Sừng châu Phi

Vùng Sừng châu Phi (các tên gọi khác là vùng Đông Bắc Phi và đôi khi, bán đảo Somalia) là một bán đảo thuộc Đông Phi lấn ra biển Ả Rập vài trăm cây số và nằm dọc theo bờ phía nam của Vịnh Aden. Đó là phần cực đông của lục địa châu Phi. Sừng châu Phi còn để chỉ một vùng rộng lớn hơn bao gồm các quốc gia Djibouti, Ethiopia, EritreaSomalia. Vùng này rộng khoảng 2 triệu cây số vuông và có khoảng 90,2 triệu người sinh sống (Ethiopia: 75 triệu, Somalia: 10 triệu, Eritrea: 4,5 triệu và Djibouti: 0,7 triệu).

Nasan horn
Vùng Sừng châu Phi chụp từ vệ tinh

Địa lý và khí hậu

Horn of africa
Sừng châu Phi chụp từ vệ tinh của NASA, tháng 5/1993

Vùng Sừng châu Phi nằm giữa đường xích đạo và đường chí tuyến bắc. Địa hình vùng này chủ yếu là đồi núi vây bọc xung quanh thung lũng Great Rift, một vết nứt gãy địa chất của Trái Đất kéo dài từ Thổ Nhĩ Kỳ đến Mozambique là ranh giới phân định giữa châu Phi với lòng chảo Ả Rập. Dãy núi cao nhất trong vùng là dãy Simien ở tây bắc Ethiopia. Đã từng có giai đoạn băng tuyết phủ trên các đỉnh núi ở dãy Simien và Bale, nhưng băng đã tan vào đầu thời Holocene. Các dãy núi hạ dần độ cao về phía biển ĐỏẤn Độ Dương. Socotra là một hòn đảo nhỏ nằm ở Ấn Độ Dương ngoài khơi Somalia được xem là một phần của châu Phi. Diện tích của đảo này là 3.600 cây số vuông và thuộc chủ quyền của Yemen, quốc gia nằm ở cực nam bán đảo Ả Rập.

Những vùng đất thấp thuộc Sừng châu Phi thường là những vùng khô cằn mặc dù có vị trí nằm gần đường xích đạo. Sở dĩ như vậy là vì gió mùa nhiệt đới cung cấp lượng mưa tương đối lớn cho sahelsudan thổi đến từ hướng tây. Kết quả là khi đến Djibouti và Somalia, gió mùa đã mất gần hết hơi ẩm. Cho nên ngay trong những tháng có gió mùa nhiệt đới, hầu hết vùng Sừng châu Phi vẫn có lượng mưa rất thấp. Trong khi đó, ở sườn phía tây và trung tâm Ethiopia cũng như phần cực nam của Eritrea, mưa do gió mùa rất lớn. Trong những dãy núi ở Ethiopia, rất nhiều vùng có lượng mưa hơn 2.000 mm một năm, và thậm chí vùng Asmara vẫn nhận được lượng mưa trung bình năm lên đến 570 mm. Lượng mưa này là nguồn nước ngọt duy nhất cho nhiều vùng cách xa Ethiopia, đặc biệt là cho Ai Cập, đất nước có lượng mưa thấp nhất trên Trái Đất.

Vào mùa đông, trừ vùng núi ở phía bắc Somalia, nơi mưa vào cuối mùa thu có thể đạt đến mức 500 mm, gió mậu dịch không cung cấp đủ lượng nước cần thiết cho vùng. Ở bờ biển phía đông, gió mạnh thổi song song với bờ biển khiến lượng mưa hàng năm xuống thấp đến mức 51 mm.

Bờ biển Đỏ là một trong những khu vực có nhiệt độ cao nhất trên thế giới, vào khoảng 41 °C vào tháng 7 và 32 °C vào tháng 1. Ở bờ biển phía đông, nhờ những luồng gió mạnh, thời tiết mát mẻ hơn đôi chút. Khi độ cao tăng dần, nhiệt độ giảm xuống, chẳng hạn như ở Asmara, nhiệt độ tối đa chỉ vào khoảng 20 °C và thường có sương giá vào buổi tối. Trên những đỉnh cao nhất của dãy núi Simien, nhiệt độ hiếm khi đạt đến 14 °C và có thể xuống thấp đến –10 °C vào những đêm không có mây.

Lịch sử

Thời cổ đại

Inhambane-dhow
Một mẫu thuyền buồm dùng cho các chuyến đi buôn trên biển thời cổ (phục chế)

Vương quốc Askum (còn có tên khác là Axum) là một quốc gia cổ nằm ở khu vực Ethiopia, Eritrea, bắc Somalia và Yemen ngày nay. Quốc gia này phát triển và trở nên hùng mạnh trong khoảng từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 7. Do vị trí chiến lược của vùng Sừng châu Phi, trong quá khứ quốc gia này từng nắm quyền kiểm soát biển Đỏ.

Vùng Sừng châu Phi còn nổi tiếng bởi những sản vật quý hiếm vào thời cổ đại. Các nền văn minh cổ Ai Cập, Hy LạpĐế quốc La Mã đã gửi những đoàn thám hiểm đến vùng này tìm kiếm trầm hương, nhựa thơm, máu rồng và thần sa để rồi đưa những hàng hóa này đến khắp nơi qua con đường hương liệu. Vì lý do đó mà người La Mã đã gọi vùng này là Regio Aromatica. Vùng đất trong huyền thoại của người Ai Cập, Punt, cũng được cho là nằm trong vùng này.

Vùng Sừng châu Phi cũng là một phần trong hệ thống các cảng biển bên bờ biển châu Phi, từ vịnh Ba Tư, góp phần hình thành nên con đường thương mại thời cổ đại trải dọc Ấn Độ Dương.

Lịch sử hiện đại

Trong vài thập kỷ gần đây, vùng Sừng châu Phi là một trong những vùng bất ổn nhất thế giới. Ethiopia nắm giữ vị trí ưu thế ở vùng này vì nước này chiếm khoảng 85% dân số vùng. Phần lớn vùng Sừng châu Phi từng là thuộc địa của Ý: Eritrea (18801941), Somalia thuộc Ý (18901960) và Ethiopia (19361941). Đế quốc Anh chiếm giữ vùng bắc Somalia (Somalia thuộc Anh) và Pháp chiếm Djibouti (Somalia thuộc Pháp). Tuy nhiên, lịch sử của Ethiopia được đánh dấu bởi những mâu thuẫn giữa người Hồi giáo và người Thiên chúa giáo cho các nguồn tài nguyên và không gian sinh sống, cũng như giữa những người theo chủ nghĩa dân tộc và những người theo chủ nghĩa Marx-Lenin trong thời hiện đại. Những khu vực còn lại trong vùng cũng đối diện với các cuộc chiến tranh liên miên: một cuộc nội chiến nổ ra ở Somalia năm 1977, dẫn đến việc quốc gia này không có một chính quyền hợp hiến kể từ năm 1991. Sudan, với cuộc nội chiến Sudan, là một khu vực đầy bất ổn khác trong vùng. Những xung đột còn nổ ra ở Djibouti và Eritrea.

Ngoài ra, vùng này còn bị tấn công bởi các thảm họa tự nhiên như nạn hạn hánlũ lụt, gây thiệt hại đặc biệt trầm trọng ở những vùng nông thôn. Kết quả là vùng này hiện là một trong những vùng có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao nhất thế giới, cũng như vẫn thường xuyên bị đe dọa bởi các thảm họa nhân đạo. Từ năm 1982 đến 1992, khoảng 2 triệu người đã chết ở vùng này vì chiến tranh và nạn đói.

Vùng Sừng châu Phi, từ năm 2002, là một trong những khu vực được Hoa Kỳ, Pháp, Đức và 11 quốc gia châu Phi khác đặc biệt chú ý trong cuộc chiến tranh chống khủng bố do Hoa Kỳ phát động.

Văn hóa và sắc tộc

Africa-countries-horn
Các quốc gia thuộc vùng Sừng châu Phi

Các quốc gia thuộc vùng Sừng châu Phi có liên hệ với nhau về văn hóa. Cư dân ở đây đã sử dụng kỹ thuật cày trong nông nghiệp và nuôi lạc đà một bứu Ả Rập trong một thời gian dài. Một số nhóm sắc tộc – ngôn ngữ chính ở vùng Sừng châu Phi là:

  • Ở Djibouti: người Afar và người Somalia
  • Ở Eritrea: người Bilen, người Afar, người Hedareb (Beni – Amer/Beja), người Kunama (Baza), người Nara (Nialetic), người Saho (Irob), người Rashaida, người Tigre, người Tigrinya. Người Jebertis là những người Tigrinya theo đạo Hồi tự xem mình là một chủng tộc riêng, nhưng không được thừa nhận bởi các nguồn chính thức.
  • Ở Ethiopia: người Amharas, người Afar, các nhóm người Agaw, người Gurage, người Hamer, người Harari (Hadere hay Adere), người Irob (người Saho theo đạo Tin lành), người Oromo, người Saho, người Sidama, người Somalia, người Tigrinya cùng nhiều nhóm sắc tộc thiểu số khác.
  • Ở Somalia: người Somalia

Kinh tế

Nhiều quốc gia trong vùng có nền kinh tế phụ thuộc vào chỉ một ngành hàng xuất khẩu duy nhất.

  • Ethiopia: Cà phê chiếm 80% giá trị xuất khẩu
  • Somalia: Chuối và các sản phẩm từ chăn nuôi chiếm hơn 50% tổng giá trị xuất khẩu

Sinh thái

Vùng Sừng châu Phi là một Khu bảo tồn đa dạng sinh học của UNESCO và là một trong hai vùng khô hạn trên thế giới được nhận vinh dự đó. Tuy nhiên, vùng này hiện vẫn đang đối diện với những mối đe dọa từ con người như việc nuôi gia súc chiếm hết các đồng cỏ của động vật hoang dã hay sự phát triển quá nhanh của cơ sở hạ tầng phục vụ các sinh hoạt của con người.

Hệ động vật

Người ta đã tìm thấy khoảng 220 loài động vật có vú ở vùng Sừng châu Phi. Trong số những loài đang bị đe dọa tuyệt chủng có một số loài linh dương như beira, dibatag, dikdik và speke. Những loài quý hiếm khác gồm có lợn lòi sa mạc, khỉ đầu chó Hamadryas, chuột nhảy lùn và chuột răng lược Speke, đều ở Somalia. Ngựa vằn Grevy là loại động vật đặc hữu của vùng này.

Một số loài chim quan trọng ở vùng Sừng châu Phi là chim sẻ Bulo Burti, chim sẻ cánh vàng, chim hồng tước Warsangli và gà gô Djibouti.

Vùng Sừng châu Phi có nhiều loài bò sát đặc hữu hơn ở bất cứ vùng nào của châu Phi, với hơn 285 loài khác nhau (trong đó có khoảng 90 loài đặc hữu). Trong số những loài bò sát đặc hữu, có loài rắn mối Haackgreerius, các loài tắc kè Haemodracon, Ditypophis, Pachycalamus và Aeluroglena. Một nửa trong số những loài đặc hữu này chỉ có thể tìm thấy ở Socotra. Không giống như bò sát, trong vùng không có nhiều loài lưỡng cư.

Có khoảng 100 loài cá nước ngọt ở vùng Sừng châu Phi, khoảng 10 loài là đặc hữu. Trong những loài đặc hữu, đáng chú ý nhất là loài cá ngạnh sống trong các hang động ở Somalia và loài cá hang Somalia.

Hệ thực vật

Ước tính có khoảng 500 loài cây có mặt ở vùng Sừng châu Phi, một nửa trong số đó là đặc hữu. Những loài đặc hữu nhiều nhất là ở Socotra và bắc Somalia. Vùng này có hai dòng thực vật đặc hữu: Barbeyaceae và Dirachmaceae. Trong những loài đáng chú ý nhất, có giống dưa chuột chỉ có thể tìm thấy ở Socotra (tên khoa học là Dendosicyos socotrana), loài cọ Bankoualé, loài cây quả hạch yeheb và cây hoa anh thảo Somalia.

Agapornis taranta

Agapornis taranta là một loài chim trong họ Psittacidae.

Anthus melindae

Anthus melindae là một loài chim trong họ Motacillidae.

Biển Đỏ

Biển Đỏ còn gọi là Hồng Hải hay Xích Hải (tiếng Ả Rập البحر الأحم Baḥr al-Aḥmar, al-Baḥru l-’Aḥmar; tiếng Hêbrơ ים סוף Yam Suf; tiếng Tigrinya ቀይሕ ባሕሪ QeyH baHri) có thể coi là một vịnh nhỏ của Ấn Độ Dương nằm giữa châu Phi và châu Á. Biển này thông ra đại dương ở phía nam thông qua eo biển Bab-el-Mandeb và vịnh Aden. Tại phía bắc là bán đảo Sinai, vịnh Aqaba và vịnh Suez (nối vào kênh đào Suez). Biển này dài khoảng 1.900 km và chỗ rộng nhất là trên 300 km. Đáy biển có độ sâu tối đa 2.500 m ở điểm giữa rãnh trung tâm và có độ sâu trung bình 500 m, nhưng nó cũng có thềm lục địa nông và lớn về diện tích, là đáng chú ý đối với các sinh vật biển và san hô. Diện tích bề mặt khoảng 438.000–450.000 km². Biển này là nơi sinh sống của trên 1.000 loài động vật không xương sống và 200 loại san hô cứng và mềm. Biển này là một phần của Đại Thung Lũng. Hồng Hải là biển nhiệt đới nằm cao nhất về phía bắc của thế giới.

Calandrella blanfordi

Calandrella blanfordi là một loài chim trong họ Alaudidae.

Chi Cọ

Chi Cọ hay chi Kè (danh pháp khoa học: Livistona) là một chi thực vật có 28-36 loài thuộc họ Cau (Arecaceae), có gốc có bản địa ở Nam và Đông Nam châu Á, Australasia, và Sừng châu Phi. Chúng thuộc phân tông Corypheae (cọ lá buông), lá có cuống cứng, phía đuôi lá hình rẻ quạt tròn với nhiều lá chét.

Các loài Livistona là nguồn thức ăn của các ấu trùng của một số loài Lepidoptera, bao gồm Batrachedra arenosella (được ghi trong L. subglobosa) và Paysandisia archon.

Châu Phi Hạ Sahara

Châu Phi Hạ Sahara là một thuật ngữ địa lý được dùng để miêu tả một vùng của lục địa Châu Phi nằm phía nam Sahara, hay các quốc gia châu Phi nằm hoàn toàn hay một phần ở phía nam Sahara. Nó đối nghịch với Bắc Phi, vốn được coi là một phần của Thế giới Ả Rập.Sahel là vùng chuyển tiến giữa Sahara và savanna nhiệt đới (vùng Sudan) và các forest-savanna mosaic ở phía nam. Sừng châu Phi và các vùng rộng lớn của Sudan về mặt địa lý là một phần của châu Phi Hạ Sahara, nhưng thực tế lại bị ảnh hưởng mạnh từ Trung Đông và cũng là một phần của thế giới Ả Rập.Vùng Hạ Sahara cũng được gọi là Châu Phi Đen, vì những người dân "da đen" sống ở đó. Các nhà bình luận đáng chú ý người Ả Rập thời Trung Cổ cũng dùng một thuật ngữ tương tự, bilâd as-sûdân dịch nghĩa là "vùng đất của những người da đen" tương phản với dân cư của thế giới Hồi giáo cổ đại.

Danh sách lá cờ châu Phi

Đây là danh sách các lá cờ ở châu Phi. Các lá cờ có thể là quốc kỳ hoặc cờ chính thức của các tổ chức, đoàn thể ở châu lục này.

Estrilda charmosyna

Estrilda charmosyna là một loài chim trong họ Estrildidae.

Giáo sĩ ngực lửa

Euplectes diadematus (tên thông thường trong tiếng Anh: "Fire-fronted bishop", nghĩa: giám mục ngực lửa) là một loài chim thuộc Họ Rồng rộc. Loài này phân bố ở Kenya, Somalia, và Tanzania.

Họ Dúi

Dúi là một họ trong bộ gặm nhấm. Các loài trong họ này là bản địa của Đông Á, sừng châu Phi, Trung Đông, và đông nam châu Âu. Họ này gồm blind mole rat, bamboo rat, root rat, và zokor. Họ này đại diện cho nhóm được chia tách lâu nhất (không gồm phân họ Platacanthomyinae) trong liên họ muroidea, và gồm các loài động vật thích nghi với cách sống dưới mặt đất. Các loài trong họ này đôi khi được xếp vào họ Chuột cùng với các loài khác trong liên họ Muroidea.

Linh dương sừng thẳng Đông Phi

Oryx beisa là một loài động vật có vú trong họ Bovidae, bộ Artiodactyla. Loài này được Rüppell mô tả năm 1835.

Loài này có hai phân loài: Oryx beisa beisa được tìm thấy ở thảo nguyên và bán sa mạc tại sừng châu Phi và phía bắc sông Tana và Oryx beisa callotis phía nam sông Tana ở nam Kenya và một số khu vực của Tanzania. Trong quá khứ một số nhà phân loại đã xem nó là một phân loài của Oryx gazella nhưng chúng khác nhau về gene.

Chúng có chiều cao đến vai 1 m và nặng khoảng 79 kg (175 lb). Nó có bộ lông màu xám với bên dưới màu trắng tách biệt bởi màu xám bởi một dải đen với các dải đen nơi đầu dính vào cổ, dọc theo mũi và từ mắt đến miệng và trán. Cả con đực và con cái dài 75–80 cm (30–31 in).

Lợn bướu thông thường

Lợn bướu thông thường (danh pháp hai phần: Phacochoerus africanus) là một loài lợn hoang thuộc họ Lợn, bộ Artiodactyla. Loài này được Gmelin mô tả năm 1788, chúng thường sinh sống ở thảo nguyên, xavan, rừng thưa ở châu Phi hạ Sahara. Trước đây chúng bị xếp vào một phân loài của P. aethiopicus, nhưng ngày nay tên khoa học chỉ hạn chế trong lợn nanh sừng hoang mạc của bắc Kenya, Somalia, và đôngn Ethiopia.

Nạn đói ở Đông Phi 2011

Nạn đói Đông Phi là một nạn đói diễn ra ở một số khu vực Sừng châu Phi do kết quả của một đợt hạn hán nghiêm trọng ảnh hưởng đến toàn bộ khu vực Đông châu Phi. Nạn hạn hán, được cho là "tồi tệ nhất trong 60 năm" , đã gây ra một cuộc khủng hoảng lương thực trầm trọng trên khắp Somalia, Ethiopia và Kenya đe dọa đời sống của hơn 10 triệu người các nước khác trong và xung quanh vùng Sừng châu Phi, bao gồm Djibouti, Sudan, Nam Sudan và một số khu vực của Uganda, cũng bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng lương thực.Trong đầu tháng Bảy, Hệ thống mạng lưới cảnh báo sớm nạn đói (FEWS-Net) đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp cho các khu vực rộng lớn ở miền nam Somalia, phía đông nam Ethiopia, và đông bắc Kenya, nạn đói có thể lên đến đỉnh cao lan rộng nếu các điều kiện hiện tại không được giải quyết. Ngày 20 tháng 7, Liên Hiệp Quốc chính thức tuyên bố một nạn đói trong một số bộ phận của miền nam Somalia, lần đầu tiên kể từ khi nạn đói Ethiopia 1984-1985, khi hơn một triệu người chết . Hàng chục ngàn người được cho là đã chết ở miền nam Somalia trước khi công bố bày được đưa ra. Việc thiếu nghiêm trọng của kinh phí viện trợ quốc tế, cùng với các vấn đề an ninh trong khu vực, đã cản trở phản ứng nhân đạo cho cuộc khủng hoảng.​

Oenanthe bottae

Oenanthe bottae là một loài chim trong họ Muscicapidae.

Oriolus monacha

Oriolus monacha là một loài chim trong họ Oriolidae.

Tiếng Oromo

Oromo là một ngôn ngữ Á-Phi được nói ở Sừng Châu Phi. Nó là ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi nhất trong nhánh Cushitic của họ ngôn ngữ này. Các hình thức Oromo được nói như một ngôn ngữ đầu tiên của hơn 24,6 triệu người Oromo và những người láng giềng ở Ethiopia và thêm nửa triệu ở các vùng phía bắc và phía đông Kenya. Nó cũng được nói bởi số lượng người di cư nhỏ hơn ở các nước châu Phi khác như Nam Phi, Libya, Ai Cập và Sudan. Tiếng Oromo là một phương ngữ liên tục; không phải tất cả các giống đều dễ hiểu.

Tên gốc của ngôn ngữ Oromo là Afaan Oromoo, có nghĩa là "miệng (ngôn ngữ) của Oromo". Nó trước đây được gọi là Galla, một thuật ngữ nay được coi là pejorative nhưng vẫn được tìm thấy trong văn học cũ.

Vịnh Tadjoura

Vịnh Tadjoura (tiếng Ả Rập: خليج تدجورا) là một vịnh thuộc Ấn Độ Dương trong khu vực Sừng châu Phi, nằm ở phía nam eo biển Bab-el-Mandeb (lối vào Hồng Hải), tại tọa độ 11,6666667°B 43°Đ / 11.6666667; 43. Phần lớn chiều dài bờ biển của nó thuộc về Djibouti, ngoại trừ một đoạn ngắn ở bờ phía nam là thuộc về Somalia.

Các hải cảng dọc theo vịnh Tadjoura có Obock, Tadjoura và Djibouti.

Zosterops abyssinicus

Zosterops abyssinicus là một loài chim trong họ Zosteropidae.

Ý xâm chiếm Somaliland thuộc Anh

Ý xâm chiếm Somaliland thuộc Anh là một chiến dịch ở vùng Sừng châu Phi xảy ra mùa hè 1940 và là một phần của Chiến dịch Đông Phi trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.