Tây Hoa Kỳ

Tây Hoa Kỳ (tiếng Anh: Western United States, thường được gọi là American West hay đơn giản là "the West"), theo truyền thống là vùng bao gồm các tiểu bang cận tây nhất của Hoa Kỳ. Vì Hoa Kỳ bành trướng về phía tây sau khi thành lập nên ý nghĩa về Miền Tây hay Miền Viễn Tây cứ thay đổi theo thời gian. Trước năm 1800, sống lưng của Dãy núi Appalachian được xem là biên cương phía tây của Hoa Kỳ. Kể từ đó, biên cương di chuyển xa hơn về hướng tây và rồi sau đó Sông Mississippi được dùng làm mốc biên cương cận đông nhất của miền Tây.

Trong thế kỷ 21, các tiểu bang nằm trong Rặng Thạch Sơnvùng cao nguyên thuộc Đại Bình nguyên cho đến Tây Duyên hải thường được xem là tạo nên American West. Denver, Colorado đôi khi được xem là phần đất trải rộng thuộc phía đông của miền Tây như trong phim Dumb and Dumber bắt đầu với miền Trung Tây ngay phía đông của Aurora, Colorado nơi mà Đại Bình nguyên Hoa Kỳ bắt đầu.

Ngoài việc được định hình theo vị trí địa lý, "miền Tây" cũng có ý nghĩa theo nhân chủng học. Trong lúc miền này có sự đa dạng riêng bên trong của chính nó nhưng tổng quan vùng này có cùng một lịch sử, văn hoá (âm nhạc, ẩm thực), quan điểm về thế giới, lối suy nghĩ và giọng Anh gần như tương đồng. Tuy nhiên, một vài tiểu vùng và tiểu bang như Utah và miền nam California có một số điều khác biệt với phần còn lại của miền Tây.

"Miền Tây" đã và đang đóng một vai trò quan trọng trọng trong lịch sử Hoa Kỳ; Cựu miền Tây hay Old West được lồng vào trong các chuyện đời xưa của người Mỹ.

US map-West
Các định nghĩa về vùng thì phức tạp từ nguồn này sang nguồn khác. Các tiểu bang đỏ đậm thường được tính vào vùng này trong lúc tất cả hay một phần các tiểu bang sọc có thể hoặc không có thể được tính vào. Theo Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ ấn định, miền Tây Hoa Kỳ gồm có 13 tiểu bang: Alaska, Arizona, California, Colorado, Hawaii, Idaho, Montana, Nevada, New Mexico, Oregon, Utah, Washington, và Wyoming.

Địa lý

Gateway arch
Cung Cổng vàoSt. Louis, cũng còn được biết là "Cổng vào miền Tây", kỷ niệm việc mở rộng Hoa Kỳ về phía tây.

Trong ý nghĩa rộng lớn nhất, miền Tây Hoa Kỳ là vùng rộng lớn nhất bao phủ hơn phân nửa diện tích đất của Hoa Kỳ. Nó cũng là nơi đa dạng về địa lý nhất, kết hợp các vùng địa lý như Duyên hải Thái Bình Dương, những khu rừng mưa nhiệt đới ôn hoà của Tây Bắc, Rặng Thạch Sơn, Đại Bình nguyên, phần lớn vùng đồng cỏ cao trải dài về phía đông đến tận Tây Wisconsin, Illinois, tây cao nguyên Ozark, các phần phía tây của những khu rừng phía nam, Duyên hải Vịnh Mexico và tất cả các vùng hoang mạc nằm trong Hoa Kỳ (các hoang mạc Mojave, Sonoran, Đại Bồn địa và Chihuahua).

Vùng này bao phủ một phần Vùng đất mua Louisiana, phần lớn vùng đất của Vương quốc Anh nhượng lại vào năm 1818, một số phần đất lấy được khi Cộng hoà Texas gia nhập vào Hoa Kỳ, tất cả các vùng đất Vương quốc Anh nhượng lại vào năm 1846, tất cả những vùng đất México nhương lại vào năm 1848 và tất cả phần đất của Vùng đất mua Gadsden.

ArizonaNew Mexico luôn được xem là thuộc Tây Nam trong khi những phần đất của California, Colorado, Nevada, Oklahoma, Texas, và Utah đôi khi được xem là phần đất của Tây Nam trong khi đó tất cả hoặc một phần của Idaho, Montana, Oregon, Washington, và Wyoming có thể được xem là thuộc Tây Bắc. Gần như vậy gồm một phần hay tất cả các tiểu bang vừa nói (Tây Bắc), trừ Wyoming và phần phía đông của hai tiểu bang MontanaIdaho, và cộng thêm tỉnh bang của CanadaBritish Columbia hợp thành Tây Bắc Thái Bình Dương.

Miền Tây có thể được chia thành thứ nhất các tiểu bang Thái Bình Dương: Alaska, California, Hawaii, Oregon, và Washington với thuật ngữ Tây Duyên hải thường hạn chế chỉ kể đến California, Oregon, và Washington và thứ hai là Các tiểu bang miền Núi luôn là Arizona, Colorado, Idaho, Montana, Nevada, New Mexico, Utah, và Wyoming. Alaska và Hawaii bị tách ra khỏi những tiểu bang miền Tây khác vì có ít tương đồng với các tiểu bang đó nhưng luôn luôn được xếp vào danh sách miền Tây Hoa Kỳ. Tây Texas nằm trong Hoang mạc Chihuahuan trong lịch sử cũng thường được xem là thuộc miền Tây Hoa Kỳ.

Một số tiểu bang miền Tây được xếp vào các vùng của các tiểu bang miền đông. Kansas, Nebraska, Bắc và Nam Dakota thường được tính vào miền Trung Tây mà cũng bao gồm các tiểu bang như Iowa, IllinoisWisconsin.

Hiếm khi có một tiểu bang nằm ở phía đông Sông Mississippi được xem là thuộc miền Tây hiện đại. Tuy nhiên trong lịch sử, Lãnh thổ Tây Bắc là một lãnh thổ xưa quan trọng của Hoa Kỳ, bao gồm các tiểu bang hiện đại là Ohio, Indiana, Illinois, MichiganWisconsin cũng như phần phía đông bắc của Minnesota.

Thế kỷ hai mươi

Các đường biên giới ngăn cách có vẻ đã được xoá kể từ sau 1980.[1] Sự xuất hiện của các phương tiện như ô tô đã giúp tầng lớp trung lưu Hoa Kỳ tiếp cận miền Tây dễ dàng hơn. Thêm vào đó các thương gia miền Tây đã cải tạo và nâng cấp đường U.S. Route 66 cũng đã góp phần rất lớn trong việc mang khách du hành đến miền Tây. Vào những năm 50, nhờ sự xuất hiện của các công trình như Cowboy Hall of Fame và Western Heritage Center để góp phần quảng bá cho văn hóa miền Tây cũng như chào đón khách thập phương từ miền Đông đã tỏ ra có hiệu quả. Mặt khác trong suốt những năm sau của thế kỷ hai mươi, với sự xuất hiện của ngày càng nhiều các con đường "xuyên lục địa" đã càng góp phần mang miền Tây và miền Đông lại gần nhau hơn. Mặc dù vậy tình trạng vô chính phủ vẫn còn tồn tại trong thời gian này, đặc biệt ở những vùng giàu tài nguyên như dầu lửa hay các mỏ vàng tại TexasOklahoma vô hình trung đã đẩy những người khai hoang đi xa hơn nữa về phía tây. Trong thời gian này cũng đã có vài tác phẩm điện ảnh phỏng theo các quyển tiểu thuyết ba xu giúp cư dân vùng khác mường tượng về vùng đất giàu có này.

Mặc dù tình trạng phân biệt chủng tộc cũng như các cáo buộc về các hình thức lạm quyền của cảnh sát luôn diễn ra day dẳng đối với các sắc dân thiểu số vùng này do ở đây khá phức tạp về tình trạng nhập cư trái phép, thậm chí có thể dẫn đến bạo động sắc tộc, miền Tây vẫn luôn được người Mỹ biết đến như một vùng đất khá cởi mở, thân thiện và mến khách do bản thân là nơi có nhiều cư dân đa sắc tộc sinh sống nhất trên Hoa Kỳ.

Các trung tâm chính

Historic 25th Street

Ogden, Utah

Vùng thống kê kết hợp

Hạng
(Mỹ)
Vùng thống kê kết hợp Tiểu bang Dân số
(triệu)
2 Los Angeles–Long Beach–Riverside California 17,6
6 San Jose–San Francisco–Oakland
(San Francisco Bay Area)
California 7,2
12 Seattle–Tacoma–Bellevue
(Puget Sound Region)
Washington 3,8
14 Denver–Aurora–Boulder Colorado 2,9
19 Sacramento CA-NV 2,4
25 Las Vegas Nevada 1,9
34 Salt Lake City-Ogden-Clearfield Utah 1,6
42 Fresno-Madera, CA CSA California 1,0
70 Reno-Sparks-Fernley, NV CSA Nevada 0,5

Vùng thống kê đô thị

Hạng
(miền Tây)
Vùng thống kê đô thị Dân số
Tiểu bang
1 Los Angeles-Long Beach-Santa Ana 12.875.587 California
2 Phoenix-Mesa-Scottsdale 4.281.899 Arizona
3 San Francisco-Oakland-Fremont 4.157.377 California
4 Seattle-Tacoma-Bellevue 4.038.741 Washington
5 Riverside-San Bernardino-Ontario 4.026.135 California
6 San Diego 3.146.274 California
7 Denver-Aurora 2.301.116 Colorado
8 Las Vegas-Henderson-N. Las Vegas-Paradise 2.040.258 Nevada
9 Sacramento 1.974.810 California
10 San Jose-Sunnyvale-Santa Clara 1.734.721 California
11 Portland-Beaverton 1.576.541 Oregon
12 Salt Lake City 1.005.232 Utah
13 Tucson 946.362 Arizona
14 Honolulu 902.704 Hawaii
15 Fresno 850.325 California
16 Albuquerque 841.133 New Mexico
17 Oxnard-Thousand Oaks-Ventura 791.130 California
18 Bakersfield 713.087 California
19 Stockton 632.760 California
20 Colorado Springs 572.264 Colorado
21 Boise City-Nampa 510.876 Idaho
22 Modesto 492.233 California
23 Ogden-Clearfield 468.942 Utah
24 Santa Rosa-Petaluma 466.725 California
25 Spokane 431.027 Washington
26 Salinas 414.449 California
27 Vallejo-Fairfield 412.336 California
29 Provo-Orem 406,851 Utah
30 Santa Barbara-Santa Maria-Goleta 403.134 California
  • Thành phố El Paso, Texas, mặc dù thuộc một tiểu bang được xem là thuộc Nam Hoa Kỳ, luôn được xem là thuộc miền Tây Hoa Kỳ.

Tham khảo

  1. ^ Frederick Jackson Turner, The Significance of the Frontier in American History, 1920, ISBN 0-486-29167-7, Ch.1: "In a recent bulletin of the Superintendent of the Census for 1890 appear these significant words: "Up to and including 1880 the country had a frontier of settlement, but at present the unsettled area has been so broken into by isolated bodies of settlement that there can hardly be said to be a frontier line. In the discussion of its extent, its westward movement, etc., it can not, therefore, any longer have a place in the census reports." On-line version of the book]

Đọc thêm

  • Beck, Warren A., Haase, Ynez D.; Historical Atlas of the American West. University of Oklahoma Press, Oklahoma, 1989. ISBN 0-8061-2193-9
  • Lamar, Howard. The New Encyclopedia of the American West. Yale University Press, 1998. ISBN 0-300-07088-8
  • Milner II, Clyde A; O'Connor, Carol A.; Sandweiss, Martha A. The Oxford History of the American West. Oxford University Press; Reprint edition, 1996. ISBN 0-19-511212-1
  • Phillips, Charles; Axlerod, Alan; editor. The Encyclopedia of the American West. Simon & Schuster, New York, 1996. ISBN 0-02-897495-6
  • White, Richard. "It's Your Misfortune and None of My Own": A New History of the American West. University of Oklahoma Press; Reprint edition, 1993. ISBN 0-8061-2567-5

Liên kết ngoài

Angelina Jolie

Angelina Jolie (phát âm /dʒoʊˈliː/ joh-LEE-', nhũ danh: Voight; tên cũ: Angelina Jolie Pitt, sinh ngày 4 tháng 6 năm 1975) là một nữ diễn viên, nhà làm phim và nhà từ thiện nhân đạo người Mỹ. Trong sự nghiệp điện ảnh của mình, Jolie đã nhận một Giải Oscar, hai Giải thưởng của Hội Diễn viên Điện ảnh, ba Giải Quả cầu vàng và được công nhận là nữ diễn viên Hollywood có thu nhập cao nhất. Cô tham gia bộ phim đầu tiên cùng cha ruột của mình là diễn viên Jon Voight khi còn nhỏ trong Lookin' to Get Out (1982). Cô bắt đầu sự nghiệp diễn xuất hơn một thập kỷ sau với bộ phim kinh phí thấp Cyborg 2 (1993) và vai chính trong Hackers (1995). Cô tham gia các phim đánh giá cao như George Wallace (1997), Gia (1998) và nhận Giải Oscar cho nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất với bộ phim Girl, Interrupted (1999).

Jolie trở thành một trong những diễn viên nổi tiếng của Hollywood với vai nữ anh hùng Lara Croft thuộc dòng trò chơi mô phỏng Lara Croft: Tomb Raider (2001). Cô tiếp tục tham gia những bộ phim hài kịch hành động thành công như Ông bà Smith (2005), Wanted (2008) và Salt (2010). Cô nhận các đánh giá tích cực qua diễn xuất trong phim chính kịch Trái tim quả cảm (2007) và Changeling (2008), mang về một đề cử Giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất. Đầu thập niên 2010, cô bắt tay làm đạo diễn và sản xuất các bộ phim chính kịch chiến tranh như In the Land of Blood and Honey (2011) và Unbroken (2014). Phim giả tưởng Maleficent (2014) mang về cho cô thành công thương mại lớn nhất trong sự nghiệp.

Ngoài công việc là một diễn viên, Jolie còn tham gia nhiều hoạt động nhân đạo, đáng chú ý là công việc của cô với người tị nạn với tư cách là Đại sứ thiện chí của Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn. Đối với công chúng, cô được mô tả là một trong những người quyền lực và có nhiều ảnh hưởng nhất đến ngành công nghiệp, cũng như là người phụ nữ hấp dẫn nhất, theo các cơ quan truyền thông. Sau khi ly hôn với Jonny Lee Miller và Billy Bob Thornton, Jolie ly hôn với người chồng thứ ba, diễn viên Brad Pitt vào tháng 9 năm 2016. Cả hai có tổng cộng 6 người con, với 3 trong số đó là con nuôi.

Bờ Tây Hoa Kỳ

Bờ Tây Hoa Kỳ, bờ Tây nước Mỹ hay Tây Duyên hải Hoa Kỳ (tiếng Anh: West Coast of the United States hay "West Coast", "Western Seaboard", "Pacific Coastline") là thuật ngữ chỉ các tiểu bang duyên hải cận tây nhất của Hoa Kỳ. Thông thường nhất là chỉ California, Oregon và Washington, và Alaska. Hai tiểu bang Arizona và Nevada, trong khi không phải là các tiểu bang duyên hải, thường được tính vào vì sự tương tự của chúng đối với Duyên hải Thái Bình Dương cũng như nền kinh tế và văn hoá của chúng có liên hệ mật thiết với California (Ví dụ như hai đại học lớn nhất của Arizona là thành viên của "Pacific-10 Conference" (Nhóm thể thao gồm 10 đại học Thái Bình Dương).

Mặc dù không thuộc Hoa Kỳ Lục địa, Hawaii có ranh giới với Thái Bình Dương và có thể được tính vào "Tây Duyên hải". Tính đến năm 2007, dân số tổng cộng của Tây Duyên hải khoảng từ 50–60 triệu, tuỳ thuộc vào tiểu bang nào được tính chung vào ước tính dân số.Tây Duyên hải đôi khi được đơn giản gọi là "the Coast" (duyên hải), một thuật từ củ được cho rằng đã từng xuất hiện ở vùng Đông Bắc Hoa Kỳ. Dựa vào sự nổi bật của vùng này về chính trị có tính tả khuynh hơn một số vùng khác của Hoa Kỳ nên thuật từ "Left Coast" (Duyên hải tả khuynh) đôi khi được dùng để chỉ vùng này.

Các thành phố duyên hải chính nằm trên Tây Duyên hải gồm có Los Angeles, California, San Diego, California, San Francisco, California, Seattle, Washington, Anchorage, Alaska, Honolulu, Hawaii, và Long Beach, California. Các thành phố lớn không nằm trên duyên hải gồm có Phoenix, Arizona; San Jose, California; Las Vegas, Nevada; Portland, Oregon; Sacramento, California; Fresno, California; Tucson, Arizona; và Oakland, California.

Lịch sử Tây Duyên hải Hoa Kỳ gồm có: con người đầu tiên đến vùng này khoảng 10 ngàn năm trước đây và sự hiện diện của người định cư, thám hiểm thuộc các nước Tây Ban Nha, Anh, México, Nga và Mỹ.

Chiến dịch Guadalcanal

Chiến dịch Guadalcanal, còn gọi là Trận Guadalcanal, và tên mã của Đồng Minh là Chiến dịch Watchtower, diễn ra từ ngày 7 tháng 8 năm 1942 đến ngày 9 tháng 2 năm 1943 trên đảo Guadalcanal và khu vực phụ cận tại quần đảo Solomon của Mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Việc tranh chấp diễn ra ác liệt cả trên bộ, trên biển và trên không; chiến dịch này là cuộc tấn công lớn đầu tiên của phe Đồng Minh chống lại Đế quốc Nhật Bản sau một thời gian dài phòng thủ.Vào ngày 7 tháng 8 năm 1942, lực lượng Đồng Minh, chủ yếu là Mỹ, thực hiện đổ bộ lên các đảo Guadalcanal, Tulagi, và Florida (Nggela Sule) phía Nam quần đảo Solomon với mục tiêu ngăn chặn quân Nhật sử dụng chúng làm căn cứ đe dọa con đường vận chuyển từ Mỹ đến Australia và New Zealand. Đồng Minh còn định sử dụng Guadalcanal và Tulagi như những căn cứ hỗ trợ cho chiến dịch chiếm đóng hoặc vô hiệu hóa căn cứ chủ lực của Nhật tại Rabaul trên đảo New Britain. Lực lượng Đồng Minh đã áp đảo số lượng quân Nhật phòng thủ nhỏ bé, vốn đã chiếm đóng các đảo này từ tháng 5 năm 1942, chiếm giữ Tulagi và Florida cùng một sân bay (sau này được đặt tên là Henderson) đang được xây dựng trên đảo Guadalcanal.

Bị bất ngờ bởi đòn tấn công của Đồng Minh, phía Nhật Bản từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1942 đã nhiều lần tìm cách chiếm lại sân bay Henderson. Ba trận chiến lớn trên bộ, năm trận hải chiến lớn, và các cuộc không chiến diễn ra liên tục hầu như hàng ngày, mà đỉnh điểm là trận Hải chiến Guadalcanal mang tính quyết định vào đầu tháng 11 năm 1942, trong đó nỗ lực cuối cùng nhằm tăng viện đủ số lượng binh lính để chiếm lại sân bay Henderson bị đánh bại. Sang tháng 12 năm 1942, phía Nhật từ bỏ mọi hy vọng tái chiếm Guadalcanal và triệt thoái các lực lượng còn lại vào ngày 7 tháng 2 năm 1943.

Chiến dịch Guadalcanal đánh dấu một chiến thắng chiến lược đáng kể nhờ phối hợp các binh chủng bởi lực lượng Đồng Minh đối với Nhật Bản tại mặt trận Thái Bình Dương. Quân Nhật đã đạt đến cao trào trong sự xâm chiếm của họ tại Thái Bình Dương, và Guadalcanal đánh dấu sự chuyển mình của Đồng Minh từ các chiến dịch phòng thủ sang tấn công chiến lược tại mặt trận này.

Chiến tranh Boshin

Chiến tranh Boshin (戊辰戦争 (Mậu Thìn chiến tranh), Boshin Sensō, nghĩa là Chiến tranh Mậu Thìn), chiến tranh Minh Trị Duy tân, là cuộc nội chiến ở Nhật Bản diễn ra từ 1868 đến 1869 giữa quân đội của Mạc phủ Tokugawa đang cầm quyền và những người muốn phục hồi quyền lực triều đình. Nguồn gốc cuộc chiến tranh là sự bất mãn trong tầng lớp quý tộc và samurai trẻ với quá trình mở cửa Nhật Bản cho người nước ngoài của Mạc phủ thập kỷ trước đó. Liên minh các samurai phía Nam và triều đình nắm được Thiên hoàng Minh Trị trẻ tuổi, chính ông sau này sẽ tuyên bố chấm dứt 250 năm chế độ Mạc phủ. Phong trào quân sự của quân triều đình và các đội du kích ở Edo (Giang Hộ) dẫn đến việc Tokugawa Keiki, Shōgun khi ấy, phát động một chiến dịch quân sự với mục đích chiếm lấy triều đình ở Kyōto. Tình hình quân sự nhanh chóng chuyển biến theo hướng có lợi cho quân triều đình, tuy nhỏ hơn nhưng được hiện đại hóa mạnh mẽ hơn, và sau hàng loạt trận đánh mà đỉnh cao là việc Keiki đích thân đầu hàng tại Edo. Dư đảng họ Tokugawa rút lui về phía bắc Honshū rồi sau đó là Hokkaidō, nơi họ thành lập nước Cộng hòa Ezo. Thất bại trong trận Hakodate khiến họ mất đi căn cứ địa cuối cùng và triều đình Thiên hoàng chính thức nắm quyền lực tuyệt đối trên toàn nước Nhật, hoàn thành giai đoạn quân sự trong cuộc Minh Trị Duy Tân.

Khoảng 120.000 lính đã được huy động trong cuộc chiến, và có khoảng 3.500 người chết. Cuối cùng, chiến thắng của quân triều đình không tiếp tục mục đích trục xuất người nước ngoài khỏi Nhật Bản mà thay vào đó thi hành những chính sách tiếp tục hiện đại hóa với mục tiêu cuối cùng là tái đàm phán những hiệp ước bất bình đẳng với các thế lực phương Tây. Nhờ sự bền bỉ của Saigō Takamori, một lãnh đạo nổi bật của lực lượng triều đình, những người trung thành với gia tộc Tokugawa ôn hòa dần, và nhiều cựu chỉ huy Mạc phủ sau này được giao các vị trí quan trọng dưới chế độ.

Chiến tranh Boshin chứng tỏ sự hiện đại hóa cao mà người Nhật đã đạt được 14 năm sau khi mở cửa với phương Tây, sự can thiệp mạnh mẽ của các quốc gia phương Tây (đặc biệt là Anh và Pháp) vào tình hình chính trị trong nước và việc thiết lập lại uy quyền của Hoàng gia. Càng về sau này, cuộc chiến ngày càng được người Nhật lãng mạn hóa, nhất là những người coi Minh Trị Duy Tân là một cuộc "cách mạng không đổ máu", bất chấp số thương vong. Người Nhật đã làm nhiều vở kịch, bộ phim về cuộc chiến này, và một số chi tiết của nó đã được kết hợp vào bộ phim Võ sĩ đạo cuối cùng (2003) của Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ

Hoa Kỳ (tiếng Anh: United States - U.S) hay Mỹ (tiếng Anh: America) tên gọi đầy đủ là Hợp chúng quốc Hoa Kỳ hoặc Hợp chúng quốc Mỹ (tiếng Anh: United States of America - USA) là một nước cộng hòa lập hiến liên bang gồm 50 tiểu bang và 1 đặc khu liên bang. Quốc gia này nằm gần hoàn toàn trong Tây Bán cầu: 48 tiểu bang lục địa và thủ đô Washington, D.C., nằm giữa Bắc Mỹ, giáp Thái Bình Dương ở phía tây, Đại Tây Dương ở phía đông, Canada ở phía bắc, và México ở phía nam. Tiểu bang Alaska nằm trong vùng tây bắc của lục địa Bắc Mỹ, giáp với Canada ở phía đông. Tiểu bang Hawaii nằm giữa Thái Bình Dương. Hoa Kỳ cũng có 14 lãnh thổ hay còn được gọi là vùng quốc hải rải rác trong vùng biển Caribe và Thái Bình Dương.

Với 3,79 triệu dặm vuông (9.833.520 triệu km²) và 324,1 triệu dân (2018), Hoa Kỳ là quốc gia lớn thứ 3 hoặc thứ 4 về tổng diện tích (xem phần địa lý để biết thêm chi tiết) và thứ 3 về dân số trên thế giới. Hoa Kỳ là một trong những quốc gia đa dạng chủng tộc nhất trên thế giới, do kết quả của những cuộc di dân đến từ nhiều quốc gia khác trên thế giới. Nền kinh tế quốc dân của Hoa Kỳ lớn nhất trên thế giới và đứng thứ 2 thế giới (tính theo sức mua tương đương). Tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Mỹ được ước tính cho năm 2015 là trên 18,1 ngàn tỷ đô la (khoảng 23% tổng sản lượng thế giới dựa trên GDP danh nghĩa, và khoảng 16% theo sức mua tương đương). GDP bình quân đầu người của Hoa Kỳ là 56.421 đô la, đứng hạng 5 thế giới theo giá trị thực và hạng 10 theo sức mua tương đương.Quốc gia được thành lập ban đầu với 13 thuộc địa của Liên hiệp Anh nằm dọc theo bờ biển Đại Tây Dương. Sau khi tự tuyên bố trở thành các "tiểu quốc", cả 13 cựu thuộc địa này đã đưa ra tuyên ngôn độc lập vào ngày 4 tháng 7 năm 1776. Các tiểu bang nổi loạn đã đánh bại Đế quốc Anh trong Chiến tranh Cách mạng Mỹ, đây là cuộc chiến tranh thuộc địa giành độc lập đầu tiên thành công trong lịch sử. Hội nghị Liên bang quyết định sử dụng bản Hiến pháp Hoa Kỳ hiện tại vào ngày 17 tháng 9 năm 1787. Việc thông qua bản hiến pháp một năm sau đó đã biến các cựu thuộc địa thành một phần của một nước cộng hòa duy nhất. Đạo luật nhân quyền Hoa Kỳ gồm có mười tu chính án hiến pháp được thông qua năm 1791.

Theo tư tưởng Vận mệnh hiển nhiên, Hoa Kỳ đã bắt đầu cuộc mở rộng lãnh thổ mạnh mẽ trên khắp Bắc Mỹ trong thế kỷ XIX. Sự kiện này bao gồm việc tiêu diệt các dân tộc bản địa (Diệt chủng người da đỏ), đánh chiếm những lãnh thổ mới, và từng bước thành lập các tiểu bang mới. Nội chiến Hoa Kỳ kết thúc chế độ nô lệ tại Hoa Kỳ và ngăn ngừa sự chia xé quốc gia. Đến cuối thế kỷ XIX, Hoa Kỳ đã mở rộng đến Thái Bình Dương, và trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Chiến tranh Tây Ban Nha – Hoa Kỳ và Chiến tranh thế giới thứ nhất đã xác định vị thế cường quốc quân sự toàn cầu của Hoa Kỳ. Chiến tranh thế giới thứ hai đã xác định vị thế siêu cường toàn cầu của Hoa Kỳ, là quốc gia đầu tiên có vũ khí hạt nhân, và là một trong năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Là siêu cường duy nhất còn lại sau Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ được nhiều quốc gia nhìn nhận như là một thế lực quân sự, văn hóa, và kinh tế có ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới. Tuy nhiên, xã hội Hoa Kỳ cũng đang tồn tại những vấn đề nan giải khó giải quyết (chênh lệch giàu nghèo cao, nạn xả súng bừa bãi, nạn phân biệt chủng tộc, tỷ lệ tội phạm cao, chi phí y tế đắt đỏ...).

Indiana

Indiana (phát âm như In-đi-a-na, hay giống In-đi-e-nơ trong tiếng Anh) là một tiểu bang ở miền Trung Tây Hoa Kỳ.

Iowa

Iowa (phát âm: Ai-ô-qua) là một tiểu bang thuộc miền Trung Tây Hoa Kỳ. Iowa giáp với Minnesota về phía bắc, Nebraska và Nam Dakota về phía tây, Missouri về phía nam, và Wisconsin và Illinois về phía đông. Nó có hai tên hiệu là "Tiểu bang Ngô cao" (The Tall Corn State) và "Tiểu bang Hawkeye" (The Hawkeye State) theo tên Black Hawk.Ðây là nơi sinh của Tổng thống Herbert Hoover (tại West Branch).

Kansas

Kansas (phát âm như là Ken-dợtx) là tiểu bang ở miền Trung Tây Hoa Kỳ. Tiểu bang này được đặt tên theo sông Kansas chảy qua tiểu bang, và tên của sông bắt nguồn từ tiếng Sioux Kansa có nghĩa là "dân tộc của gió nam". Kansas là trung tâm địa lý của đất liền Hoa Kỳ.

Michael Jackson

Michael Joseph Jackson (29 tháng 8 năm 1958 – 25 tháng 6 năm 2009) là một ca sĩ, nhạc sĩ, nhà sản xuất thu âm, vũ công và diễn viên người Mỹ. Ông được mệnh danh là "Vua nhạc pop" hay "Ông hoàng nhạc pop" (tiếng Anh: "King of pop"). Với những đóng góp không ngừng nghỉ của ông đối với ngành công nghiệp âm nhạc, khiêu vũ, thời trang cùng những biến động xung quanh cuộc sống cá nhân, Jackson đã trở thành một trong những cái tên phổ biến nhất nền văn hóa nghệ thuật toàn cầu trong hơn bốn thập kỷ qua.

Là người con thứ 8 trong gia đình nhà Jackson, ông bắt đầu sự nghiệp âm nhạc chuyên nghiệp từ năm lên 11 với vị trí thành viên út trong nhóm nhạc The Jackson 5 và khởi nghiệp đơn ca năm 1971. Trong những năm đầu của thập niên 80, Jackson được xem là nghệ sĩ giải trí thành công nhất. Các video ca nhạc của ông như "Beat It", "Billie Jean" và "Thriller" đã phá vỡ rào cản chủng tộc và nâng tầm giá trị của video ca nhạc như một hình thức nghệ thuật và công cụ [[quảng cáo♧♧. Sự phổ biến của những video này sau đó đã giúp kênh truyền hình âm nhạc non trẻ lúc bấy giờ là MTV trở nên nổi tiếng. Những video sau này như "Black or White" hay "Scream" tiếp tục khẳng định vị trí của ông trên MTV trong thập niên 1990, cũng như xây dựng danh tiếng như một nghệ sĩ lưu diễn đơn ca. Với những màn biểu diễn trên sân khấu hay trong video ca nhạc, Jackson giúp phổ biến nhiều màn vũ đạo phức tạp như robot hay moonwalk. Thêm vào đó, giọng ca và phong cách hát đặc biệt của ông cũng ảnh hưởng lớn tới nhiều thế hệ nghệ sĩ nhạc hip-hop, pop và R&B đương đại sau này.

Thriller phát hành năm 1982 là album bán chạy nhất mọi thời đại. Những album khác của Jackson, như: Off the Wall (1979), Bad (1987), Dangerous (1991) và HIStory (1995) cũng nằm trong số những đĩa nhạc bán chạy nhất thế giới. Là một trong số ít nghệ sĩ hai lần được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll, Jackson còn đạt nhiều thành tựu nổi bật khác như hàng loạt kỷ lục Guinness, 13 giải Grammy, 13 đĩa đơn quán quân trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 của Mỹ–nhiều hơn bất cứ nam ca sĩ đơn ca nào trong kỷ nguyên Hot 100 và trên 400 triệu album được tiêu thụ trên toàn thế giới. Jackson đã giành hàng trăm giải thưởng, khiến ông trở thành nghệ sĩ thu âm được trao thưởng nhiều nhất trong lịch sử âm nhạc đại chúng. Jackson là nghệ sĩ đầu tiên có một loạt các ca khúc nằm trong top 10 Billboard Hot 100 trong 5 thập kỷ khác nhau khi "Love Never Felt So Good" đạt vị trí thứ 9 vào ngày 21 tháng 5 năm 2014. Jackson thường xuyên tham gia các sự kiện tôn vinh chủ nghĩa nhân đạo của mình; vào năm 2000, sách kỷ lục Guinness công nhận ông đã ủng hộ hơn 39 tổ chức từ thiện, nhiều hơn bất cứ nghệ sĩ giải trí nào khác.Tuy nhiên, những vấn đề xung quanh đời tư, trong đó có sự thay đổi ngoại hình và lối cư xử, đã trở thành tâm điểm của dư luận và làm tổn hại tới hình ảnh của Jackson. Giữa thập niên 90, ông bị buộc tội xâm hại tình dục trẻ em, nhưng sau đó được tuyên trắng án vì không đủ chứng cứ. Năm 2005, một lần nữa Jackson phải hầu tòa vì lời cáo buộc tội danh tương tự; sau nhiều lần trì hoãn và xét xử rắc rối, Jackson được tuyên bố trắng án với tất cả các tội danh. Trong khi chuẩn bị cho hàng loạt buổi hòa nhạc đánh dấu sự trở lại mang tên This Is It, ông không may qua đời do cáo buộc nhiễm độc cấp tính propofol và benzodiazepine vào ngày 25 tháng 6 năm 2009, sau khi tim ngừng đập. Tòa Thượng thẩm Los Angles (Mỹ) liệt cái chết của Jackson là một vụ giết người và bác sĩ riêng của ông, Murray, bị kết tội ngộ sát. Cái chết của Jackson gây nên sự tiếc nuối trên toàn cầu và lễ tưởng niệm của ông được truyền hình trực tiếp công khai trên toàn thế giới. Forbes xếp Jackson là nhân vật nổi tiếng quá cố giàu có nhất, danh hiệu mà ông đã giữ vững suốt 6 năm liền, với thu nhập 115 triệu đô-la Mỹ.

Michigan

Michigan là một tiểu bang thuộc vùng Bắc-Đông Bắc của Hoa Kỳ, giáp Canada. Bang này được đặt tên theo hồ Michigan, vốn có xuất xứ từ tiếng Ojibwe là mishigami có nghĩa là "hồ nước lớn". Michigan là bang đông dân thứ 8 trong 50 bang của Mỹ. Thủ phủ của nó là Lansing, thành phố lớn nhất là Detroit. Michigan chính thức được sáp nhập vào liên bang vào ngày 26 tháng 1 năm 1837 và trở thành bang thứ 26 của Hoa Kỳ.

Missouri

Missouri (IPA: [məˈzʊri], /məˈzɝi/, /məˈzʊrə/, hay là /məˈzɝə/, được đặt tên theo tiếng bộ lạc Siouan nghĩa là "thành phố của nhiều tàu lớn", là một tiểu bang ở vùng trung tâm của Hoa Kỳ. Được xem bởi những người cư ngụ ở đó như là một tiểu bang vùng Trung Tây nhưng có rất nhiều ảnh hưởng văn hóa của miền nam. Tên hiệu của tiểu bang là Show-Me State. Sông Mississippi và sông Missouri là hai con sông lớn chảy qua tiểu bang này.

Ðây là nơi sinh của Tổng thống Harry S. Truman (tại Lamar).

North Dakota

North Dakota ( (); tiếng địa phương [ˌno̞ɹθ dəˈko̞ɾə]) là một tiểu bang Hoa Kỳ, xa nhất về phía bắc của các tiểu bang trong khu vực Đồng bằng Lớn thuộc Trung Tây Hoa Kỳ, mặc dù trong suốt thế kỉ 19 được xem như là một phần của miền tây hoang dã. Sông Missouri chảy qua phần phía tây của tiểu bang này, tạo thành hồ Sakakawea sau đập Garrison.

Trước đây là một phần của lãnh địa Dakota (đặt theo tên bộ tộc Dakota của dân bản địa châu Mỹ), Bắc Dakota trở thành một tiểu bang vào năm 1889.

San Francisco

San Francisco (), tên chính thức Thành phố và Quận San Francisco (tiếng Anh: City and County of San Francisco), là một trung tâm văn hóa và tài chính hàng đầu của Bắc California và vùng vịnh San Francisco.

Là quận-thành phố thống nhất duy nhất của tiểu bang California, San Francisco chiếm một diện tích khoảng 46,9 dặm vuông Anh (121 km2) trên đầu phía bắc của bán đảo San Francisco. Mật độ dân số của nó là khoảng 17.620 người trên một dặm vuông Anh (6.803 người trên một cây số vuông). Đây là thành phố lớn (dân số trên 200 ngàn người) có mật độ dân cư đông nhất trong tiểu bang California và là thành phố lớn có mật độ dân số đông thứ hai tại Hoa Kỳ, chỉ sau Thành phố New York. San Francisco là thành phố đông dân thứ tư tại California, sau Los Angeles, San Diego và San Jose, và đứng thứ 14 đông dân nhất tại Hoa Kỳ theo ước tính điều tra dân số năm 2012 là 825.863. Thành phố cũng là một trung tâm văn hóa và tài chính của vùng thống kê kết hợp San Jose-San Francisco-Oakland với tổng dân số 8,4 triệu dân.

San Francisco (tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là "Thánh Phanxicô") được thành lập ngày 29 tháng 6 năm 1776 khi những người thực dân từ Tây Ban Nha thiết lập một doanh trại quân sự tại Golden Gate và một hội truyền giáo được đặt tên là Thánh Phanxicô thành Assisi cách đó vài dặm Anh. Cơn sốt vàng California năm 1849 mang đến sự phát triển nhanh chóng cho thành phố và biến nó thành thành phố lớn nhất trên Tây Duyên hải Hoa Kỳ vào thời điểm đó. Vì sự phát triển dân số, San Francisco trở thành một quận-thành phố thống nhất vào năm 1856.

Sau khi ba phần tư thành phố bị tàn phá bởi trận cháy và động đất năm 1906, San Francisco nhanh chóng được tái xây dựng và tổ chức Hội chợ Quốc Panama-Thái Bình Dương chín năm sau đó. Trong thời Chiến tranh thế giới thứ hai, San Francisco là cảng đưa quân phục vụ Mặt trận Thái Bình Dương. Sau chiến tranh, binh sĩ phục vụ chiến tranh trở về, cuộc di dân khổng lồ, những tư tưởng và thái độ tự do cấp tiến cũng như nhiều nhân tố khác đã hội tựu tại đây và hình thành một hiện tượng xã hội "Summer of Love" và phong trào dân quyền của người đồng tính, biến thành phố San Francisco thành một trung tâm của chủ nghĩa vận động cho tự do cấp tiến tại Hoa Kỳ.

Ngày nay, San Francisco được xếp thứ 44 là điểm đến du lịch trên thế giới, và hạng sáu điểm đến du lịch tại Hoa Kỳ vào năm 2011. Thành phố nổi tiếng vì mùa hè mát mẻ, sương mù, đồi dốc trùng điệp, kiến trúc đa dạng, và những danh lam thắng cảnh trong đó có cầu Cổng Vàng, xe chạy bằng dây cáp, nhà tù xưa trên đảo Alcatraz, và khu Phố Tàu. Thành phố cũng là một trung tâm tài chính và ngân hàng chính yếu.

South Dakota

South Dakota ( (); tiếng địa phương: [ˌsɑʊθ dəˈko̞ɾə]) hay Nam Dakota là một trong năm mươi tiểu bang của nước Mỹ, nằm ở trung bắc Mỹ, phía bắc giáp North Dakota, nam giáp Nebraska, tây giáp Wyoming, đông giáp Missouri. South Dakota còn có một tên gọi khác là "tiểu bang Đỉnh Rushmore". Thủ đô của South Dakota là thành phố Pierre.

Trung Tây Hoa Kỳ

Trung tây Hoa Kỳ (tiếng Anh: Midwestern United States hay thường được nói tắt là Midwest) là một trong bốn vùng địa lý của Hoa Kỳ, được Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ chính thức công nhận. Thuật từ "Midwest" hay có nghĩa "trung tây" là một thuật từ sai nghĩa vì phần lớn vùng này nằm trong nữa phía đông của Hoa Kỳ..

Vùng này bao gồm 12 tiểu bang nằm ở giữa và phía bên trong đông bắc Hoa Kỳ: Illinois, Indiana, Iowa, Kansas, Michigan, Minnesota, Missouri, Nebraska, Bắc Dakota, Ohio, Nam Dakota, và Wisconsin. Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ ước tính dân số vùng vào năm 2006 là 66.217.736 người. Cả trung tâm địa lý của Hoa Kỳ Lục địa và trung tâm dân số của Hoa Kỳ là ở vùng Trung tây. Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ chia vùng này thành các tiểu bang Trung Đông Bắc (đặc biệt là các tiểu bang Ngũ Đại Hồ) và các tiểu bang Trung Tây Bắc.

Chicago là thành phố lớn nhất trong vùng, theo sau là Detroit và Indianapolis. Chicagoland là vùng đô thị lớn nhất, theo sau là Vùng đô thị Detroit, Minneapolis – Saint Paul, và Đại St. Louis. Sault Ste. Marie, Michigan là thành phố cổ nhất trong vùng, được thành lập bởi những người truyền giáo và thám hiểm Pháp vào năm 1668.

Thuật từ Midwest (Trung Tây) đã được sử dụng phổ thông trên 100 năm. Một thuật từ khác đôi khi được dùng để chỉ cùng vùng tương tự là "the heartland" (vùng đất trung tâm). Những thuật từ khác được dùng để chỉ vùng này nhưng không còn được sử dụng nữa còn gồm có "Northwest" (Tây Bắc) hay "Old Northwest" (Cựu Tây Bắc vì toàn bộ Hoa Kỳ lúc đó chỉ nằm bên duyên hải phía đông ngày nay) và "Mid-America" (Trung-Hoa Kỳ). Từ khi cuốn sách Middletown xuất hiện năm 1929, các nhà xã hội học thường hay dùng các thành phố Trung Tây như "đại diện đặc trưng" cho cả quốc gia. Vùng này có một tỉ lệ cao giữa dân số và công ăn việc làm (phần trăm số người có việc làm, tuổi ít nhất là 16) hơn vùng Đông Bắc, vùng miền Tây, vùng miền Nam, hay các tiểu bang vùng Vành đai Mặt trời.

Trận Trân Châu Cảng

Trận tấn công Trân Châu Cảng (hay Chiến dịch Hawaii và Chiến dịch AI của Hawaii, và như Chiến dịch Z, theo cách gọi của Bộ Tổng tư lệnh Đế quốc Nhật Bản) là một đòn tấn công quân sự bất ngờ được Không lực Hải quân Nhật Bản thực hiện nhằm vào căn cứ hải quân của Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng thuộc tiểu bang Hawaii vào sáng Chủ Nhật, ngày 7 tháng 12 năm 1941, dẫn đến việc Hoa Kỳ sau đó quyết định tham gia vào hoạt động quân sự trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Trận đánh này được trù tính sẽ ngăn ngừa và giữ chân Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ không can thiệp đến cuộc chiến mà Nhật Bản đang hoạch định nhằm xâm chiếm Đông Nam Á, chống lại Anh Quốc, Hà Lan và Hoa Kỳ. Cuộc tấn công bao gồm hai đợt không kích với tổng cộng 353 máy bay xuất phát từ 6 tàu sân bay Nhật Bản. Trận tấn công đã đánh chìm 4 thiết giáp hạm Hoa Kỳ (2 chiếc trong số đó sau này được vớt lên và đưa trở lại hoạt động), và gây hư hỏng cho 4 chiếc khác. Quân Nhật còn đánh chìm hoặc phá hoại 3 tàu tuần dương, 3 tàu khu trục và 1 tàu thả mìn, phá hủy 188 máy bay, gây tổn thất về nhân mạng là 2.402 người tử trận và 1.282 người khác bị thương. Các trạm phát điện, xưởng tàu, xưởng sửa chữa và các kho chứa nhiên liệu và ngư lôi, cùng các bến tàu dành cho tàu ngầm và tòa nhà sở chỉ huy (cũng là nơi đặt bộ phận tình báo) đã không bị đánh trúng. Nhật Bản thiệt hại ít nhất, chỉ mất 29 máy bay và 4 tàu ngầm mini, với 65 người thương vong.

Cuộc tấn công là một sự kiện lớn trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Nó đã diễn ra trước khi có bất cứ một lời tuyên chiến chính thức nào được đưa ra, cả trước khi phần cuối cùng trong một thông điệp gồm 14 phần được chuyển hoàn tất đến Bộ Ngoại giao ở Washington, D.C. Tòa Đại sứ Nhật Bản ở Washington đã được chỉ thị phải chuyển giao thông điệp này ngay trước thời điểm trù định cho cuộc tấn công ở Hawaii. Cuộc tấn công, và đặc biệt là bản chất "bất ngờ" của nó, là hai nhân tố khiến cho công chúng Hoa Kỳ thay đổi quan điểm từ những người theo chủ nghĩa biệt lập (Isolationism) như vào những năm giữa thập niên 1930 sang ủng hộ việc Hoa Kỳ tham chiến. Nhật Bản đã không đưa ra một lời tuyên chiến chính thức nào trước khi thình lình tấn công Trân Châu Cảng, trong khi hai quốc gia Hoa Kỳ và Nhật Bản vẫn còn đang trong giai đoạn đàm phán hoà bình, vì thế cuộc tấn công bất ngờ này bị dư luận quốc tế xem là đánh lén (sneak attack), và Tổng thống Franklin D. Roosevelt tuyên bố rằng ngày 7 tháng 12 năm 1941 "sẽ sống mãi trong sự ô nhục" ("A date which will live in infamy").

Tiếp theo Hoa Kỳ, Anh và các thuộc địa của Anh, chính phủ Hà Lan và một loạt các quốc gia Mỹ Latinh cũng tuyên chiến với Nhật. Về phía phe Trục, ngày 11 tháng 12, Đức Quốc xã và Ý cũng tuyên chiến với Hoa Kỳ lấy cớ là Hoa Kỳ đã phá vỡ "sự trung lập". Theo đó, România, Hungary, Bulgaria và Slovakia cũng tuyên chiến với Hoa Kỳ. Việc Đức nhanh chóng tuyên chiến với Hoa Kỳ mà không bị thúc ép bởi bất kỳ cam kết nào với Nhật Bản đã lập tức khiến Hoa Kỳ can dự vào Mặt trận châu Âu.

USS Missouri (BB-63)

USS Missouri (BB-63) (tên lóng "Mighty Mo" hay "Big Mo") là một thiết giáp hạm thuộc lớp Iowa của Hải quân Hoa Kỳ và là chiếc tàu chiến thứ tư của Hải quân Mỹ mang cái tên này nhằm tôn vinh tiểu bang Missouri. Missouri là chiếc thiết giáp hạm cuối cùng mà Hoa Kỳ chế tạo, và là địa điểm ký kết văn kiện đầu hàng vô điều kiện của Đế quốc Nhật Bản, chấm dứt Chiến tranh thế giới thứ hai.

Missouri được đặt hàng vào năm 1940 và được đưa vào hoạt động vào tháng 6 năm 1944. Tại Mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nó tham gia các trận đánh Iwo Jima và Okinawa cũng như nả đạn pháo xuống các hòn đảo chính quốc Nhật Bản. Sau Thế Chiến, Missouri tham gia chiến tranh Triều Tiên từ năm 1950 đến năm 1953. Nó được cho ngừng hoạt động vào năm 1955 và được đưa về hạm đội dự bị Hải quân Mỹ, nhưng sau đó được đưa trở lại hoạt động và được hiện đại hóa vào năm 1984 như một phần của kế hoạch 600 tàu chiến Hải quân thời Tổng thống Ronald Reagan, và đã tham gia chiến đấu năm 1991 trong cuộc chiến tranh Vùng Vịnh.

Missouri nhận được tổng cộng mười một ngôi sao chiến đấu cho các hoạt động trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh Vùng Vịnh, và cuối cùng được cho ngừng hoạt động vào ngày 31 tháng 3 năm 1992, nhưng vẫn được giữ lại trong Đăng bạ Hải quân cho đến khi tên nó được gạch bỏ vào tháng 1 năm 1995. Đến năm 1998 nó được trao tặng cho hiệp hội "USS Missouri Memorial Association" và trở thành một tàu bảo tàng tại Trân Châu Cảng, Hawaii.

Wisconsin

Wisconsin (tiếng Anh phát âm: /wɪsˈkɑːnsən/ ) là một tiểu bang miền Trung Tây của Hoa Kỳ. Nền kinh tế vùng đồng quê vốn dựa vào lông thú, sau đó là khai thác gỗ, trồng trọt, chăn nuôi bò. Việc công nghiệp hóa bắt đầu vào cuối thế kỉ 19 tại vùng đông nam, với Milwaukee là một trung tâm chính. Trong những thập kỉ gần đây những kỹ nghệ dịch vụ, đặc biệt là giáo dục và y khoa, đã phát triển khá mạnh.

Từ lúc thành lập tiểu bang, Wisconsin đã là một cộng đồng đa chủng. Người Mỹ là nhóm người đầu tiên di cư đến đây từ New York và New England. Họ thống trị trong ngành công nghiệp nặng, tài chính, chính trị và giáo dục. Sau đó, nhiều người Âu Châu kéo đến, trong đó có người Đức, phần lớn đến giữa năm 1850 và 1900, những người Scandinavia (đa số là Na Uy) và một số ít người Bỉ, Hà Lan, Thụy Sĩ, Phần Lan, Ái Nhĩ Lan và các sắc dân khác. Đến thế kỷ 20, rất nhiều người Ba Lan và con cháu của những người nô lệ kéo đến, phần lớn định cư tại Milwaukee.

Thủ phủ của bang hiện nay là thành phố Madison.

Đá phiến dầu

Đá phiến dầu là một loại đá trầm tích hạt mịn giàu chất hữu cơ và chứa một lượng lớn kerogen có thể chiết tách các loại hydrocacbon lỏng. Các nhà địa chất không xếp nó vào nhóm đá phiến sét, và hàm lượng kerogen cũng khác so với dầu thô. Kerogen đòi hỏi cần phải xử lý nhiều hơn để có thể sử dụng được so với dầu thô, các quá trình xử lý tốn nhiều chi phí so với sử dụng dầu thô cả về mặt tài chính và tác động môi trường. Sự tích tụ đá phiến dầu diễn ra trên khắp thế giới, đa số là ở Hoa Kỳ. Ước tính lượng tích tụ này trên toàn cầu đạt khoảng 2,8 đến 3,3 ngàn tỷ thùng (450×109 đến 520×109 m3) có thể thu hồi.Quá trình nhiệt phân hóa học có thể biến đổi kerogen trong đá phiến dầu thành dầu thô tổng hợp. Nung đá phiến dầu ở một nhiệt độ đủ cao sẽ tạo ra hơi, quá trình này có thể chưng cất để tạo ra dầu đá phiến giống dầu mỏ và khí đá phiến dầu có thể đốt được (khí đá phiến sét cũng được dùng để chỉ các khí xuất hiện tự nhiên trong đá phiến sét). Các ngành công nghiệp cũng có thể đốt trực tiếp đá phiến dầu như là một nguồn nhiên liệu cấp thấp để phát điện và sưởi ấm, và cũng có thể dùng nó như là nguyên liệu thô trong hóa học và sản xuất vật liệu xây dựng.Đá phiến dầu được chú ý đến như là một nguồn năng lượng khi mà giá dầu thô thông thường tăng cao và cũng là một lựa chọn đối với các khu vực phụ thuộc vào năng lượng cung cấp từ bên ngoài. Việc khai thác và xử lý đá phiến dầu liên quan đến các vấn đề môi trường như: sử dụng đất, chất thải, sử dụng nước, quản lý nước thải, phát thải khí nhà kính và ô nhiễm không khí. Estonia và Trung Quốc đã phát triển mạnh các ngành công nghiệp đá phiến dầu, bên cạnh đó Brazil, Đức, Israel và Nga cũng sử dụng đá phiến dầu.

4 Vùng
Đông Bắc
Trung Tây
Nam
Tây
Vùng khác

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.