đế quốc này. Sau chiến tranh, Anh phải trao quyền độc lập cho thuộc địa đông dân và giá trị nhất là Ấn Độ. Trong những năm còn lại của thế kỷ XX, phần lớn những thuộc địa của Đế quốc Anh giành được độc lập như một phần của phong trào phi thuộc địa hóa từ các cường quốc châu Âu, kết thúc với việc chuyển giao Hồng Kông cho Trung Quốc vào năm 1997. 14 lãnh thổ ở hải ngoại hiện vẫn thuộc chủ quyền của Anh.

Sau độc lập, nhiều cựu thuộc địa của Anh gia nhập Thịnh vượng chung các Quốc gia, một hiệp hội tự do của các quốc gia độc lập. 16 quốc gia có chung một nguyên thủ, Nữ vương Elizabeth II, đó là Vương quốc Khối thịnh vượng chung.

Ấm lên toàn cầu

Ấm lên toàn cầu hay nóng lên toàn cầu, là hiện tượng nhiệt độ trung bình của không khí và các đại dương trên Trái Đất tăng lên theo các quan sát trong các thập kỷ gần đây. Trong thế kỷ XX, nhiệt độ trung bình của không khí gần mặt đất đã tăng 0,6 ± 0,2 °C (1,1 ± 0,4 °F). Theo báo cáo của Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA), nhiệt độ trung bình của Trái đất ở cuối thế kỷ XIX đã tăng +0,8 °C và thế kỷ XX tăng 0,6 ± 0,2 °C. Các dự án mô hình khí hậu của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) chỉ ra rằng nhiệt độ bề mặt Trái Đất sẽ có thể tăng 1,1 đến 6,4 °C trong suốt thế kỷ XXI. Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) nghiên cứu sự gia tăng nồng độ khí nhà kính sinh ra từ các hoạt động của con người như đốt nhiên liệu hóa thạch và phá rừng làm cho nhiệt độ Trái Đất tăng lên kể từ giữa thế kỷ XX. IPCC cũng nghiên cứu sự biến đổi các hiện tượng tự nhiên như bức xạ mặt trời và núi lửa gây ra phần lớn hiện tượng ấm lên từ giai đoạn tiền công nghiệp đến năm 1950 và có sự ảnh hưởng lạnh đi sau đó. Các kết luận cơ bản đã được chứng thực bởi hơn 45 tổ chức khoa học và viện hàn lâm khoa học, bao gồm tất cả các viện hàn lâm của các nước công nghiệp hàng đầu.Các dự án thiết lập mô hình khí hậu được tóm tắt trong báo cáo gần đây nhất của IPCC chỉ ra rằng nhiệt độ bề mặt Trái Đất sẽ có thể tăng 1,1 đến 6,4 °C (2,0 đến 11,5 °F) trong suốt thế kỷ XXI. Các yếu tố không chắc chắn trong tính toán này tăng lên khi khi các mô hình sử dụng nồng độ các khí nhà kính có độ chính xác khác nhau và sử dụng các thông số ước tính khác nhau về lượng phát thải khí nhà kính tương lai. Các yếu tố không chắc chắn khác bao gồm sự ấm dần lên và các biến đổi liên quan sẽ khác nhau giữa các khu vực trên toàn thế giới. Hầu hết các nghiên cứu tập trung trong giai đoạn đến năm 2100. Tuy nhiên, sự ấm dần lên sẽ tiếp tục diễn ra sau năm 2100 cả trong trường hợp ngừng phát thải khí nhà kính, đều này là do nhiệt dung riêng của đại dương lớn và carbon dioxit tồn tại lâu trong khí quyển.Nhiệt độ toàn cầu tăng sẽ làm mực nước biển dâng lên và làm biến đổi lượng giáng thủy, có thể bao gồm cả sự mở rộng của các sa mạc vùng cận nhiệt đới. Hiện tượng ấm lên được dự đoán sẽ diễn ra mạnh nhất ở Bắc Cực.

Tiếp tục có những cuộc tranh luận chính trị và tranh cãi trong công chúng về việc liệu có phải là Trái Đất thực sự đang ấm dần lên, và con người cần phải làm gì để đối phó với hiện tượng này. Người ta tìm nhiều cách để giảm thiểu lượng phát thải; thích nghi để giảm thiệt hại do sự ấm lên gây ra; và đặc biệt hơn nữa là áp dụng các kỹ thuật địa chất để có thể làm giảm thiểu sự ấm lên. Hầu hết các chính phủ đã ký và thông qua Nghị định thư Kyoto với mục đích giảm phát thải khí nhà kính.

Danh sách Tổng thống Hoa Kỳ

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.