Tây Bắc Thái Bình Dương

Tây Bắc Thái Bình Dương (Pacific Northwest, viết tắt PNW, hoặc PacNW) là khu vực nằm ở phía tây bắc Bắc Mỹ.

Các thành phố lớn nhất của khu vực là Vancouver, British Columbia; Seattle, Washington; và Portland, Oregon.

Theo nghĩa rộng, Tây Bắc Thái Bình Dương kéo dài từ đại dương đến Đường phân thuỷ Lục địa (Continental Divide) và bao gồm Washington, Oregon, và Idaho, một phần của British Columbia, và các phần liền kề thuộc Alaska, Montana, Lãnh thổ YukonCalifornia.[1]

Tại Mỹ, từ "Tây Bắc Thái Bình Dương" còn được dùng để chỉ hầu hết khu vực hành chính Tây Bắc Mỹ, bao gồm các tiểu bang của Mỹ nằm trong vùng Tây Bắc Thái Bình Dương, nhưng không tính các vùng của Canada.

PacNWComparison
Các định nghĩa khác nhau của Tây Bắc Thái Bình Dương.
Amanita aprica

Amanita aprica là một loài nấm trong họ Amanitaceae. Loài này được J.Lindgr. và Tulloss miêu tả khoa học lần đầu tiên năm 2005. Amanita aprica được tìm thấy ở vùng Tây Bắc Thái Bình Dương thuộc Bắc Mỹ, nơi chúng phát triển trong mối quan hệ cộng sinh với linh sam Douglas và thông.

Amanita augusta

Amanita augusta là một loài nấm tán trong chi Amanita, họ Amanitaceae và thuộc bộ Agaricales. Loài này được tìm thấy Tây Bắc Thái Bình Dương thuộc Bắc Mỹ. Tên khoa học cũ của loài là Amanita franchetti, tuy nhiên sau đó đã được đổi tên và được Bojantchev & R.M.Davis miêu tả chính thức vào năm 2013.

Amanita smithiana

Amanita smithiana là một loài nấm được tìm thấy trong đất rừng là kim (Abies, Tsuga, Pseudotsuga) và lá rộng (Alnus, Quercus) ở Tây Bắc THái Bình Dương của Bắc Mỹ. Nó mọc vào tháng 8 và 9.

Bão Cecil (1985)

Bão Cecil, được biết đến tại Philippines với tên gọi Áp thấp nhiệt đới Rubing, ở Việt Nam là Cơn bão số 8 năm 1985 là một xoáy thuận nhiệt đới rất mạnh đổ bộ vào khu vực Trung Trung Bộ của Việt Nam vào đêm ngày 15 rạng sáng ngày 16 tháng 10 năm 1985. Cecil được xem là cơn bão lớn nhất trong 100 năm qua từng tàn phá khu vực này, và nó đã gây ra thiệt hại hết sức nặng nề. Không chỉ ở Việt Nam, cơn bão cũng đã có những tác động nhỏ đến Philippines, Lào và Thái Lan; tuy nhiên với quy mô và mức độ nhỏ hơn.

Hình thành từ một vùng xoáy thấp ở khu vực đảo Caroline, hệ thống nhanh chóng di chuyển vào Biển Đông và mạnh lên thành bão Cecil, rồi trở thành một cơn bão mạnh cấp 3 (theo thang bão Saffir-Simpson) vào ngày 15 tháng 10 trên vùng biển Bình Trị Thiên - Nghĩa Bình. Đêm ngày 15 rạng sáng ngày 16 tháng 10, cơn bão đổ bộ và tàn phá dữ dội tỉnh Bình Trị Thiên, tâm bão quét qua thành phố Huế, làm 703 người thiệt mạng, hàng loạt công trình bị phá hủy, hàng nghìn héc ta hoa màu bị hư hại và thiệt hại ước tính khoảng ít nhất 65 triệu USD.

Cơn bão đã đi vào ký ức không thể phai nhòa của hàng triệu người dân sống và đã từng sống trên mảnh đất cố đô Huế. Sau cơn bão, Tổ chức Hội thảo và Phát triển Pháp đã thành lập một dự án phòng chống thiên tai và xây dựng nhà ở kiên cố cho người dân miền Trung Việt Nam và dự án này đã nhận được giải thưởng quốc tế về nhà ở của Liên Hiệp Quốc vào năm 2008. 28 năm sau ngày bão Cecil đổ bộ, lần lượt ngày 30 tháng 9 năm 2013 và 15 tháng 10 năm 2013, hai cơn bão Wutip và Nari cũng đã tàn phá dữ dội khu vực này.

Bão Cecil (1989)

Bão nhiệt đới dữ dội Cecil (Việt nam gọi là bão số 2) là một cơn bão thảm khốc đã gây lũ lụt tàn phá miền Trung Việt Nam trong hạ tuần tháng 5 năm 1989. Cơn bão phát triển từ một áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông trong ngày 22. Ban đầu hệ thống di chuyển theo hướng Bắc - Tây Bắc, mạnh dần lên và đạt cường độ tối đa với sức gió 70 dặm/giờ. Tuy nhiên, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC) đánh giá vận tốc gió của Cecil lớn hơn, đạt 85 dặm/giờ (140 km/giờ). Cơn bão đã đổ bộ lên địa điểm gần Hội An, Việt Nam vào cuối ngày 24 tháng 5 và suy yếu nhanh chóng trước khi tan trên địa phận Lào trong ngày 26.

Tại Việt Nam, những trận mưa lớn đi kèm cơn bão, với lượng lên tới hơn 510 mm ở một số khu vực, đã kích hoạt nên lũ lụt thảm khốc và chết chóc. Bên cạnh thiệt hại nghiêm trọng về người là tổn thất trên diện rộng đến ngành nông nghiệp và các công trình, với con số ước tính khoảng 300 tỉ đồng (71,1 triệu USD). Trong bối cảnh cơn bão, đã có một vài sự viện trợ từ quốc tế được gửi đến Việt Nam; dù vậy hầu hết các công đoạn cứu trợ cứu nạn, khắp phục hậu quả được tiến hành bởi chính quyền, các tổ chức địa phương, và Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.

Bão Dan (1989)

Bão Dan, được biết đến ở Philippines với tên gọi Bão Saling, hay Bão số 9 năm 1989 ở Việt Nam, là cơn bão thứ ba trong chuỗi xoáy thuận nhiệt đới tác động đến Philippines và Việt Nam trong tháng 10 năm 1989. Dan hình thành vào ngày 6 tháng 10, và nó di chuyển chủ yếu theo hướng Tây - Tây Bắc trong suốt quãng thời gian hoạt động. Sau khi vượt qua Luzon, cơn bão tiến vào Biển Đông và đạt đỉnh, với vận tốc gió duy trì 10 phút 140 km/giờ (85 dặm/giờ), vận tốc gió duy trì 1 phút 130 km/giờ (80 dặm/giờ), cùng áp suất khí quyển tối thiểu 960 mbar. Tiếp đó Dan đổ bộ vào khu vực Bắc Trung Bộ (phía Nam tỉnh Hà Tĩnh ngày nay) và tan khi di chuyển sâu vào trong đất liền. Cơn bão đi qua đã để lại những tổn thất nghiêm trọng. Tại Philippines, Dan khiến 58 người thiệt mạng và làm hàng trăm ngàn người mất nhà cửa; điện đã bị mất hầu khắp vùng Manila. Tại Việt Nam, gió mạnh và mưa lớn từ cơn bão cũng gây nên những thiệt hại to lớn về người và của. Hơn 500.000 ngôi nhà bị hư hại cùng 63 người đã thiệt mạng tại quốc gia này.

Bão Pabuk (2019)

Bão Pabuk - cơn bão đầu tiên của mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 2019, hay Bão số 1 tại Việt Nam, Đổ bộ vào Bán đảo Malay tháng 1, 2019. Đây cũng là cơn bão hình thành sớm nhất ở cả lưu vực Tây Bắc Thái Bình Dương và Bắc Ấn Độ Dương. Hình thành vào ngày cuối cùng của năm 2018, Pabuk vẫn tồn tại vào năm 2019, kéo dài hai năm theo lịch và vượt qua lưu vực Bắc Ấn Độ Dương vài ngày sau đó.

Bão Wutip (2013)

Bão Wuitp (tên của Cục quản lý Thiên văn, Địa vật lý và Khí quyển Philippines (PAGASA): Paolo, Việt Nam: Bão số 10) là một cơn bão rất mạnh hoạt động trên biển Đông và đổ bộ vào Trung Bộ cuối tháng 9 năm 2013. Hình thành từ một áp thấp nhiệt đới ở phía Đông Biển Đông vào ngày 25 tháng 9 năm 2013, Wutip nhanh chóng mạnh lên thành bão, rồi tiếp tục thăng cấp nhanh và trở thành cơn bão cuồng phong ngày hôm sau. Chiều 30 tháng 9, cơn bão đổ bộ vào các tỉnh Bắc Trung Bộ, tâm bão là tỉnh Quảng Bình, với sức gió mạnh cấp 11-12.

Bão Wutip được đánh giá có cường độ mạnh tương đương bão Xangsane năm 2006 từng tàn phá Đà Nẵng, khiến nhiều chuyên gia cho rằng nó làm đẩy lùi sự phát triển của thành phố này lại 10 năm. Đồng thời, Wutip cũng được cho là cơn bão có đường đi rất phức tạp, mạnh nhất ở khu vực Trung Bộ kể từ chính cơn bão Xangsane, di chuyển khá nhanh, mạnh lên thần tốc từ cấp 8 lên cấp 12, giật cấp 16-17. Wutip đã làm 65 người chết, gây thiệt hại lên đến 11 nghìn tỷ đồng (tương đương 523 triệu USD). Trong khi đó, ngày 29 tháng 9, 74 ngư dân Trung Quốc bị mất tích khi bão đánh chìm 3 tàu cá của ngư dân Trung Quốc, 14 người khác được cứu sống. Ngoài ra, cơn bão cũng có những tác động đến Lào, Thái Lan và trước đó là Philippines.

Tên gọi "Wutip" (蝴蝶) do Ma Cao đề xuất, âm Hán Việt là Hồ điệp, nghĩa là bướm ngày. Dù gây thiệt hại nặng song tên bão không bị khai tử và vẫn được sử dụng lại.

Bão số 8 năm 2013

Bão số 8 năm 2013 (theo cách gọi của Việt Nam, tên chỉ định của JTWC: Áp thấp nhiệt đới 18W) là một cơn bão nhiệt đới không chính thức hình thành ở Biển Đông vào ngày 16 tháng 9 năm 2013 và kết thúc vào ngày 21 tháng 9 năm 2013. Đây là một cơn bão chưa có tên quốc tế, hầu hết tất cả các đài khí tượng trong khu vực cho rằng nó là một áp thấp nhiệt đới, chưa phát tin bão về nó và chỉ duy nhất đài Việt Nam công nhận nó là một cơn bão và phát tin bão về nó.Đêm 18 tháng 9 năm 2013, bão số 8 suy yếu thành áp thấp nhiệt đới và đã đổ bộ vào đất liền các tỉnh từ Thừa Thiên-Huế đến Quảng Nam, cùng với một đợt mưa vừa, mưa to và đợt lũ cho các tỉnh miền Trung Việt Nam, từ Nghệ An đến Khánh Hòa và khu vực Bắc Tây Nguyên. Bão số 8 cùng với lũ đã làm 10 người chết, 12 người mất tích, 6 người bị thương, ước tính thiệt hại ở Việt Nam là gần 400 tỷ đồng (18,7 triệu USD). Lũ lụt tại Lào cũng đã làm hơn 10.000 căn nhà bị hư hỏng và tổng thiệt hại tại Lào ước tính là 61 triệu đô la Mỹ. Tàn dư cuối cùng của nó là ở Phetchabun, một tỉnh của Thái Lan và cũng gây ra lũ lụt tại khu vực phía bắc, trung, đông của nước này.

Danh sách mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương

Dưới đây là danh sách các Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương. Khu vực này giới hạn bởi kinh tuyến 100 và 180°Đ và nằm phía trên xích đạo.

Dãy núi Cascade

Dãy Cascade (tiếng Anh: Cascade Range hay Cascade Mountains) là một dãy núi kéo dài nằm đối diện với bờ biển phía tây của Bắc Mỹ, giữa tiểu bang California, Oregon, Washington của Mỹ và tỉnh British Columbia của Canada. Dãy núi là một phần của vành đai núi lửa Cascade trong đó ngọn núi lửa Rainier là đỉnh núi cao nhất với độ cao 4.392 mét so với mực nước biển, nằm ở vị trí nhìn ra thành phố Seattle và núi St. Helens, ngọn núi từng phun trào vào năm 1980. Vòng cung núi lửa này vẫn còn hoạt động, nó bắt đầu hình thành từ 36 triệu năm trước do sự hút chìm của mảng Juan de Fuca bên dưới mảng Bắc Mỹ. Sự đe dọa bởi hoạt động núi lửa vẫn còn nghiêm trọng.

Sông Columbia làm gián đoạn địa hình chính của dãy núi, cắt qua dãy núi từ đông sang tây, lưu vực của sông bao phủ một phần lớn các sườn dốc của Cascade. Hai phần của dãy bắc - nam ngăn cản sự xâm nhập của khí hậu đại dương nóng ẩm đến từ Thái Bình Dương. Do độ cao, lượng mưa lớn chuyển thành một lượng tuyết đáng kể, xảy ra như tại núi Baker, đây là khu vực băng hà lớn nhất ở Hoa Kỳ ngoài Alaska. Ở phía đông của dãy, lượng mưa thấp hơn nhiều, khí hậu đậm chất lục địa với khác biệt lớn hơn về nhiệt độ hàng ngày và theo mùa. Sự khác biệt này có thể được nhìn thấy ở thảm thực vật chủ yếu là rừng lá kim: linh sam Douglas và thông Tsuga heterophylla chiếm ưu thế ở phía tây dãy núi, nhưng thông Pinus ponderosa, thông Pinus contorta và thông Pinus contorta chiếm ưu thế ở phía đông, là những vùng đất khô cằn. Phần phía bắc của dãy, Bắc Cascade, lạnh hơn và có địa hình cao hơn, nơi đây có nhiều sông băng. Đây là vùng đất của các loài cây thông: tsuga mertensiana, abies alba và abies lasiocarpa. Hệ động vật rất đa dạng nhưng trong tình trạng bị đe dọa. Để bảo vệ đa dạng sinh học và tài nguyên thiên nhiên khu vực này, hầu hết dãy núi đã được bảo vệ, đặc biệt là ở bốn vườn quốc gia.

Dãy núi này đã có người sinh sống trong ít nhất 11.000 năm, những người Mỹ bản địa đã sáng tác ra nhiều thần thoại và truyền thuyết về ngọn núi lửa. Người châu Âu đã khám phá dãy núi vào cuối thế kỷ 18. Tên của nó bắt nguồn từ Cuộc thám hiểm của Lewis và Clark vào năm 1806, từ những ghềnh đá có vị trí nằm trong Hẻm núi sông Columbia. Các cuộc thám hiểm và hoạt động thương mại sau đó giữa Công ty Tây Bắc và Công ty Vịnh Hudson gia tăng. Chủ yếu là việc buôn bán lông thú sau đó được thay thế bằng mua bán gỗ. Nếu những cải tiến được thực hiện để giúp vượt qua dãy núi, thì dãy sẽ bị tàn phá phần lớn. Hoạt động leo núi ở giữa thế kỷ 19 và trượt tuyết vào đầu thế kỷ 20 cuối cùng dẫn đến lần đầu tiên con người leo lên đỉnh núi cao nhất. Trong thế kỷ 21, vẻ đẹp hoang dã của dãy núi Cascade khiến cho nó trở thành một điểm thu hút du lịch.

Inland Northwest

Inland Empire hay nghĩa trong tiếng Việt là Đế quốc nội địa là một vùng trong Tây Bắc Thái Bình Dương có trung tâm tại thành phố Spokane của tiểu bang Washington bao gồm phần lớn lưu vực sông Columbia xung quanh. Nó kéo dài vào trong miền bắc Idaho, đông bắc Oregon, và xa tận tây bắc Montana. Đôi khi nó còn được gọi là Inland Northwest.

Các quận sau đây nằm trong vùng Inland Empire:

Washington

các quận Adams, Asotin, Benton, Chelan, Columbia, Douglas, Ferry, Franklin, Garfield, Grant, Kittitas, Klickitat, Lincoln, Okanogan, Pend Oreille, Spokane, Stevens, Walla Walla, Whitman, và Yakima

Idaho

Benewah, Bonner, Boundary, Clearwater, Idaho, Kootenai, Latah, Lewis, Nez Perce, và Shoshone

Oregon

Wallowa, Umatilla, và Union

Montana

Lincoln, Mineral, Missoula, và SandersLần đầu tiên cái tên Inland Empire được nói đến là trong lần in đầu tiên nhật báo Spokane Falls Review, tiền thân của Spokesman-Review vào ngày 19 tháng 5 năm 1883:

Theo Cục điều tra dân số Hoa Kỳ, dân số ước tính đến năm 2004 của vùng là 1.913.682, bằng dân số của tiểu bang New Mexico.

Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 1974

Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 1974 không có giới hạn chính thức; nó diễn ra trong suốt năm 1974, nhưng hầu hết các xoáy thuận nhiệt đới có xu hướng hình thành trên Tây Bắc Thái Bình Dương trong khoảng giữa tháng 5 và tháng 11. Những thời điểm quy ước phân định khoảng thời gian tập trung hầu hết số lượng xoáy thuận nhiệt đới hình thành mỗi năm ở Tây Bắc Thái Bình Dương.

Phạm vi của bài viết này chỉ giới hạn ở Thái Bình Dương, khu vực nằm ở phía Bắc xích đạo và phía Tây đường đổi ngày quốc tế. Những cơn bão hình thành ở khu vực phía Đông đường đổi ngày quốc tế và phía Bắc xích đạo thuộc về Mùa bão Đông Bắc Thái Bình Dương 1974. Bão nhiệt đới hình thành ở toàn bộ khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương sẽ được đặt tên bởi Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp JTWC . Áp thấp nhiệt đới ở khu vực này sẽ có thêm hậu tố "W" phía sau số thứ tự của chúng. Áp thấp nhiệt đới trở lên hình thành hoặc đi vào khu vực mà Philippines theo dõi cũng sẽ được đặt tên bởi Cục quản lý Thiên văn, Địa vật lý và Khí quyển Philippines PAGASA . Đó là lý do khiến cho nhiều trường hợp, một cơn bão có hai tên gọi khác nhau.

Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 1989

Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 1989 không có giới hạn chính thức; nó diễn ra trong suốt năm 1989, nhưng hầu hết các xoáy thuận nhiệt đới có xu hướng hình thành trên Tây Bắc Thái Bình Dương trong khoảng giữa tháng 5 và tháng 11. Những thời điểm quy ước phân định khoảng thời gian tập trung hầu hết số lượng xoáy thuận nhiệt đới hình thành mỗi năm ở Tây Bắc Thái Bình Dương.

Phạm vi của bài viết này chỉ giới hạn ở Thái Bình Dương, khu vực nằm ở phía Bắc xích đạo và phía Tây đường đổi ngày quốc tế. Những cơn bão hình thành ở khu vực phía Đông đường đổi ngày quốc tế và phía Bắc xích đạo thuộc về Mùa bão Đông Bắc Thái Bình Dương 1989. Bão nhiệt đới hình thành ở toàn bộ khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương sẽ được đặt tên bởi Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp JTWC . Áp thấp nhiệt đới ở khu vực này sẽ có thêm hậu tố "W" phía sau số thứ tự của chúng. Áp thấp nhiệt đới trở lên hình thành hoặc đi vào khu vực mà Philippines theo dõi cũng sẽ được đặt tên bởi Cục quản lý Thiên văn, Địa vật lý và Khí quyển Philippines PAGASA . Đó là lý do khiến cho nhiều trường hợp, một cơn bão có hai tên gọi khác nhau.

Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 1990

Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 1990 không có giới hạn chính thức; nó diễn ra trong suốt năm 1990, nhưng hầu hết các xoáy thuận nhiệt đới có xu hướng hình thành trên Tây Bắc Thái Bình Dương trong khoảng giữa tháng 5 và tháng 11. Những thời điểm quy ước phân định khoảng thời gian tập trung hầu hết số lượng xoáy thuận nhiệt đới hình thành mỗi năm ở Tây Bắc Thái Bình Dương.

Phạm vi của bài viết này chỉ giới hạn ở Thái Bình Dương, khu vực nằm ở phía Bắc xích đạo và phía Tây đường đổi ngày quốc tế. Những cơn bão hình thành ở khu vực phía Đông đường đổi ngày quốc tế và phía Bắc xích đạo thuộc về Mùa bão Đông Bắc Thái Bình Dương 1990. Bão nhiệt đới hình thành ở toàn bộ khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương sẽ được đặt tên bởi Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp JTWC . Áp thấp nhiệt đới ở khu vực này sẽ có thêm hậu tố "W" phía sau số thứ tự của chúng. Áp thấp nhiệt đới trở lên hình thành hoặc đi vào khu vực mà Philippines theo dõi cũng sẽ được đặt tên bởi Cục quản lý Thiên văn, Địa vật lý và Khí quyển Philippines PAGASA . Đó là lý do khiến cho nhiều trường hợp, một cơn bão có hai tên gọi khác nhau.

Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 2014

Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 2014 là một sự kiện mà theo đó các xoáy thuận nhiệt đới hình thành ở vùng phía tây bắc của Thái Bình Dương. Mùa bão sẽ kéo dài trong suốt năm 2014 với phần lớn các cơn bão hình thành từ tháng 5 đến tháng 11. Bài viết này chỉ đề cập đến các cơn bão hình thành trong phạm vi của Thái Bình Dương ở Bắc Bán Cầu và từ kinh tuyến 100 đến 180 độ. Trong khu vực tây bắc Thái Bình Dương, có 2 cơ quan khí tượng hoạt động độc lập nhau, nên một cơn bão có thể có 2 tên gọi khác nhau. JMA sẽ đặt tên cho một cơn bão khi sức gió duy trì trong vòng 10 phút đạt ít nhất 65 km/h, (40 mph) bất kỳ nơi đây trong vùng đã đề cập trên. Trong Khi đó, PAGASA sẽ đặt tên cho một cơn bão khi nó hình thành từ một áp thấp nhiệt đới trong phạm vi giám sát của họ giữa 135°E và 115°E và giữa 5°N-25°N thậm chí JMA đã đặt tên cho nó. Các áp thấp nhiệt đới được JTWC theo dõi và đặt tên có ký tự "W" phía trước một con số.

Sông Columbia

Sông Columbia (còn được biết đến là Wimahl hay sông Big (sông lớn) đối với người Mỹ bản địa nói tiếng Chinook sống trên những khu vực thấp nhất gần dòng sông) là con sông lớn nhất vùng Tây Bắc Thái Bình Dương của Bắc Mỹ. Nó được đặt theo tên của Columbia Rediviva, con tàu đầu tiên từ thế giới phương tây được ghi nhận đã du hành lên dòng sông này. Dòng sông kéo dài từ tỉnh bang British Columbia của Canada đi qua tiểu bang Washington của Hoa Kỳ; hình thành phần lớn ranh giới giữa tiểu bang Washington và Oregon trước khi đổ ra Thái Bình Dương. Con sông dài 2.000 km (1.243 dặm Anh), và lưu vực nhận nước là 668.217 km² (258.000 dặm vuông).

Tính theo lưu lượng nước, sông Columbia là con sông lớn nhất chảy vào Thái Bình Dương từ Bắc Mỹ và là con sông lớn thứ tư tại Hoa Kỳ. Dòng nước mạnh của sông và độ cao đổ xuống lớn trên một đoạn đường tương đối ngắn làm cho nó có tiềm năng rất lớn để sản xuất điện năng. Sông Columbia là con sông sản xuất thủy điện lớn nhất Bắc Mỹ với 14 đập thủy điện tại Hoa Kỳ và Canada.

Sông Columbia và các sông nhánh của nó là nơi sinh sống của vô số các loại cá di cư giữa các sông nhánh nước ngọt nhỏ và Thái Bình Dương. Các loài cá này - đặc biệt là những loài thuộc nhiều nhóm cá hồi khác nhau - đã và đang là phần quan trọng của hệ sinh thái sông và kinh tế địa phương trong hàng ngàn năm qua.

Việc khai thác dòng sông để phục vụ con người và một số trường hợp ô nhiễm công nghiệp đã rất nhiều lần đi ngược với việc bảo tồn hệ sinh thái kể từ khi người Mỹ và người châu Âu bắt đầu đến định cư trong khu vực này trong thế kỷ 18. Việc "lợi dụng dòng sông" như trong văn hóa bình dân của thế kỷ 20 thường diễn tả bao gồm việc nạo vét đáy sông cho tàu thuyền lớn lưu thông, sản xuất năng lượng nguyên tử, nghiên cứu và chế tạo vũ khí nguyên tử, xây đập sản xuất thủy điện, tưới tiêu, hàng hải, và kiểm soát lụt lội.

Tây Bắc Hoa Kỳ

Vùng Tây Bắc Hoa Kỳ (Northwestern United States) là chỉ các tiểu bang miền tây bắc trên các vùng Đại Bình Nguyên tây bắc bao gồm các tiểu bang Oregon và Washington, đôi khi các tiểu bang Idaho, Montana, phía đông nam Alaska, và Wyoming được thêm vào. Cũng có lúc phần phía bắc của tiểu bang California cũng được xem là trong Vùng Tây Bắc.

Washington (tiểu bang)

Tiểu bang Washington (phát âm: Qua-sinh-tân) là một bang ở vùng Tây Bắc Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, phía bắc giáp với Canada, phía nam giáp với Oregon. Thủ phủ của tiểu bang là Olympia còn thành phố lớn nhất là Seattle. Bang lấy tên của George Washington, tổng thống đầu tiên của nước Mỹ. Tổng diện tích: 184.827 km², dân số: 7 triệu người (năm 2013), mật độ dân số: 39,6 người/km².

4 Vùng
Đông Bắc
Trung Tây
Nam
Tây
Vùng khác

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.