Stonehenge

51°10′44,85″B 1°49′34,13″T / 51,16667°B 1,81667°T

Stonehenge, Avebury và các di chỉ liên quan
UNESCO logo.svg Welterbe.svg
Di sản thế giới của UNESCO
Stonehenge, Salisbury retouched
Thông tin khái quát
Quốc giaFlag of the United Kingdom.svg Anh Quốc
KiểuVăn hóa
Tiêu chuẩni, ii, iii
Tham khảo373
Vùng UNESCOChâu Âu
Lịch sử công nhận
Công nhận1986 (kỳ họp thứ 10)

Stonehenge là một công trình tượng đài cự thạch thời kỳ đồ đá mớithời kỳ đồ đồng gần Amesbury ở Anh, thuộc hạt Wiltshire, 13 km về phía bắc Salisbury. Tọa độ địa lý 51°10′44,85″N, 1°49′35,13″W [1]. Công trình này bao gồm các công sự bằng đất bao quanh một vòng đá, là một trong những địa điểm tiền sử nổi tiếng thế giới. Các nhà khảo cổ cho rằng các cột đá này được dựng lên từ khoảng 2500-2000 trước Công nguyên dù các vòng đất xung quanh được xây dựng sớm hơn, khoảng 3100 năm trước Công nguyên.

Khu vực này và khu vực xung quanh đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới năm 1986.

Từ nguyên học

Từ điển tiếng Anh Oxford trích từ bảng chú giải thuật ngữ cổ của Elfric từ thế kỉ thứ 10, henge-cliff có nghĩa là "vách đứng", một hòn đá treo hoặc hỗ trợ, mặc dù Stanheng (không xa so với Salis bury) được công nhận bởi nhà văn từ thế kỉ 11 là "những hòn đá bổ sung". William Stukeley vào năm 1740 cho biết, "Những tảng đá rủ xuống bây giờ gọi là những khớp nối ở Yorshire...Tôi không nghi ngờ gì, Stonhenge ở Saxon có ý nghĩa là các hòn đá treo." Stonehenge Complete của Christopher Chippindale cho biết sự bắt nguồn của cái tên Stonehenge là từ một từ ngữ tiếng Anh cổ stān có nghĩa là "đá", và henge có nghĩa là "bản lề" (vì các thanh dầm cửa đá bản lề trên đá thẳng đứng) hoặc hen(c)en có nghĩa là "treo" hoặc "giá treo cổ" hoặc "nhạc cụ của tra tấn". Giống kiến trúc gồm các tảng đá dựng đứng của Stonhenge, giá treo cổ thời trung cổ bao gồm 2 trụ đứng với một thanh ngang, thay vì chữ L ngược quen thuộc ngày nay.

Phần chia các "khớp nối" đã cho biết của nó cho một lớp các di tích được biết đến như các khớp nối. Các nhà khảo cổ học xác định các khớp nối như những nền đất bao gồm một hình tròn được rào lại cùng một rãnh bên trong. Như thường có trong thuật ngữ khảo cổ học, đây là một di tích, và Stonehenge không thực sự là một khớp nối như cái đê bên trong cái rãnh của nó. Tuy là đương đại với những khớp nối từ thời đồ đá thật và vòng tròn đá, Stonehenge không điển hình trong nhiều cách - ví dụ, cao hơn 24m,, kiến trúc gồm 2 thanh đá dựng đỡ một thanh đá nằm ngang còn tồn tại của nó hỗ trợ thanh dầm cửa tổ chức tại địa điểm với lỗ mông và khớp, làm cho nó trở nên độc đáo.

Lịch sử

Stonehenge plan
Bản đồ của Stonehenge vào năm 2004
Stonehenge, Condado de Wiltshire, Inglaterra, 2014-08-12, DD 06

Mike Parker Pearson, lãnh đạo của dự án Riverside Stonehenge, nhấn mạnh rằng Stonehenge dường như đã có liên quan tới các ngôi mộ ngay từ khi nó xuất hiện:

"Stonehenge là nơi chôn cất ngay từ khi xuất hiện cho tới thời kì huy hoàng của nó vào khoảng giữa thiên niên kỉ thứ 3 trước công nguyên. Hoạt động hoả táng bắt đầu từ thời kì khối sa thạch của Stonehenge chỉ là một trong nhiều cách sử dụng của tượng đài giai đoạn sau này và chứng minh rằng nó vẫn là lãnh thổ của người chết."

Sự tiến triển của Stonehenge trong nhiều giai đoạn xây dựng kéo dài trong ít nhất 1500 năm. Có những bằng chứng của việc xây dựng quy mô lớn trong và xung quanh tượng đài rằng có lẽ kéo dài thời gian của khu cảnh quan tới 6500 năm.

Nhiều nhà học giả tin rằng Stonhenge đã từng được hoàn thành như một tượng đài tráng lệ. Điều này không thể được chứng minh bởi một nửa số đá đã bị mất tích, và nhiều lỗ đặt đá chưa bao giờ được tìm thấy. Tìm hiểu và những hiểu biết của các giai đoạn khác nhau của hoạt động phức tạp là do sự xáo trộn của tự nhiên từ ảnh hưởng của thời kì cận băng hà và động vật đào bới. Giai đoạn hiện đại với các nhà khảo cổ thường đồng ý với điều này.

Trước khi hoàn thành (trước năm 8000 trước công nguyên)

Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy bốn, hoặc có thể là 5 lỗ trụ có từ thời kì đồ đá giữa (một cái có thể đã bị một cây che), được cho là vào khoảng năm 8000 trước công nguyên, dưới một nơi đỗ xe du lịch hiện đại. Những cột trụ này được dựng nên quanh một cây thông có đường kính 0,75m được dựng lên và cuối cùng bị mục nát. 3 trong số các cột trụ được xếp theo phía đông-tây mà có thể là có ý nghĩa nghi lễ; không đường song song nào được biết tới ở Anh vào thời điểm đó nhưng cũng giống như ở Scandinavi. Salisbury Plain sau đó vẫn còn rừng nhưng khoảng 4000 năm sau, vào giai đoạn đầu của thời kì đồ đá mới, con người xây một bờ đắp cao ở Robin Hood's Ball và những gò đất là các ngôi mộ dài ở xung quanh. Trong khoảng năm 3500 trước công nguyên, một tượng đài với kiến trúc bằng đất với hai tường thành xung quanh được xây với độ cao 700m về phía bắc như là những người nông dân đầu tiên bắt đầu dọn sạch cây và phát triển khu vực.

Stonehenge 1 (khoảng năm 3100 trước công nguyên)

Tượng đài đầu tiên bao gồm một ụ đất hình tròn và một rãnh rào xung quanh được làm từ cuối kỉ phấn trắng, có đường kính khoảng 110m, cùng một lối vào rộng theo hướng đông bắc và một cái nhỏ hơn ở phía nam. Nó nằm trên một bãi cỏ rộng và dốc. Những người xây dựng đã đặt xương của bò và hươu ở dưới rãnh này, ũng như một số viên đá lửa để làm việc. Những người chôn chúng đã đôi lúc phải chăm sóc chúng trước khi chôn. Cái rãnh được kéo dài nhưng cũng bị đào ở một số chỗ. Các phần được đào lên từ cái rãnh được chồng lên thành ụ đất. Giai đoạn đầu được dự báo vào khoảng năm 3100 trước công nguyên, sau đó cái rãnh bắt đầu bị chèn lên. Trong cạnh bên ngoài của khu vực bao quanh có một vòng tròn với 56 lỗ, mỗi lỗ có đường kính khoảng 1m, được biết đến là lỗ Aubrey sau khi John Aubrey, sau khi nhà sưu tầm đồ cổ vào thế kỉ 17 này được cho là người đầu tiên phát hiện ra chúng. Các lỗ có thể có chứa các thanh gỗ tạo thành một vòng tròn gỗ, mặc dù chưa có bằng chứng khai quật của chúng. Một cuộc khai quật gần đây cho thấy rằng những chiếc hố Aubrey ban đầu được dùng để dựng nên một vòng tròn đá xanh. Nếu đúng như vậy, nó có thể là nơi sớm nhất được biết đến cấu trúc đá sớm nhất tại nơi này trong khoảng 500 năm. Một ụ đất nhỏ bên ngoài rãnh cũng có thể có trong thời kì này.

Stonehenge 2 (khoảng năm 3000 trước công nguyên)

Bằng chứng của giai đoạn 2 không còn tồn tại. Những chiếc lỗ trụ có vào đầu thiên niên kỉ thứ 3 trước công nguyên gợi ý rằng một số cấu trúc gỗ đã được xây bao quanh suốt thời kì này. Các thanh gỗ được đặt ở cửa vào phía đông bắc, và một số cột trụ song song hướng vào trong cửa vào phía Nam. Những lỗ trụ nhỏ hơn các lỗ Aubrey, chỉ có đường kính khoảng 0,4m, và ít được đặt hơn nhiều. Các ụ đất được giảm chiều cao một cách có chủ đích và các rãnh tiếp tục bị chèn. Ít nhất 25 lỗ Aubrey được biết là có chứa sau đó, việc xâm nhập và hoả táng bắt đầu diễn ra 2 thể kỉ sau khi kì quan này được dựng nên. Có vẻ như bất kì chức năng ban đầu nào của ác lỗ đều được thay thế để trở thành nơi chôn cất vào giai đoạn 2. Hơn 30 cuộc hoả táng được diễn ra ở rãnh xung quanh và một số khác ở các điểm khác của khu vực, chủ yếu ở nửa phía đông. Stonehenge nên được hiểu là có chức năng như một nơi để hoả táng vào thời kì này, nơi được biết đến hoả táng sớm nhất trong các quần đảo ở Anh. Xương của những người chưa được hoả táng cũng được tìm thấy tại các rãnh bị lấp đầy. Những bằng chứng có được từ các đồ gốm từ cuối thời kì đồ đá đã được tìm thấy đều có sự liên quan với thời kì này.

Stonehenge 3 thời kì I (khoảng năm 2600 TCN)

Stonehenge2007 07 30
Stonehenge từ phía đông bắc vào năm 2007 với 'khối đá Slaughter' ở cận cảnh

Các nhà khảo cổ học đã chỉ ra rằng vào khoảng năm 2600 TCN, các nhà xây dựng đã thích dùng gỗ hơn là đá và đào 2 mảng đồng tâm của lỗ (lỗ Q và lỗ R) ở trung tâm của khu vực. Các lỗ cắm đá chỉ có một phần được biết (vì thế bằng chứng hiện nay đôi khi được miêu tả như hình thành "hình lưỡi liềm"); tuy nhiên, họ có thể vẫn còn một vòng đôi. Các lỗ thể hiện 80 tảng đá đứng (thể hiện màu xanh trên bản đồ), chỉ 43 trong số chúng vẫn còn tới ngày nay. Những tảng đá xanh (một số được làm từ dolerit, một loại đá lửa), được nhiều người nghĩ tới vào thế kỉ 20 là được chuyển bởi con người từ Preseli Hills, cách thành phố ngày nay là Pembrokeshire ở Wales 250 km. Một lý thuyết gần đây cũng được ủng hộ, đó là chúng được mang tới gần khu vực hơn nhiều từ những mảng băng trôi. Những khối đá đứng khác cũng từng là những khối sa thạch nhỏ, về sau được dùng làm rầm đỡ. Những khối đá nặng gần 4 tấn này bao gồm phần lấn là dolerite từ kỉ Ordovician nhưng bao gồm những chất khác như là riolit, đá tạo thành từ tro núi lửa và tro tàn đá vôi; tổng cộng có khoảng 20 loại đá khác nhau có ở đây. Mỗi khối đá cao khoảng 2m, sâu từ 1m tới 1,5m và dày khoảng 0,8m. Đây là những thứ được biết đến như đá thời, gần như chắc chắn là bắt nguồn từ hoặc Carmarthenshire hoặc Brecon Beacons và có thể đã đứng như một khối đá đơn lẻ rộng.

Stone Plan
Bản đồ của kiến trúc đá trung tâm ngày nay. Sau Johnson vào năm 2008

Cửa phía Tây Bắc vào lúc này đã được mở rộng, với kết quả là nó kết hợp một cách chính xác hướng của bình minh và những tia nắng vào giữa mùa đông. Giai đoạn này của kì quan bị bỏ dở, tuy nhiên; những khối đá nhỏ dường như bị loại bỏ và lỗi Q và R bị lấp lại một cách có chủ ý. Mặc dù vậy, kì quan này dường như đã bị lu mờ trước sự quan trọng của Avebury vào cuối giai đoạn này.

Khối Heelstone, một loại sa thạch ở kỉ thứ ba, cũng có thể đã được dựng lên bên ngoài lối vào trong giai đoạn này. Nó không có ngày cụ thể và có thể lắp đặt vào bất kì lúc nào ở g iải đoạn 3. Ban đầu nó được đi kèm với một hòn đá thứ hai, không lâu sau hòn đá đó bị mất tích. Hai, hoặc có thể là ba, cổng đá lớn đã được thiết lập ở lối vào phía Tây Nam, trong đó chỉ có một khối đá Slaughter bị đỏ, dài 4.9m, hiện vẫn còn. Điểm đặc biệt khác, được dựng nên một cách lỏng lẻo vào giai đoạn 3, bao gồm bốn Trạm đá (Station Stone), 2 trong số chúng đứng trên đỉnh gò (cái thứ 2 và 3). Những cái gò được biết đến là những "nấm mồ" mặc dù chúng không dùng để chôn. Stonehenge Avenue, một cặp rãnh song song và ụ đất kéo dài 3 km tới sông Avon, cũng được thêm vào. Hai rãnh giống Rãnh Heelstone bao quanh Heelstone (về sau được giảm thành một khối đá đơn lẻ) về sau cũng được đào xung quanh Trạm Đá.

Stonehenge 3 giai đoạn II (khoảng năm 2600 đến 2400 TCN)

Trong giai đoạn hoạt động tiếp theo, một khối lượng lớn 30 tảng đá sa thạch ở thể OligoceneMiocene (màu xám trên bản đồ) đã được đem đến đây. Chúng có thể tới từ một mỏ đá, khoảng 40 km về phía bắc của Stonehenge trên Marlborough Downs, hoặc chúng có thể được góp nhặt từ một "bãi rác" sa thạch. Những hòn đá được trang trí với những lỗ mộng và những chiếc mộng nối với nhau trước khi 30 hòn đá được dựng thẳng đứng với đường kính tổng cộng là 33m, với một vòng gồm 30 thanh dầm đá nằm trên đỉnh. Những chiếc dầm được lắp với nhau theo phương pháp gia công gỗ, những cái lưỡi và những cái rãnh được nối với nhau. Mỗi khối đá đứng cao khoảng 4,1m, rộng 2,1m và nặng khoảng 25 tấn. Mỗi khối đá rõ rằng được làm với hiệu ứng thị giác cuối cùng trong tâm trí.

Tham khảo

Liên kết ngoài

Phương tiện liên quan tới Stonehenge tại Wikimedia Commons

9325 Stonehenge

9325 Stonehenge là một tiểu hành tinh vành đai chính với chu kỳ quỹ đạo là 1382.6030590 ngày (3.79 năm).Nó được phát hiện ngày 3 tháng 4 năm 1989.

Armidale, New South Wales

Armidale là một thành phố thuộc bang New South Wales, Úc.

Avebury

Avebury ( /ˈeɪvbri/) là một di chỉ cự thạch thời kỳ đồ đá mới bao gồm ba vòng tròn đá nằm ở gần làng Avebury, Wiltshire, miền tây nam nước Anh. Đây là một trong những địa điểm thời tiền sử nổi tiếng nhất ở Anh, khi là nơi có vòng tròn đá lớn nhất châu Âu. Avebury cũng là một nơi thu hút rất đông khách du lịch và là một địa điểm có tầm quan trọng trong Pagan giáo đương đại.

Lịch sử của Avebury ước tính khoảng năm 2600 TCN, tức là vào thời kỳ đồ đá hoặc đồ đá mới. Tượng đài bao gồm một số lượng lớn các phiến đá lớn có kích cỡ khác nhau, với một vòng tròn đá lớn kết quanh ngôi làng, bên trong vòng tròn đó là hai vòng tròn đá riêng biệt nhỏ hơn ở trung tâm của di chỉ. Mục đích ban đầu của các vòng tròn đá là chưa được xác định, nhưng các nhà khảo cổ học tin rằng, nó có thể là được sử dụng nhiều nhất đối với một số nghi lễ tôn giáo. Di tích cự thạch Avebury là một phần của cảnh quan thời tiền sử lớn hơn có chứa một số di tích cổ gần đó, bao gồm cả khu mộ đá West Kennet Long và gò đất thời tiền sử Silbury Hill.

Trong thời kỳ đồ sắt, khu vực này đã bị bỏ rơi, với một số bằng chứng về hoạt động của con người trong thời gian Anh thuộc La Mã. Đầu thời Trung cổ, một ngôi làng đầu tiên được xây dựng quanh, sau đó mở rộng ra khu vực của di chỉ. Trong thời kỳ cuối Trung cổ và Cận đại, người dân địa phương đã phá hủy rất nhiều các phiến đá của di chỉ vì cả lý do tôn giáo lẫn thực tiễn. Những người sưu tầm đồ cổ là John Aubrey và William Stukeley là những người đầu tiên nghiên cứu khảo cổ ở Avebury trong thế kỷ 17, và đã có nhiều bức vẽ cũng như các bản ghi chép những nghiên cứu của họ về di tích trước khi nó bị phá hủy. Trong thế kỷ 20, Alexander Keiller là người tiếp tục nghiên cứu và đã có những dự án nhằm phục hồi lại Avebury.

Ngày nay, tượng đài này được quản lý bởi tổ chức National Trust, một tổ chức bất vụ lợi có nhiệm vụ bảo vệ di sản. Ngoài ra, nó cũng là một di tích được liệt kê, một phần của Di sản thế giới được UNESCO công nhận vào năm 1986 với tên gọi Stonehenge, Avebury và các di chỉ liên quan.

Bí ẩn Trái Đất

Bí ẩn Trái Đất là một loạt các ý tưởng tâm linh, bán tôn giáo và giả khoa học tập trung vào niềm tin văn hóa và tôn giáo về Trái Đất, nói chung liên quan đến các vị trí địa lý cụ thể có ý nghĩa lịch sử. Những người tin tưởng vào các bí ẩn Trái Đất thường coi các địa điểm nhất định là "thiêng liêng", hoặc "năng lượng" tâm linh nhất định có thể hoạt động tại các địa điểm đó. Thuật ngữ "khảo cổ học thay thế" cũng đã được sử dụng để mô tả nghiên cứu về tín ngưỡng bí ẩn Trái Đất.Nghiên cứu về các đường Ley bắt nguồn từ thập niên 1920 với Alfred Watkins. Thuật ngữ "bí ẩn Trái Đất" cho lĩnh vực quan tâm này được đặt ra vào khoảng năm 1970 trên tạp chí The Ley Hunter, và các khái niệm liên quan đã được chấp nhận và tái phát minh bởi các phong trào như Phong trào Thời đại Mới và ngoại giáo hiện đại trong thập niên 1970 đến 1980.Một số tín đồ Thời đại Mới tham gia du lịch đến các địa điểm mà họ cho là quan trọng theo niềm tin của họ; ví dụ, Stonehenge là một điểm đến nổi tiếng trong số những người đi theo Thời đại Mới.

Chó săn thỏ phương Bắc

Chó săn thỏ phương Bắc (tiếng Anh: North Country Beagle, Northern Hound hoặc Northern Beagle) là một giống chó tồn tại ở Anh có thể cho đến đầu thế kỷ XIX. Thời điểm chính xác khi giống chó này tuyệt chủng không được biết đến; có khả năng chúng đã dần bị lai tạo với các giống chó khác, đặc biệt là Chó săn thỏ hiện đại, cho đến khi dòng máu Chó săn thỏ phương Bắc thuần khiết chấm dứt tồn tại.

Nguồn gốc của Chó săn thỏ phương Bắc không rõ ràng. Hầu hết các nhà văn cho rằng nó đã được phát triển từ Chó Talbot, có nguồn gốc không chắc chắn, nhưng một số người đã tuyên bố chúng có nguồn gốc ở Normandy. Talbot là một loài chó săn mùi màu trắng, chậm chạp, cuống họng sâu. Tại một số thời điểm, Talbot đã được lai với chó săn thỏ với mục đích vải thiện tốc độ cho chúng, nhưng chúng vẫn là những con chó tương đối chậm mà dựa vào khứu giác nhiều hơn tốc độ trong cuộc săn đuổi.Cả Chó săn thỏ phương Bắc và Chó săn phương Nam dường như đã mất ưu thế trong thế kỷ XVIII vì cách thức để săn lùng ít tốn thời gian dẫn đến sự phát triển của giống chó săn cáo có tốc độ nhanh hơn. Chó săn thỏ phương Bắc có thể đã hình thành một phần của các đàn chó được nuôi bởi những người nông dân miền Nam để săn thỏ và cuối cùng trở thành hạt nhân cho giống chó săn thỏ hiện đại. Stonehenge nói rằng những con chó săn giống như mô tả của Chó săn thỏ phương Bắc vẫn tồn tại ở xứ Wales, Devon, Yorkshire và Sussex trong thế kỷ XIX, nhưng anh ta nghi ngờ về mức độ những đàn chó này thực sự đại diện cho bất kỳ một trong ba giống chó săn đầu tiên.

Cự thạch

Cự thạch (tiếng Anh: megalith) là các tảng đá lớn được sử dụng để xây dựng các kết cấu hay các di tích, hoặc là đứng một mình hoặc là cùng với các tảng đá khác. Trong ngôn ngữ một số nước châu Âu, người ta dùng từ megalith để chỉ cự thạch. Nó có nghĩa là làm từ những tảng đá như vậy, nhưng sử dụng cơ chế tự khóa mà không sử dụng vữa hay các chất kết dính nào khác. Từ megalith có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ megas nghĩa là lớn và lithos nghĩa là đá.

Danh sách di sản thế giới tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland

Tính đến hiện tại đã có 31 địa danh được UNESCO công nhận là Di sản thế giới tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và lãnh thổ hải ngoại. Danh sách này bao gồm: 17 di sản tại Anh, 5 di sản tại Scotland, 1 di sản đều thuôc Anh và Scotland, 3 tại Wales và 1 tại Bắc Ireland, lãnh thổ hải ngoại Bermuda, Gibraltar, Quần đảo Pitcairn, Saint Helena. Có 6 địa danh đầu tiên được công nhận là Di sản thế giới bao gồm Giant's Causeway, Lâu đài và Nhà thờ Durham, Hẻm núi Ironbridge, Công viên Hoàng gia Studley bao gồm cả phế tích Tu viện Fountains, Stonehenge, Avebury và các di chỉ liên quan và Các lâu đài và tường thành thời vua Edward I tại Gwynedd đều được công nhận vào năm 1986. Di sản mới nhất được công nhận là Lake District của Anh được công nhận vào tháng 7 năm 2017.Công ước UNESCO được phê duyệt vào năm 1946 bởi 26 quốc gia bao gồm cả Vương quốc Anh. Mục đích của nó là để bảo tồn và bảo vệ các di sản thế giới, tác phẩm nghệ thuật, di tích lịch sử và khoa học. Vương quốc Anh đã đóng góp 130.000 bảng Anh mỗi năm cho Quỹ Di sản thế giới để bảo tồn các địa danh như vậy ở các nước đang phát triển.Các tiêu chí của di sản bao gồm tiêu chí của di sản văn hóa (bao gồm i, ii, iii, iv, v, vi) và di sản thiên nhiên (vii, viii, ix, x). Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có tổng cộng 26 di sản văn hóa, 4 di sản tự nhiên và 1 di sản hỗn hợp (cả giá trị văn hóa và tự nhiên). St Kilda là Di sản hỗn hợp duy nhất tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, và là một trong số ít 35 di sản hỗn hợp được UNESCO công nhận. Nó mang giá trị khi là môi trường sống cho các loài chim biển và năm 2005 đã được mở rộng thêm tiêu chí về văn hóa khi nó là minh chứng cho truyền thống tự cung cấp trong môi trường điều kiện tự nhiên khắc nghiệt. Trong năm 2012, UNESCO cũng đã đưa Liverpool - Thành phố thương mại Hàng hải vào Danh sách di sản thế giới bị đe dọa do sự ảnh hưởng của các dự án quy hoạch đô thị gây ảnh hưởng tới tính toàn vẹn của di sản này.

English Heritage

English Heritage, tên chính thức là Heritage Heritage Trust, là tổ chức từ thiện có đăng ký, đảm trách quản lý Bộ Sưu tập Di sản Quốc gia . Di sản được quản lý gồm hơn 400 tòa nhà lịch sử, di tích và địa điểm lịch sử của nước Anh trải dài trên 5.000 năm lịch sử. Trong danh mục quản lý có Stonehenge, lâu đài Dover, lâu đài Tintagel, những phần bảo tồn tốt nhất của bức tường Hadrian. English Heritage cũng quản lý lược đồ Blue Plaques London, nối kết các hình ảnh lịch sử có ảnh hưởng với các công trình cụ thể .

Goseck

Goseck là một đô thị nằm bên sông Saale, ở huyện Burgenland của bang Sachsen-Anhalt.

Goseck nằm ở bờ bắc sông Saale, khoảng nửa đường giữa Naumburg và Weißenfels.

Đô thị này gồm hai khu định cư Goseck và Markröhlitz.

Ở đây có vòng Goseck có niên đại thiên niên kỷ 5 trước Công nguyên, là đài quan sát mặt trời cổ nhất châu Âu, lâu đời hơn Stonehenge khoảng 2000 năm.

Lịch sử thiên văn học

Thiên văn học là một trong những môn khoa học ra đời sớm nhất trong lịch sử loài người. Những dấu vết khởi đầu của ngành thiên văn có từ thời tiền sử. Qua quan sát chuyển động biểu kiến của Mặt Trời, Mặt Trăng, con người đã tìm ra những thời điểm thay đổi của thời tiết. Vào cuối thời đại đồ đá (thiên niên kỷ 4 - 3 TCN), ở những nền văn minh cổ đại, quan sát bầu trời là công việc rất quan trọng của giới tăng lữ. Trước khi con người học được cách định vị trên Trái Đất và sáng tạo ra môn địa lý học, họ đã quan sát bầu trời và sản sinh ra những mô hình đầu tiên của nó. Thời điểm thiên văn học trở thành một môn khoa học theo cách nhìn nhận ngày nay đã diễn ra vào thế kỉ 16 nhờ công sức của Nicolaus Copernicus, kế tiếp là Galileo Galilei, Johannes Kepler, Isaac Newton. Một trong những tác nhân quan trọng nhất đối với cuộc cách mạng thiên văn học của Nicolaus Copernicus là phát minh kính viễn vọng.

Những bước tiến của thiên văn học hiện đại đã xảy ra vào nửa cuối thế kỷ 19 khi các phương pháp phổ học và chụp hình được sử dụng trong quan sát thiên văn. Những bước nhảy vọt của thiên văn học được ghi nhận vào những năm 40 của thế kỷ 20 nhờ các quan sát thiên văn vô tuyến và tiếp đó là sự kiện con người khắc phục được những cản trở của khí quyển Trái Đất khi quan sát toàn vẹn phổ của vũ trụ từ các vệ tinh nhân tạo.

Mặt Trời

Mặt Trời là ngôi sao ở trung tâm Hệ Mặt Trời, chiếm khoảng 99,86% khối lượng của Hệ Mặt Trời. Trái Đất và các thiên thể khác như các hành tinh, tiểu hành tinh, thiên thạch, sao chổi, và bụi quay quanh Mặt Trời. Khoảng cách trung bình giữa Mặt Trời và Trái Đất xấp xỉ 149,6 triệu kilômét (1 Đơn vị thiên văn AU) nên ánh sáng Mặt Trời cần 8 phút 19 giây mới đến được Trái Đất. Trong một năm, khoảng cách này thay đổi từ 147,1 triệu kilômét (0,9833 AU) ở điểm cận nhật (khoảng ngày 3 tháng 1), tới xa nhất là 152,1 triệu kilômét (1,017 AU) ở điểm viễn nhật (khoảng ngày 4 tháng 7). Năng lượng Mặt Trời ở dạng ánh sáng hỗ trợ cho hầu hết sự sống trên Trái Đất thông qua quá trình quang hợp, và điều khiển khí hậu cũng như thời tiết trên Trái Đất. Thành phần của Mặt Trời gồm hydro (khoảng 74% khối lượng, hay 92% thể tích), heli (khoảng 24% khối lượng, 7% thể tích), và một lượng nhỏ các nguyên tố khác, gồm sắt, nickel, oxy, silic, lưu huỳnh, magiê, carbon, neon, canxi, và crom.

Mặt Trời có hạng quang phổ G2V. G2 có nghĩa nó có nhiệt độ bề mặt xấp xỉ 5.778 K (5.505 °C) khiến nó có màu trắng, và thường có màu vàng khi nhìn từ bề mặt Trái Đất bởi sự tán xạ khí quyển. Chính sự tán xạ này của ánh sáng ở giới hạn cuối màu xanh của quang phổ khiến bầu trời có màu xanh. Quang phổ Mặt Trời có chứa các vạch ion hoá và kim loại trung tính cũng như các đường hydro rất yếu. V (số 5 La Mã) trong lớp quang phổ thể hiện rằng Mặt Trời, như hầu hết các ngôi sao khác, là một ngôi sao thuộc dãy chính. Điều này có nghĩa nó tạo ra năng lượng bằng tổng hợp hạt nhân của hạt nhân hydro thành heli. Có hơn 100 triệu ngôi sao lớp G2 trong Ngân Hà của chúng ta. Từng bị coi là một ngôi sao nhỏ và khá tầm thường nhưng thực tế theo hiểu biết hiện tại, Mặt Trời sáng hơn 85% các ngôi sao trong Ngân Hà với đa số là các sao lùn đỏ.Quầng nóng của Mặt Trời liên tục mở rộng trong không gian và tạo ra gió Mặt Trời là các dòng hạt có vận tốc gấp 5 lần âm thanh - mở rộng nhật mãn (Heliopause) tới khoảng cách xấp xỉ 100 AU. Bong bóng trong môi trường liên sao được hình thành bởi gió mặt trời, nhật quyển (heliosphere) là cấu trúc liên tục lớn nhất trong Hệ Mặt Trời.Mặt Trời hiện đang đi xuyên qua đám mây Liên sao Địa phương (Local Interstellar Cloud) trong vùng Bóng Địa phương (Local Bubble) mật độ thấp của khí khuếch tán nhiệt độ cao, ở vành trong của Nhánh Orion của Ngân Hà, giữa nhánh Perseus và nhánh Sagittarius của ngân hà. Trong 50 hệ sao gần nhất bên trong 17 năm ánh sáng từ Trái Đất, Mặt Trời xếp hạng 4 về khối lượng như một ngôi sao cấp bốn (M = +4,83), dù có một số giá trị cấp hơi khác biệt đã được đưa ra, ví dụ 4,85 và 4,81. Mặt Trời quay quanh trung tâm của Ngân Hà ở khoảng cách xấp xỉ 24.000–26.000 năm ánh sáng từ trung tâm Ngân Hà, nói chung di chuyển theo hướng chùm sao Cygnus và hoàn thành một vòng trong khoảng 225–250 triệu năm (một năm ngân hà). Tốc độ trên quỹ đạo của nó được cho khoảng 250 ± 20, km/s nhưng một ước tính mới đưa ra con số 251 km/s.

Bởi Ngân Hà của chúng ta đang di chuyển so với Màn bức xạ vi sóng vũ trụ (CMB) theo hướng chòm sao Hydra với tốc độ 550 km/s, nên tốc độ chuyển động của nó so với CMB là khoảng 370 km/s theo hướng chòm sao Crater hay Leo.

Newgrange

Di chỉ khảo cổ Newgrange là một di chỉ khảo cổ nằm ở thung lũng Boyne, Ireland. Năm 1993, UNESCO đã công nhận Di chỉ khảo cổ Newgrange là di sản thế giới.

Đồi nghĩa trang Newgrange là một trong những đài tưởng niệm thời tiền sử ấn tượng nhất ở Châu Âu, có thể sánh ngang hàng với Stonehenge và đền Ggantija. Nó từng là nơi chôn cất của các vì vua dòng Tara, nó đã được xây dựng rất lâu khoảng 3200 trước công nguyên. Những nhà khảo cổ hiện đại cho rằng chắc hẳn nó được sử dụng như đài quan sát mặt trời, nếu vậy nó sẽ là đài quan sát thiên văn xưa nhất thế giới.

Nhật thực

Nhật thực xảy ra khi Mặt Trăng đi qua giữa Trái Đất và Mặt Trời và quan sát từ Trái Đất, lúc đó Mặt Trăng che khuất hoàn toàn hay một phần Mặt Trời. Điều này chỉ có thể xảy ra tại thời điểm sóc trăng non khi nhìn từ Trái Đất, lúc Mặt Trời bị Mặt Trăng che khuất và bóng của Mặt Trăng phủ lên Trái Đất. Trong lúc nhật thực toàn phần, đĩa Mặt Trời bị che khuất hoàn toàn. Với nhật thực một phần hoặc hình khuyên, đĩa Mặt Trời chỉ bị che khuất một phần.

Nếu Mặt Trăng có quỹ đạo tròn hoàn hảo, gần hơn Trái Đất một chút, và trong cùng mặt phẳng quỹ đạo, sẽ có nhật thực toàn phần xảy ra mỗi lần trong một tháng. Tuy nhiên, quỹ đạo của Mặt Trăng nghiêng hơn 5° so với mặt phẳng quỹ đạo của Trái Đất quanh Mặt Trời (xem mặt phẳng hoàng đạo), do vậy bóng của Mặt Trăng lúc trăng non thường không chiếu lên Trái Đất. Để hiện tượng nhật thực cũng như nguyệt thực xảy ra, Mặt Trăng phải đi qua mặt phẳng quỹ đạo của Trái Đất. Hơn nữa, quỹ đạo của Mặt Trăng có hình elip, và nó thường ở đủ xa Trái Đất khiến cho kích cỡ biểu kiến của nó không đủ lớn để che khuất hoàn toàn Mặt Trời lúc nhật thực. Mặt phẳng quỹ đạo của Mặt Trăng và của Trái Đất mỗi năm cắt nhau tại các điểm nút lên và nút xuống của quỹ đạo; và có ít nhất là 2 và nhiều nhất là 5 lần nhật thực xảy ra trong một năm, cũng không thể có nhiều hơn hai lần nhật thực toàn phần trong cùng một năm. Tuy nhiên, tại một nơi cụ thể trên Trái Đất, hiện tượng nhật thực toàn phần xảy ra là rất hiếm bởi vì bóng của Mặt Trăng trong lúc hiện tượng này xảy ra đổ lên Trái Đất theo một dải hẹp và trong thời gian ngắn, với lần lâu nhất khoảng 7 phút (nhật thực toàn phần ngày 20 tháng 7 năm 1955).Hiện tượng che khuất là hiện tượng của tự nhiên. Tuy thế, trong lịch sử cổ đại và quan niệm của một số người hiện đại, nhật thực thuộc về hiện tượng siêu nhiên. Hiện tượng nhật thực toàn phần gây ra sự sợ hãi đối với người dân thời cổ đại do thiếu hiểu biết về thiên văn học, khi Mặt Trời dường như biến mất vào ban ngày và bầu trời tối đen trong vài phút.

Rất nguy hiểm cho mắt khi nhìn trực tiếp vào Mặt Trời. Do vậy để quan sát hiện tượng nhật thực trực tiếp cần sử dụng các loại kính bảo vệ mắt hoặc quan sát gián tiếp hình ảnh lúc nhật thực. Nhưng khi xảy ra hiện tượng nhật thực toàn phần, mắt có thể an toàn quan sát hiện tượng này trong lúc Mặt Trăng che khuất hoàn toàn Mặt Trời. Những người ưa thích hiện tượng này thường đi du lịch đến những nơi sắp xảy ra để chứng kiến và chụp ảnh.

South West England

South West England (Tây Nam Anh) là một trong chín vùng chính thức của Anh. Đây là vùng có diện tích lớn nhất, với 23.800 km² và gồm các hạt nghi lễ Gloucestershire, Bristol, Wiltshire, Somerset, Dorset, Devon và Cornwall. Năm triệu người sống tại vùng South West England.

Vùng bao gồm West Country và phần lớn vương quốc trung đại Wessex. Thành phố lớn nhất là Bristol, các trung tâm đô thị lớn khác gồm có Plymouth, Swindon, Gloucester, Cheltenham, Exeter, Bath, Torbay và khu thành thị South East Dorset (gồm Bournemouth, Poole và Christchurch). Vùng có hai công viên quốc gia là Dartmoor và Exmoor (một phần nhỏ của New Forest cũng thuộc khu vực); và bốn di sản thế giới như Stonehenge và Bờ biển kỷ Jura. Phần phía bắc của Gloucestershire, gần Chipping Campden, có khoảng cách đến biên giới Scotland ngang bằng khoảng cách đến mũi đất của Cornwall. Đây là vùng có đường bờ biển dài vượt trội tại Anh và có nhiều thị trấn ngư nghiệp ven biển.

Vùng nổi tiếng vì có văn hoá dân gian phong phú, gồm có truyền thuyết về Vua Arthur và Glastonbury Tor. Cornwall có ngôn ngữ riêng là tiếng Cornwall, và một số người cho rằng đây là một dân tộc Celt. South West of England nổi tiếng với pho mát Cheddar có nguồn gốc từ làng Cheddar thuộc Somerset, các loại trà kem Devon hay các loại pasty Cornwall.

Stonehenge, Avebury và các di chỉ liên quan

Stonehenge, Avebury và các di chỉ liên quan là một Di sản thế giới của UNESCO nằm ở Wiltshire, Anh. Nó bao gồm hai khu vực rộng lớn cách nhau 30 dặm (48 km) chứ không phải là một tượng đài cụ thể. Quần thể bao gồm một số những tượng đài lớn nổi tiếng trên toàn thế giới, nhưng khu vực cũng có mật độ lớn các địa điểm khảo cổ quy mô nhỏ, đặc biệt là các địa điểm thời tiền sử. Tại đây được xác định là có 700 hiện vật khảo cổ riêng biệt, 180 di tích được liệt kê bao gồm 415 hiện vật.

Thời tiền sử

Thời đại tiền sử là thuật ngữ thường được dùng để mô tả thời đại trước khi lịch sử được viết. Paul Tournal lúc đầu tạo ra thuật ngữ trước-lịch sử (Pré-historique) để mô tả những vật ông tìm thấy trong các hang động của miền Nam nước Pháp. Nó đã được sử dụng trong ngôn ngữ tiếng Pháp vào những năm 1830 để miêu tả thời gian trước khi có chữ viết, và nó được đưa vào trong ngôn ngữ tiếng Anh bởi Daniel Wilson vào năm 1851.

Thời đại tiền sử có thể được hiểu là thời đại được bắt đầu của vạn vật, vũ trụ, tuy nhiên thuật ngữ này hầu hết được sử dụng để mô tả các thời kỳ có sự sống trên trái đất; những con khủng long có thể được mô tả là các động vật thời kỳ tiền sử và người thượng cổ (ở trong hang) được mô tả là người tiền sử.

Bởi vì không có chữ viết từ thời tiền sử, nên những thông tin mà chúng ta biết về thời kỳ này là được biết ở ngoài thực địa của các khoa học như cổ sinh học, sinh học, linh trưởng học, địa chất học, khảo cổ học, thiên văn học và các khoa học tự nhiên cũng như các khoa học xã hội khác.

Vườn quốc gia Carrai

Vườn quốc gia Carrai là một vườn quốc gia ở bang New South Wales, Úc, cách thành phố Sydney 347 km về phía bắc.

Vườn quốc gia này rộng 113,97 km² và được thành lập ngày 1.1.1999.

Wiltshire

Wiltshire (phát âm tiếng Anh: /ˈwɪltʃər/ hay /ʔtʃɪər/) là một hạt miền Tây Nam Anh với diện tích 3.485 km2 (1.346 dặm vuông Anh). Đây là một hạt không giáp biển và tiếp giáp với Dorset, Somerset, Hampshire, Gloucestershire, Oxfordshire và Berkshire. County town ban đầu là Wilton, nơi mà hạt được đặt tên theo, nhưng nay đã chuyển đến Trowbridge.

Wiltshire nổi bật bởi những downland và thung lũng rộng. Đồng bằng Salisbury nơi đây được biết đến nhờ vòng tròn đá Stonehenge và Avebury cùng nhiều dấu tích cổ xưa khác, cũng như là nơi luyện tập của quân đội Anh. Thành phố Salisbury nổi tiếng với nhà thờ chính tòa kiến trúc Trung Cổ.

Đài quan sát

Đài quan sát là vị trí có bố trí thiết bị quan sát, được sử dụng để quan sát các sự kiện mặt đất hoặc thiên thể. Thiên văn học, khí hậu học / khí tượng học, địa vật lý, hải dương học, núi lửa học,... là những ví dụ về các lĩnh vực mà các đài quan sát đã được xây dựng.

Về mặt lịch sử, các đài quan sát có thể đơn giản chỉ có chứa một kính lục phân thiên văn (ví dụ để đo khoảng cách giữa các ngôi sao), hoặc Stonehenge (có một số sự sắp xếp về các hiện tượng thiên văn). Đài quan sát lớn thì là tổ hợp phức tạp các phương tiện quan sát chuyên ngành.

Anh
Scotland
Wales
Bắc Ireland
Lãnh thổ hải ngoại

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.