Scandinavie

Scandinavie (tiếng Pháp, được phát âm trong tiếng Việt như Xcan-đi-na-vi hoặc Xcăng-đi-na-vi) là khái niệm chỉ một phần hay toàn bộ vùng Bắc Âu. Trong địa lý, bán đảo Scandinavie là bán đảo với xương sống là dãy núi Scandinavie, được bao bọc bởi biển Baltic, biển Bắc, biển Na Uy của Đại Tây Dươngbiển Barents của Bắc Băng Dương. Bán đảo Scandinavie tương đương lãnh thổ đất liền hiện nay của Na Uy, Thụy Điển và một phần miền bắc Phần Lan. Trong lĩnh vực văn hoá, lịch sử và ngôn ngữ, Scandinavie được hiểu bao gồm Đan Mạch, Na UyThuỵ Điển.

Bắc Âu còn bao gồm các quốc gia và vùng lãnh thổ khác như Phần Lan, Iceland; đảo Greenland, quần đảo Faroe (thuộc Đan Mạch). Ở các vùng này tiếng Đan Mạchtiếng Thuỵ Điển được coi là ngôn ngữ thiểu số hay ngoại ngữ. Tất cả các nước Bắc Âu là thành viên của Hội đồng Bắc Âu.

Trong một số tài liệu, dựa trên tiêu chí ngôn ngữ, người ta cũng xếp Phần Lan vào khu vực Scandinavie. Số khác cho rằng Phần Lan và Scandinavie là hai khu vực phân biệt, chúng được xếp chung vào một vùng có tên là Fenno-Scandinavie. Trong lịch sử, Phần Lan đã từng là một phần của Thuỵ Điển trong suốt hơn một trăm năm. Ngày nay vẫn còn một bộ phận người thiểu số Thuỵ Điển sống ở Phần Lan. Tiếng Thuỵ Điển cũng là ngôn ngữ chính thứ hai của đất nước này. Tuy nhiên tiếng Phần Lan lại không có mấy điểm tương đồng với ngôn ngữ hàng xóm của họ. Nó cũng không nằm trong nhóm ngôn ngữ German của hệ ngôn ngữ Ấn-Âu mà thuộc nhóm ngôn ngữ Phần Lan-Ugri của hệ ngôn ngữ Ural. Do lịch sử nhiều năm bị phụ thuộc mà một số người Phần Lan không thích xếp đất nước họ và Thuỵ Điển chung vào một nhóm.

Scandinavie
Scandinavia M2002074 lrg
Diện tích928.057 km2 (358.325 sq mi)
Dân số~21 triệu (2016)
Mật độ dân số22/km2 (57/sq mi)
Tên gọi dân cưNgười Scandinavie
Quốc gia Đan Mạch
 Na Uy
 Thụy Điển
Đôi khi gồm cả:[1]
 Phần Lan
 Iceland
 Quần đảo Faroe
 Quần đảo Åland
Ngôn ngữ

Ngôn ngữ vùng miền:

Múi giờUTC+1
UTC+2 (DST)
Tên miền Internet
Map of Scandinavia
Scandinavie

Từ nguyên

Tên gọi Scandinavie bắt nguồn từ phiên âm Latinh Skathinawjö của một khái niệm viết bằng ngôn ngữ Thuỵ Điển cổ. Ở đây Skathi- có nghĩa là "nguy hiểm" hoặc "thiệt hại", còn –awjö là "đảo" hoặc "bán đảo". Gộp lại, Scandinavie có thể mang nghĩa là "bán đảo nguy hiểm". "Nguy hiểm" ở đây có lẽ chỉ các dòng hải lưu bao quanh bán đảo Scandinavie. Cụm từ Scandinavie ít nhiều có quan hệ ngữ nguyên với các từ như Skåne hay Skanör (tên một vùng đất phía nam Thuỵ Điển). Cũng có người cho rằng sự "nguy hiểm" bên trên chỉ đến các bờ cát tại vùng Skanör rất nguy hiểm cho giao thông đường biển. Một số người lại cho rằng nguồn gốc của Scandinavie liên quan đến tên gọi của nữ thần Skadi (Skade) của người Bắc Âu.

Thuật ngữ "người Scandinavie" cũng dùng để chỉ các dân tộc Bắc German, những người nói ngôn ngữ Scandinavie có nguồn gốc Bắc Âu cổ.

Địa lý

GaldhøpiggenFromFannaråki
Galdhøpiggen là nơi cao nhất tại Scandinavie, và là một phần của Dãy núi Scandinavie

Địa lý của Scandinavie rất đa dạng. Nổi bật là các vịh hẹp Na Uy, Dãy núi Scandinavie, vùng phẳng, thấp ở Đan Mạch, và các quần đảo của Thụy Điển và Na Uy. Thụy Điển có nhiều hồ và băng tích, còn sót lại từ thời băng hà.

Khí hậu thay đổi từ bắc đến nam và từ tây sang đông; với khí hậu bờ tây hải dương (Cfb) điển hình của Tây Âu tại Đan Mạch, phần xa nhất về phía nam của Thụy Điển và dọc bờ tây của Na Uy cho tới 65°B, với hiện tượng nâng sơn làm tăng giáng thủy (<5000 mm) tại một số vùng ở tây Na Uy. Vùng trung – từ Oslo đến Stockholm – có khí hậu lục địa ẩm (Dfb), và thường chuyển thành khí hậu cận Bắc cực (Dfc) xa hơn về phía nam và khí hậu bờ tây lạnh (Cfc) dọc theo bờ tây bắc. Có một vùng nó dọc bờ bắc phía đông Mũi Bắc có khí hậu lãnh nguyên (Et) do thiếu mùa hè ấm. Dãy núi Scandinavie chặn khí ôn hòa và ẩm từ phía tây nam, do đó bắc Thụy Điển và cao nguyên Finnmarksvidda ở Na Uy có ít giáng thủy và mùa đông lạnh. Có nhiều vùng lớn ở dãy núi Scandinavie có khí hậu lãnh nguyên núi cao.

Nhiệt độ ấm nhất tường được lưu lại ở Scandinavie là 38,0 °C tại Målilla (Thụy Điển).[2] Nhiệt độ lạnh nhất từng được ghi lại là −52,6 °C tại Vuoggatjålme (Thụy Điển).[3] Tháng lạnh nhất là tháng 2 năm 1985 tại Vittangi (Thụy Điển) với nhiệt độ trung bình −27,2 °C.[3]

Gió tây nam sau đó được làm ấm bởi gió foehn có thể tạo ra nhiệt độ ấm tại các vịnh hẹp Na Uy vào mùa đông; Tafjord đã đo được 17,9 °C vào tháng 1 và Sunndal 18,9 °C vào tháng 2.

Lịch sử

Swedish Empire (1560-1815) en2
Phạm vi lớn nhất của Đế quốc Thụy Điển (1561–1721)

Trong quá trình Công giáo hóa và lập quốc giữa thế kỷ thứ 10 và 13, các tiểu quốc Germanvà thủ lĩnh được thống nhất thành ba quốc gia:

Ba quốc gia Scandinavie năm 1387 tham gia vào Liên minh Kalmar dưới quyền nữ hoàng Margaret I của Đan Mạch. Thụy Điển rời liên minh năm 1523 dưới quyền vua Gustav Vasa. Hậu quả của việc ly khai khỏi liên minh Kalmar của Thụy Điển là nội chiến nổ ra tại Đan Mạch và Na Uy. Tiếp theo đó là cuộc cải cách Tin Lành. Khi mọi thứ đã ổn định, Viện cơ mật Na Uy bị phá bỏ-nó được tập hợp lần cuối vào năm 1537. Một liên minh cá nhân, tham gia bởi các vương quốc Đan Mạch và Na Uy năm 1536, kéo dài đến năm. Ba nước thừa kế độc lập sau đó đươc thành lập từ liên minh không bình đẳng này: Đan Mạch, Na Uy và Iceland.

Biên giới giữa ba nước có hình dạng như bây giờ kể từ giữa thế kỷ 17: Năm 1645 Hiệp ước Brömsebro, Đan Mạch–Na Uy nhượng các tỉnh của Na Uy gồm Jämtland, Härjedalen và Idre & Särna, cũng như các đảo tại biển Baltic Sea gồm Gotland và Ösel (Estonia) cho Thụy Điển. Hiệp ước Roskilde, được ký vào năm 1658, bắt Đan Mạch–Na Uy nhượng các tỉn của Đan Mạch gồm Scania, Blekinge, Halland, Bornholm và các tỉnh của Na Uy gồm Båhuslen và Trøndelag cho Thụy Điển. Hòa ước Copenhagen bắt Thụy Điển trả Bornholm và Trøndelag cho Đan Mạch–Na Uy, và từ bỏ yêu sách nhận chủ quyền hòn đảo Funen.[5]

Ở phía đông, Phần Lan, từng là một phần được sáp nhật hoàn toàn vào Thụy Điển từ thời Trung cổ cho tới chiến tranh Napoleon, khi nó nhượng lại cho Nga. Mặt dù có nhiều cuộc chiến kể từ khi ba quốc gia thành lập, Scandinavie đã luôn đóng cửa về mặt chính trị và văn hóa.

Sự tương đồng trong quốc kỳ các nước Scandinavie

Điểm đặc biệt đáng ghi chú là các cờ đều có chung hình thập tự gọi là thập tự Scandinavie, bắt nguồn từ quốc kỳ của nước Đan Mạch.

Đan Mạch (Danmark)
Flagge Dänemarks Quốc kỳ Đan Mạch có tên là Dannebrog, là biểu hiệu của quân thập tự vào thời Trung cổ. Đây là lá cờ chính quyền cổ xưa nhất còn được dùng đến ngày nay.
Thuỵ Điển (Sverige)
Flagge Schwedens Quốc kỳ Thụy Điển có màu nền xuất phát từ màu của huy hiệu hoàng gia, tương tự nguồn gốc màu của lá cờ Đan Mạch
Na Uy (Norge/Noreg)
Flagge Norwegens Quốc kỳ Na Uy chỉ dựa một phần vào màu của huy hiệu gia đình nhà vua. Nó dựa vào lá cờ của Đan Mạch. Từ năm 1380 cho tới 1814, Na Uy thuộc Liên minh Đan Mạch-Na Uy, coi như là một phần của Đan Mạch. Màu xanh ở đây biểu tượng cho màu xanh đậm của Fjord và không khí trong lành.
Phần Lan (Suomi/Finland)
Flagge Finnlands
Quốc kỳ Phần Lan được gọi là Siniristilippu ("cờ chữ thập xanh"). Những màu sắc trên lá cờ biểu hiện các đặc điểm thiên nhiên của đất nước này. Màu xanh lam tượng trưng cho bầu trời và sông hồ, còn màu trắng tượng trưng cho tuyết và những đêm trắng, một hiện tượng thiên nhiên thường thấy vào mùa hè tại Phần Lan.
Iceland (Ísland)
Nationalflagge Islands Quốc kỳ Iceland gồm nền cờ màu lam, trên có chữ thập màu trắng và màu đỏ. Màu lam biểu thị cho đại dương, màu trắng biểu thị tuyết trắng, hai màu này là quốc sắc của Iceland. Thập tự đỏ phản ánh lịch sử Iceland từng thuộc nước Đan Mạch. Cho tới 1944 Iceland là một phần của Đan Mạch.

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ “Definition of Scandinavia in English”. Oxford Dictionaries. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2016.
  2. ^ Högsta uppmätta temperatur i Sverige Lưu trữ 26 August 2010 tại Wayback Machine.
  3. ^ a ă Lägsta uppmätta temperatur i Sverige Lưu trữ 28 December 2008 tại Wayback Machine.
  4. ^ Oskar Bandle (2002). The Nordic languages: an international handbook of the history of the North Germanic languages. Mouton De Gruyter. ISBN 978-3-11-014876-3.
  5. ^ "Treaty of Copenhagen" (2006). In Encyclopædia Britannica. Retrieved 9 November 2006, from Encyclopædia Britannica Online.

Liên kết ngoài

Bán đảo

Bán đảo là phần đất liền nằm nhô ra mặt nước, có ba hoặc nhiều mặt tiếp xúc với nước. Phần đất liền gắn với bán đảo có diện tích lớn hơn. Kích thước của bán đảo không bị giới hạn. Có những bán đảo lớn bằng một châu lục, ví dụ: Châu Âu được xem là bán đảo của Lục địa Á-Âu; hoặc có những bán đảo nhỏ như bán đảo Sơn Trà.

Bán đảo Scandinavie

Bán đảo Scandinavie (Tiếng Việt: Bán đảo Xcan-đi-na-vi, dạng phiên âm khác: Xcăng-đi-na-vi) là bán đảo lớn nhất ở Châu Âu, tương đương lãnh thổ phần đất liền hiện nay của Na Uy, Thụy Điển và miền tây bắc Phần Lan.

Bán đảo Scandinavie dài 1.900 km, chỗ rộng đến 800 km. Diện tích 800 nghìn km2. Bao bọc bởi các biển Barents, biển Na Uy, biển Bắc, biển Baltic, bờ phía tây và phía bắc cao, dốc và bị chia cắt mạnh mẽ bởi các fjord, bờ nam và phía đông thấp, lởm chởm đá, thuộc kiểu bờ vách dựng đứng. Phần lớn bán đảo là miền núi Scandinavie, độ cao trung bình 1.200 - 1.400 m, nhưng trên mặt vẫn còn lại các bề mặt san bằng rộng, người địa phương gọi là fande, nằm trên các độ cao khác nhau. Sườn đông của dãy núi Scandinavie đổ dốc thoải xuống miền đồng bằng có mạng lưới sông hồ dày đặc, trên đồng bằng còn nhiều dạng địa hình nguồn gốc sông băng như các dãy đồi băng tích, các khối đá trán cừu, các thung lũng sông băng cũ và nhiều hồ (Vänern, Mälaren, Vättern, v.v.). Ở phía bắc - đài nguyên và rừng lá kim; ở phía nam - rừng hỗn giao và rừng lá rộng. Khoáng sản: sắt, đồng, crom, than, chì, kẽm. Các quốc gia ở bán đảo Scandinavie: Thuỵ Điển, Na Uy, phần tây bắc của Phần Lan.

Cu gáy châu Âu

Cu gáy châu Âu (Streptopelia turtur) là một loài chim trong họ Bồ câu (Columbidae). Đây là một loài di cư ở phía nam của Cổ Bắc giới với phạm vi bao gồm hầu hết châu Âu, Trung Đông, Thổ Nhĩ Kỳ, Bắc Phi. Chúng cũng xuất hiện nhưng rất hiếm tại bắc Scandinavie và Nga. Cu gáy châu Âu trú đông tại Nam Phi.

Dãy núi Scandinavie

Dãy núi Scandinavie hoặc Scandes, (tiếng Thụy Điển: Skanderna, Fjällen hoặc Kölen, tiếng Phần Lan: Köli, tiếng Na Uy: Kjølen) là dãy núi kéo dài suốt bán đảo Scandinavie. Dãy núi Scandinavie tương đương với Kiến tạo sơn Caledonia Scandinavie. Các sườn phía tây trở nên dốc đứng quay ra biển Bắc và biển Na Uy, tạo thành các vịnh hẹp khoét sân vào đất liền nổi tiếng của Na Uy, trong khi ở phía đông bắc, dãy núi dần dần uốn vào Phần Lan. Ở phía bắc, dãy núi này tạo thành biên giới thiên nhiên giữa Na Uy và Thụy Điển, có chỗ cao tới 2.000 m (6.600 ft) ở Vòng Bắc Cực. Dãy núi này chỉ vừa chạm vào vùng cực tây bắc của Phần Lan, nhưng ở phần mở rộng phía cực bắc ở Mũi đất Bắc Na Uy, nó không cao hơn các đồi bao nhiêu.

Fjord

Trong địa lý, một fjord hay fiord là một vịnh nhỏ dài, hẹp, với những dốc đứng hay vách đá cao, do sông băng tạo ra. Có nhiều fjord dọc vùng ven biển Alaska, British Columbia, Chile, Greenland, Iceland, quần đảo Kerguelen, New Zealand, Na Uy, Novaya Zemlya, Labrador, Nunavut, Newfoundland, Scotland, bán đảo Scandinavie và bang Washington. Bờ biển Na Uy ước tính dài đến 29.000 kilômét (18.000 mi) khi tính cả 1.190 fjord, nhưng rút lại còn 2.500 kilômét (1.600 mi) khi không.

Gaston Bonnier

Gaston Eugène Marie Bonnier (9 tháng 4 năm 1853 tại Paris - 2 tháng 1 năm 1922) là một nhà thực vật học và sinh thái học người Pháp. Ban đầu Bonnier nghiên cứu tại École Normale Supérieure ở Paris từ năm 1873 dến năm 1876. Cùng với Charles Flahault, ông nghiên cứu tại Đại học Uppsala vào năm 1878. Họ đã cho xuất bản hai đề tài về những ấn tượng của họ:

Observations sur la flore cryptogamique de la Scandinavie

Sur la distribution des végétaux dans la region moyenne de la presqu’ile Scandinave (cùng với Charles Flahault 1879)Sau đó, ông trở thành phó giáo sư, và sau là giáo sư thực vật học tại Sorbonne vào năm 1887. Ngoài ra, ông còn thành lập Phòng thí nghiệm Cây trồng Sinh học ởFontainebleau vào năm 1889. Trong cùng năm đó, ông đồng sáng lập ra tờ tạp chí khoa học Revue Générale de Botanique, mà ông tham gia biên tập cho đến năm 1922.

Ông là người trình bày những thí nghiệm sinh thái học thực vật ban đầu. He cấy các cây trồng ở núi Al pơ giữa dãy núi Alps và Pyrenees đồng thời nghiên cứu khu vườn ở Fontainebleau. Các kết quả được xuất bản trong các ấn phẩm:

Cultures expérimentales dans les Alpes et les Pyrénées. Revue Générale de Botanique 2 (1890): 513-546.

Les plantes arctiques comparées aux ménes espèces des Alpes et des Pyrénées (1894).

Nouvelles observations sur les cultures expérimentales à diverses altitudes et cultures par semis. Revue Générale de Botanique 3 (1920): 305-326.Ông là tác giả của nhiều quần thể thực vật ở Pháp, như

Nouvelle flore du Nord de la France et de la Belgique pour la détermination facile des plantes sans mots techniques. Vol. I. Tableaux synoptiques des plantes vasculaires de la flore de la France. P. Dupont, Paris, 1894 (với Georges de Layens (1834-1897)).

Tập II. Nouvelle Flore des mousses et des hépatiques với Charles Isidore Douin (1858-1944). P. Dupont, Paris, 1895.

Tập III. Nouvelle Flore des champignons với Julien Noël Costantin (1857-1936) and Léon Marie Dufour (1862-1942). P. Dupont, Paris, 1895.

Flore complète illustrée de France, Suisse et Belgique. (1911).

Những sinh viên lỗi lạc của Gaston Bonnier bao gồom:

Paul Jaccard

Hoa hậu Scandinavie

Hoa hậu Scandinavie là một cuộc thi sắc đẹp dành cho các quốc gia nằm trên bán đảo Scandinavie là Na Uy và Thụy Điển cùng với ba quốc gia Bắc Âu khác là Phần Lan, Đan Mạch và Iceland. Cuộc thi được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1961 và kết thúc vào năm 2005. Hiện không có thông tin rằng cuộc thi này có được tổ chức tiếp trong những năm tới hay không.

Trong quá trình tổ chức, cuộc thi đã bị tạm hoãn vào các năm 1962, 1976, 1983, 1984, 1985.

Hành tinh

Hành tinh là một thiên thể quay xung quanh một ngôi sao hay các tàn tích sao, có đủ khối lượng để nó có hình cầu do chính lực hấp dẫn của nó gây nên, có khối lượng dưới khối lượng giới hạn để có thể diễn ra phản ứng hợp hạch (phản ứng nhiệt hạch) của deuterium, và đã hút sạch miền lân cận quanh nó như các vi thể hành tinh.. "Hành tinh" ở các ngôn ngữ Âu châu như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ý, tiếng Đức... đều có nguồn gốc từ chữ planetes (Πλανήτης) của tiếng Hy Lạp. Planetes có nghĩa là "dân du mục".

Tên của các hành tinh trong hệ Mặt Trời, xét theo sự tăng dần khoảng cách từ Mặt Trời: gồm bốn hành tinh đá Sao Thủy, Sao Kim, Trái Đất, và Sao Hỏa, bốn hành tinh khí khổng lồ Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Thiên Vương, và Sao Hải Vương (Sao Diêm Vương đã từng được xếp vào nhóm này nhưng hiện tại bị loại ra do không đáp ứng được tiêu chí ba trong định nghĩa của IAU 2006). Những tên này được chọn dựa theo hệ thống Ngũ Hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) và thêm vào đó là trời (thiên), biển (hải) và địa ngục (diêm hay diêm la). Hành tinh của chúng ta có một tên đặc biệt (Trái Đất) không thuộc vào hệ thống tên vừa kể trên nhưng thường được gọi là Quả Đất hay Trái Đất hoặc Địa Cầu.

Từ năm 1992, hàng trăm hành tinh quay xung quanh ngôi sao khác ("hành tinh ngoài Hệ Mặt Trời" hay "hành tinh ngoại hệ") trong Ngân Hà đã được khám phá. Đến 28 tháng 10 năm 2011, đã phát hiện được 695 hành tinh ngoài hệ Mặt Trời, có kích thước từ các hành tinh khí khổng lồ lớn hơn Sao Mộc cho đến kích thước của các hành tinh đá, với 528 hệ hành tinh và 81 hệ đa hành tinh (các hành tinh quay quanh sao đôi hoặc sao ba).

Hòa ước Copenhagen

Hòa ước Copenhagen là hòa ước được ký ngày 27 tháng 5 năm 1660 tại Copenhagen (thủ đô Đan Mạch), giữa Thụy Điển và Đan Mạch, đánh dấu việc kết thúc Cuộc chiến tranh Thụy Điển - Đan Mạch (1658 - 1660).

Liên minh Kalmar

Liên minh Kalmar (tiếng Đan Mạch, tiếng Na Uy, tiếng Thụy Điển: Kalmarunionen) là liên minh giữa 3 vương quốc Đan Mạch, Na Uy và Thụy Điển dưới quyền cai trị của một quốc vương duy nhất từ năm 1397 tới năm 1523. Ba vương quốc này từ bỏ vương quyền, nhưng vẫn giữ quyền độc lập của mình.

Sự bất bình của các người Thụy Điển đối với thuế má cao và sự tập trung nhiều quyền hành vào Đan Mạch là nguyên nhân gây ra xung đột, dẫn tới việc chấm dứt liên minh sau này.

Liên minh giữa Thụy Điển và Na Uy

Liên minh cá nhân giữa Thụy Điển và Na Uy (tiếng Thụy Điển: Svensk-norska unionen; tiếng Na Uy: Den svensk-norske union), có tên chính thức Vương quốc Liên hiệp Thụy Điển và Na Uy, là một liên minh cá nhân của 2 vương quốc riêng biệt Thụy Điển và Na Uy dưới một quân vương chung và một chính sách đối ngoại chung 1814-1905, trước khi Thụy Điển chấp nhận Na Uy rời khỏi liên minh.Cả hai nước giữ hiến pháp, pháp luật, cơ quan lập pháp, cơ quan hành chính, nhà thờ nhà nước, lực lượng vũ trang, các đồng tiền riêng biệt; nhà vua chủ yếu cư trú tại Stockholm, nơi các đại diện ngoại giao nước ngoài có trụ sở. Chính phủ Na Uy đã được chủ trì bởi phó vương: Người Thụy Điển cho đến năm 1829, người Na Uy cho đến năm 1856. Cơ quan này sau đó đã bị bỏ trống và hủy bỏ vào năm 1873. Chính sách ngoại giao được tiến hành thông qua Bộ Ngoại giao Thụy Điển cho đến khi Liên minh bị giải thể trong năm 1905.

Na Uy đã từng có một liên minh chặt chẽ hơn với Đan Mạch, nhưng liên minh của Đan Mạch-Na Uy với Pháp của Napoleon làm cho Vương quốc Anh và đế quốc Nga đồng ý với việc sáp nhập Na Uy vào Thụy Điển để đền bù cho việc mất Phần Lan vào tay Nga trong năm 1809 và coi đây là một phần thưởng cho việc gia nhập liên minh chống lại Napoleon. Trong Hiệp ước Kiel vào năm 1814, nhà vua của Đan Mạch-Na Uy đã buộc phải nhường lại Na Uy cho vua của Thụy Điển. Nhưng Na Uy từ chối tuân theo các điều khoản của hiệp ước, tuyên bố độc lập, và triệu tập một hội đồng lập hiến ở Eidsvoll.

Sau khi thông qua Hiến pháp mới của Na Uy vào ngày 17 tháng 5 năm 1814, Hoàng tử Christian Frederick được bầu làm vua. Chiến tranh Thụy Điển-Na Uy tiếp theo (1814) và Công ước của Moss buộc Christian Frederick phải thoái vị sau khi một phiên họp bất thường của Quốc hội Na Uy, Storting, sửa đổi Hiến pháp để cho phép cho một liên minh cá nhân với Thụy Điển. Vào ngày 4 tháng 11, Storting bầu Charles XIII làm Vua của Na Uy, qua đó khẳng định Liên minh. Sự khác biệt tiếp tục giữa hai nước dẫn đến sự thất bại để tạo ra một dịch vụ lãnh sự Na Uy riêng biệt và sau đó, trên 07 tháng 6 năm 1905, Storting tuyên bố đơn phương độc lập. Thụy Điển chấp nhận việc giải thể của Liên minh vào ngày 26 tháng 10. Sau một cuộc trưng cầu dân ý chấp nhận cuộc bầu cử Hoàng tử Karl của Đan Mạch làm vị vua mới của Na Uy, ông chấp nhận việc dâng ngai vàng của Storting vào ngày 18 tháng 11 và lấy vương hiệu Haakon VII.

Na Uy

Na Uy (Bokmål: Norge; Nynorsk: Noreg), tên chính thức là Vương quốc Na Uy, là một quốc gia Bắc Âu nằm ở Tây Bắc Châu Âu có lãnh thổ bao gồm phần phía tây và cực bắc của Bán đảo Scandinavi; hòn đảo xa xôi Jan Mayen và quần đảo Svalbard cũng là một phần của Vương quốc Na Uy. Đảo Peter I ở Nam Cực và Đảo Bouvet ở Nam Cực là những lãnh thổ phụ thuộc và do đó không được coi là một phần của vương quốc. Na Uy cũng đưa ra những yêu sách lãnh thổ đối với một phần của Nam Cực được gọi là Queen Maud Land.

Na Uy có tổng diện tích là 385.207 kilômét vuông (148.729 sq mi) và dân số là 5.312.300 (tính đến tháng 8 năm 2018). Đất nước này có chung biên giới phía đông với Thụy Điển (có chiều dài là 1.619 km hoặc 1.006 mi). Na Uy giáp Phần Lan và Nga ở phía đông bắc, và eo biển Skagerrak ở phía nam, với Đan Mạch ở phía bên kia. Na Uy có đường bờ biển dài, hướng ra Bắc Đại Tây Dương và Biển Barents.

Harald V của Nhà Glücksburg là Quốc vương Na Uy hiện tại. Erna Solberg đã trở thành thủ tướng của Na Uy kể từ năm 2013 khi bà thay thế Jens Stoltenberg. Là một quốc gia có chủ quyền thống nhất với chế độ quân chủ lập hiến, chính trị Na Uy có sự phân chia quyền lực nhà nước giữa quốc hội, nội các và tòa án tối cao, như đã được quy định bởi hiến pháp năm 1814. Vương quốc Na Uy được thành lập vào năm 872 dưới dạng sáp nhập một số lượng lớn các vương quốc nhỏ và tồn tại liên tục trong suốt 1.147 năm sau đó. Từ 1537 đến 1814, Na Uy là một phần của Vương quốc Đan Mạch-Na Uy và từ năm 1814 đến 1905, nó nằm trong một liên minh cá nhân với Vương quốc Thụy Điển. Na Uy giữ vị thế trung lập trong Thế chiến thứ nhất. Na Uy vẫn trung lập cho đến tháng 4 năm 1940 khi đất nước bị Đức Quốc xã xâm chiếm và chiếm đóng cho đến khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai.

Na Uy có cả phân khu hành chính và chính trị ở hai cấp: Hạt và khu tự quản. Người Sámi có quyền tự quyết và ảnh hưởng nhất định đối với các lãnh thổ truyền thống của họ thông qua Nghị viện Sámi và Đạo luật Finnmark. Na Uy duy trì mối quan hệ chặt chẽ với cả Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ. Na Uy là thành viên sáng lập của Liên hợp quốc, NATO, Hiệp hội thương mại tự do châu Âu, Hội đồng châu Âu, Hiệp ước Nam Cực và Hội đồng Bắc Âu; đất nước này cũng là một thành viên của Khu vực kinh tế châu Âu, WTO và OECD.

Na Uy duy trì mô hình phúc lợi Bắc Âu với hệ thống chăm sóc sức khỏe toàn dân và hệ thống an sinh xã hội toàn diện, và các giá trị của mô hình này bắt nguồn từ những lý tưởng bình đẳng. Nhà nước Na Uy nắm quyền sở hữu đối với nhiều ngành công nghiệp quan trọng, đất nước này cũng có trữ lượng dầu mỏ, khí đốt tự nhiên, khoáng sản, rừng, thủy sản và nước ngọt rất lớn. Ngành dầu khí chiếm khoảng một phần tư tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của đất nước. Nếu tính theo bình quân đầu người, Na Uy là nhà sản xuất dầu và khí tự nhiên lớn nhất thế giới bên ngoài Trung Đông.Đất nước này có thu nhập bình quân đầu người cao thứ tư trên thế giới trong danh sách của Ngân hàng Thế giới và IMF. Trên danh sách GDP (PPP) bình quân đầu người của CIA (ước tính năm 2015) bao gồm cả các lãnh thổ và khu vực tự trị, Na Uy xếp thứ mười một. Na Uy là nước có Quỹ đầu tư quốc gia lớn nhất thế giới, với giá trị 1 nghìn tỷ USD. Na Uy đứng nhất thế giới về Chỉ số Phát triển Con người kể từ năm 2009, một vị trí mà đất nước này cũng đã nắm giữ từ năm 2001 đến năm 2006. Na Uy đứng đầu trong Báo cáo Hạnh phúc Thế giới năm 2017 và hiện cũng đang đứng đầu về Chỉ số Cuộc sống Tốt của OECD, Chỉ số Chính trực Công khai và Chỉ số Dân chủ. Na Uy cũng là một trong những nước có tỷ lệ tội phạm thấp nhất trên thế giới.

Người Mỹ gốc Scandinavie

Người Mỹ gốc Scandinavie là người Mỹ gốc Bắc Âu, hoặc người gốc một phần Bắc Âu, được định nghĩa trong bài viết này bao gồm người Mỹ gốc Đan Mạch (ước tính: 1.453.897), người Mỹ gốc Faroe (không ước tính), người Mỹ gốc Phần Lan (ước tính: 677.272), người Mỹ gốc Greenland (ước tính: 352), Người Mỹ gốc Iceland (ước tính: 51.234), người Mỹ gốc Na Uy (ước tính: 4.602.337), người Mỹ gốc Sami (ước tính: 30.000) và người Mỹ gốc Thụy Điển (ước tính: 4.293.208). Cũng bao gồm những người báo cáo tổ tiên 'Bắc Âu' (ước tính: 230.027) hoặc tổ tiên 'Scandinavie' (ước tính: 582.549). Theo dữ liệu điều tra dân số năm 2010, có khoảng 11.890.524 người gốc Scandinavie ở Hoa Kỳ.

Người Sami

Người Sami (cũng gọi là Sámi hay Saami, từng được gọi là người Lapp hay người Lapland) là một dân tộc Finn-Ugri cư ngụ tại vùng Bắc Cực thuộc Sápmi, ngày nay bao gồm phần miền bắc của Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan, và bán đảo Kola (Nga). Người Sami là dân tộc bản địa duy nhất tại Scandinavia được công nhận và bảo hộ dưới hiệp định quốc tế về người bản xứ, và là tộc người bản địa sinh sống xa nhất về phía bắc tại châu Âu. Vùng "đất tổ" Sami không được xác định rõ ràng. Ngôn ngữ truyền thống của họ là các ngôn ngữ Sami (một nhánh trong hệ ngôn ngữ Ural).

Truyền thống, người Sami có thể đánh bắt cá tại vùng duyên hải, bẫy thú, hay chăn cừu, nhưng họ được biết đến nhiều nhất như những người bán du mục chăn tuần lộc. Hiện nay chỉ khoảng 10% người Sami còn liên hệ với việc chăn tuần lộc, một công việc cung cấp cho họ thịt, lông, và cả sự chuyên chở. Chỉ 2.800 người Sami làm công việc chăn tuần lộc hằng ngày. Vì lý do tập quán, môi trường, văn hóa, và chính trị, nghề chăn tuần lộc được bảo vệ hợp pháp chỉ đối với người Sami ở một số vùng thuộc các nước Bắc Âu.

Ngữ chi German Bắc

Ngữ chi German Bắc là một trong ba nhánh con của ngữ tộc German, một phần nhóm của ngữ hệ Ấn-Âu, cùng với ngữ chi German Tây và ngữ chi German Đông đã tuyệt chủng. Nhóm này có khi cũng được gọi là "ngữ chi Bắc Âu", xuất phát từ cách gọi trực tiếp trong tiếng Đan Mạch (Nordiske sprog), tiếng Thụy Điển (Nordiska språk) và tiếng Na Uy (Nordiske språk trong Bokmål).

Tại Scandinavia, thuật ngữ "nhóm ngôn ngữ Scandinavie" được dùng để chỉ các ngôn ngữ của ba quốc gia Scandinavia lục địa, loại trừ đi các ngôn ngữ miền hải đảo là tiếng Faroe và tiếng Iceland.

Thuật ngữ "German Bắc" được dùng trong ngôn ngữ học so sánh, còn "Scandinavia" xuất hiện trong các nghiên cứu về ngôn ngữ chuẩn hiện đại và dãy phương ngữ tại Scandinavia.Khoảng 20 triệu người tại các nước Bắc Âu sử dụng ít nhất một ngôn ngữ German Bắc như bản ngữ, bao gồm cả thiểu số 5% nói tiếng Thụy Điển tại Phần Lan.

Ngựa nước kiệu máu lạnh Scandinavie

Ngựa nước kiệu máu lạnh Scandinavie có thể thuộc một trong hai giống ngựa có liên quan và liên kết chặt chẽ với nhau: Norsk Kaldblodstraver (Ngựa nước kiệu máu lạnh Na Uy) và Svensk Kallblodstravare (Ngựa nước kiệu máu lạnh Thụy Điển). Ngựa nước kiệu máu lạnh Scandinavie, còn được biết đến rộng rãi trong các cơ quan đăng ký giống quốc tế là Ngựa kéo nước kiệu, là kết quả của việc lai giữa những con ngựa nhẹ và nhanh hơn với những con ngựa trang trại có nguồn gốc là ngựa máu lạnh, hoặc là ngựa Dølehest của Na Uy hoặc Ngựa Bắc Thụy Điển. Mặc dù những cá thể ngựa gựa nước kiệu máu lạnh Na Uy và Thụy Điển về cơ bản được coi là một giống duy nhất, hai sách về giống ngựa của hai quốc gia vẫn được duy trì và yêu cầu đăng ký khác nhau ở một số khía cạnh giữa hai nước.

Scandza

Scandza là một địa danh được đề cập sớm nhất trong sách Getica (551 SCN) của sử gia Iordanes người Gothic-Byzantine. Qua những gì tác giả này mô tả, học giới ngày nay coi Scandza là gốc tích của tên gọi Scandinavia nhưng không bao hàm toàn bộ khu vực ấy theo địa lý đương đại.

Thảm họa Chernobyl

Thảm hoạ Chernobyl là một vụ tại nạn hạt nhân xảy ra vào ngày 26 tháng 4 năm 1986 khi nhà máy điện hạt nhân Chernobyl ở Pripyat, Ukraina (khi ấy còn là một phần của Liên bang Xô viết) bị nổ. Đây được coi là vụ tai nạn hạt nhân trầm trọng nhất trong lịch sử năng lượng hạt nhân. Do không có tường chắn, đám mây bụi phóng xạ tung lên từ nhà máy lan rộng ra nhiều vùng phía tây Liên bang Xô viết, Đông và Tây Âu, Scandinavie, Anh quốc, và đông Hoa Kỳ. Nhiều vùng rộng lớn thuộc Ukraina, Belarus và Nga bị ô nhiễm nghiêm trọng, dẫn tới việc phải sơ tán và tái định cư cho hơn 336.000 người. Khoảng 60% đám mây phóng xạ đã rơi xuống Belarus. Theo bản báo cáo năm 2006 của TORCH, một nửa lượng phóng xạ đã rơi xuống bên ngoài lãnh thổ ba nước cộng hoà Xô viết Thảm hoạ này phát ra lượng phóng xạ lớn gấp bốn trăm lần so với quả bom nguyên tử được ném xuống Hiroshima.

Vụ tai nạn làm dấy lên những lo ngại về sự an toàn trong ngành công nghiệp năng lượng hạt nhân Xô viết, làm đình trệ sự phát triển của ngành này trong nhiều năm, đồng thời buộc chính phủ Xô viết phải công bố một số thông tin. Các quốc gia: Nga, Ukraina, Belarus, ngày nay là các quốc gia độc lập, đã phải chịu chi phí cho nhiều chiến dịch khử độc và chăm sóc sức khoẻ cho những người bị ảnh hưởng từ vụ Chernobyl. Rất khó để kiểm kê chính xác số người đã thiệt mạng trong tai nạn này, bởi vì sự che đậy thông tin thời Xô viết gây khó khăn cho việc truy ra những nạn nhân. Danh sách này không đầy đủ, và chính quyền Xô viết sau đó đã cấm các bác sĩ được ghi chữ "phóng xạ" trong giấy chứng tử . Tuy nhiên, đa số những căn bệnh nguy hiểm về lâu dài có thể dự đoán trước như ung thư, trên thực tế vẫn chưa xảy ra, và sẽ rất khó để gắn nó có nguyên nhân trực tiếp với vụ tai nạn. Những ước tính và những con số đưa ra khác nhau rất xa. Một bản báo cáo năm 2005 do Hội nghị Chernobyl, dưới quyền lãnh đạo của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đưa ra cho rằng có 56 người chết ngay lập tức; 47 công nhân và 9 trẻ em vì ung thư tuyến giáp, và ước tính rằng có khoảng 9.000 người, trong số gần 6.6 triệu, cuối cùng sẽ chết vì một loại bệnh ung thư nào đó. Riêng tổ chức Hoà bình xanh ước tính tổng số người chết là 93.000, nhưng đã ghi trong bản báo cáo của họ rằng "Những con số được đưa ra gần đây nhất cho thấy rằng chỉ riêng ở Belarus, Nga và Ukraina vụ tai nạn có thể đã dẫn tới cái chết thêm của khoảng 200.000 người trong giai đoạn từ 1990 đến 2004."

Tên người Iceland

Tên người Iceland khác với đa phần các nước phương Tây (dùng họ), ở việc dùng phụ danh (đôi khi mẫu danh): chúng cho biết cha (hoặc mẹ) của một người thay vì dòng họ gia đình của họ. Iceland chia sẻ di sản văn hóa chung với các nước Scandinavie gồm Na Uy, Thụy Điển và Đan Mạch cũng như Quần đảo Faroe. Tuy nhiên, người Iceland, khác với những người Scandinavie còn lại, vẫn tiếp tục sử dụng hệ thống đặt tên truyền thống này, mà trước đây được dùng bởi tất cả các nước Bắc Âu, trừ một số vùng ở Phần Lan. Do vậy, hệ thống tên người Iceland không dựa trên họ (dù vài người có họ và có thể sử dụng cả hai hệ thống). Thường, tên phía sau của một người cho biết tên riêng của bố (phụ danh) hoặc mẹ (mẫu danh) của người đó.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.