Sa mạc Sahara

Sahara (tiếng Ả Rập: الصحراء الكبرى‎, aṣ-Ṣaḥrāʾ al-Kubrā , nghĩa là sa mạc lớn) là sa mạc lớn nhất trên trái đất, là hoang mạc lớn thứ 3 trên Trái Đất (sau Châu Nam CựcVùng Bắc Cực), với diện tích hơn 9.000.000 km², xấp xỉ diện tích của Hoa KỳTrung Quốc. Sahara ở phía bắc châu Phi và có tới 2,5 triệu năm tuổi.

Sahara (الصحراء الكبرى)
Sa mạc Lớn
Hoang mạc
Sahara satellite hires
Sahara
Các quốc gia Algérie, Chad, Ai Cập, Eritrea, Libya, Mali, Mauritanie, Maroc, Niger, Sudan, Tunisia, Tây Sahara
Điểm cao nhất Emi Koussi 11.204 ft (3.415 m)
 - tọa độ 19°47′36″B 18°33′6″Đ / 19,79333°B 18,55167°Đ
Điểm thấp nhất Đất trũng Qattara −436 ft (−133 m)
 - Tọa độ 30°0′0″B 27°5′0″Đ / 30°B 27,08333°Đ
Chiều dài 4.800 km (2.983 mi), E/W
Chiều rộng 1.800 km (1.118 mi), N/S
Diện tích 9.400.000 km2 (3.629.360 sq mi)
Hoang mạc
Video Sahara và Trung Đông.

Tổng quan

SafsafOasis SAR comparison
Ảnh trên thể hiện Ốc đảo Safsaf trên bề mặt Sahara. Ảnh dưới (sử dụng radar) là lớp đá dưới mặt đất, bộc lộ những kênh đen bị cắt bởi con sông uốn khúc cổ từng cấp nước cho ốc đảo.

Được bao bọc bởi Đại Tây Dương ở phía Tây, dãy núi AtlasĐịa Trung Hải ở phía Bắc, Biển Đỏ (Hồng Hải) và Ai Cập ở phía Đông; Sudan và thung lũng sông Niger ở phía Nam. Điểm cao nhất trong sa mạc là đỉnh núi Emi Koussi với độ cao 3415 m so với mực nước biển, thuộc dãy núi Tibesti phía Bắc nước Tchad.

Trong suốt kỷ nguyên băng hà, vùng Sahara đã từng ẩm ướt hơn ngày nay rất nhiều. Và cũng đã từng có rất nhiều loài động, thực vật sinh sống nơi đây. Tuy nhiên ngày nay,ngoại trừ vùng thung lũng sông Nin là có thể trồng được nhiều rau và một số ít nơi khác như vùng cao nguyên phía Bắc, gần Địa Trung Hải là có thể trồng cây ôliu còn phần lớn vùng này không thể canh tác được.

Với diện tích tương đương Hoa Kỳ nhưng chỉ có 2,5 triệu người sinh sống trong vùng. Chủ yếu tập trung ở Ai Cập, Mauritanie, MarocAlgérie. Các dân tộc chính bao gồm chủng Tuareg, Ả Rập, và nhóm người da đen như Tubu, Nubians, Zaghawa, Kanuri, Peul hay Fulani, Hausa và Songhai.

Thành phố lớn nhất vùng là Cairo, thủ đô của Ai Cập nằm ở thung lũng sông Nin. Một số thành phố quan trọng khác bao gồm Nouakchott, thủ đô của Mauritanie; Tamanrasset, Algérie; Timbuktu, Mali; Agadez, Niger; Ghat, Libya; và Faya, Tchad.

Lịch sử khí hậu

BĐ NĐ LM 2
Biểu đồ Nhiệt độ, lượng mưa ở Sahara

Khí hậu Sahara đã trải qua những biến đổi to lớn giữa ẩm và khô trong vài trăm nghìn năm qua. Trong kỷ băng hà cuối cùng, Sahara lớn hơn ngày nay, trải dài xa hơn về phía nam so với biên giới hiện tại[1]. Sự kết thúc của kỷ băng hà mang tới giai đoạn ẩm ướt hơn cho Sahara, từ khoảng năm 8000 TCN đến 6000 TCN, có lẽ vì các vùng áp suất thấp trên khắp các phiến băng đang sụp đổ ở phía bắc[2].

Khi các phiến băng đã mất đi, vùng phía bắc Sahara bắt đầu khô đi. Tuy nhiên, không lâu sau sự chấm dứt các phiến băng, gió mùa hiện nay mang mưa tới Sahel thổi xa hơn nữa về phía bắc và xung đột với xu hướng khô ở phía nam Sahara. Gió mùa tại châu Phi (và các nơi khác) xuất hiện vì sức nóng mùa hè. Không khí trên lục địa trở nên nóng hơn và tăng lên, kéo không khí ẩm và lạnh từ biển vào. Hiện tượng này gây ra mưa. Vì thế, một cách nghịch lý, Sahara từng ẩm hơn khi nó nhận được nhiều ánh nắng trong mùa hè. Trái lại, những thay đổi trong sự hấp thu nhiệt Mặt trời bị gây ra bởi những sự thay đổi trong tham số quỹ đạo Trái Đất.

Tới khoảng năm 2500 TCN, gió mùa rút về phía nam tới gần vị trí hiện nay[3], dẫn tới sự sa mạc hoá Sahara. Sahara hiện nay khô như điều kiện nó từng có trước kia khoảng 13.000 năm.[4]

Lịch sử

Sahara desert
Mặt trời chiếu sáng trên các đụn cát Sahara.
Sahara
Sa mạc Sahara
Algérie 2009
Một Butte (ngọn đồi đứng riêng rẽ) được điêu khắc tự nhiên bởi gió, tại Algerie

Giai đoạn gia súc

Tới năm 6000 TCN các tiền triều đại Ai Cập ở vùng phía tây nam Ai Cập đã biết chăn nuôi gia súc và xây dựng những ngôi nhà lớn. Sự sinh sống tại các khu định cư cố định, có tổ chức trong xã hội tiền triều đại Ai Cập ở giữa thiên niên kỷ thứ 6 TCN tập trung chủ yếu vào ngũ cốc và gia súc nông nghiệp: gia súc, , lợncừu.[5] Các đồ dùng kim loại thay thế các đồ dùng đá trước đó.[5] Thuộc da gia súc, đồ gốm và dệt cũng đã xuất hiện nhiều trong thời kỳ này.[5] Có những dấu hiệu cho thấy sự chiếm cứ theo mùa hay chỉ tạm thời của Al Fayyum trong thiên niên kỷ thứ 6 TCN, với các hành động tìm kiếm lương thực tập trung chủ yếu vào, câu cá, săn bắn và hái lượm.[6] Các đầu mũi tên, dao và scraper đá có rất nhiều.[6] Những đồ vật dùng trong mai táng như bình, đồ trang sức, công cụ nông nghiệpsăn bắn và các thực phẩm như thịt khô và hoa quả.[5] Người chết được chôn quay mặt về hướng tây.[5]

Giai đoạn Berber

Người Phoenicia đã tạo ra một liên bang các vương quốc ngang qua toàn bộ Sahara tới Ai Cập, nói chung các vương quốc này đều nằm trên bờ biển nhưng cũng có một số trường hợp nằm trong sa mạc.

Tới năm 2500 TCN Sahara đã trở nên khô như ngày này và trở thành một bức tường chắn không thể xâm nhập đối với con người, chỉ có rải rác một số khu định cư xung quanh các ốc đảo, nhưng buôn bán và thương mại xuyên qua xa mạc hầu như chưa xuất hiện. Một trong những ngoại lệ chính là Thung lũng sông Nin. Tuy nhiên, con sông Nin có nhiều thác không thể vượt qua khiến thương mại và giao lưu khó thực hiện.

Ở khoảng thời gian nào đó giữa năm 633 và 530 TCN Hanno nhà hàng hải đã lập ra hay tăng cường các thuộc địa của Phoenicia ở phía Tây Sahara, nhưng mọi dấu tích quá khứ đều đã mất và thực sự không còn lại một dấu vết gì. Xem Lịch sử Tây Sahara.

Hy Lạp

Tới năm 500 TCN ảnh hưởng mới từ Hy LạpPhoenicia đến tới vùng này. Các thương gia người Hy Lạp đi dọc bờ biển phía đông sa mạc, thành lập lên những khu vực buôn bán dọc theo bờ Biển Đỏ. Người Carthaginia đã khám phá bờ biển Đại tây dương của sa mạc. Vì thiếu nước và thị trường nên bước chân của con người chưa bao giờ vượt quá phía nam Maroc hiện nay. Vì thế, các nước bao quanh sa mạc ở phía bắc và phía đông; nó vẫn nằm ngoài quyền kiểm soát của các nước này. Những cuộc chinh phục của người du mục Berber vào sa mạc luôn làm những người sống bên rìa lo ngại.

Văn minh đô thị

Một nền văn minh đô thị, Garamantes, đã phát triển trong khoảng thời kỳ này ở trung tâm Sahara, trong một thung lũng hiện được gọi là Wadi al-Ajal tại Fazzan, Libya. Nền văn minh Garamantes phát triển nhờ vào những con kênh đào qua các sườn thung lũng tới các ngọn núi dẫn nước vào các cánh đồng. Nền văn minh Garamantes trở nên đông đúc và mạnh mẽ, chinh phục những vùng xung quanh và bắt giữ nhiều nô lệ (để sử dụng vào việc mở rộng hệ thống kênh đào). Người Hy Lạp và người La Mã đã biết tới nền văn minh Garamantes và coi họ là những người du mục mọi rợ. Tuy nhiên, họ vẫn buôn bán với người Garamantes, và một bồn tắm La Mã đã được tìm thấy ở thủ đô Garama của Garamantes. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy tám thị trấn lớn và những khu định cư quan trọng khác trong lãnh thổ Garamantes. Nền văn minh Gartamantes cuối cùng đã sụp đổ sau khi họ không còn khai thác được nước ngầm dưới đất, và vì thế không thể tiếp tục mở rộng hệ thống kênh của mình vào sâu trong núi.[4][7]

Người Ả rập

Sự thay đổi lớn nhất trong lịch sử Sahara đến cùng cuộc chinh phục của người Ả rập, chính họ đã đưa lạc đà vào vùng này. Lần đầu tiên một mạng lưới thương mại hiệu quả xuyên sa mạc Sahara có thể thực thi. Các vương triều Sahel, đặc biệt là Đế quốc Ghana và Đế quốc Mali sau này trở nên hùng mạnh và giàu có nhờ xuất khẩu vàng và muối sang Bắc Phi. Các tiểu vương quốc dọc Địa trung hải đã mang hàng hóa và ngựa của họ xuống được phía nam. Muối được xuất khẩu từ chính Sahara. Quá trình này biến những cộng đồng ốc đảo rải rác trở thành các trung tâm thương mại, và nằm dưới quyền kiểm soát của các đế quốc trên bờ sa mạc.

Hệ thống thương mại này đã tồn tại qua hàng thế kỷ tới khi sự phát triển ở châu Âu và sự phát triển kỹ thuật hàng hải cho phép các con tàu, ban đầu từ Bồ Đào Nha nhưng ngay sau đó là toàn bộ Tây Âu, đi quanh sa mạc và thu thập các nguồn tài nguyên ở Guinea. Sahara nhanh chóng rơi lại vào tình trạng cô lập.

Các cường quốc thuộc địa cũng không chú trọng tới vùng này, nhưng ở thời hiện đại một số mỏ và các cộng đồng dân cư đã được phát triển để khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong sa mạc. Các nguồn tài nguyên này gồm khối lượng lớn khoáng sản dầu mỏkhí tự nhiênAlgérieLibya cũng như một lượng lớn khoáng sản phosphate tại MarocTây Sahara.

Những sự phân tích mtDNA [8] đã cho thấy rằng nhiều cộng đồng dân cư đã góp phần tạo nên sắc dân hiện nay ở vùng Nam Maroc gồm Berber, Ả rập, Phoenicia, Sephardic Do Thái, và người Phi Hạ Sahara. Trên toàn bộ Sahara, người Berber, Ả rập, và người Phi Hạ Sahara đều có liên quan về mặt di truyền.

Những đất nước trong khu vực Sahara

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ Christopher Ehret. The Civilizations of Africa. University Press of Virginia, 2002.
  2. ^ Fezzan Project - Palaeoclimate and environment
  3. ^ Sự sa mạc hóa bất ngờ của Sahara đã bắt đầu bởi những sự thay đổi trong quỹ đạo Trái Đất, được đẩy nhanh bởi sự hoàn ngược khí quyển và thực vật
  4. ^ a ă White, Kevin and Mattingly, David J. 2006. Ancient Lakes of the Sahara. American Scientist. Volume 94 Number 1 (January-February, 2006). pp. 58-65.
  5. ^ a ă â b c Predynastic (5.500 - 3.100 BC) www.touregypt.net
  6. ^ a ă Fayum, Qarunian (Fayum B) (about 6000-5000 BC?) www.digitalegypt.ucl.ac.uk
  7. ^ Keys, David. 2004. Kingdom of the Sands. Archaeology. Volume 57 Number 2, (March/April 2004)Abstract - retrieved March 13 2006
  8. ^ Z. Brakez et al., "Human mitochondrial DNA sequence variation in the Moroccan population of the Souss area" extract www.ncbi.nlm.nih.gov
  • Pigs in Ancient Egypt by Marie Parsons www.touregypt.net
  • Michael Brett and Elizabeth Frentess. The Berbers. Blackwell Publishers. 1996.
  • Charles-Andre Julien. History of North Africa: From the Arab Conquest to 1830. Praeger, 1970.
  • Abdallah Laroui. The History of the Maghrib: An Interpretive Essay. Princeton, 1977.
  • Hugh Kennedy. Muslim Spain and Portugal: A Political History of al-Andalus. Longman, 1996.
  • Fezzan Project - Palaeoclimate and environment - retrieved March 15 2006

Liên kết ngoài

Aquila wahlbergi

Aquila wahlbergi là một loài chim săn mồi trong họ Accipitridae. Loài chim này có thân dài khoảng 53–61 cm với sải cánh dài 130–146 cm và khối lượng cơ thể từ 437-845 g đối với con trống và 670-1400 g đối với con mái trung bình.

Aquila wahlbergi sinh sản ở hầu hết của châu Phi phía nam sa mạc Sahara. Nó là một loài chim rừng, thường sống gần nước. Nó xây tổ trong chỗ rẽ ba của một cây hoặc trên đỉnh cây cọ. Mỗi tổ có một hoặc hai quả trứng.

Aquila wahlbergi săn bắt loài bò sát, động vật có vú và các loài chim nhỏ. Loài chim này được đặt tên theo nhà tự nhiên Thụy Điển Johan August Wahlberg.

Azawakh

Azawakh là một giống chó săn thuộc dòng chó săn đuổi lông ngắn có nguồn gốc từ Bắc Phi và phân bố xung quanh vùng sa mạc Sahara.

Béni Abbès

Béni Abbès là một đô thị thuộc tỉnh Béchar, Algérie. Dân số thời điểm năm 2002 là 8.85 người.Beni Abbes là một thị trấn du lịch, có Ksar cũ, một khu rừng cọ và vẻ đẹp của sa mạc Sahara.

Bắc Phi

Bắc Phi là khu vực cực Bắc của lục địa châu Phi, ngăn cách với khu vực châu Phi hạ Sahara bởi sa mạc Sahara. Về mặt địa lý, định nghĩa của Liên hiệp quốc về Bắc Phi bao gồm bảy khu vực:

Tunisia

Algérie

Ai Cập

Libya

Maroc

Sudan

Tây SaharaNhững vùng đất thuộc chủ quyền Tây Ban Nha (plazas de soberanía) nằm ở phía nam Địa Trung Hải và được bao bọc bởi Maroc trên đất liền. Quần đảo Canary thuộc Tây Ban Nha và quần đảo Madeira thuộc Bồ Đào Nha nằm ở phía bắc Đại Tây Dương và tây bắc của lục địa châu Phi đôi khi cũng được tính là thuộc vùng này. Về mặt địa lý, Mauritanie và Açores đôi khi cũng được tính là thuộc Bắc Phi.

Khu vực Maghreb bao gồm Tây Sahara, Maroc, Algérie và Libya. Bắc Phi thường được tính trong những định nghĩa phổ thông là cũng thuộc Trung Đông, vì hai vùng Bắc Phi và Trung Đông tạo nên thế giới Ả Rập. Ngoài ra, bán đảo Sinai thuộc Ai Cập nằm ở châu Á, khiến Ai Cập trở thành một quốc gia liên châu lục. Khu vực tranh chấp Tây Sahara hiện thuộc quyền kiểm soát về hành chính của Maroc; nhưng tổ chức ly khai Polisario Front cũng tuyên bố chủ quyền ở khu vực này và đấu tranh để tách vùng Tây Sahara khỏi Maroc.

Cao nguyên Ennedi

Đối với vùng của Chad, xem Ennedi.Cao nguyên Ennedi nằm ở phía Đông bắc của Tchad, trong khu vực Ennedi là nơi có những bức tường thành sa thạch giữa sa mạc Sahara. Cảnh quan ngoạn mục của nó đặc trưng bởi những cột tháp, trụ, cầu vòm sa thạch và những hẻm núi sâu là nơi thu hút khách du lịch khám phá.

Cầy mangut đuôi trắng

Cầy mangut đuôi trắng (danh pháp khoa học: Ichneumia albicauda) là một loài động vật có vú trong họ Cầy mangut, bộ Ăn thịt. Loài này được G.[Baron] Cuvier mô tả năm 1829.

Cầy mangut đuôi trắng sinh sống ở hầu hết châu Phi phía nam sa mạc Sahara, và phần phía nam của bán đảo Ả Rập. Chúng sinh sống trong một loạt các môi trường sống, từ bán sa mạc để trồng cây cỏ nhiệt đới, nhưng tránh những khu vực ẩm ướt như lưu vực sông Congo hoặc các khu vực cực kỳ khô cằn. Chúng thích các vùng có cây bao phủ dày, chẳng hạn như các bìa rừng và suối lởm chởm.

Chúng có trọng lượng khoảng 6,4-9,2 lb (2,9-4,2 kg), có chiều dài đầu và thân 21-28 năm (53-71 cm) và đuôi dài 16-19 năm (40-47 cm). Chân của chúng là tương đối dài đối với một loài cầy mangut.

Cổ Bắc giới

Cổ Bắc giới hay Bắc Cổ giới là khu vực sinh thái lớn nhất trong tám khu vực sinh thái cấu thành bề mặt của Trái đất. Nó bao gồm các vùng sinh thái trên mặt đất của châu Âu, châu Á về phía Bắc chân núi Himalaya, Bắc Phi, và phía bắc và trung tâm của bán đảo Ả Rập.

Cổ Bắc giới có nghĩa hoặc liên quan đến hoặc là một vùng địa sinh học hoặc tiểu khu vực bao gồm châu Âu, châu Á về phía bắc của Himalaya và châu Phi phía bắc sa mạc Sahara. Palae nghĩa là cũ hay cổ, vì vậy đây là một khu vực địa lý sinh vật cổ đại.

Khu vực Cổ Bắc giới có nhiều con sông vốn là nguồn nước cho các nền văn minh sớm nhất sử dụng làm nguồn nước tưới tiêu. Vùng sinh thái Cổ Bắc giới bao gồm năm tiểu vùng sinh thái nhỏ hơn: vùng Siberia châu Âu; lưu vực Địa Trung Hải; Sahara và Ả Rập sa mạc; Tây Âu và Trung Á; và Trung Quốc và Nhật Bản.

Dãy núi Atlas

Dãy núi Atlas (tiếng Berber: idurar n Watlas, tiếng Ả Rập: جبال الأطلس) là một dãy núi ven biển tây bắc châu Phi kéo dài khoảng 2.500 km (1.500 dặm) qua Maroc, Algérie, và Tunisia. Đỉnh cao nhất là ngọn núi Toubkal, với độ cao 4.167 mét (13.671 ft) so với mặt nước biển ở phía tây nam Maroc. Dãy núi Atlas phân cách đường bờ biển Địa Trung Hải và Đại Tây Dương với sa mạc Sahara. Dân cư vùng núi Atlas chủ yếu là người Berber. Từ "núi" trong một số ngôn ngữ Berber là Adrar và adras, được cho là nguồn gốc tên của địa danh này.

Những ngọn núi ở đây là nhà của một số loài thực vật và động vật duy nhất ở châu Phi, rất nhiều trong số đó là nguy cơ tuyệt chủng và một số đã tuyệt chủng.

Fezzan

Fezzan (phát âm: /fɛˈzɑːn/; tiếng Ả Rập: فزان Fizzān, tiếng Berber: Fezzan, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Fizan, tiếng Latinh: Phasania) là một khu vực ở tây nam đất nước Libya ngày nay. Khu vực này chủ yếu là sa mạc nhưng bị chia tách bởi các đồi núi, và các thung lũng sông cạn (wadis) ở phía bắc, nơi các ốc đảo cho phép các đô thị và làng mạc cổ vượt qua được sự khắc nhiệt của sa mạc Sahara.

Genetta genetta

Genetta genetta là một loài động vật có vú trong họ Cầy, bộ Ăn thịt. Loài này được Linnaeus mô tả năm 1758.

Do loài này phân bố rộng rãi ở phía bắc sa mạc Sahara, trong khu xavan phía nam của sa mạc Sahara tới miền nam châu Phi và dọc theo bờ biển của Arabia, Yemen và Oman, loài này được liệt kê như là quan tâm nhất vào Sách đỏ IUCN. Loài này cũng đã được ghi nhận ở Đức, Bỉ và Thụy Sĩ.

Gió Sirocco

Gió Sirocco là gió Địa Trung Hải đến từ sa mạc Sahara và có thể đạt tốc độ hurricane trong trường hợp cực đoan ở Bắc Phi và Nam Âu, đặc biệt là trong mùa hè.

Mòng biển đầu xám

Chroicocephalus cirrocephalus là một loài chim trong họ Laridae.

Chúng sinh sống sinh sản trong các khu vực không liên tục ở Nam Mỹ và châu Phi phía nam sa mạc Sahara. Đây không phải là thực sự di cư, nhưng phổ biến hơn trong mùa đông. Đây là loài lang thang hiếm đến Bắc Mỹ và Tây Ban Nha. Như là trường hợp với nhiều loài mòng biển, loài này theo truyền thống được đặt trong chi Larus.

Oran

Oran (tiếng Ả Rập: وهران‎, Wahrān; Berber: ⵡⴻⵂⵔⴰⵏ) là thành phố Tây Bắc Algérie, thủ phủ của tỉnh Oran, bên Vịnh Oran (một nhánh của Địa Trung Hải). Đây là một trong những hải cảng bận rộn nhất và cũng là trung tâm chế tạo và thương mại của quốc gia này. Các sản phẩm của Oran có: các mặt hàng nhựa, hóa chất, rượu vang và thực phẩm chế biến. Một đường ống dẫn khí thiên nhiên từ sa mạc Sahara đến thành phố.

Sahel

Sahel (từ tiếng Ả Rập: ساحل, sahil nghĩa là bờ, ranh giới của sa mạc Sahara) là tên gọi khu vực ranh giới ở châu Phi nằm giữa Sahara ở phía bắc và khu vực màu mỡ hơn ở phía nam là sudan (không nhầm với quốc gia cùng tên gọi).

Trung Phi

Trung Phi theo định nghĩa của Liên hiệp quốc là vùng đất thuộc lục địa châu Phi ở phía nam sa mạc Sahara, nằm giữa Tây Phi và thung lũng Great Rift. Địa hình của khu vực này bị sông Congo và các nhánh của nó chia cắt thành nhiều bồn địa. Hệ thống sông Congo là hệ thống sông lớn thứ hai thế giới, sau hệ thống sông Amazon. Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc thì chín quốc gia ở vùng Trung Phi bao gồm:

Angola

Cameroon

Cộng hòa Trung Phi

Tchad

Cộng hòa Dân chủ Congo

Cộng hòa Congo

Guinea Xích Đạo

Gabon

São Tomé và PríncipeTất cả các quốc gia trong vùng Trung Phi theo định nghĩa của Liên hiệp quốc và hai nước nữa hình thành nên Cộng đồng Kinh tế Trung Phi (ECCAS).

Liên bang Trung Phi (1953-1963), còn được gọi là Liên bang Rhodesia và Nyasaland được hình thành ở vùng đất nay là Malawi, Zambia và Zimbabwe, nay đã được chia ra thành nhiều phần thuộc Nam Phi hoặc Đông Phi. Xem thêm Trung Phi thuộc Anh (1891-1907).

Trăn đá châu Phi

Trăn đá châu Phi, tên khoa học Python sebae, là một loài trăn thuộc chi python. Loài trăn này phân bố tại châu Phi, phía Nam sa mạc Sahara từ Senegal tới Ethiopia và Somalia, bao hàm Guinea-Bissau, Mali, Guinea, Sierra Leone, Liberia, Bờ Biển Ngà, Thượng Volta, Ghana, Togo, Niger, Nigeria, Cameroon, Guinea Xích đạo, Chad, Cộng hòa Trung Phi, Cộng hòa Dân chủ Congo, Angola, Rwanda, Burundi, Sudan, Uganda, Kenya, Tanzania, Zambia, Malawi, Mozambique, Zimbabwe tới phía Nam tới Namibia, Botswana và Đông Bắc Nam Phi (tới Natal). Loài này có hai phân loài.

Vân tước lưng hung

Vân tước lưng hung (danh pháp hai phần: Eremopterix leucotis) là một loài chim trong họ Alaudidae.Vân tước lưng hung là loài sinh sản thường trú ở châu Phi phía nam của sa mạc Sahara.

Loài chim này sinh sống ở môi trường sống mở khô. Nó làm tổ và đẻ trứng trên mặt đất. Thức ăn là côn trùng và các loại hạt.

Loài chim này dài 11 cm.

Đại chủng Phi

Đại chủng Phi (tiếng Anh: negroid) hay người da đen là danh từ để chỉ một trong bốn đại chủng trong nhân chủng học. Đại chủng Phi có nguồn gốc từ châu Phi, bắt nguồn từ sa mạc Sahara và vùng phụ cận, và các đảo tại Ấn Độ Dương.

Ốc đảo

Về định nghĩa địa lý, ốc đảo là vùng đất biệt lập có thực vật trên sa mạc, thường hiện diện xung quanh một mạch nước hay nguồn nước tương tự. Ốc đảo là nơi ngụ cư của muông thú và con người nếu diện tích đủ rộng. Ốc đảo giữ vị trí cực kỳ quan trọng đối với các tuyến đường đi lại và buôn bán ở các vùng sa mạc. Các đoàn lữ khách hay hành hương đều phải đi ngang qua các ốc đảo để được bổ sung nước uống và thực phẩm. Do đó, việc kiểm soát các ốc đảo về chính trị hay quân sự trong nhiều trường hợp sẽ đồng nghĩa với việc nắm quyền kinh doanh tại một tuyến đường đặc biệt, chẳng hạn như các ốc đảo Awjila, Ghadames, và Kufra ở nước Libya đã nhiều lúc đóng vai trò sống còn đối với giao thương Bắc-Nam và Đông-Tây của Sa mạc Sahara.

Ốc đảo được hình thành từ các dòng sông ngầm hay từ các địa tầng ngậm nước, được phun lên mặt đất do áp lực tự nhiên hay do con người đào giếng chạm đến mạch. Những cơn giông ngắn tuy thi thoảng mới có cũng giúp duy trì nguồn nước ngầm của ốc đảo thiên nhiên như trường hợp của ốc đảo Tuat. Những lớp đá nền không thấm nước có thể giữ nước lại trong các hốc khe; hay những phay địa tầng dài dưới mặt đất hoặc các dãy đá mắc-ma của núi lửa có thể thu giữ nước rồi thẩm thấu ngược lên mặt đất. Và khi có bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy sự xuất hiện của nước, các loài chim thiên di sẽ bay đến, mang theo các hạt giống và các mép rìa của vùng nước sẽ mọc lên cây cối hình thành nên ốc đảo.

Các hoang mạc trên thế giới
Châu Phi
Châu Á
Châu Úc
Châu Âu
Bắc Mỹ
Nam Mỹ
Châu Đại Dương
Vùng cực

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.