Tây Nam Hoa Kỳ

Tây Nam Hoa Kỳ (tiếng Anh: Southwestern United States, còn gọi là American Southwest) được định nghĩa là các tiểu bang nằm ở phía tây Sông Mississippi và có một giới hạn ranh giới nào đó ở phía bắc, ví dụ như các vĩ tuyến 37, 38, 39 hay 40 độ bắc. Kinh tuyến 97,33 độ tây được dùng để phân chia Tây Nam ra khỏi Nam Hoa Kỳ. Trong lịch sử, Tây Nam Hoa Kỳ bắt đầu ở phía viễn tây của thành phố Fort Worth, 10 dặm Anh về phía đông của khu vực trung tâm của thành phố Austin, và 55 dặm Anh về phía đông của khu vực trung tâm của thành phố San Antonio. Tuy nhiên một số nguồn lại đặt ranh giới của vùng này xa hơn về hướng tây và xếp phần lớn Texas và Oklahoma thành một tiểu vùng "tây nam" của chính Nam Hoa Kỳ và vì thế tách chúng ra khỏi các tiểu bang khác thường được xem là các tiểu bang Tây Nam[1].

Tây Nam Hoa Kỳ rất đa chủng với con số đáng kể dân số người Mỹ gốc châu Âu và người Mỹ gốc Hispanic ngoài ra còn có người Mỹ gốc châu Phi, người Mỹ gốc châu Á và người bản thổ Mỹ.

Vùng này cũng có những thành phố và vùng đô thị lớn. Tuy nhiên vùng này có mật độ dân số thưa ở những khu vực nông thôn. Houston, Dallas, PhoenixSan Antonio là trong số 10 thành phố đông dân hàng đầu tại Hoa Kỳ[2]. Nhiều tiểu bang trong vùng này như Arizona, Nevada, New MexicoTexas có sự tăng dân số cao nhất tại Hoa Kỳ. Các khu đô thị trong vùng này như Albuquerque, Austin, Las Vegas, Phoenix, TucsonEl Paso là một số thành phố phát triển nhanh nhất tại Hoa Kỳ.

Southwest map
Định nghĩa về vùng này thì thay đổi theo các nguồn. New MexicoArizona (màu đỏ sẩm) luôn được xem là hạt nhân của vùng Tây Nam hiện đại trong khi đó các tiểu bang màu đỏ sọc có thể hoặc không được xem là thuộc vùng này. California thường không được tính. TexasOklahoma (màu xanh) thường được xem vừa là thuộc Nam Hoa Kỳ và Tây Nam Hoa Kỳ.

Ghi chú

  1. ^ Gastil,Raymond "Cultural Regions of the United States" University of Washington Press, pp.199-204
  2. ^ 50 most populous cities in the U.S., Infoplease.com

Liên kết ngoài

Arizona

Arizona (phát âm như E-ri-giôn-nơ trong tiếng Anh Mỹ hay được biết đến là A-ri-xô-na trong tiếng Việt, tiếng Navajo: Hoozdo Hahoodzo [xòːztò xɑ̀xòːtsò]; tiếng O'odham: Alĭ ṣonak [ˡaɺi ˡʃonak]) là một tiểu bang tại tây nam Hoa Kỳ. Đây cũng là một bang Tây Hoa Kỳ và thuộc vùng núi. Nó là bang lớn thứ sáu về diện tích và đông dân thứ 14. Thủ phủ và thành phố lớn nhất là Phoenix. Arizona là một trong bốn bang Four Corners. Nó tiếp giáp với New Mexico, Utah, Nevada, California, và México, và có một điểm chung với Colorado. Biên giới giữa Arizona và México dài 389 dặm (626 km), với các bang Sonora và Baja California của México.

Arizona là bang thứ 48 và bang cuối cùng tại Hoa Kỳ lục địa tham gia vào Liên bang; chính thức trở thành một tiểu bang ngày 14 tháng 2 năm 1912. Về lịch sử, nó từng là một phần của lãnh thổ Alta California tại Tân Tây Ban Nha, rồi trở thành một phần của México năm 1821. Sau khi bị đánh bại trong cuộc chiến tranh Hoa Kỳ-México, México đã nhượng phần lớn lãnh thổ này cho Hoa Kỳ năm 1848. Phần nam tiểu bang được mua năm 1853 qua thương vụ Gadsden.

Kiểu khí hậu Nam Arizona là hoang mạc, với mùa hè rất nóng và mùa đông dịu. Bắc Arizona có những rừng thông, linh sam Douglas, và vân sam; cao nguyên Colorado; vài dãy núi (như dãy San Francisco); với những hẽm núi lớn, sâu, với mùa hè mát hơn và mùa đông tuyết rơi. Có những khu trượt tuyết tại khu vực Flagstaff, Alpine, và Tucson. Ngoài vườn quốc gia Grand Canyon nổi tiếng, Arizona còn có nhiều rừng quốc gia, vườn quốc gia, và tượng đài quốc gia.

Khoảng một phần tư diện tích tiểu bang là các khu dành riêng cho người bản địa đóng vai trò là nơi cư ngụ của 27 bộ tộc bản địa châu Mỹ được công nhận liên bang, trong đó có xứ Navajo, khu dành riêng lớn nhất Hoa Kỳ.

Artemisia tridentata

Artemisia tridentata là một loài thực vật có hoa trong họ Cúc. Loài này được Nutt. mô tả khoa học đầu tiên năm 1841.

Ataxia

Ataxia Haldeman, 1847 là một chi bọ cánh cứng trong phân họ Lamiinae, tông Pteropliini. Chi này phân bố rộng khắp ở Nam Mỹ, nhưng một số chúng là loài đặc hữu của Trung Mỹ và ở Antilles. Chỉ có vài loài phân bố đến phía tây Nam Hoa Kỳ.

Chi Cúc ngũ sắc

Chi Cúc ngũ sắc (danh pháp khoa học: Zinnia) là một chi thực vật gồm 20 loài cây đơn và đa niên có hoa thuộc họ Cúc (Asteraceae). Phần lớn các loài có vùng bản địa là vùng đồng cỏ và cây bụi trải dài từ Tây Nam Hoa Kỳ cho đến Nam Mỹ. Tên của chi này được đặt tên theo nhà thực vật học người Đức Johann Gottfried Zinn.

Chiến tranh Hoa Kỳ-México

Chiến tranh Hoa Kỳ-México, còn được gọi là Chiến tranh Mexico tại Mỹ và ở Mexico với tên gọi là Intervención estadounidense en México (sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Mexico), là một cuộc xung đột vũ trang giữa Hoa Kỳ và Mexico từ năm 1846 đến 1848. Sau khi Mỹ sáp nhập Texas năm 1845, vốn không được chính phủ Mexico công nhận, họ vẫn đang tranh cãi về vân đề Hiệp ước Velasco do Tổng thống caudillo của Mexico/Tướng Antonio López de Santa Anna ký sau Cách mạng Texas một thập kỷ trước. Năm 1845, Tổng thống Hoa Kỳ mới đắc cử James K. Polk muốn mở rộng lãnh thổ đất nước và xem việc sáp nhập Texas là bước đi đầu tiên trong tiến trình đó. Ông gửi quân đến lãnh thổ bị tranh chấp và phái đoàn ngoại giao tới Mexico. Sau khi lực lượng Mexico tấn công quân đội của Hoa Kỳ, Quốc hội Hoa Kỳ tuyên chiến.

Các lực lượng Hoa Kỳ tiến quân dọc theo thượng nguồn sông Rio Grande và tỉnh Alta California ven biển Thái Bình Dương. Mỹ đánh chiếm thành phố Santa Fe de Nuevo México chớp nhoáng, rồi di chuyển về phía nam. Trong khi đó, Hải đội Thái Bình Dương của Hải quân Hoa Kỳ phong tỏa bờ biển Thái Bình Dương xa hơn về phía nam ở vùng lãnh thổ Baja California Hạ. Quân đội Hoa Kỳ dưới quyền Thiếu tướng Winfield Scott chiếm được Thành phố Mexico sau khi gặp sự kháng cự mạnh mẽ. Họ trước đó đã tuần hành về phía tây từ cảng Veracruz trên Bờ Vịnh, nơi Hoa Kỳ tổ chức cuộc đổ bộ thủy quân lục chiến lớn đầu tiên.

Hiệp ước Guadalupe Hidalgo năm 1848, buộc tàn dư của chính phủ Mexico, chấm dứt chiến tranh và bàn giao Nhượng địa Mexico, các lãnh thổ phía bắc Alta California và Santa Fe de Nuevo México cho Hoa Kỳ. Hoa Kỳ đã đồng ý trả khoản bồi thường 15 triệu đô-la cho các thiệt hại về cơ sở hạ tầng và cũng bao gồm khoản nợ 3,25 triệu đô-la mà chính phủ Mexico còn nợ trước đó đối với Hoa Kỳ. Mexico thừa nhận sự li khai của những gì mà đã trở thành Tiểu bang Texas và chấp nhận sông Rio Grande sẽ là biên giới phía bắc với Hoa Kỳ.

Thắng lợi này và sự mở rộng lãnh thổ mà Polk đã hình dung, đã truyền cảm hứng lớn lao cho tinh thần yêu nước vĩ đại tại Hoa Kỳ, tuy vậy, cuộc chiến và hiệp ước đã khiến Hoa kỳ bị chỉ trích. Câu hỏi về việc phải làm gì với những vùng lãnh thổ mới cũng làm căng thẳng các cuộc tranh luận về chế độ nô lệ. Tình hình xã hội ở Mexico trở nên tồi tệ hơn do tình trạng hỗn loạn trong nước và tổn thất nhân lực, lãnh thổ và uy tín quốc gia khiến nhiều người Mexico gọi thời kì này là "tình trạng suy thoái và hủy hoại".

Chồn hôi đội mũ

Chồn hôi đội mão (Mephitis macroura) là một loài động vật có vú trong họ Chồn hôi, bộ Ăn thịt. Loài này được Lichtenstein mô tả năm 1832.

Loài này phân bố từ Tây Nam Hoa Kỳ đến Nam Mexico, nhưng có nhiều nhất ở México. Nhóm ở Nam Mexio chỉ 50% hoặc nhỏ hơn nhóm ở Tây Nam Hoa Kỳ. Nó được tìm thấy trong đồng cỏ, sa mạc, và ở dưới chân núi của núi, tránh cao độ cao. Nó có xu hướng sống gần nguồn nước, chẳng hạn sông. Những con cái thường có kích thước nhỏ hơn 15% so với cá đực và mùa sinh sản của chúng giữa tháng 2 và tháng 3. Một ổ có từ 3-8 con non.

Loài này chủ yếu ăn thực vật, đặc biệt là loài lê (Opuntia spp.), nhưng cũng ăn côn trùng, động vật có dây sống nhỏ và trứng chim,. Không có trường hợp bệnh dại được ghi nhận, nhưng chúng mang một loạt các ký sinh trùng, giun tròn, giun tròn, và bọ chét.

Craugastoridae

Craugastoridae là một họ động vật lưỡng cư trong bộ Anura.

Khi hiểu theo nghĩa hẹp, họ này có 115 loài trong 2 chi.Chi Craugastor, với 113 loài, có phân bố lớn và có thể được tìm thấy ở Tây Nam Hoa Kỳ, México và Trung Mỹ tới phía tây bắc Nam Mỹ. Chi Haddadus với 2 loài, chỉ được tìm thấy là phía đông nam Brasil.

Khi hiểu theo nghĩa rộng, họ này chứa khoảng 713 loài. Xem phân loại dưới đây.

Công viên lịch sử quốc gia Chaco

Nằm tại tiểu bang New Mexico, Công viên lịch sử bao gồm các di tích tại hẻm núi Chaco, một số khu khảo cổ và tàn tích của người Aztec. Hẻm núi Chaco là một trung tâm của nền văn hóa Pueblo trong khoảng thời gian từ năm 850 đến 1250. Là một đô thị cổ, kiến trúc ở hẻm Chaco được những người Anasazi Chaco xây dựng bao gồm những tòa nhà công cộng diễn ra các hoạt động thương mại, thực hiện nghi lễ, tôn giáo, chính trị và cả thiên văn học, giữa các khu vực được kết nối với nhau bởi những con đường giao thông được xây dựng một cách cẩn thận. Các công trình ở Chaco được xây dựng trong điều kiện khắc nghiệt ở Tây Nam Hoa Kỳ và giới hạn về tài nguyên thiên nhiên nên nó thể hiện giá trị đặc biệt của nền văn hóa Pueblo.

Công viên lịch sử quốc gia Chaco được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 1987 nhờ thành tựu, kỹ thuật xây dựng của người Anasazi Chaco đã vượt lện trên sự khắc nghiệt để tạo thành một nền văn minh thống trị qua 4 thế kỷ ở Tây Nam Hoa Kỳ.

Echinocereeae

Pachycereeae là một tông gồm 15 chi xương rồng thuộc về phân họ Cactoideae. Chúng là loài bản địa của Trung Mỹ, Mexico, và Tây Nam Hoa Kỳ.

Grand Canyon

Grand Canyon hay Hẻm núi lớn là một khe núi dốc được tạo ra bởi sông Colorado ở tiểu bang Arizona của Hoa Kỳ. Grand Canyon nằm trọn gần như trong Vườn Quốc gia Grand Canyon – đây là một trong những vườn quốc gia đầu tiên được thành lập của Hoa Kỳ. Tổng thống Theodore Roosevelt đã chính là người đề xướng việc thành lập này và đã tham quan khu vực này nhiều lần để săn báo sư tử và rất thích cảnh quan ở đây.

Hẻm núi Grand Canyon bị sông Colorado cắt tạo nên một khe núi hàng triệu năm về trước, với đội dài 446 km, rộng 0,4 đến 24 km và sâu hơn 1600 m. Hơn 2 tỷ năm của lịch sử Trái đất đã được thể hiện nhờ sông Colorado cắt qua từng lớp đất một của Cao nguyên Colorado.

Theo các ghi chép thì người châu Âu đã phát hiện Grand Canyon năm 1540 bởi García López de Cárdenas từ Tây Ban Nha. Các cuộc thám hiểm khoa học đầu tiên về Hẻm núi lớn này được chỉ huy bởi U.S. Major John Wesley Powell cuối những năm 1860. Powell đã gọi các lớp đá sừng sững ở khu vực này là " một cuốn sách vĩ đại". Trước đó rất lâu, khu vực này đã được Thổ dân châu Mỹ định cư và xây các cộng đồng trong thành của vực này.

Hemizonia

Hemizonia là một chi thực vật có hoa trong họ Cúc (Asteraceae).

Hoa Kỳ

Hoa Kỳ (tiếng Anh: United States - U.S) hay Mỹ (tiếng Anh: America) tên gọi đầy đủ là Hợp chúng quốc Hoa Kỳ hoặc Hợp chúng quốc Mỹ (tiếng Anh: United States of America - USA) là một nước cộng hòa lập hiến liên bang gồm 50 tiểu bang và 1 đặc khu liên bang. Quốc gia này nằm gần hoàn toàn trong Tây Bán cầu: 48 tiểu bang lục địa và thủ đô Washington, D.C., nằm giữa Bắc Mỹ, giáp Thái Bình Dương ở phía tây, Đại Tây Dương ở phía đông, Canada ở phía bắc, và México ở phía nam. Tiểu bang Alaska nằm trong vùng tây bắc của lục địa Bắc Mỹ, giáp với Canada ở phía đông. Tiểu bang Hawaii nằm giữa Thái Bình Dương. Hoa Kỳ cũng có 14 lãnh thổ hay còn được gọi là vùng quốc hải rải rác trong vùng biển Caribe và Thái Bình Dương.

Với 3,79 triệu dặm vuông (9.833.520 triệu km²) và 324,1 triệu dân (2018), Hoa Kỳ là quốc gia lớn thứ 3 hoặc thứ 4 về tổng diện tích (xem phần địa lý để biết thêm chi tiết) và thứ 3 về dân số trên thế giới. Hoa Kỳ là một trong những quốc gia đa dạng chủng tộc nhất trên thế giới, do kết quả của những cuộc di dân đến từ nhiều quốc gia khác trên thế giới. Nền kinh tế quốc dân của Hoa Kỳ lớn nhất trên thế giới và đứng thứ 2 thế giới (tính theo sức mua tương đương). Tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Mỹ được ước tính cho năm 2015 là trên 18,1 ngàn tỷ đô la (khoảng 23% tổng sản lượng thế giới dựa trên GDP danh nghĩa, và khoảng 16% theo sức mua tương đương). GDP bình quân đầu người của Hoa Kỳ là 56.421 đô la, đứng hạng 5 thế giới theo giá trị thực và hạng 10 theo sức mua tương đương.Quốc gia được thành lập ban đầu với 13 thuộc địa của Liên hiệp Anh nằm dọc theo bờ biển Đại Tây Dương. Sau khi tự tuyên bố trở thành các "tiểu quốc", cả 13 cựu thuộc địa này đã đưa ra tuyên ngôn độc lập vào ngày 4 tháng 7 năm 1776. Các tiểu bang nổi loạn đã đánh bại Đế quốc Anh trong Chiến tranh Cách mạng Mỹ, đây là cuộc chiến tranh thuộc địa giành độc lập đầu tiên thành công trong lịch sử. Hội nghị Liên bang quyết định sử dụng bản Hiến pháp Hoa Kỳ hiện tại vào ngày 17 tháng 9 năm 1787. Việc thông qua bản hiến pháp một năm sau đó đã biến các cựu thuộc địa thành một phần của một nước cộng hòa duy nhất. Đạo luật nhân quyền Hoa Kỳ gồm có mười tu chính án hiến pháp được thông qua năm 1791.

Theo tư tưởng Vận mệnh hiển nhiên, Hoa Kỳ đã bắt đầu cuộc mở rộng lãnh thổ mạnh mẽ trên khắp Bắc Mỹ trong thế kỷ XIX. Sự kiện này bao gồm việc tiêu diệt các dân tộc bản địa (Diệt chủng người da đỏ), đánh chiếm những lãnh thổ mới, và từng bước thành lập các tiểu bang mới. Nội chiến Hoa Kỳ kết thúc chế độ nô lệ tại Hoa Kỳ và ngăn ngừa sự chia xé quốc gia. Đến cuối thế kỷ XIX, Hoa Kỳ đã mở rộng đến Thái Bình Dương, và trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Chiến tranh Tây Ban Nha – Hoa Kỳ và Chiến tranh thế giới thứ nhất đã xác định vị thế cường quốc quân sự toàn cầu của Hoa Kỳ. Chiến tranh thế giới thứ hai đã xác định vị thế siêu cường toàn cầu của Hoa Kỳ, là quốc gia đầu tiên có vũ khí hạt nhân, và là một trong năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Là siêu cường duy nhất còn lại sau Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ được nhiều quốc gia nhìn nhận như là một thế lực quân sự, văn hóa, và kinh tế có ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới. Tuy nhiên, xã hội Hoa Kỳ cũng đang tồn tại những vấn đề nan giải khó giải quyết (chênh lệch giàu nghèo cao, nạn xả súng bừa bãi, nạn phân biệt chủng tộc, tỷ lệ tội phạm cao, chi phí y tế đắt đỏ...).

Hoang mạc Mojave

Về một bộ lạc người bản thổ Mỹ, xem Mohave.Hoang mạc Mojave, người địa phương thường gọi là High Desert (có nghĩa là Hoang mạc trên cao), chiếm một phần lớn vùng đông nam California và những phần nhỏ hơn của trung California, nam Nevada, và tây bắc Arizona ở Hoa Kỳ. Nó được đặt tên của bộ lạc Mohave, một bộ lạc người bản thổ Mỹ và trải rộng trên một diện tích trên 22.000 dặm vuông Anh (57.000 km2) trong một địa hình gồm lòng chảo và dãy núi.

Các ranh giới của Hoang mạc Mojave về tổng thể được xác định bởi sự hiện diện của loài cây Joshua (thuộc nhóm xương rồng)— chúng được xem là một loài cây đặc điểm của vùng hoang mạc này. Các ranh giới địa hình gồm có dãy núi Tehachapi cùng với dãy núi San Gabriel và dãy núi San Bernardino. Các ranh giới núi khá rõ rệt vì chúng là nơi gặp nhau của hai vết gãy lớn nhất tại California: vết nứt San Andreas và vết nứt Garlock. Thảo nguyên Đại Bồn địa nằm về phía bắc; Hoang mạc Sonoran ấm hơn nằm về phía nam và phía đông. Người ta tin rằng Hoang mạc này có chứa từ 1.750 đến 2.000 loài thực vật.

Họ Toại thể mộc

Họ Toại thể mộc (danh pháp khoa học: Crossosomataceae) là một họ thực vật nhỏ, bao gồm 3 chi chứa 8-10 loài cây bụi, chỉ sinh sống ở các vùng khô cằn ở tây nam Hoa Kỳ và México. Chúng có các lá đơn nhỏ sớm rụng, mọc so le hay mọc đối (chi Apacheria). Cụm hoa đơn độc, mọc ở đầu cành hay nách lá, có kích thước trung bình và cân xứng. Quả không chứa nhiều cùi thịt.

New Mexico

New Mexico (phiên âm: Niu Mê-hi-cô, tiếng Tây Ban Nha: Nuevo México [ˈnweβo ˈmexiko]; tiếng Navajo: Yootó Hahoodzo [jò:txó hàhò:tsò]) là một tiểu bang tọa lạc ở vùng Tây Nam Hoa Kỳ. New Mexico trở thành bang thứ 47 vào ngày 6 tháng 1 năm 1912. Nó thường được xem là một tiểu bang miền Núi. New Mexico có diện tích lớn thứ năm, dân số lớn thứ 36, và mật độ dân số thấp thứ sáu trong 50 tiểu bang Hoa Kỳ.

Đã có người sinh sống từ hàng nghìn năm trước khi người châu Âu đến khai phá, New Mexico trở thành một phần của thuộc địa Tân Tây Ban Nha của đế quốc Tây Ban Nha năm 1598. Sau đó, nó là một phần của nước México độc lập trước khi trở thành một lãnh thổ Hoa Kỳ và cuối cùng thành một tiểu bang Hoa Kỳ do kết quả của cuộc Chiến tranh Hoa Kỳ-México. Trong các tiểu bang, New Mexico có tỉ lệ người Hispano cao nhất, gồm con cháu của thực dân Tây Ban Nha, những người đã sống ở đây hơn 400 năm. Nó cũng có tỉ lệ người bản địa cao thứ nhì sau Alaska, và có tổng số người bản địa cao thứ tư sau California, Oklahoma, và Arizona. Đa số người bản địa thuộc các dân tộc Navajo, Pueblo, và Apache. Nền văn hóa tiểu bang được định hình qua các ảnh hưởng Hispano và người bản địa này và được thể hiện qua bang kỳ. Màu đỏ và vàng được lấy từ hoàng kỳ Tây Ban Nha, với biểu tượng mặt trời cổ xưa của người Zia.Có một niềm tin sai lầm rằng New Mexico, hay Nuevo México trong tiếng Tây Ban Nha, lấy tên theo quốc gia México. Tuy nhiên, khi người Tây Ban Nha khai phá New Mexico năm 1563, và lần nữa năm 1581, họ tin rằng nó cũng có nền văn hóa Mexica tương tự của Đế quốc Aztec. Cái tên này đơn giản là được chấp nhận, dù tiểu bang không có liên hệ gì với các bộ tộc tại México.

Ngữ hệ Ute-Aztec

Ngữ hệ Ute-Aztec hay Ngữ hệ Ute-Aztek là một ngữ hệ bản địa châu Mỹ gồm hơn 30 ngôn ngữ. Các ngôn ngữ Ute-Aztec hiện diện tại Tây Hoa Kỳ và Mexico. Tên của ngữ hệ này là sự kết hợp giữa tiếng Ute tại Utah và các ngôn ngữ Aztec tại Mexico.

Ute-Aztec là một trong những ngữ hệ lớn nhất châu Mỹ về số người nói, số ngôn ngữ, và phạm vi phân bố địa lý. Ngôn ngữ nằm xa nhất về phía bắc trong hệ là tiếng Shoshone, được nói tại Salmon, Idaho, còn xa nhất về phía nam là tiếng Pipil tại El Salvador. Ethnologue cho rằng tổng số ngôn ngữ trong hệ là 61, và tổng số người nói là 1.900.412. Trong đó, người nói tiếng Nahuatl chiếm gần bốn phần năm (78,9%).

Có thể chia Ute-Aztec ra làm hai nhánh: nhánh bắc gồm các ngôn ngữ tại Hoa Kỳ và nhánh nam gồm các ngôn ngữ tại Mexico, dù có thể xem đây là một cách phân loại mang tính địa lý.

Nơi bắt nguồn của hệ nhiều khả năng là Tây Nam Hoa Kỳ-Tây Bắc México. Đề xuất cho rằng hệ này xuất phát từ Nam México, trong vùng ngôn ngữ Trung Bộ châu Mỹ, nhận nhiều ý kiến trái chiều từ các học giả.

San Antonio

San Antonio là thành phố lớn thứ hai của tiểu bang Texas và là thành phố lớn thứ 7 ở Hoa Kỳ. Nằm trên vùng phía bắc của miền Nam Texas, thành phố này là một cửa ngõ văn hóa vào vùng Tây Nam Hoa Kỳ. San Antonio là quận lỵ của Quận Bexar với một dân số 1,2 triệu người theo điều tra dân số của Cục điều tra dân số Hoa Kỳ năm 2006. Vùng đô thị có dân số 1,9 triệu và là vùng đô thị lớn thứ 29 ở Hoa Kỳ.

San Antonio được đặt tên theo một vị thánh người Bồ Đào Nha là Thánh Antôn thành Padova, có ngày hội vào thời điểm (13 tháng 6) một đoàn thám hiểm Tây Ban Nha dừng lại ở khu vực này vào năm 1691. Thành phố là nơi có nhiều đơn vị quân đội đóng quân, ở đây có Fort Sam Houston, Căn cứ không quân Lackland, Căn cứ không quân Randolph, và Căn cứ thành phố Brooks, với Trại Bullis và Trại Stanley ngay bên ngoài thành phố. San Antonio có Trung tâm Y tế Nam Texas, là trung tâm nghiên cứu y tế và chăm sóc sức khỏe lớn nhất và duy nhất ở vùng Nam Texas.

Thành phố này nổi thiếng với River Walk, Alamo, văn hóa Tejano, các công viên giải trí SeaWorld San Antonio, Six Flags Fiesta Texas, thành phố thu hút 20 triệu khách thăm qua mỗi năm. San Antonio cũng là nơi có bảo tàng nghệ thuật hiện đại đầu tiên ở Texas—Bảo tàng Nghệ thuật Marion Koogler McNay, cũng như có một trong những đội Hiệu hội bóng rổ quốc gia thành công nhất trong lịch sử của liên đoàn, đó là San Antonio Spurs.

San Diego

San Diego là một thành phố duyên hải miền nam tiểu bang California, góc tây nam Hoa Kỳ lục địa, phía bắc biên giới México. Thành phố này là quận lỵ của Quận San Diego và là trung tâm kinh tế vùng đô thị San Diego—Carlsbad—San Marcos. Tính đến năm 2010 Thành phố San Diego có 1,301,617 người. San Diego là thành phố lớn thứ nhì trong tiểu bang California (sau thành phố Los Angeles), và lớn thứ tám tại Hoa Kỳ.

Sauromalus

Sauromalus là chi gồm các loài thằn lằn lớn trong họ Cự đà, được tìm thấy chủ yếu trong các vùng khô hạn của tây nam Hoa Kỳ và bắc México. Một vài loài được tìm thấy trên các đảo ven bờ. Chi này có 5 loài.

4 Vùng
Đông Bắc
Trung Tây
Nam
Tây
Vùng khác

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.