Sofia

Sofia nghe  (phiên âm: Sách Phi Á)(tiếng Bulgaria: София Sofiya), là thủ đô và là thành phố lớn nhất của Cộng hòa Bulgaria với dân số 1.270.010 (là thành phố lớn thứ 14 ở Liên minh châu Âu), và dân số là 1.386.702 trong vùng đô thị, Đô thị Thủ đô.[1] Thành phố nằm ở phía tây Bulgaria, dưới chân khối núi Vitosha, và là trung tâm hành chính, văn hóa, kinh tế và giáo dục của quốc gia này, là một Thành phố thế giới - Beta.[2]

Là một trong những thủ đô cổ nhất châu Âu, thành phố này có lịch sử từ thế kỷ 8 trước Công nguyên, khi những người Thracia đã thiết lập một khu định cư ở đây. Các di tích trong lịch sử của thành phố vẫn hiện diện cùng với các công trình hiện đại trong thành phố này. Trải qua quá trình phát triển, Sofia đã từng có nhiều tên gọi. Các khu định cư tiền sử đã được khai quật ở trung tâm thành phố, gần hoàng cung cũng như ở các quận ngoại vi như Slatina và Obelya.[3] Tường thành của thành phố được bảo quản tốt là một thành cổ có từ thế kỷ 7 trước Công nguyên.

Dân số Sofia giảm từ 70.000 vào cuối thế kỷ 18, qua 19.000 vào năm 1870, xuống còn 11.649 vào năm 1878 và bắt đầu tăng lên. [4] Sofia có khoảng 1,23 triệu cư dân trong lãnh thổ 492 km2,[5] tập trung 17,5% dân số cả nước trong phần trăm thứ 200 của lãnh thổ quốc gia. Khu vực đô thị của Sofia có khoảng 1,54 triệu [9] cư dân trong phạm vi 5723 km², bao gồm Tỉnh Thành phố Sofia và một phần của tỉnh Sofia (Dragoman, Slivnitsa, Kostinbrod, Bozhurishte, Svoge, Elin Pelin, Gorna Malina, Ihtiman, Kostenets) và Pernik Province (Pernik, Radomir), chiếm 5,16% lãnh thổ quốc gia. [6] Khu vực đô thị của Sofia dựa trên một giờ di chuyển bằng ô tô, trải dài trên phạm vi quốc tế và bao gồm Dimitrovgrad ở Serbia.[7] Không giống như hầu hết các khu vực đô thị châu Âu, nó không được định nghĩa là một khu vực đô thị có chức năng đáng kể, nhưng thuộc loại có "nhiều chức năng hạn chế". [8] Vùng đô thị Sofia có dân số 1,68 triệu người [9] và được tạo thành từ toàn bộ các Thành phố Sofia, SofiaPernik, bao gồm hơn 10.000 km².[10]

Sofia
София
Một vài cảng điển hình của Sofia
Một vài cảng điển hình của Sofia
Hiệu kỳ của Sofia
Hiệu kỳ
Ấn chương chính thức của Sofia
Ấn chương
Vị trí của Sofia ở Bulgaria

Vị trí của Sofia ở Bulgaria
Sofia trên bản đồ Thế giới
Sofia
Sofia
Tọa độ: 42°42′B 23°20′Đ / 42,7°B 23,333°Đ
Quốc giaBulgaria
TỉnhThành phố Sofia
Chính quyền
 • Thị trưởngBoiko Borisov
Diện tích
 • Thành phố1.349 km2 (521 mi2)
Độ cao550 m (1,800 ft)
Dân số (2018)
 • Thành phốdecrease 1,241,675
 • Mật độ1.030/km2 (2,700/mi2)
 • Vùng đô thị1,386,702
Múi giờEET (UTC+2)
 • Mùa hè (DST)EEST (UTC+3)
Mã bưu chính1000
Mã điện thoại02
Trang websofia.bg

Hành chính

Thành phố Sofia là một trong 28 tỉnh của Bulgaria (không nên nhầm lẫn với tỉnh Sofia bao quanh nhưng không bao gồm trong thành phố này). Ngoài thành phố Sofia, tỉnh thủ đô bao gồm 3 thành phố khác và 34 làng, được chia thành 24 quận.[11] Quận của thành phố Sofia:

Sofia Capital map Taushanov edited
Quận của Sofia
# Tên Dân số Loại
1 Bankya 9.186 Thị xã
2 Vitosha 42.953 Ngoại ô
3 Vrabnitsa 47.417 Nội ô
4 Vazrazhdane 47.794 Nội ô
5 Izgrev 3,1 33.611 Nội ô
6 Ilinden 37.256 Nội ô
7 Iskar 69.896 Nội ô
8 Krasna polyana 65.442 Nội ô
9 Krasno selo 72.302 Nội ô
10 Kremikovtsi 23.599 Ngoại ô
11 Lozenets 45.630 Nội ô
12 Lyulin 120.897 Nội ô
13 Mladost 110.852 Nội ô
14 Nadezhda 77.000 Nội ô
15 Novi Iskar 26.544 Thị xã
16 Ovcha kupel 47.380 Nội ô
17 Oborishte 36.000 Nội ô
18 Pancharevo 24.342 Ngoại ô
19 Poduene 85.996 Nội ô
20 Serdika 52.918 Nội ô
21 Slatina 65.772 Nội ô
22 Studentski 50.368 Nội ô
23 Sredets 41.000 Nội ô
24 Triaditsa 65.000 Nội ô
Tổng 1.299.155
Nguồn: NSI[12]

Kinh tế

Hàng không

Thành phố có sân bay Sofia.

Đường thủy

Địa lý

Thành phố nằm phía tây Bulgaria, có vị trí ở trung tâm của vùng Balkan, chân núi phía bắc của khối núi Vitosha, nằm trong thung lũng Sofia, là thung lũng lớn nhất trong quốc gia này với diện tích 1186 km2, độ cao trung bình 550 m.

Khí hậu

Sofia có một khí hậu lục địa ôn hòa với biên đô nhiệt độ cao. Tháng nóng nhất là tháng 8 còn tháng lạnh nhất là tháng 1. Cho đến năm 1936, nhiệt độ trung bình là +10,0 °C (50 °F) và kể từ đó nhiệt độ đã tăng +0,5 °C (+1 °F).[13] Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 650 mi-li-mét (25,6 in) với lượng mua mùa Hè cao và mùa Đông thấp. Sofia ít nóng vào mùa Hè hơn các vùng khác của Bulgaria do cao độ của khu vực này cao, dù đôi khi nhiệt độ có thể lên tới 40 °C.

Dân số

Dân số trong giai đoạn 2004-2011 được ghi nhận như sau:

Lịch sử dân số của Sofia
(Nguồn: Viện thống kê quốc gia Bulgaria[15])
Năm20042005200620072008200920102011
Dân số11389501148429115401011567961162898116550311745151208097
From the year 1962 on: No double counting—residents of multiple communes (e.g. students and military personnel) are counted only once.

Tham khảo

  1. ^ “Population table by permanent and present address as of ngày 12 tháng 6 năm 2006” (bằng tiếng Bulgarian). Head Direction of Residential Registration and Administrative Service. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2006.
  2. ^ Sofia, The Times. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2011
  3. ^ Sofia Luxury Hotels, About Sofia. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2011
  4. ^ “История”. www.kmeta.bg.
  5. ^ “NATIONAL STATISTICAL INSTITUTE - Information for the area of city of Sofia”. Nsi.bg. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2018.
  6. ^ NATIONAL STATISTICAL INSTITUTE. “CITIES AND THEIR URBANISED AREAS IN THE REPUBLIC OF BULGARIA” (PDF). tr. 91.
  7. ^ “Metropolitan areas in Europe” (PDF). tr. 95. ISSN 1868-0097.
  8. ^ “Metropolitan areas in Europe” (PDF). tr. 103. ISSN 1868-0097.
  9. ^ “Eurostat - Data Explorer”. appsso.eurostat.ec.europa.eu.
  10. ^ (PDF) http://www.cittametropolitana.torino.it/cms/risorse/territorio/dwd/pianificazione_strategica/pdf/Report_PS_IRES_totale_definitivo.pdf. |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  11. ^ “District Mayors”. Sofia Municipality. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2009.
  12. ^ София в числа, НСИ, 2003
  13. ^ http://www.meteo.bg/docs/CMS_Sof_Hystory_Web.pdf
  14. ^ “Climate Data for Sofia Observ, Bulgaria 1952-2011” (bằng tiếng Anh). Climatebase. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2014.
  15. ^ “Population by towns and sex – Table data”. Viện thống kê quốc gia Bulgaria. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2012.
Boeing 747

Boeing 747, thường được gọi với biệt danh "Jumbo Jet", là một trong những loại máy bay dễ nhận biết trên thế giới, và là máy bay phản lực dân dụng thương mại cỡ lớn thân rộng đầu tiên được sản xuất. Loại máy bay này được đơn vị Commercial Airplane của Boeing tại Hoa Kỳ sản xuất. Phiên bản đầu tiên của Boeing 747 có kích thước gấp 2,5 lần Boeing 707, một trong những máy bay thương mại lớn của thập niên 1960. Từ chuyến bay thương mại đầu tiên năm 1970, Boeing 747 giữ kỷ lục về sức chứa hành khách lớn nhất trong 37 năm cho đến khi nó bị đối thủ là Airbus A380 vượt mặt.

Máy bay Boeing 747 sử dụng 4 động cơ trên cấu hình hai tầng trong phần thân được dùng ở phiên bản chở khách, chở hàng hay ở các phiên bản khác. Phần hình bướu của 747 nằm phía trên sàn ngăn, tạo điều kiện cho các phiên bản chở hàng có thể nhận hàng qua cửa lớn phía mũi máy bay. Phần bướu trong đa số các phiên bản chở khách là phần đặt chỗ ngồi bổ sung.

Phiên bản mới đang hoạt động của 747, 747-400 là một trong những loại máy bay dân dụng cỡ lớn nhanh nhất đang hoạt động trong các hãng hàng không với tốc độ đạt Mach 0,85 (567 mph hay 913 km/h), tầm bay liên lục địa là 7.260 hải lý (8.350 dặm hay 13.450 km). Phiên bản chở khách 747-400 có thể chở 416 khách với ba hạng ghế hoặc 524 khách với bố trí cho hai hạng ghế ngồi.

Sau khi đã bán được 400 chiếc, có những lúc 747 bị cho là lỗi thời do sự phát triển của những máy bay dân dụng siêu thanh nhưng thực tế, tổng số sản xuất ở con số 1.000 chiếc vào năm 1993 đã vượt quá sức tưởng tượng của những người chỉ trích. Tính đến tháng 4-2008, có 1.402 chiếc 747 được chế tạo với 122 cấu hình khác nhau. Phiên bản mới nhất của loại 747 là 747-8, được lên kế hoạch đi vào hoạt động vào năm 2009.

Cardcaptor Sakura

Cardcaptor Sakura (Nhật: カードキャプターさくら, Hepburn: Kādokyaputā Sakura), viết tắt là CCS và còn được biết đến với nhan đề Thủ lĩnh thẻ bài, là một loạt shōjo manga sáng tác và minh họa bởi nhóm nghệ sĩ Nhật Bản CLAMP. Manga đăng lần đầu tiên trên tạp chí Nakayoshi từ tháng 5 năm 1996 đến tháng 6 năm 2000, và sau đó được Kōdansha phát hành thành 12 tập tankōbon từ tháng 11 năm 1996 đến tháng 7 năm 2000. Câu chuyện xoay quanh Kinomoto Sakura, một học sinh tiểu học tình cờ phát hiện ra tiềm năng phép thuật của mình sau khi vô tình mở quyển sách chứa một bộ thẻ bài ma thuật bị niêm phong đã nhiều năm. Sau đó, cô được giao nhiệm vụ phải thu phục tất cả thẻ bài đang phân tán nhằm ngăn chặn chúng phá hủy thế giới. Phần tiếp theo của manga này, Cardcaptor Sakura – Thẻ bài pha lê, theo chân Sakura khi cô đã học cấp 2 trung học, bắt đầu đăng thường kỳ trên Nakayoshi từ tháng 7 năm 2016.Cardcaptor Sakura không giống với bất kỳ tác phẩm nào trước đó của CLAMP, và đây là lần đầu tiên nhóm tác giả thực hiện một manga thể loại mahō shōjo. Mặc dù lấy phép thuật làm phương tiện phát triển, chủ đề chính của tác phẩm là tình yêu và các mối quan hệ giữa người với người. Kịch bản được xây dựng theo hướng tránh phải suy xét về tính đúng đắn của các tình cảm đồng tính hay ái nhi, và tình yêu được chấp nhận ở mọi hình thái của nó. Phong cách nghệ thuật chính của tác phẩm là sự mềm mại và dễ thương, với rất nhiều loài hoa được minh họa làm nền. Trang phục chiến đấu của Sakura là một điểm nhấn vì sự phong phú và thay đổi thường xuyên. Những lá bài Clow chịu ảnh hưởng từ bài tarot đôi khi được xem là một phép ẩn dụ về số phận. Một số nhân vật trong Cardcaptor Sakura về sau đã trở thành hình mẫu khai thác thường xuyên của CLAMP, biến nó thành một phần trong vũ trụ hư cấu, cùng các đại diện tiêu biểu khác là ×××HOLiC và Tsubasa -RESERVoir CHRoNiCLE-.

Tác phẩm được chuyển thể thành một bộ anime truyền hình dài 70 tập bởi Madhouse, phát sóng tại Nhật Bản trên kênh NHK BS2 từ tháng 4 năm 1998 đến tháng 3 năm 2000. Hai bộ phim anime điện ảnh cũng được hãng này sản xuất và công chiếu vào tháng 8 năm 1999 và tháng 7 năm 2000. Một số loại hình truyền thông dựa theo khác gồm trò chơi điện tử, artbook, sách tranh, truyện tranh anime và tiểu thuyết anime. Manga Cardcaptor Sakura được dịch và phát hành tại gần 20 quốc gia ngoài Nhật Bản, trong đó TVM Comics mua bản quyền phát hành phiên bản tiếng Việt tại thị trường Việt Nam từ tháng 7 năm 2014 đến tháng 10 năm 2015, do Nhà xuất bản Hải Phòng ấn hành. Anime được phát sóng lần đầu trên kênh HTV3 năm 2008 với tên gọi Thủ lĩnh thẻ bài với đơn vị mua bản quyền và thực hiện lồng tiếng là Công ty Cổ phần Truyền thông Trí Việt (TVM Corp.)

Các nhà phê bình đánh giá cao sự sáng tạo của manga và mô tả nó là tinh hoa của loại hình truyện tranh dành cho thiếu nữ. Nội dung sâu sắc cùng phong cách nghệ thuật đáng yêu của nó cũng gây nhiều chú ý. Cardcaptor Sakura được trao giải Seiun với danh hiệu Manga xuất sắc nhất vào năm 2001. Chuyển thể anime truyền hình được khen ngợi vì đã thu hút sự chú ý của mọi lứa tuổi khán giả từ trẻ em đến người lớn; mặc dù một vài mối quan hệ giữa các nhân vật bị kiểm duyệt tại một số quốc gia. Công nghệ hoạt họa và hình ảnh trong phim tạo được ấn tượng, đặc biệt là những màn thi triển phép thuật "gần như độc nhất" của Sakura. Phim đã thắng giải Animage Grand Prix với danh hiệu Anime xuất sắc nhất vào năm 1999, và sau đó được bình chọn vào danh sách 100 phim hoạt hình tiêu biểu của Nhật Bản nhân Liên hoan Nghệ thuật truyền thông lần thứ 10 năm 2006.

Chiếc giày vàng châu Âu

Chiếc giày vàng châu Âu (tiếng Anh: European Golden Shoe, tên gọi cũ là European Golden Boot) là một giải thưởng bóng đá hàng năm được trao cho cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất tại các trận đấu thuộc hệ thống các giải đấu hàng đầu quốc gia thuộc Liên đoàn bóng đá châu Âu trong một mùa giải. Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất sẽ được nhận giải (các giải lớn như Anh, Đức, Tây Ban Nha....thì có hệ số lớn hơn). Thành tích của cầu thủ không bao gồm số bàn thắng ghi được trong các giải khác như cúp quốc gia, cúp liên đoàn và các cúp châu Âu, Siêu cúp châu Âu, Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ (trước là Cúp Liên lục địa), cũng như không tính các bàn thắng cầu thủ đó ghi được cho đội tuyển quốc gia trong mùa bóng đó. Kể từ khi được thành lập vào mùa bóng 1967-1968, danh hiệu có tên gọi ban đầu theo tiếng Pháp là Soulier d'Or, sau dịch thành Chiếc giày vàng châu Âu (Golden Shoe or Boot), nhằm trao tặng cho cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất tại tất cả các giải đấu châu Âu mùa bóng năm đó. Do tạp chí L'Équipe tổ chức lần đầu năm 1968, giải thường bắt đầu được trao bởi European Sports Media kể từ mùa 1995-96. Tính từ khi giải thưởng ra đời, Lionel Messi là cầu thủ sở hữu nhiều Chiếc Giày Vàng Châu Âu nhất (6 lần).

Frank Lampard

Frank James Lampard Jr. (sinh ngày 20 tháng 6 năm 1978) là một cựu cầu thủ bóng đá người Anh, hiện là huấn luyện viên của Chelsea. Thời còn thi đấu, vị trí của anh là tiền vệ trung tâm và cũng chơi ở vị trí tiền vệ tấn công. Anh là cầu thủ có hiệu suất ghi bàn khá cao. Lampard đang nắm giữ một số kỷ lục như cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất trong lịch sử câu lạc bộ Chelsea với 211 bàn thắng tại mọi giải đấu; 164 trận liên tiếp ra sân trong đội hình xuất phát ở Giải bóng đá ngoại hạng Anh; tiền vệ ghi bàn nhiều nhất cho Chelsea; tiền vệ thứ hai trong lịch sử Giải bóng đá ngoại hạng Anh ghi được hơn 100 bàn thắng, sau Matthew Le Tissier. Anh được vinh danh là một trong những tiền vệ xuất sắc nhất thế giới với thành tích đứng nhì trong hai cuộc bầu chọn Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA và Quả bóng vàng châu Âu vào năm 2005. Mùa giải 2007-08, anh được bầu là Tiền vệ xuất sắc nhất năm của Cúp các đội vô địch bóng đá quốc gia châu Âu.

Lampard bắt đầu sự nghiệp tại West Ham United vào năm 1994, nơi cha anh từng thi đấu. Bắt đầu từ mùa giải 1998-99, anh mới được bắt đầu có mặt trong đội hình chính thức của West Ham và có được chiếc cúp vô địch UEFA Intertoto năm 1999. Năm 2001, anh chính thức chuyển đến thi đấu cho Chelsea với giá 11 triệu bảng Anh. Tại Chelsea, Lampard đã giành được ba chức vô địch Giải bóng đá ngoại hạng Anh, bốn chức vô địch Cúp FA và hai chức vô địch Cúp Liên đoàn bóng đá Anh ở đấu trường quốc nội và một danh hiệu vô địch UEFA Champions League và một danh hiệu vô địch UEFA Europa League tại đấu trường châu lục. Tháng 8 năm 2008, anh đã gia hạn hợp đồng với câu lạc bộ thành London thêm 5 năm nữa, thời hạn đến hết mùa giải 2013-2014 và trở thành một trong những cầu thủ được trả lương cao nhất tại Giải bóng đá ngoại hạng Anh. Kết thúc mùa giải 2013-14, Lampard đã chính thức rời Chelsea sau 13 năm gắn bó.Trong màu áo đội tuyển Anh, Lampard đã từng tham gia Euro 2004 (ghi được ba bàn tại giải đấu này), World Cup 2006 và World Cup 2010. Anh khoác áo đội tuyển Anh lần đầu tiên vào tháng 10 năm 1999 và đến ngày 10 tháng 9 năm 2013, anh đã có trận đấu thứ 100 cho đội tuyển trong trận đấu giao hữu với Ukraina. Anh hiện có hai con gái, Luna và Isla, với người vợ cũ Elen Rives.

Ngày 2 tháng 2 năm 2017, Frank Lampard chính thức giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tế sau 22 năm thi đấu chuyên nghiệp.

Hristo Stoichkov

Hristo Stoichkov (tiếng Bulgaria: Христо Стоичков, sinh 8 tháng 2 năm 1966 tại Plovdiv) là một cựu cầu thủ bóng đá người Bulgaria. Ông là chủ nhân Quả Bóng Vàng năm 1994.

Hôn nhân đồng giới ở Tây Ban Nha

Hôn nhân đồng giới ở Tây Ban Nha được hợp pháp hóa từ 3 tháng 7 năm 2005. Năm 2004, chính phủ của Đảng Công nhân Xã hội Tây Ban Nha vừa được bầu cử, được lãnh đạo bởi Thủ tướng José Luis Rodríguez Zapatero, bắt đầu chiến dịch hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính bao gồm quyền nhận con nuôi của các cặp đồng tính. Sau nhiều tranh luận, luật cho phép hôn nhân đồng tính được Quốc hội Tây Ban Nha (là Quốc hội lưỡng viện của Tây Ban Nha gồm Thượng viện Tây Ban Nha và Đại hội Đại biểu Tây Ban Nha) thông qua vào 30 tháng 6 năm 2005 và công bố vào 2 tháng 7 năm 2005. Hôn nhân đồng giới bắt đầu hợp pháp từ Chủ nhật, ngày 3 tháng 7 năm 2005, đưa Tây Ban Nha trở thành quốc gia thứ ba trên thế giới hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính trên cả nước theo sau Hà Lan và Bỉ và trước khi hôn nhân đồng tính được mở rộng hợp pháp hóa trên toàn lãnh thổ Canada 17 ngày.

Việc phê chuẩn điều luật này không phải là không có sự phản đối mặc dù 66% người dân ủng hộ. Những nhà lãnh đạo Công giáo La Mã đặc biệt cương quyết phản đối và chỉ trích rằng việc này sẽ làm suy yếu đi ý nghĩa của hôn nhân. Những tổ chức khác bày tỏ sự lo ngại về việc nhận con nuôi của các cặp đồng tính. Biểu tình ủng hộ lẫn chống đối dự luật lôi kéo hàng ngàn người trên khắp các vùng của Tây Ban Nha. Sau khi dự luật này được phê chuẩn, Đảng Nhân dân Tây Ban Nha, một đảng bảo thủ đã kiện luật này ra Tòa án hiến pháp Tây Ban Nha.Khoảng 4.500 cặp đôi đồng giới cưới nhau ở Tây Ban Nha trong năm đầu tiên sau khi luật được thông qua. Chẳng bao lâu sau khi luật được thông qua, nhiều câu hỏi xuất hiện xoay quanh vấn đề hợp pháp của hôn nhân đồng giới đối với người ngoại quốc đến từ đất nước không cho phép kết hôn đồng giới. Bộ Tư pháp quy định rằng luật này cho phép một công dân Tây Ban Nha cưới một người ngoại quốc bất kể đất nước của người đó có cho phép hay không. Ít nhất một trong hai người phải là công dân Tây Ban Nha và hai người ngoại quốc vẫn có thể cưới nhau nếu họ sinh sống hợp pháp tại Tây Ban Nha.

Đảng Nhân dân Tây Ban Nha đã thắng áp đảo trong cuộc bầu cử Quốc hội 2011 và người đứng đầu Mariano Rajoy nói rằng ông phản đối hôn nhân đồng giới, tuy nhiên quyết định có bãi bỏ luật này hay không phải chờ phán quyết của Tòa Hiến pháp. Ngày 6 tháng 11 năm 2012, luật này được Tòa Hiến pháp quyết định giữ lại với 8 phiếu ủng hộ và 3 phiếu chống. Bộ trưởng Tư pháp Alberto Ruiz-Gallardón tuyên bố chính phủ sẽ tôn trọng luật này và nó sẽ không bị hủy bỏ.

Madagascar

Madagascar, tên chính thức là nước Cộng hòa Madagascar (phiên âm tiếng Việt: Ma-đa-ga-xca; tiếng Malagasy: Repoblikan'i Madagasikara phát âm tiếng Malagasy: [republiˈkʲan madaɡasˈkʲarə̥]; tiếng Pháp: République de Madagascar) và trước đây gọi là nước Cộng hòa Malagasy, là một đảo quốc trên Ấn Độ Dương, ngoài khơi bờ biển đông nam bộ của đại lục châu Phi. Quốc gia bao gồm đảo Madagascar cũng nhiều đảo ngoại vi nhỏ hơn. Sau khi vỡ ra từ siêu lục địa Gondwana, Madagascar tách khỏi Ấn Độ khoảng 88 triệu năm trước, khiến các loài thực vật và động vật bản địa tiến hóa tương đối cô lập. Do vậy, Madagascar là một điểm nóng đa dạng sinh học.

Người Nam Đảo là giống người định cư đầu tiên tại Madagascar, từ 350 TCN đến 550 CN, họ đến từ đảo Borneo bằng các xuồng chèo. Khoảng năm 1000, người Bantu vượt qua eo biển Mozambique để di cư sang Madagascar. Theo thời gian, các nhóm khác tiếp tục đến định cư tại Madagascar, mỗi nhóm đều có các đóng góp lâu dài cho sinh hoạt văn hóa trên đảo. Dân tộc Malagasy thường được chia thành 18 hoặc nhiều hơn các phân nhóm, lớn nhất trong số đó là người Merina tại cao địa trung bộ.

Cho đến cuối thế kỷ XVIII, đảo Madagascar do một loạt các liên minh xã hội-chính trị cai trị. Bắt đầu từ đầu thế kỷ XIX, hầu hết đảo được thống nhất và cai trị dưới chính thể Vương quốc Madagascar. Chế độ quân chủ sụp đổ vào năm 1897 khi đảo bị hấp thu vào Đế quốc thực dân Pháp. Đảo giành được độc lập từ Pháp vào năm 1960. Từ năm 1992, quốc gia chính thức được quản lý như một nền dân chủ lập hiến với thủ đô là Antananarivo.

Năm 2012, dân số Madagascar được ước tính là hơn 22 triệu, 90% trong số đó sống dưới 2 USD/ngày. Tiếng Malagasy và tiếng Pháp đều là các ngôn ngữ chính thức của đảo quốc. Phần lớn dân số trung thành với các đức tin truyền thống, Ki-tô giáo, hoặc pha trộn cả hai. Du lịch sinh thái và nông nghiệp, cùng với đầu tư lớn hơn cho giáo dục, y tế và doanh nghiệp tư nhân, là những yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển của Madagascar.

Métro Paris

Métro Paris (hay gọi là Métro de Paris hoặc Métro parisien) là hệ thống tàu điện ngầm phục vụ thành phố và vùng đô thị Paris. Tính cho đến năm 2007, hệ thống này có 16 tuyến, phần lớn chạy ngầm dưới đất, với tổng chiều dài 213 km. Métro Paris là một trong những biểu tượng của thủ đô nước Pháp, đặc trưng bởi mạng lưới các tuyến dày đặc, mật độ sử dụng cao và các bến tàu điện ngầm được trang trí theo phong cách Art nouveau.

Tuyến tàu điện ngầm đầu tiên của thành phố Paris được khánh thành nhân dịp Triển lãm thế giới 1900. Trong suốt những thập niên đầu thế kỷ 20, hệ thống Métro Paris phát triển mạnh mẽ, cho đến khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Sau một giai đoạn hoạt động trầm lắng trong "những thập niên của ô tô" (décennies voitures, 1950-1970), nhiều tuyến tàu điện ngầm đã tiếp tục được kéo dài ra vùng ngoại ô thành phố. Trong nội ô, các tuyến và trạm đã trở nên dày đặc đã khiến một thời gian dài Métro Paris không có thêm tuyến mới. Cho tới tận tháng 10 năm 1998, tuyến số 14, mới nhất của Métro Paris, được khánh thành. Khác với các tuyến trước đó, tuyến 14 được tự động hóa hoàn toàn.

Hiện nay hệ thống Métro Paris phục vụ việc đi lại cho khoảng 4,5 triệu lượt người mỗi ngày. Vào năm 2005, Métro Paris có tổng cộng 1,365 tỷ lượt hành khách. Tổng số Métro Paris có 298 bến, trong đó có 62 bến giao từ 2 tuyến trở lên. Về lượng hành khách vận chuyển, Métro Paris đứng thứ 4 thế giới sau các hệ thống tàu điện ngầm ở Moskva, Tokyo và Thành phố Mexico. Tính tổng chiều dài các tuyến, Métro Paris xếp thứ 7 thế giới sau các hệ thống Tàu điện ngầm Luân Đôn, New York, Seoul, Tokyo, Moskva và Madrid. Tuy vậy tính về tổng số bến tàu điện ngầm thì Métro Paris xếp thứ 3 thế giới, chỉ sau Hệ thống tàu điện ngầm Thành phố New York và Tàu điện ngầm Seoul.

Métro Paris là một phần của mạng lưới giao thông công cộng của Paris và vùng Île-de-France, gồm các hệ thống đường sắt RER, Transilien, tàu điện và các xe buýt. Công ty chịu trách nhiệm vận hành Métro Paris là RATP, Công ty quản lý giao thông công cộng Paris. RATP cũng là công ty quản lý một phần hệ thống RER cùng toàn bộ xe buýt Paris, một phần các xe buýt ngoại ô và 3 trên 4 tuyến tàu điện của Île-de-France. Tài chính của Métro Paris được STIF quản lý, cũng là đơn vị chịu trách nhiệm quy hoạch và phát triển hệ thống giao thông công cộng của vùng Île-de-France.

Paris

Paris là thủ đô của nước Pháp, cũng là một trong ba thành phố phát triển kinh tế nhanh nhất thế giới cùng Luân Đôn và New York và cũng là một trung tâm hành chính của vùng Île-de-France. Nằm ở phía bắc nước Pháp, khu vực trung tâm của châu Âu, Paris được xây dựng hai bên bờ sông Seine với tâm là đảo Île de la Cité. Đây cũng là nơi hợp lưu của sông Seine và sông Marne.

Paris nằm ở điểm gặp nhau của các hành trình thương mại đường bộ và đường sông, và là trung tâm của một vùng nông nghiệp giàu có. Vào thế kỷ 10, Paris đã là một trong những thành phố chính của Pháp cùng các cung điện hoàng gia, các tu viện và nhà thờ. Từ thế kỷ 12, Paris trở thành một trong những trung tâm của châu Âu về giáo dục và nghệ thuật. Thế kỷ 14, Paris là thành phố quan trọng bậc nhất của Cơ Đốc giáo và trong các thế kỷ 16, 17, đây là nơi diễn ra Cách mạng Pháp cùng nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của Pháp và châu Âu. Đến thế kỷ 19 và 20, thành phố trở thành một trong những trung tâm văn hóa của thế giới, thủ đô của nghệ thuật và giải trí.

Năm 2018, nội ô Paris có dân số là 2.206.488 người, mật độ 21.000 người/km², thuộc hàng cao nhất trong các thủ đô châu Âu. Nếu tính toàn bộ vùng đô thị Paris, vào năm 2013, dân số Paris là 12,405,426 người. Là thành phố thủ đô, Paris tập trung các hoạt động văn hóa, tài chính, thương mại... của toàn nước Pháp. Năm 2016, GDP của Paris cùng với toàn vùng Île-de-France đạt 681 tỷ euro, tương đương với nước Hà Lan.

Nổi tiếng với tên gọi Kinh đô ánh sáng, Paris là một trung tâm văn hóa lớn của thế giới và cũng là một trong những thành phố du lịch thu hút nhất. Sự nhộn nhịp, các công trình kiến trúc và không khí nghệ sĩ đã giúp Paris mỗi năm có đến 30 triệu khách nước ngoài. Thành phố còn được xem như kinh đô của thời trang cao cấp với nhiều khu phố xa xỉ cùng các trung tâm thương mại lớn. Là nơi đặt trụ sở chính của các tổ chức quốc tế như OECD, UNESCO... cộng với những hoạt động đa dạng về tài chính, kinh doanh, chính trị và du lịch đã khiến Paris trở thành một trong những trung tâm trung chuyển lớn nhất trên thế giới và được coi như một trong bốn "thành phố toàn cầu" cùng với New York, Luân Đôn và Tokyo.

Plovdiv

Plovdiv (tiếng Bulgaria: Пловдив) là thành phố lớn thứ hai ở Bulgaria với dân số 331.796 người theo điều tra dân số mới nhất năm 2011, thành phố Plovdiv lớn thứ hai ở quốc gia này sau thủ đô Sofia. Plovdiv có lịch sử kéo dài khoảng 6.000 năm, với dấu vết của một khu định cư thời kỳ đồ đá mới có niên đại khoảng 4000 TCN. Một số nguồn tin đáng tin cậy cho rằng Plovdiv là thành phố có người định cư lien tục lâu đời nhất của châu Âu. Trung tâm hành chính Plovdiv tỉnh ở phía nam Bulgaria và ba thành phố Plovdiv, Maritsa và Rodopi và Bulgaria Yuzhen khu vực quy hoạch tsentralen (NUTS II), cũng như thành phố của quan trọng nhất ở miền Bắc Thrace và vùng lịch sử quốc tế rộng hơn Thrace. Thành phố là một trung tâm kinh tế, giao thông vận tải, văn hóa và giáo dục quan trọng. Tổ chức giáo dục Mỹ lâu đời nhất bên ngoài nước Mỹ được thành lập trong Plovdiv năm 1860, sau đó được chuyển đến Sofia – Trường Cao đẳng Sofia Mỹ ngày nay của Sofia.

Được biết đến ở phương Tây đối với hầu hết lịch sử của nó với tên Hy Lạp Philippopolis, ban đầu nó là một khu định cư Thracia trước khi trở thành một thành phố La Mã lớn. Trong thời Trung cổ, nó giữ lại tầm quan trọng chiến lược trong khu vực, thay đổi tay giữa các đế chế Byzantine và Bungaria. Nó thuộc cai trị của đế chế Ottoman vào thế kỷ 14. Năm 1878, Plovdiv đã được chọn làm thủ phủ của khu vực tự trị của Ottoman Đông Rumelia, vào năm 1885, nó trở thành một phần của Bulgaria với sự thống nhất của khu vực đó và Công quốc Bulgaria.

Thành phố có sân bay quốc tế Plovdiv.

Quần đảo Falkland

Quần đảo Falkland (tiếng Anh: Falkland Islands ) hay Quần đảo Malvinas (tiếng Tây Ban Nha: Islas Malvinas [malˈβinas]) nằm tại Nam Đại Tây Dương. Các đảo chính của quần đảo này nằm cách 500 km về phía đông của bờ biển nam bộ Patagonia trên lục địa Nam Mỹ. Quần đảo có diện tích 12.200 km², gồm có đảo Đông Falkland, Tây Falkland và 776 đảo nhỏ hơn. Quần đảo là một lãnh thổ hải ngoại của Anh Quốc, chịu trách nhiệm tự quản nội bộ, còn Anh Quốc chịu trách nhiệm về các sự vụ quốc phòng và đối ngoại. Thủ phủ của quần đảo là Stanley trên đảo Đông Falkland.

Có tranh luận về vấn đề người châu Âu phát hiện và tiếp đến là thuộc địa hóa Quần đảo Falkland. Trong những thời điểm khác nhau, quần đảo có các khu định cư của Pháp, Anh Quốc, Tây Ban Nha, và Argentina. Anh Quốc tái xác nhận quyền thống trị của họ vào năm 1833, song Argentina duy trì tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo. Năm 1982, sau khi Argentina xâm chiếm quần đảo, Chiến tranh Falkland bùng phát với kết quả là lực lượng Argentina đầu hàng, quần đảo lại nằm dưới sự cai trị của Anh Quốc.

Dân số (2.932 cư dân năm 2012) chủ yếu gồm có người Quần đảo Falkland bản địa, phần lớn họ có huyết thống Anh Quốc. Các dân tộc khác gồm có người Pháp, người Gibraltar và người Scandinavia. Nhập cư từ Anh Quốc, đảo Saint Helena, và Chile giúp đảo ngược hiện tượng suy giảm dân số. Ngôn ngữ chiếm ưu thế (và chính thức) là tiếng Anh. Theo một đạo luật được Quốc hội Anh thông qua vào năm 1983, người Quần đảo Falkland là công dân Anh Quốc trên phương diện pháp luật.

Cả hai đảo lớn của quần đảo đều có các dãy núi đạt độ cao 2.300 foot (700 m). Quần đảo là nơi sinh sống của các quần thể chim lớn, song nhiều quần thể không còn sinh sản trên các đảo chính do sự cạnh tranh của những loài du nhập. Các hoạt động kinh tế chính tại quần đảo gồm có ngư nghiệp, du lịch, và chăn nuôi cừu, với trọng điểm là xuất khẩu len chất lượng cao. Hoạt động thăm dò dầu mỏ được Chính phủ Quần đảo Falkland cấp phép, song vẫn là vấn đề gây tranh luận do tranh chấp hàng hải với Argentina.

Santa Sofia, Benevento

Santa Sofia là một nhà thờ Công giáo La Mã nằm ở Benevento, thuộc vùng Campania, miền Nam nước Ý. Được thành lập vào cuối thế kỷ 8, công trình này vẫn giữ được các yếu tố gốc vốn có của nó.

Năm 2011, nhà thờ này được UNESCO công nhận là Di sản thế giới của UNESCO như là một trong số bảy địa điểm của Longobards tại Italia, những nơi chốn của quyền lực (568–774 CN).

Santa Sofia, Forlì-Cesana

Santa Sofia là một đô thị ở tỉnh Forlì-Cesena trong vùng Emilia-Romagna, có cự ly khoảng 80 km về phía đông nam của Bologna và khoảng 35 km về phía tây namcủa Forlì. Tại thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2004, đô thị này có dân số 4.223 người và diện tích là 148,5 km².

Santa Sofia giáp các đô thị: Bagno di Romagna, Civitella di Romagna, Galeata, Pratovecchio, Premilcuore, San Godenzo, Sarsina, Stia.

Sophia Loren

Sophia Loren, tên khai sinh Sofia Costanza Brigida Villani Scicolone (sinh ngày 20 tháng 9 năm 1934) là một nữ diễn viên người Italia đã từng đoạt tượng vàng Oscar. Bà thường được biết đến như nữ diên viên Italia nổi tiếng nhất thời bấy giờ và cũng là một biểu tượng sex lớn trên thế giới.

Loren nổi tiếng vì vẻ đẹp gợi cảm cùng tài năng trong cả lĩnh vực điện ảnh lẫn âm nhạc. Năm 1999, Viện phim Mỹ đã xếp bà vào một trong số những ngôi sao điện ảnh vĩ đại nhất mọi thời đại. Bà cũng là một trong số ít những diễn viên trong danh sách này còn sống cho đến ngày nay.

Tỉnh của Bulgaria

Bản mẫu:Chính trị Bulgaria

Tỉnh (tiếng Bulgaria: области на България, chuyển tự oblasti na Bǎlgarija) là phân khu hành chính cấp đầu tiên của Bulgaria.

Kể từ năm 1999, Bulgaria đã được chia thành 28 tỉnh (tiếng Bulgaria: области – oblasti; số ít: област – oblast' tương ứng với 28 khu (tiếng Bulgaria: окръг - okrag, số nhiều: окръъиии

Các tỉnh được chia thành 265 khu tự quản (tiếng Bulgaria số ít: община – obshtina, số nhiều: общини – obshtini).

Sofia - thành phố thủ đô của Bulgaria và là khu định cư lớn nhất trong cả nước, là trung tâm hành chính của cả tỉnh Sofia và Tỉnh thành phố Sofia (Sofia - grad ). Thủ đô được bao gồm (cùng với 3 thành phố khác cộng với 34 ngôi làng) trong Thành phố thủ đô Sofia (hơn 90% dân số sống ở Sofia), là đô thị duy nhất bao gồm tỉnh thành phố Sofia.

Varna

Varna (tiếng Bulgaria: Варна) là thành phố và khu nghỉ mát ven biển lớn nhất trên bờ biển Đen của Bulgaria, và là thành phố lớn thứ ba của Bulgaria sau thủ đô Sofia và Plovdiv, với dân số 334.870 người vào tháng 2 năm 2011. Đây cũng là trung tâm hành chính của tỉnh và đô thị cùng tên. Varna đứng thứ 11 trong số các thành phố lớn nhất bán đảo Balkan, sau Istanbul, Athens, Bucharest, Sofia, Beograd, Thessaloniki, Zagreb, Skopje, Tirana và Plovdiv.

Wayne Rooney

Wayne Mark Rooney (sinh ngày 24 tháng 10 năm 1985) là một cầu thủ bóng đá người Anh hiện đang chơi ở vị trí Tiền vệ tấn công cho câu lạc bộ D.C. United tại Giải bóng đá nhà nghề Mỹ MLS cũng như từng thi đấu cho đội tuyển Anh ở các trận đấu cấp độ quốc tế. Trước đây vị trí thi đấu của anh là trung phong hoặc hộ công tuy nhiên hiện nay anh thường thi đấu ở hàng tiền vệ. Rooney là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho Manchester United trong lịch sử câu lạc bộ (253 bàn) và đội tuyển Anh (53 bàn). Anh đã ghi 208 bàn tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, chỉ sau Alan Shearer (260 bàn).

Rooney bắt đầu sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp của mình với câu lạc bộ Everton vào năm 2002 và bàn thắng đầu tiên của Rooney vào lưới Arsenal khiến anh trở thành cầu thủ ghi bàn trẻ nhất trong lịch sử Premier League vào thời điểm đó. Anh nhanh chóng trở thành một phần của đội bóng và thi đấu hai mùa giải ở câu lạc bộ vùng Merseyside.

Trước khi bắt đầu mùa giải 2004-05, anh chuyển tới Manchester United với mức phí chuyển nhượng là 25,6 triệu bảng và trở thành một thành viên chủ chốt của đội một United. Kể từ đó, anh đã giành được Cúp ngoại hạng Anh năm lần, một danh hiệu UEFA Champions League mùa giải 2007-08, ba Cúp Liên Đoàn và hai cúp FA cùng câu lạc bộ. Cá nhân anh cũng được trao giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Hiệp hội Nhà báo Bóng đá Anh, Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Hiệp hội Cầu thủ Chuyên nghiệp Anh và Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải của Barclays trong cùng một mùa giải 2009-2010.

Rooney được gọi vào đội tuyển Anh lần đầu tiên vào năm 2003 và tại UEFA Euro 2004, anh có một thời gian ngắn trở thành cầu thủ ghi bàn trẻ nhất qua các kì giải đấu và cũng là cầu thủ thứ hai dưới 20 tuổi được gọi vào đội tuyển. Rooney thường xuyên được chọn để thi đấu cho đội tuyển Anh và đã có mặt tại FIFA World Cup 2006 và 2010. Tuy nhiên cả hai đều là những giải đấu đáng quên đối với anh khi Rooney không ghi được bàn thắng nào và đội tuyển Anh chỉ có thành tích cao nhất là vào đến tứ kết năm 2006.

Anh và người bạn gái từ thuở nhỏ Coleen Rooney đã cưới nhau vào năm 2008 và có con trai đầu lòng là Kai Rooney vào năm 2009.

Đội tuyển bóng đá quốc gia Bulgaria

Đội tuyển bóng đá quốc gia Bulgaria (tiếng Bulgaria: Български национален отбор по футбол) là đội tuyển cấp quốc gia của Bulgaria do Liên đoàn bóng đá Bulgaria quản lý.

Trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội tuyển Bulgaria là trận gặp đội tuyển Áo vào năm 1924. Thành tích tốt nhất của đội tuyển ở giải vô địch thế giới là vị trí thứ tư Giải bóng đá vô địch thế giới 1994, khi Bulgaria đánh bại đương kim vô địch Đức ở tứ kết.

Dữ liệu khí hậu của Sofia (1952–2011)
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 19.0 22.0 27.5 30.3 34.0 38.0 41.0 39.4 36.1 33.9 25.5 23.0 41,0
Trung bình cao °C (°F) 3.0 5.6 10.5 15.8 20.6 24.4 27.0 27.2 23.0 17.1 9.7 4.5 15,7
Trung bình ngày, °C (°F) −1.4 0.6 4.9 10.0 14.7 18.2 20.5 20.3 16.3 11.0 4.9 0.4 10,1
Trung bình thấp, °C (°F) −5 −3.6 0.0 4.5 9.0 12.3 14.0 13.8 10.2 5.7 0.9 −3.1 5,0
Thấp kỉ lục, °C (°F) −24 −25 −16.1 −6 −2 1.4 2.0 3.9 −1 −6 −15 −20 −25
Giáng thủy mm (inch) 29.7
(1.169)
31.7
(1.248)
40.8
(1.606)
76.7
(3.02)
70.4
(2.772)
71.9
(2.831)
68.5
(2.697)
56.7
(2.232)
36.9
(1.453)
42.8
(1.685)
54.1
(2.13)
41.1
(1.618)
621,3
(24,461)
độ ẩm 80.7 75.1 66.7 64.9 68.2 66.9 62.0 63.1 68.7 76.0 76.9 83.2 71,0
Số ngày giáng thủy TB 14.5 14.7 14.2 13.6 11.5 8.3 6.7 6.1 9.1 10.9 9.4 15.9 134,9
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 82.2 110.6 158.1 181.5 232.5 266.5 303.8 283.7 213.0 170.5 108.0 62.0 2.172,3
Nguồn: Climatebase.ru[14]
Bắc Âu
Đông Âu
Nam Âu
Tây Âu

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.