Sông Nin

Sông Nin (tiếng Ả Rập: النيل, an-nīl, tiếng Ai cập cổ: iteru hay Ḥ'pī - có nghĩa là sông lớn), là dòng sông thuộc châu Phi, là sông chính của khu vực Bắc Phi, thường được coi là con sông dài nhất trên thế giới,[1] với chiều dài 6.853 km và đổ nước vào Địa Trung Hải, tuy vậy có một số nguồn khác dẫn nghiên cứu năm 2007 cho rằng sông này chỉ dài thứ hai sau sông AmazonNam Mỹ[2]. Sông Nin được gọi là sông "quốc tế" vì lưu vực của nó bao phủ 11 quốc gia gồm Tanzania, Uganda, Rwanda, Burundi, Cộng hòa Dân chủ Congo, Kenya, Ethiopia, Eritrea, Nam Sudan, SudanAi Cập.[3]

Sông này còn được người Việt phiên âm là Nhĩ Lô như trong sách Tây hành nhật ký của Phạm Phú Thứ.

Đây là dòng sông có ảnh hưởng nhất ở châu Phi, gắn liền với sự hình thành, phát triển và lụi tàn của nhiều vương quốc cổ đại, góp phần tạo dựng nên nền Văn minh sông Nin.

Sông Nin
Egypt Nil
Đặc điểm
Dài6.650 km
Lưu vực3.400.000 km² (1.312.740 dặm²)
Lưu lượng2.830 m³/s (99.956 ft³/s)
Dòng chảy
Thượng nguồnUgandaEthiopia
Cửa sôngAi Cập
 Cao độ0 m (0 ft)
Địa lý
Các quốc gia lưu vựcAi Cập, Sudan, Uganda

Các đoạn sông

Sông Kagera đổ vào hồ Victoria gần thị trấn Bukoba của Tanzania là nguồn cung cấp nước dài nhất, mặc dù các nguồn tài liệu khác nhau không công nhận nó là nhánh dài nhất và do đó nó là nguồn xa nhất của sông Nile.[4] Nguồn hoặc là Sông Ruvyironza từ tỉnh Bururi, Burundi,[5] hoặc Nyabarongo chảy từ rừng Nyungwe ở Rwanda.[6] Hai nguồn cung cấp này gặp nhau tại thác Rusumo tại ranh giới của Rwanda-Tanzania.

Năm 2010, một nhóm khảo sát[7] đã đến đây miêu tả về nguồn của nhánh Rukarara,[8] và đi theo một con đường trên sườn núi đã tìm thấy (trong mùa khô) nguồn nước mặt lộ ra chảy nhiều dặm ở phía thượng lưu, và đã tìm thấy nguồn mới, do đó chiều dài sông Nin là 6.758 km. Vịnh Gish được xem là nơi có "nước thánh" có giọt đầu tiên của sông Nin.[9]

Nin Trắng

Nile
Bản đồ Đông Bắc Châu Phi, có chỉ nguồn sông Nin

Sông Nin có hai nguồn chính, quan trọng nhất là sông Nin Trắng bắt nguồn từ vùng xích đạo Đông Phi, rồi đến sông Nin Xanh bắt nguồn từ Ethiopia. Hồ Victoria, nằm giữa Uganda, KenyaTanzania, được xem là nơi bắt nguồn của dòng sông này.

Nin Xanh

Sông Nin Xanh bắt nguồn từ Hồ Tana trên vùng cao nguyên của Ethiopia. Dòng Nin Xanh chảy được khoảng 1.400 km (850 dặm) tới Khartoum thì hai dòng Nin Xanh và Nin Trắng gặp nhau, hợp lưu tạo nên sông Nin. Phần lớn nguồn nước của sông Nin được cung cấp từ Ethiopia, chiếm khoảng 80-85% lưu lượng lệ thuộc vào vũ lượng. Mùa mưa ăn khớp với mùa hè khi nhiều trận mưa rào trút xuống, góp nước cho sông Nin.

Dòng Nin

Đoạn sông Nin ở phía Bắc chủ yếu chảy qua sa mạc. Phần lớn cư dân Ai Cập, ngoại trừ một số dân cư ven biển, sống dọc theo bờ sông Nin bắt đầu từ phía bắc thành phố Aswan. Di tích nền văn minh Ai Cập cổ đại cũng tập trung dọc theo hai bên bờ sông Nin. Dòng sông Nin còn là huyết mạch giao thông nhất là vào mùa lũ, khi mà các phương tiện đường bộ không thể di chuyển được.

Lưu vực sông Nin

Lưu vực sông Nin chiếm khoảng 1/10 diện tích châu Phi là nơi phát triển và tàn lụi của nhiều nền văn minh cổ đại. Cư dân hai bên bờ sông Nin là một trong những nhóm người đầu tiên biết trồng trọt, làm nông nghiệp và sử dụng cày. Lưu vực sông Nin được giới hạn ở phía Bắc bởi biển Địa Trung Hải, phía Đông bởi dãy Biển đỏ (Red Sea Hills) và Cao nguyên Ethiopia, phía Nam bởi cao nguyên Đông Phi, trong đó có bao gồm hồ Victoria là một trong 2 nguồn của sông Nin, phía Tây tiếp giáp với lưu vực sông Chad, sông Công gô và trải dài xuống Tây nam đến dãy Marrah thuộc Sudan [10]

Lịch sử

Sông Nin với nguồn nước dồi dào đã tạo nên vùng Thung lũng trù phú nhất "lục địa đen". Nó đã góp phần rất lớn tới sự hình thành nền văn minh Ai Cập cổ đại, với những kim tự tháp kỳ vĩ. Sông Nin đã ảnh hưởng lớn tới nền văn hoá Ai Cập cổ ngay từ thời đại đồ đá, khi mà sa mạc Sahara đang ngày càng xâm lấn sang phía Đông của lục địa châu Phi.

Sông Nin bắt nguồn từ hồ Victoria ở khu vực xích đạo có mưa quanh năm nên lượng mưa khá lớn. Tới Khác-tum sông Nin nhận thêm nước từ phụ lưu Nin Xanh ở khu vực cận xích đạo, lưu lượng trở nên rất lớn, mùa nước lũ lên tới 90 000 m³/s; đến biên giới Ai Cập mặc dù sông Nin chảy giữa miền hoang mạc và không nhận được thêm phụ lưu nào nữa, nước sông vừa ngấm xuống đất, vừa bốc hơi mạnh, gần biển lưu lượng nước giảm nhiều nhưng ở Cai-rô (Ai Cập) về mùa cạn lưu lượng vẫn còn 700 m³/s.

Tranh chấp về nước

Nước sông Nin ảnh hưởng đến các thể chế chính trị Đông Phi và Sừng châu Phi trong nhiều thập kỷ. Các quốc gia gồm Uganda, Sudan, EthiopiaKenya đã phàn nàn về việc Ai Cập thống trị nguồn tài nguyên nước. Sáng kiến lưu vực sông Nin thúc đẩy hợp tác hòa bình giữa các nước.[11][12]

Nhiều nỗ lực đã được thực hiện nhằm thiết lập những thỏa thuận chia sẻ nước sông Nin giữa các quốc gia này. Nhưng rất khó khăn để đạt được thỏa thuận của tất cả các quốc gia trên về lợi ích của họ và những khác biệt về chính trị, chiến lược và xã hội. Ngày 14 tháng 5 năm 2010 tại Entebbe, Uganda, Ethiopia, Rwanda, TanzaniaUganda đã ký một thỏa thuận mới về chia sẻ nước sông Nin mặc dù thỏa thuận này chịu sự phản đối mạnh mẽ của Ai Cập và Sudan. Lý tưởng nhất, những thỏa thuận như thế này nhằm thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả và công bằng nguồn tài nguyên nước lưu vực sông Nin. Nếu không có sự hiểu rõ hơn về sự sẵn có của nguồn tài nguyên nước trong tương lai của sông Nin, thì sẽ có nhiều cuộc xung đột giữa các quốc gia dựa vào nguồn cấp nước, phát triển kinh tế và xã hội từ sông Nin.[13]

Khám phá hiện đại

Cuộc thám hiểm Nin trắng, dẫn đầu bởi Hendrik Coetzee Nam Phi, trở thành người đầu tiên xác định chiều dài toàn bộ của sông Nin. Cuộc thám hiểm nguồn của sông Nin ở Uganda vào ngày 17 tháng 1 năm 2004 và đến Địa Trung Hải ở Rosetta một cách an toàn, trong vòng 2 tháng rưỡi.[14]

Vào 28 tháng 4 năm 2004, nhà địa chất học Pasquale Scaturro và cộng sự của ông, kayaker và nhà làm phim tài liệu Gordon Brown đã trở thành người đầu tiên định vị sông Nin Xanh, từ hồ Tana ở Ethiopia đến các bãi biển thuộc Alexandria ở Địa Trung Hải. Mặc dù chuyến thám hiểm gồm nhiều người khác, nhưng Brown và Scaturro là những người duy nhất hoàn thành toàn bộ cuộc hành trình.[15] Nhóm nghiên cứu sử dụng động cơ rời cho hầu hết cuộc hành trình.

Hình ảnh

Egypt Nil

Sông Nin ở Ai Cập

Đồng bằng sông Nin và toàn bộ dòng sông

Nile River and delta from orbit

Châu thổ sông Nin

Large Cairo Landsat

Sông Nin ở Cairo

Vallee fertile du Nil a Louxor

Sông Nin ở Louxor nhìn từ trên máy bay

Egypt.Luxor.Nile.01

Sông Nin ở Louxor

IlhaElefantina

Đảo Voi, Aswan

Nubian village in Elephantine Island Aswan

Nin ở Aswan

Tham khảo

  1. ^ “Nile River”. Encyclopædia Britannica.
  2. ^ Amazon Longer Than Nile River, Scientists Say
  3. ^ Oloo, Adams (2007). “The Quest for Cooperation in the Nile Water Conflicts: A Case for Eritrea” (PDF). African Sociological Review 11 (1). Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2011.
  4. ^ McLeay, Cam (ngày 2 tháng 7 năm 2006). “The Truth About the Source of R. Nile”. New Vision. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2011.
  5. ^ “Nile River”. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2011.
  6. ^ “Team Reaches Nile's 'True Source'. BBC News. Ngày 31 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2011.
  7. ^ Described in Joanna Lumley's Nile, 7 pm to 8 pm, ITV, Sunday ngày 12 tháng 8 năm 2011.
  8. ^ “Journey to the source of the Nile”. Telegraph. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2012.
  9. ^ “Next on Egypt's to”. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015.
  10. ^ “Nile River river, Africa”. Encyclopedia Britannica. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015.
  11. ^ The Nile Basin Initiative
  12. ^ Cambanis, Thanassis (ngày 25 tháng 9 năm 2010). “Egypt and Thirsty Neighbors Are at Odds Over Nile”. New York Times. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2010.
  13. ^ Mohamed Helmy Mahmoud Moustafa Elsanabary“Teleconnection, Modeling, Climate Anomalies Impact and Forecasting of Rainfall and Streamflow of the Upper Blue Nile River Basin”. Canada: University of Alberta. 2012. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2012.
  14. ^ National Geographic released a feature film about the expedition in late 2005 entitled The Longest River.
  15. ^ Scaturro and Brown chronicled their adventure with an IMAX camera and two handheld video cams, sharing their story in the IMAX film Mystery of the Nile and in a book of the same title.

Liên kết ngoài

Ai Cập cổ đại

Ai Cập cổ đại là một nền văn minh cổ đại nằm ở Đông Bắc châu Phi, tập trung dọc theo hạ lưu của sông Nile thuộc khu vực ngày nay là đất nước Ai Cập. Đây là một trong sáu nền văn minh phát sinh một cách độc lập trên thế giới. Nền văn minh Ai Cập được thống nhất lại vào năm 3150 TCN (theo trình tự thời gian của bảng niên đại Ai Cập) với sự thống nhất chính trị của Thượng và Hạ Ai Cập dưới thời vị pharaon đầu tiên (Narmer, thường được gọi là Menes). Lịch sử của Ai Cập cổ đại đã trải qua một loạt các thời kỳ vương quốc ổn định, và các giai đoạn hỗn loạn giữa chúng được gọi là các giai đoạn chuyển tiếp: Cổ Vương quốc thời kỳ Sơ kỳ Đồ đồng, Trung Vương quốc tương ứng giai đoạn Trung kỳ Đồ Đồng và Tân Vương quốc ứng với Hậu kỳ Đồ đồng.

Ai Cập đạt đến đỉnh cao của quyền lực vào giai đoạn Tân Vương quốc, trong thời kỳ Ramesside, vào thời điểm đó nó sánh ngang với đế quốc Hittite, đế quốc Assyria và đế chế Mitanni, trước khi bước vào giai đoạn dần suy yếu. Ai Cập đã bị xâm chiếm hoặc chinh phục bởi một loạt các cường quốc nước ngoài, chẳng hạn như người Canaan/Hyksos, Lybia, người Nubia, Assyria, Babylon, Ba Tư dưới triều đại Achaemenid, và người Macedonia trong Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Ba và cuối thời kỳ Ai Cập cổ đại. Sau khi Alexander Đại Đế qua đời, một trong những tướng lĩnh của ông, Ptolemy I Soter, đã tuyên bố ông là vị vua mới của Ai Cập. Triều đại Ptolemy gốc Hy Lạp này đã cai trị Ai Cập cho đến năm 30 TCN khi nó rơi vào tay đế quốc La Mã và trở thành một tỉnh La Mã.Sự thành công của nền văn minh Ai Cập cổ đại một phần đến từ khả năng thích ứng của nó với các điều kiện của thung lũng sông Nile cho sản xuất nông nghiệp. Từ việc có thể dự đoán trước lũ lụt và việc điều tiết thủy lợi ở khu vực thung lũng màu mỡ đã tạo ra nhiều nông sản dư thừa, giúp nuôi dưỡng một lượng dân số đông hơn, tạo điều kiện phát triển xã hội và văn hóa. Với việc có nhiều nguồn lực dư thừa, nhà nước đã tập trung vào việc khai thác khoáng sản ở các thung lũng và các khu vực sa mạc xung quanh, cũng như việc sớm phát triển một hệ thống chữ viết độc lập, tổ chức xây dựng tập thể và các dự án nông nghiệp, thương mại với khu vực xung quanh, và xây dựng một đội quân nhằm mục đích đánh bại kẻ thù nước ngoài và khẳng định sự thống trị của Ai Cập. Thúc đẩy và tổ chức những hoạt động này là một bộ máy quan lại gồm các ký lục ưu tú, những nhà lãnh đạo tôn giáo, và các quan lại dưới sự kiểm soát của một pharaon, người đảm bảo sự hợp tác và đoàn kết của toàn thể người dân Ai Cập dưới một hệ thống tín điều tôn giáo tinh vi.Những thành tựu của người Ai Cập cổ đại bao gồm khai thác đá, khảo sát và kỹ thuật xây dựng hỗ trợ cho việc xây dựng các công trình kim tự tháp, đền thờ, và cột tháp tưởng niệm; một hệ thống toán học, một hệ thống thực hành y học hiệu quả, hệ thống thủy lợi và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, những tàu thủy đầu tiên được biết đến trên thế giới, công nghệ gốm sứ và thủy tinh của Ai Cập, những thể loại văn học mới, và các hiệp ước hòa bình được biết đến sớm nhất, được ký kết với người Hittite. Ai Cập đã để lại một di sản lâu dài. Nghệ thuật và kiến ​​trúc của nó đã được sao chép rộng rãi, và các cổ vật của nó còn được đưa tới khắp mọi nơi trên thế giới. Những tàn tích hùng vĩ của nó đã truyền cảm hứng cho trí tưởng tượng của du khách và nhà văn trong nhiều thế kỷ. Sự quan tâm mới hình thành dành cho những cổ vật và các cuộc khai quật trong thời kỳ cận đại ở châu Âu và Ai Cập dẫn đến việc khai sinh ra ngành Ai Cập học để nghiên cứu nền văn minh Ai Cập và một sự đánh giá đúng đắn hơn đối với di sản văn hóa của nó.

Cairo

Cairo (Tiếng Ả rập: القاهرة‎ ​ chuyển tự: al-Qāhirah, bắt nguồn từ tiếng Ả Rập nghĩa là "khải hoàn") là thủ đô của Ai Cập. Dân số vùng đô thị Cairo là 18 triệu người. Cairo là vùng đô thị lớn thứ 17 về mặt dân số của thế giới, thứ 10 năm 2004 về tiêu chí này. Cairo là vùng đô thị đông dân nhất châu Phi. [2]

Châu thổ sông Nin

Châu thổ sông Nin (tiếng Ả Rập: دلتا النيل‎) là một châu thổ ở phía bắc Ai Cập (Hạ Ai Cập), nơi con sông mở rộng và đổ ra Địa Trung Hải. Đây là một trong số những châu thổ sông rộng nhất thế giới— trải dài từ Alexandria ở phía tây cho đến Port Said ở phía đông, bao phủ 240 km bờ biển Địa Trung Hải— và cũng là khu vực nông nghiệp phong phú. Theo chiều bắc nam, châu thổ dài xấp xỉ 160 km. Diện tích của châu thổ là khoảng 40.107,8 km2.

Cá sấu sông Nin

Cá sấu sông Nin, tên khoa học Crocodylus niloticus là một loài cá sấu trong họ Crocodylidae. Loài này được Laurenti mô tả khoa học đầu tiên năm 1768. Chúng là loài cá sấu châu Phi lớn nhất và là động vật ăn thịt thượng hạng trong khu vực sinh sống của chúng, là khu vực bao gồm phần lớn miền nam sa mạc Sahara cũng như đảo Madagascar. Được biết đến như là động vật ăn thịt người, chúng vừa bị ghét vừa được sùng kính, đặc biệt là ở Ai Cập cổ đại khi mà các con cá sấu đã được ướp xác và tôn thờ như là thánh thần. Trong khi chúng chưa bị đe dọa tuyệt chủng thì quần thể tại nhiều quốc gia vẫn đang bị nguy hiểm do số lượng sụt giảm.

Giza (tỉnh)

Tỉnh Giza (tiếng Ả Rập: محافظة الجيزة‎ Muḥāfaẓat al Ǧīza) là một tỉnh của Ai Cập. Thủ phủ của tỉnh là thành phố Giza. Tỉnh nằm ở trung tâm của đất nước và nằm trên bờ tây của sông Nin, đối diện với Cairo. Tỉnh có 2 thành phố. Tỉnh có thắng cảnh Kim tự tháp Giza nổi tiếng thế giới.

Giza

Memphis

Giấy cói

Giấy cói hay tên gốc là Papyrus (/pəˈpaɪrəs/) là một vật liệu dày giống giấy được sản xuất từ ruột cây papyrus (Cyperus papyrus), một loại cói túi mọc trên các cùng đất ẩm đã từng rất phong phú ở Châu thổ sông Nin. Papyrus thường mọc cao tới 2-3 mét (5-9 ft). Papyrus được ghi nhận đã được sử dụng lần đầu tiên ở Ai Cập cổ đại (khoảng vương triều thứ nhất) nhưng nó còn được sử dụng rộng khắp các vùng thuộc Địa Trung Hải. Ở Ai Cập cổ đại, người ta dùng cây này để làm thuyền con, nệm, thảm, chiếu và giấy

Hapi (thần sông Nin)

Hapi, hoặc Hapy, là vị thần của các trận lũ lụt hằng năm tại sông Nin trong tôn giáo Ai Cập cổ đại. Ông cũng là một vị thần sinh sản, và là người bảo trợ của Thượng và Hạ Ai Cập.Hapi xuất hiện lần đầu tiên trong các dòng Văn khắc Kim tự tháp dưới thời pharaon Unas. Tại đó, Hapi được gọi với cái tên là Hep.

Hạ Ai Cập

Hạ Ai Cập (tiếng Ả Rập: الدلتا‎ al-Diltā) là phần cực bắc nhất của Ai Cập. Nó dùng để chỉ các khu vực màu mỡ của đồng bằng sông Nin, trải dài từ khu vực giữa Thượng Ai Cập và Địa Trung Hải - từ El-Aiyat phía nam của Cairo ngày nay, và Zawyet Dahshur.

Juba

Juba (tiếng Việt: Giu ba) là thành phố thủ đô của Cộng hòa Nam Sudan và cũng thủ phủ bang Trung Equatoria. Thành phố nằm trên sông Nin Trắng.

Khartoum

Khartoum (phiên âm: Khác-tum; tiếng Ả-rập: الخرطوم al-Kharṭūm nghĩa đen là "vòi con voi") là thủ đô Sudan cùng là lỵ sở tiểu bang Khartoum. Với vị trí nơi sông Nin Trắng từ Uganda phía nam và Nin Xanh từ Ethiopia phía đông dồn về, Khartoum nằm trên dẻo đất hẹp kẹp giữa hai con sông nên mới có tên là "Vòi con voi".

Nội thành Khartoum có hơn một triệu dân nhưng nếu tính thêm vùng phụ cận gồm al-Khartum Bahri và Umm Durman thì Khartoum có hơn tám triệu dân.

Ngữ hệ Nin-Sahara

Ngữ hệ Nin-Sahara hay Ngữ hệ Nin-Sahara là một ngữ hệ được đề xuất, được nói bởi khoảng 50–60 triệu người thuộc các dân tộc Nin, cư ngụ chủ yếu tại tượng nguồn sông Chari và sông Nin, gồm cả vùng Nubia, phía bắc nơi hai phụ lưu của sông Nin hợp nhất. Ngữ hệ này hiện diện tại 17 quốc gia tại nửa bắc châu Phi: từ Algérie tới Bénin ở phía tây; từ Libya tới Cộng hòa Dân chủ Congo ở trung tâm; và từ Ai Cập tới Tanzania ở phía đông.

Như cái tên đã cho thấy, ngữ hệ Nin-Sahara phân bố tại vùng đại lưu vực sông Nin và Sahara. Tám phân nhóm của hệ này (trừ Kunama, Kuliak, và Songhay) xuất hiện ở hai quốc gia Sudan và Nam Sudan, nơi con sông Nin chảy qua.

Trong tác phẩm The Languages of Africa (1968), Joseph Greenberg đặt tên cho nhóm này và cho rằng đây là một nhóm đơn ngành (phát sinh từ cùng một gốc). Nó gồm những ngôn ngữ không nằm trong các hệ Niger–Congo, Phi Á, hay Khoisan. Các học giả không chứng minh được rằng Nin-Sahara là một ngữ hệ hợp lệ, và họ thường xem nó như một kiểu "thùng rác", chứa tất cả những ngôn ngữ không thuộc ba nhóm kia.

Osorkon IV

Usermaatre Osorkon IV là pharaon cuối cùng của Vương triều thứ 22 trong lịch sử Ai Cập cổ đại. Thời gian trị vì của ông gắn liền với những biến động đầy hỗn loạn, khi vua Piye của vương quốc Kush và đế quốc Tân Assyria tranh nhau xâu xé Ai Cập. Niên đại của Osorkon IV kéo dài khoảng 15 năm.

Sais

Sais (tiếng Hy Lạp cổ: Σάϊς) hoặc Sa El Hagar là một thị trấn Cổ đại ở Tây Châu thổ sông Nin trên nhánh Canopus của sông Nin.

Sais là tỉnh lỵ của Sap-Meh, thứ năm nome của Hạ Ai Cập và trở thành chỗ của quyền lực trong Hai mươi tư triều đại của Ai Cập (732-720 trước Công nguyên) và tên Saite trong Vương triều thứ Hai mươi sáu của Ai Cập (664-525 BC), tên Cuối thời kỳ Ai Cập cổ đại của nó là Zau.

Sông Nin Trắng

Sông Nin Trắng (tiếng Ả Rập: النيل الأبيض, phiên âm: an-Nīl al-Ābyaḍ) là một con sông ở châu Phi, nó cũng là một chi lưu của sông Nin. Chi lưu này hợp với sông Nin Xanh tại thủ đô của Sudan, Khartoum để tạo thành dòng Nin chính. Dòng sông này dài khoảng 3.700 km tính từ hồ Victoria đến chỗ hợp lưu với dòng Nin chính.

Sông Nin Xanh

Nin Xanh (Amharic: ዓባይ}}; chuyển tự: ʿAbbai, tiếng Ả Rập: النيل الأزرق‎; chuyển tự: an-Nīl al-Āzraq) là một dòng sông bắt nguồn từ Hồ Tana tại Ethiopia. Cùng với Nin Trắng, đây là một trong hai phụ lưu chính của Sông Nin. Phần thượng lưu của Nin Xanh được gọi là Abbay trên đất Ethiopia, nơi nhiều người vẫn coi nó là dòng sông linh thiêng, và tin rằng đây là Sông Gihon chảy qua Vườn Eden trong sách Sáng thế 2 (đa số người Ethiopia theo Kitô giáo).

Trung Ai Cập

Trung Ai Cập (tiếng Ả Rập: مصر الوسطى‎ Misr al-Wista) là một phần đất giữa Hạ Ai Cập (châu thổ sông Nin) và Thượng Ai Cập, kéo dài từ thượng nguồn sông Nin phía bắc thành phố Cairo đến phía nam của Memphis, Ai Cập. Vào lúc đó, Ai Cập cổ đại chỉ chia thành hai vùng đất là Hạ và Thượng Ai Cập, vì Trung Ai Cập được cho là một tiểu khu của Thượng Ai Cập. Nó đã không được công nhận cho đến thế kỷ 19, khi các nhà khảo cổ cảm thấy cần phải chia Thượng Ai Cập lại thành hai vùng. Kết quả là họ đặt ra thuật ngữ "Trung Ai cập" cho vùng giữa sông Nin, Cairo và Khúc cong Qena.

Vương triều thứ Hai Mươi Hai của Ai Cập

Vương triều thứ Hai mươi hai của Ai Cập cổ đại cũng được biết đến như là vương triều Bubastite, kể từ khi các pharaon cai trị được thành phố Bubastis. Nó đã được thành lập bởi Shoshenq I. Đây là một vương triều thuộc Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Ba.

Vương triều thứ Hai Mươi Mốt của Ai Cập

Vương triều thứ Hai mươi mốt của Ai Cập cổ đại (ký hiệu: Triều XXI) là một thời đại pharaon đã cai trị Ai Cập thuộc Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Ba, bao gồm các vương triều khác là vương triều thứ Hai mươi hai, Hai mươi ba, Hai mươi bốn và Hai mươi lăm.

Wazner

Wazner (cũng là Wazenez, Wadjenedj và có thể là Wenegbu) được đề cập tới trên tấm bia đá Palermo như là một vị vua Ai Cập thuộc giai đoạn Tiền Vương triều, ông đã trị vì ở Hạ Ai Cập. Vì không có bằng chứng nào khác về vị vua này, cho nên ông có thể là một vị vua thần thoại được kể lại thông qua truyền thuyết, hoặc thậm chí có thể hoàn toàn hư cấu.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.