Tường chắn

Tường chắn có thể là:

  • Tường hộ thành (hay tường khiên hộ thành), là cấu trúc tường thành cao kiên cố chắn giữ một hay vài hướng tấn công chính của đối phương vào các lâu đài hay pháo đài thời trung cổ.
  • Tường chắn đất một loại kết cấu xây dựng để giữ ổn định đất tại vùng địa hình thay đổi độ cao lớn không thể tạo mái dốc tự nhiên.
Akko

Akko hay Acre (tiếng Hebrew: עַכּוֹ, ʻAkko; tiếng Ả Rập: عكّا‎, ʻAkkā, tiếng Hy Lạp cổ đại: Ἄκρη Akre) là một thành phố nhỏ ở phía Tây Galilee thuộc miền Bắc Israel, nằm ven Địa Trung Hải tại phần cực bắc vịnh Haifa, với diện tích 13,533 km², có dân số hơn 46.000 người (năm 2011).

Cơ học đất

Cơ học đất là một nhánh liên ngành của cơ học ứng dụng, địa chất công trình nghiên cứu các tính chất vật lý, cơ học của đất để áp dụng vào mục đích xây dựng, các nguyên nhân quyết định các đặc trưng đó, nghiên cứu trạng thái ứng suất - biến dạng của đất, cường độ chống cắt, áp lực hông của đất (tường chắn), sức chịu tải của nền móng, độ lún của nền đất, và sự ổn định của mái dốc. Karl von Terzaghi, cha đẻ của cơ học đất, đã có những đóng góp to lớn trong ngành địa chất thế giới.

Đối tượng nghiên cứu của có học đất là đất thiên nhiên được hình thành do phong hóa, do trầm tích và sau khi hình thành lại luôn biến đổi do tác động của môi trường xung quanh. Đất thường dùng làm nền, làm vật liệu hoặc môi trường xây dựng.

Lưới địa kỹ thuật

Lưới địa kỹ thuật được sản xuất đầu tiên năm 1978 tại Anh, bởi công ty Netlon (và hiện giờ là tập đoàn Tensar International). Trải qua nhiều thập kỷ nghiên cứu phát triển, thí nghiệm và áp dụng tại hàng chục nghìn dự án trên khắp toàn cầu, Lưới địa kỹ thuật đang chứng tỏ được ưu điểm của mình về tính kinh tế, tiến độ cũng như thân thiện môi trường. Các giải pháp kết cấu (tường chắn có cốt, mái dốc có cốt, gia cố nền đất yếu, kết cấu mặt đường...) được xem xét như là một phương án thay thế tiên tiến cho các giải pháp truyền thống.

Nhà Tần

Nhà Tần (Tiếng Trung: 秦朝) (221 TCN - 207 TCN) là triều đại kế tục nhà Chu và trước nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc. Nhà Tần được đặt tên theo nước Tần - nước đã chiến thắng trong thời Chiến quốc (nay thuộc tỉnh Cam Túc và tỉnh Thiểm Tây), thiết lập bởi Tần Thủy Hoàng, vị hoàng đế đầu tiên thống nhất Trung Hoa.

Ở thời kỳ Chiến Quốc, nước Tần nổi lên là thế lực mạnh nhất nhờ các cải cách của Thương Ưởng vào thế kỷ IV TCN. Vào giữa và cuối thế kỷ III TCN, nhà Tần thực hiện một loạt chiến dịch xâm chiếm, đầu tiên là chấm dứt nhà Chu, sau đó xâm chiếm sáu quốc gia lớn còn lại, chấm dứt thời kỳ Chiến quốc. Mặc dù chỉ tồn tại ngắn ngủi trong 15 năm, nhà Tần đã để lại ảnh hưởng rất lớn tới các triều đại sau của Trung Hoa, đánh dấu sự khởi đầu của Trung Hoa đế quốc, một giai đoạn chỉ chấm dứt cùng với sự kết thúc của nhà Thanh vào năm 1912. Tên gọi mà phương Tây gọi Trung Quốc ngày nay (China) được cho là xuất phát từ nhà Tần (Qin).

Nhà Tần, dưới sự dẫn dắt của Tần Thủy Hoàng và thừa tướng Lý Tư, tìm cách thiết lập một nhà nước thống nhất bằng chính quyền trung ương tập quyền và một hệ thống quân đội lớn được hỗ trợ bởi một nền kinh tế ổn định. Chính quyền trung ương tìm cách loại bỏ quyền lực của giới quý tộc và địa chủ và giành quyền kiểm soát trực tiếp với nông dân, lực lượng chiếm đa số trong cơ cấu dân số và lao động. Điều này cho phép các dự án lớn đầy tham vọng, ví dụ như việc xây dựng kết nối các bức tường thành ở phía bắc, đặt nền móng cho Vạn Lý Trường Thành.Nhà Tần thực hiện một loạt các cải cách lớn về hành chính, kinh tế, và văn tự, chẳng hạn như thống nhất và chuẩn hóa hệ thống chữ viết, tiền tệ, đo lường, đi lại và giao thương. Tuy có những cải cách lớn như vậy, nhà Tần áp dụng trường phái Pháp gia và muốn dập tắt các trường phái tư tưởng khác mình. Những sử gia Nho giáo thời nhà Hán mô tả triều đại nhà Tần là một chế độ độc tài chuyên chế, trong đó điển hình là đốt sách và chôn sống nhiều học giả có tư tưởng khác biệt, chấm dứt thời kỳ tự do tư tưởng.

Sau khi Tần Thủy Hoàng qua đời, hai người cận thần là Lý Tư và Triệu Cao đã âm mưu đưa người con thứ của hoàng đế lên ngôi thay vì người con cả. Vì sự yếu kém của người kế vị và sự đàn áp, bóc lột kinh hoàng của thời Tần Thủy Hoàng, nhiều cuộc nổi dậy nổ ra, tiến tới việc chấm dứt triều đại nhà Tần, mở ra nhà Hán.

Nhà Tống

Nhà Tống (tiếng Trung: 宋朝; bính âm: Sòng Cháo, Wade-Giles: Sung Ch'ao, Hán-Việt: Tống Triều, phát âm tiếng Trung: [sʊ̂ŋ tʂʰɑ̌ʊ̯]) là một triều đại cai trị ở Trung Quốc từ năm 960 đến 1279, họ đã thành công trong việc thống nhất Trung Quốc trong thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc, và được thay thế bởi nhà Nguyên. Nhà Tống là nhà nước đầu tiên trên thế giới phát hành ra tiền giấy, và nhà nước Trung Quốc đầu tiên đã thành lập nên lực lượng hải quân thường trực lâu dài. Triều đại này đã chứng kiến việc lần đầu tiên sử dụng thuốc súng, cũng như nhận thức về cách sử dụng la bàn.

Triều nhà Tống được chia thành hai giai đoạn riêng biệt: Bắc Tống và Nam Tống.

Bắc Tống (北宋, 960-1127) là giai đoạn khi thủ đô của họ ở thành phố Biện Kinh (nay là Khai Phong) ở miền bắc và triều đình kiểm soát toàn bộ Trung Hoa.

Nam Tống (南宋, 1127-1279) để chỉ khoảng thời gian khi nhà Tống đã mất quyền kiểm soát phía bắc cho người Nữ Chân nhà Kim, trong thời gian này triều đình nhà Tống lui về phía nam sông Dương Tử và lập kinh đô ở Lâm An (nay là Hàng Châu).Mặc dù nhà Tống đã mất quyền cai quản khu vực nền móng của nền nông nghiệp Trung Hoa quanh dòng sông Hoàng Hà, nhưng nền kinh tế nhà Tống không nằm trong đống đổ nát, dân số nhà Nam Tống chiếm gần 60% toàn bộ dân số Trung Hoa thời bấy giờ và nền nông nghiệp cũng trở nên hiệu quả nhất. Triều Nam Tống dành sự ủng hộ đáng kể cho nền hải quân, tạo nên sức mạnh bảo vệ vùng biển và biên giới đất liền cũng như tiến hành những nhiệm vụ hàng hải ra nước ngoài.

Để đẩy lùi những cuộc xâm lược của người Nữ Chân và sau đó là người Mông Cổ, nhà Tống đã phát triển quân đội tăng cường sử dụng thuốc súng. Nhà Kim bị người Mông Cổ chinh phục năm 1234, sau đó Mông Cổ kiểm soát toàn bộ phía bắc Trung Quốc và luôn đe doạ triều đình Nam Tống. Một hiệp ước hoà bình vội vàng được lập ra, khi Hốt Tất Liệt nhận được tin về cái chết của Mông Ca (còn gọi là Mông Kha), vua cai trị Mông Cổ. Ông quay về nước để chiếm ngôi báu từ tay các đối thủ và được tôn lên làm Đại Hãn, mặc dù chỉ được công nhận bởi một số người Mông Cổ ở phía Tây. Năm 1271, Hốt Tất Liệt tự xưng là hoàng đế Trung Hoa. Sau hai thập kỷ chiến tranh lẻ tẻ, quân đội Hốt Tất Liệt đã chinh phục nhà Tống năm 1279. Một lần nữa Trung Quốc được thống nhất, dưới triều đại nhà Nguyên Mông (1271-1368).Dân số Trung Quốc tăng gấp đôi trong thế kỷ X và XI. Sự tăng trưởng này đã thông qua bằng việc mở rộng canh tác lúa ở miền trung và miền nam Trung Quốc, việc sử dụng lúa chín sớm từ phía Đông Nam và Nam Á, và sản xuất thặng dư lương thực dồi dào. Dưới triều Bắc Tống đã thực hiện một cuộc điều tra dân số và kết quả là 50 triệu người, giống như thời nhà Hán và nhà Đường. Con số này được kiểm chứng trong Tống sử. Tuy nhiên, người ta đã ước tính rằng thời kỳ Bắc Tống đã có hơn 100 triệu người, vào thời kỳ đầu nhà Minh đã có hơn 200 triệu người.

Persepolis

Persepolis (tiếng Ba Tư cổ: 𐎱 𐎠 𐎼 𐎿 Pārsa, tiếng Ba Tư hiện đại: تخت جمشید / پارسه, Takht-e Jamshid hoặc Chehel Minar, UniPers: Taxte Jamšid) là kinh đô nghi lễ của Đế quốc Achaemenes (khoảng năm 550-330 TCN). Nó nằm cách khoảng 60 km về phía đông bắc của thành phố hiện đại Shiraz, thuộc tỉnh Fars, Iran. Phần còn lại lâu đời nhất của Persepolis có từ năm 515 TCN. Thành phố này thể hiện phong cách kiến trúc Achaemenes và đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới từ năm 1979.

Pomacentrus magniseptus

Pomacentrus magniseptus là một loài cá biển thuộc chi Pomacentrus trong họ Cá thia. Loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 2017. Trong tiếng Latin, magnis nghĩa là "to lớn" (tiếng Anh: "great"), còn septum nghĩa là "bức tường, chắn ngang" (tiếng Anh: "wall", "barrier"), ám chỉ tên của nơi tìm thấy loài này, rạn san hô Great Barrier.

Quản lý bờ biển

Quản lý bờ biển là phòng chống lũ lụt và xói mòn và một số biện pháp kĩ kỹ thuật để ngăn chặn xói mòn để giữ đất.Các vùng ven biển chiếm dưới 15% diện tích đất của Trái đất nhưng lại chiếm hơn 40% dân số thế giới. Gần 1,2 tỷ người sống trong phạm vi 100 km bờ biển và 100 m so với mực nước biển, mật độ trung bình gần gấp 3 lần so với mức trung bình toàn cầu của dân số. Với 3/4 dân số thế giới dự kiến sẽ sinh sống tại khu vực ven biển vào năm 2025, các hoạt động của con người bắt nguồn từ vùng đất nhỏ này sẽ gây ra áp lực nặng nề lên bờ biển. Khu vực ven biển có nguồn tài nguyên phong phú để sản xuất hàng hoá và dịch vụ và là nơi sinh sống của người dân và hầu hết các hoạt động thương mại và công nghiệp.

Tại Liên minh Châu Âu, gần một nửa dân số sinh sống trong khu vực cách biển từ 50 km trở xuống và các nguồn tài nguyên ven biển tạo nên sự giàu có về kinh tế của Liên minh châu Âu. Các ngành đánh bắt, vận tải và du lịch tất cả đều cạnh tranh khu vực dọc theo bờ biển và vùng duyên hải hơn 89.000 km gây ảnh hưởng đến nơi cư trú của một số sinh vật sống ven biển.

Sa mạc Sahara

Sahara (tiếng Ả Rập: الصحراء الكبرى‎, aṣ-Ṣaḥrāʾ al-Kubrā , nghĩa là sa mạc lớn) là sa mạc lớn nhất trên trái đất, là hoang mạc lớn thứ 3 trên Trái Đất (sau Châu Nam Cực và Vùng Bắc Cực), với diện tích hơn 9.000.000 km², xấp xỉ diện tích của Hoa Kỳ và Trung Quốc. Sahara ở phía bắc châu Phi và có tới 2,5 triệu năm tuổi.

Schokland

Schokland (mun. Noordoostpolder) nguyên trước đây là một hòn đảo của Hà Lan Zuiderzee. Schokland mất tình trạng là đảo khi Nordoostpolder được lấn biển năm 1942. Phần còn lại ngày nay vẫn còn nhìn thấy là một phần hơi nhô lên ở đất lấn biển và một phần tường chắn khu cảng 'Middelbuurt'.

Do mực nước biển dâng lên, Schokland chuyển từ một khu định cư hấp dẫn thời Trung Cổ thành một nơi bị ngập lụt đe dọa thường xuyên cho đến thế kỷ 19. Đến lúc ấy, những cư dân của Schokland đã lui về 3 vùng đất cao là: Emmeloord, Molenbuurt, và Middelbuurt. Một trận lụt lớn năm 1825 đã phá hủy hàng loạt và năm 1859 thì chính phủ quyết định kết thúc các khu định cư ở trên Schokland.

Ngày nay, Schokland là một địa điểm khảo cổ nổi tiếng và có bảo tàng Schokland, đây cũng là di sản thế giới đầu tiên được UNESCO công nhận ở Hà Lan.

Sóng thần

Sóng thần (tiếng Nhật: 津波 tsunami) là một loạt các đợt sóng tạo nên khi một thể tích lớn của nước đại dương bị chuyển dịch chớp nhoáng trên một quy mô lớn. Động đất cùng những dịch chuyển địa chất lớn bên trên hoặc bên dưới mặt nước, núi lửa phun và va chạm thiên thạch đều có khả năng gây ra sóng thần. Hậu quả tai hại của sóng thần có thể ở mức cực lớn, giết chết bằng nhấn chìm trong nước đến hàng trăm ngàn người trong vài giờ.

Thuật ngữ tsunami (sóng thần) bắt nguồn từ tiếng Nhật có nghĩa "bến" (津 tsu, âm Hán Việt: "tân") và "sóng" (波 nami, "ba"). Thuật ngữ này do các ngư dân đặt ra dù lúc đó họ không biết nguyên do là sóng xuất phát ở ngoài xa khơi. Cơn sóng thần khởi phát từ dưới đáy biển sâu; khi còn ngoài xa khơi, sóng có biên độ (chiều cao sóng) khá nhỏ nhưng chiều dài của cơn sóng lên đến hàng trăm kilômét. Vì vậy khi ở xa bờ chúng ta khó nhận diện ra nó, mà chỉ cảm nhận là một cơn sóng cồn trải dài.

Ở Tây phương sóng thần trước kia từng được coi là sóng thuỷ triều (tiếng Anh: tidal wave) vì khi tiến vào bờ, sóng tác động như một đợt thuỷ triều mạnh dâng lên, khác hẳn loại sóng thường gặp ngoài biển tạo bởi gió. Tuy nhiên, vì không đúng với thực tế cho nên thuật ngữ này không còn dùng nữa.

Thành phố cảng Liverpool

Thành phố cảng Liverpool là một di sản thế giới được UNESCO công nhận ở thành phố Liverpool, Anh. Nó bao gồm các tòa nhà và công trình lịch sử nổi tiếng nhất nằm ở sáu khu vực trung tâm thành phố Liverpool bao gồm Pier Head, Albert Dock, Khu bảo tồn đường William Brown (Khu phố văn hóa), Khu bảo tồn Dock Stanley, Khu bảo tồn phố Duke/Ropewalks, Khu bảo tồn phố Castle (Khu phố thương mại).

UNESCO đã nhận được đơn đề cử của Hội đồng thành phố cho sáu địa điểm trên vào tháng 1 năm 2003 và vào tháng 9 năm đó gửi ICOMOS đại diện để thực hiện một đánh giá về điều kiện và hiện trạng đối với các công trình được đề cử di sản thế giới. Trong tháng 3 năm 2004, ICOMOS khuyến nghị UNESCO công nhận Thành phố cảng Liverpool như là một di sản thế giới.Khu vực đã được công nhận là di sản trong phiên họp thứ 28 của Ủy ban Di sản Thế giới vào năm 2004 theo tiêu chuẩn văn hóa ii, iii và iv. Nó được UNESCO công nhận bởi đây là "ví dụ tiêu biểu nhất của một thương cảng tại có ảnh hưởng toàn cầu của nước Anh".Vào năm 2012, di sản này đã được ghi trong Danh sách di sản thế giới bị đe dọa do việc đề xuất xây dựng dự án Liverpool Waters của thành phố. Nó là một trong hai Di sản thế giới bị đe dọa ở châu Âu (cùng với Các đài kỉ niệm thời trung cổ ở Kosovo).

Thảm họa Chernobyl

Thảm hoạ Chernobyl là một vụ tại nạn hạt nhân xảy ra vào ngày 26 tháng 4 năm 1986 khi nhà máy điện hạt nhân Chernobyl ở Pripyat, Ukraina (khi ấy còn là một phần của Liên bang Xô viết) bị nổ. Đây được coi là vụ tai nạn hạt nhân trầm trọng nhất trong lịch sử năng lượng hạt nhân. Do không có tường chắn, đám mây bụi phóng xạ tung lên từ nhà máy lan rộng ra nhiều vùng phía tây Liên bang Xô viết, Đông và Tây Âu, Scandinavie, Anh quốc, và đông Hoa Kỳ. Nhiều vùng rộng lớn thuộc Ukraina, Belarus và Nga bị ô nhiễm nghiêm trọng, dẫn tới việc phải sơ tán và tái định cư cho hơn 336.000 người. Khoảng 60% đám mây phóng xạ đã rơi xuống Belarus. Theo bản báo cáo năm 2006 của TORCH, một nửa lượng phóng xạ đã rơi xuống bên ngoài lãnh thổ ba nước cộng hoà Xô viết Thảm hoạ này phát ra lượng phóng xạ lớn gấp bốn trăm lần so với quả bom nguyên tử được ném xuống Hiroshima.

Vụ tai nạn làm dấy lên những lo ngại về sự an toàn trong ngành công nghiệp năng lượng hạt nhân Xô viết, làm đình trệ sự phát triển của ngành này trong nhiều năm, đồng thời buộc chính phủ Xô viết phải công bố một số thông tin. Các quốc gia: Nga, Ukraina, Belarus, ngày nay là các quốc gia độc lập, đã phải chịu chi phí cho nhiều chiến dịch khử độc và chăm sóc sức khoẻ cho những người bị ảnh hưởng từ vụ Chernobyl. Rất khó để kiểm kê chính xác số người đã thiệt mạng trong tai nạn này, bởi vì sự che đậy thông tin thời Xô viết gây khó khăn cho việc truy ra những nạn nhân. Danh sách này không đầy đủ, và chính quyền Xô viết sau đó đã cấm các bác sĩ được ghi chữ "phóng xạ" trong giấy chứng tử . Tuy nhiên, đa số những căn bệnh nguy hiểm về lâu dài có thể dự đoán trước như ung thư, trên thực tế vẫn chưa xảy ra, và sẽ rất khó để gắn nó có nguyên nhân trực tiếp với vụ tai nạn. Những ước tính và những con số đưa ra khác nhau rất xa. Một bản báo cáo năm 2005 do Hội nghị Chernobyl, dưới quyền lãnh đạo của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đưa ra cho rằng có 56 người chết ngay lập tức; 47 công nhân và 9 trẻ em vì ung thư tuyến giáp, và ước tính rằng có khoảng 9.000 người, trong số gần 6.6 triệu, cuối cùng sẽ chết vì một loại bệnh ung thư nào đó. Riêng tổ chức Hoà bình xanh ước tính tổng số người chết là 93.000, nhưng đã ghi trong bản báo cáo của họ rằng "Những con số được đưa ra gần đây nhất cho thấy rằng chỉ riêng ở Belarus, Nga và Ukraina vụ tai nạn có thể đã dẫn tới cái chết thêm của khoảng 200.000 người trong giai đoạn từ 1990 đến 2004."

Tường chắn đất

Tường chắn, hay tường chắn đất, là một loại kết cấu xây dựng để giữ ổn định đất giữa hai độ cao khác nhau, tại vùng địa hình thay đổi độ cao lớn, độ dốc không như ý hoặc ở những nơi có cảnh quan nhân tạo phải cải tạo lớn, không thể tạo mái dốc tự nhiên. Tường chắn còn được thiết kế cho các mục đích cụ thể hơn như giữ ổn định sườn đồi hay bo chắn chân cầu vượt đường bộ.

Tường hộ thành

Tường hộ thành (tiếng Đức Schildmauer) được dùng để chỉ bức tường thành cao nhất và chắc nhất. Tường chắn được xây để bảo vệ mặt hay bị tấn công. Khi một tường chắn kéo dài sang một hay 2 mặt khác, nó được gọi Mantelmauer (tường chắn quanh).

Urani

Urani hay uranium là nguyên tố hóa học kim loại màu trắng thuộc nhóm Actini, có số nguyên tử là 92 trong bảng tuần hoàn, được ký hiệu là U. Trong một thời gian dài, urani là nguyên tố cuối cùng của bảng tuần hoàn. Các đồng vị phóng xạ của urani có số neutron từ 144 đến 146 nhưng phổ biến nhất là các đồng vị urani-238, urani-235 và urani-239. Tất cả đồng vị của urani đều không bền và có tính phóng xạ yếu. Urani có khối lượng nguyên tử nặng thứ 2 trong các nguyên tố tự nhiên, xếp sau plutoni-244. Mật độ của urani lớn hơn mật độ của chì khoảng 70%, nhưng không đặc bằng vàng hay wolfram. Urani có mặt trong tự nhiên với nồng độ thấp khoảng vài ppm trong đất, đá và nước, và được sản xuất thương mại từ các khoáng sản chứa urani như uraninit.

Trong tự nhiên, urani được tìm thấy ở dạng urani 238 (99,284%), urani 235 (0,711%), và một lượng rất nhỏ urani 234 (0,0058%). Urani phân rã rất chậm phát ra hạt anpha. Chu kỳ bán rã của urani 238 là khoảng 4,47 tỉ năm và của urani 235 là 704 triệu năm, do đó nó được sử dụng để xác định tuổi của Trái Đất.

Hiện tại, các ứng dụng của urani chỉ dựa trên các tính chất hạt nhân của nó. Urani-235 là đồng vị duy nhất có khả năng phân hạch một cách tự nhiên. Urani 238 có thể phân hạch bằng neutron nhanh, và là vật liệu làm giàu, có nghĩa là nó có thể được chuyển đổi thành plutoni-239, một sản phẩm có thể phân hạch được trong lò phản ứng hạt nhân. Đồng vị có thể phân hạch khác là urani-233 có thể được tạo ra từ thori tự nhiên và cũng là vật liệu quan trọng trong công nghệ hạt nhân. Trong khi urani-238 có khả năng phân hạch tự phát thấp hoặc thậm chí bao gồm cả sự phân hạch bởi neutron nhanh, thì urani 235 và đồng vị urani-233 có tiết diện hiệu dụng phân hạch cao hơn nhiều so với các neutron chậm. Khi nồng độ đủ, các đồng vị này duy trì một chuỗi phản ứng hạt nhân ổn định. Quá trình này tạo ra nhiệt trong các lò phản ứng hạt nhân và tạo ra vật liệu phân hạch dùng làm các vũ khí hạt nhân. Urani nghèo (U-238) được dùng trong các đầu đạn đâm xuyên và vỏ xe bọc thép. Trong lĩnh vực dân dụng, urani chủ yếu được dùng làm nhiên liệu cho các nhà máy điện hạt nhân. Ngoài ra, urani còn được dùng làm chất nhuộm màu có sắc đỏ-cam đến vàng chanh cho thủy tinh urani. Nó cũng được dùng làm thuốc nhuộm màu và sắc bóng trong phim ảnh.

Martin Heinrich Klaproth được công nhận là người đã phát hiện ra urani trong khoáng vật pitchblend năm 1789. Ông đã đặt tên nguyên tố mới theo tên hành tinh Uranus (Sao Thiên Vương). Trong khi đó, Eugène-Melchior Péligot là người đầu tiên tách kim loại này và các tính chất phóng xạ của nó đã được Antoine Becquerel phát hiện năm 1896. Nghiên cứu của Enrico Fermi và các tác giả khác bắt đầu thực hiện năm 1934 đã đưa urani vào ứng dụng trong công nghiệp năng lượng hạt nhân và trong quả bom nguyên tử mang tên Little Boy, quả bom này là vũ khí hạt nhân đầu tiên được sử dụng trong chiến tranh. Từ cuộc chạy đua vũ trang trong thời chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Liên Xô đã cho ra hàng chục ngàn vũ khí hạt nhân sử dụng urani được làm giàu và plutoni có nguồn gốc từ urani. Việc an toàn của các vũ khí này và các vật liệu phân hạch của chúng sau sự tan rã của Liên Xô năm 1991 là một mối quan tâm đối với sức khỏe và an toàn của cộng đồng.

Zubarah

Zubarah (tiếng Ả Rập: الزبارة), còn được gọi là Al Zubarah hoặc Az Zubarah, là một tàn tích và pháo đài cổ nằm ở phía bắc của bờ biển phía tây của [[Qatar|Bán đảo Qatar]], thuộc đô thị Al Shamal, cách thủ đô Doha khoảng 105 km. Nó được thành lập bởi Shaikh Muhammed bin Khalifa, cha đẻ của hoàng tộc nhà Khalifa ở Bahrain, gia tộc chính và có ý nghĩa quan trọng trong bộ lạc Bani Utbah nửa đầu thế kỷ 18. Zubarah được UNESCO công nhận là Di sản thế giới từ năm 2013.Zubarah là ví dụ thành công về một trung tâm giao dịch toàn cầu và khai thác ngọc trai nằm giữa eo biển Hormuz và Vịnh Ba Tư. Đây là một trong những ví dụ được bảo tồn tốt nhất và lớn nhất về khu định cư thế kỷ 18-19 trong khu vực. Bố cục và kết cấu đô thị của khu định cư đã được bảo tồn và không giống với bất kỳ khu định cư nào khác ở Vịnh Ba Tư, cung cấp một cái nhìn sâu sắc về cuộc sống đô thị, lịch sử kinh tế, tổ chức xã hội của vùng Vịnh trước khi nơi đây phát hiện ra dầu mỏ trong thế kỷ 20.Địa điểm này có diện tích khoảng 400 ha (60 ha bên trong bức tường thị trấn) và là địa điểm khảo cổ quan trọng nhất của Qatar. Ngoài thành lũy thị trấn thì nó còn bao gồm thị trấn cổ, bến cảng, kênh biển, hai bức tường chắn, Pháo đài Murair, và Pháo đài Zubarah.

Đá

Bài này nói về đá như là một tập hợp tự nhiên của các khoáng vật, các nghĩa khác xem Đá (định hướng).Đá là tổ hợp có quy luật của các loại khoáng vật, có thể là một thể địa chất có lịch sử hình thành riêng biệt. Cách phân loại tổng quát nhất dựa trên nguồn gốc thành tạo gồm đá macma, đá trầm tích và đá biến chất. Đôi khi thiên thạch được xem là một nhóm đá riêng có nguồn gốc từ vũ trụ.

Với thời gian đời người đá không có sự biến đổi nhưng chúng có thể bị biến đổi bởi các quá trình địa chất diễn ra trong thời gian rất dài. Chu trình thạch học mô tả các giai đoạn mà các loại đá được hình thành và biến chuyển từ dạng này sang dạng khác. Đá mácma hình thành khi dung nham đông nguội trên bề mặt hoặc kết tinh ở dưới sâu. Các đá trầm tích được hình thành từ quá trình lắng đọng vật liệu, rồi nén ép thành đá. Trong khi đá biến chất có thể hình thành từ các loại đá mácma, đá trầm tích hay các loại đá biến chất có trước dưới tác động của nhiệt độ và áp suất.

Đá là một loại vật liệu gắn liền với lịch sử phát triển của loài người. Từ thời đại đồ đá con người đã biết dùng đá để làm vũ khí tự vệ, săn bắn, công cụ sản xuất. Đặc biệt, đá được dùng trong xây dựng những công trình mà ngày nay chúng trở nên nổi tiếng như Kim tự tháp, Angkor Wat, thành Babylon, El-Djem, Colisée, Bourgogne, Épidayre.

Đường hầm buôn lậu dải Gaza

Đường hầm buôn lậu dải Gaza là những đường đi được đào dưới Philadelphi Corridor, một dải đất hẹp, dài 14 km (8.699 miles), nằm dọc theo biên giới giữa dải Gaza và Ai cập. Sau Hiệp ước hòa bình Ai Cập - Do Thái vào năm 1979 thành phố Rafah, nằm ở phía Nam dải Gaza, bị chia đôi bởi đoạn hành lang này. Một phân nửa thành phố thuộc Ai Cập, phân nửa kia nằm ở miền Nam của Gaza. Sau khi Do Thái rút quân khỏi Gaza vào năm 2005, Philadelphi Corridor được đặt dưới sự kiểm soát của nhà cầm quyền Palestine cho tới 2007. Khi Hamas giành được quyền lực vào năm 2007, Ai Cập và Do Thái đã đóng của biên giới với Gaza.Vào năm 2009, Ai Cập bắt đầu xây một bức tường chắn dưới mặt đất để chận các đường hầm hiện có và làm cho việc tạo ra những đường hầm mới trở nên khó khăn hơn. Vào năm 2011, Ai Cập nới lỏng những hạn chế tại biên giới của họ với dải Gaza, cho phép người dân Palestine được qua lại tự do.Năm 2013-2014, Quân đội của Ai Cập đã phá hủy rất nhiều đường hầm mà được dùng để buôn lậu thực phẩm, vũ khí và các hàng hóa khác vào Gaza.. Ngày 27 tháng 7 họ tuyên bố đã phá hủy thêm 13 đường, dâng tổng số lên tới

1.639 đường. Chính quyền Ai Cập buộc tội Hamas đã dính líu tới các vụ bạo động bằng vũ khí gần đây tại Ai Cập.Kể từ khi Israel đổ quân vào Gaza vào ngày 13-7, sau khi Hamas phóng hàng trăm hỏa tiễn sang Israel, họ đã tìm thấy 31 đường hầm từ Gaza vào Israel và phá hủy 15 đường hầm như thế, theo lời một người phát ngôn quân đội Israel.

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.