Sách Xuất Hành

Sách Xuất hành hay Xuất Ê-díp-tô là quyển sách thứ hai trong Cựu Ước kể lại cuộc ra khỏi Ai Cập (Ê-díp-tô) của dân Israel. Các tín đồ Ki-tô giáo cho rằng đây là một kinh nghiệm về quyền năng giải phóng của Thiên Chúa và Giao ước Sinai như một kinh nghiệm cộng đồng về sự gặp gỡ Thiên Chúa.

Tanakh
Cựu Ước
Aleppo Codex Joshua 1 1
Chủ đề Do Thái giáo
Chủ đề Kitô giáo

Tên gọi

Từ "Xuất hành" trong tiếng Việt được Công giáo Rôma dịch từ tiếng Hy Lạp Ἔξοδος, Exodos, nghĩa là "ra đi"; Tin Lành dịch phiên âm là "Xuất Ê-díp-tô", nghĩa là "Rời khỏi Ai Cập".

Tóm tắt

Cuộc sống của Israel ở Ai Cập

The Crossing fo The Red Sea
Vượt biển Đỏ, tranh của Nicholas Poussin

Khi người Do Thái (Híp-ri) làm nô lệ ở Ai Cập, sự lớn mạnh về quân số của họ khiến cho Pharaoh lo ngại, ông ra sắc lệnh giết chết tất cả trẻ sơ sinh Do Thái rồi vứt xuống sông Nile. Một người phụ nữ Do Thái thuộc dòng Lê-vi, vì không muốn mất đứa con vừa mới sinh, bà ấy đặt đứa trẻ vào nôi rồi giấu vào bụi sậy bờ sông Nile. Vô tình, công chúa Ai Cập phát hiện chiếc nôi và đem đứa trẻ về nuôi và đặt tên là Moses (Môi-sê). Moses, về chính danh là hoàng tử Ai Cập, nhưng ông luôn ý thức nguồn gốc của mình. Một lần, ông thấy một người Ai Cập đang đánh một người Do Thái, ông liền giết người Ai Cập, rồi vùi dưới cát. Sự việc vỡ lẽ khiến Pharaoh ra lệnh giết ông. Ông trốn khỏi cung điện vào Midian (Ma-đi-an).

Ông Moses được chọn

"Bấy giờ ông Moses đang chăn chiên cho cha vợ là Jethro (Gít-rô), tư tế Ma-đi-an. Ông dẫn đàn chiên qua bên kia sa mạc, đến núi của Thiên Chúa, là núi Khô-rếp. Thiên sứ của Đức Chúa hiện ra với ông trong đám lửa từ giữa bụi cây. Ông Moses nhìn thì thấy bụi cây cháy bừng, nhưng bụi cây không bị thiêu rụi. Ông tự bảo: "Mình phải lại xem cảnh tượng kỳ lạ này mới được: vì sao bụi cây lại không cháy rụi?" Đức Chúa thấy ông lại xem, thì từ giữa bụi cây Thiên Chúa gọi ông: "Moses! Moses!" Ông thưa: "Dạ, tôi đây!" Người phán: "Chớ lại gần! Cởi dép ở chân ra, vì nơi ngươi đang đứng là Đất Thánh." Người lại phán: "Ta là Thiên Chúa của cha ngươi, Thiên Chúa của Abraham (Áp-ra-ham), Thiên Chúa của Isaac (I-xa-ác), Thiên Chúa của Jacob (Gia-cóp)." Ông Moses che mặt đi, vì sợ nhìn phải Thiên Chúa" (Xuất hành 3:1-6).

Yêu sách đòi tự do

Thiên Chúa đặt Moses làm thủ lĩnh Israel, để đưa dân tộc này ra khỏi Ai Cập, vào Đất Hứa. Trong những lần tiếp kiến Pharaoh đòi tự do, ông đều bị Pharaoh bác bỏ. Thiên Chúa trừng phạt người Ai Cập bằng nhiều tai ương mà đỉnh điểm là việc giết tất cả các con trai đầu lòng mới sinh. Pharaoh buộc phải đồng ý cho Israel ra đi.

Cuộc Vượt qua và Xuất hành

Đêm diễn ra tai ương cuối cùng, tất cả con đầu lòng mới sinh của người Ai Cập, từ con vua đến con dân thường đều bị giết chết. Theo chỉ dẫn của Thiên Chúa, Israel không bị thiệt hại gì và họ gọi đó là "vượt qua". Israel, gồm 600.000 người kể cả phụ nữ và trẻ em ra đi với tất cả hành lý, chiên, bò...

Hiện tại nhìn lại, nhiều điểm nghi ngờ lẫn giả thuyết xuất hiện từ đây. Khi Israel vượt qua Sinai, hệ sinh thái sa mạc của bán đảo Sinai có thể không cung cấp đủ thức ăn và nước uống để duy trì sự sống cho một lượng người lớn như thế. Thật vậy, dân số hiện nay của Sinai ước lượng chỉ khoảng hơn 38.000.

Pharaoh cho quân đội đuổi theo Irael đến tận Biển Đỏ, trong lúc đó dân Israel đang đi giữa lòng biển khô ráo, do nước biển tách làm đôi để lộ một con đường mòn. Khi Israel đã đi được qua bờ bên kia thì quân đội Ai Cập vẫn đang đi giữa lòng biển.

Kinh Thánh ghi lại rằng: "Ông Moses giơ tay trên mặt biển, và biển ập lại như cũ, vào lúc tảng sáng. Quân Ai Cập đang chạy trốn thì gặp nước biển, Đức Chúa xô ngã quân Ai Cập giữa lòng biển. Nước biển ập xuống, vùi lấp chiến xa và kỵ binh, vùi lấp toàn thể quân lực của Pharaoh đã theo dân Israel vào lòng biển. Không một tên nào sống sót." (Xuất hành 14:27-28). Thế nhưng, ngày nay, người ta đặt giả thuyết có một cuộc thủy triều lớn xảy ra vào thời ấy.

Hành trình tại Sinai

Israel tiếp tục hành trình của mình, nhưng ngay lập tức, họ bắt đầu kêu ca về các khó khăn gian khổ, không thức ăn, nước uống. Thiên Chúa ban cho họ một thứ bánh để ăn, họ gọi là "Manna" và nước uống chảy từ hòn đá của Meribah.

Thuật ngữ "núi của Thiên Chúa" xuất hiện nhiều từ các chương này và là vấn đề gây tranh cãi. Người ta cho rằng, núi này có hai tên gọi: Horeb và Sinai. Các học giả không đồng ý về việc liệu trong thực tế có hai ngọn núi hay không? vì nó chẳng tương quan đến địa lý hiện đại.

Giao ước

Irael đến chân "núi của Đức Chúa". Thiên Chúa và họ lập một giao ước: Thiên Chúa sẽ bảo trợ trên dân tộc họ, và họ sẽ là dân riêng của Thiên Chúa, phải phụng thờ Người thông qua Mười điều răn.

Cùng với Mười điều răn của Chúa, sách Xuất hành còn ghi một số luật về phụng tự. Nhưng ngay sau đó dân đã vi phạm giao ước, đúc bò vàng mà thờ theo kiểu dân Canaan. Nhờ ông Mô-sê cầu khẩn, Chúa đã tha thứ và ban lại Luật Giao ước cho ông Mô-sê.

Liên Kết

Amun-her-khepeshef

Amun-her-khepeshef (hay Amonhirkhopshef, Amun-her-wenemef) là một hoàng tử của pharaon Ramesses II và hoàng hậu Nefertari. Tuy được phong làm thái tử nhưng lại mất trước cha mình, ngai vàng sau đó thuộc về tay Merneptah.

Biển Đỏ

Biển Đỏ còn gọi là Hồng Hải hay Xích Hải (tiếng Ả Rập البحر الأحم Baḥr al-Aḥmar, al-Baḥru l-’Aḥmar; tiếng Hêbrơ ים סוף Yam Suf; tiếng Tigrinya ቀይሕ ባሕሪ QeyH baHri) có thể coi là một vịnh nhỏ của Ấn Độ Dương nằm giữa châu Phi và châu Á. Biển này thông ra đại dương ở phía nam thông qua eo biển Bab-el-Mandeb và vịnh Aden. Tại phía bắc là bán đảo Sinai, vịnh Aqaba và vịnh Suez (nối vào kênh đào Suez). Biển này dài khoảng 1.900 km và chỗ rộng nhất là trên 300 km. Đáy biển có độ sâu tối đa 2.500 m ở điểm giữa rãnh trung tâm và có độ sâu trung bình 500 m, nhưng nó cũng có thềm lục địa nông và lớn về diện tích, là đáng chú ý đối với các sinh vật biển và san hô. Diện tích bề mặt khoảng 438.000–450.000 km². Biển này là nơi sinh sống của trên 1.000 loài động vật không xương sống và 200 loại san hô cứng và mềm. Biển này là một phần của Đại Thung Lũng. Hồng Hải là biển nhiệt đới nằm cao nhất về phía bắc của thế giới.

Bài ca Xuất Hành

Bài ca Xuất Hành (tiếng Do Thái: שירת הים, Shirat Hayam, còn được gọi là Az Yashir Moshe) là một bài thơ xuất hiện trong Sách Xuất Hành của Kinh Thánh của Do Thái giáo (Cựu Ước của Kitô giáo) ở chương 15, câu 1-18 cho đến câu 20 và 21 (lời riêng của bà Miriam). Bài ca Xuất Hành là một trong những lời nổi tiếng nhất mà người Israel đã vang lên sau khi họ vượt qua Biển Sậy (được cho là Biển Đỏ ngày nay) một cách an toàn, để lại quân đội của Ai Cập đuổi theo sau nhưng bị nhấn chìm trong lòng biển.

Bài thơ này hiện được liệt kê trong sách cầu nguyện của người Do Thái, được đọc hàng ngày vào buổi cầu nguyện ban sáng. Ngày nay, bài thơ cũng có vị trí quan trọng trong phụng vụ Kitô giáo.

Con Bê Vàng

Con Bê Vàng (tiếng Do Thái: עֵגֶּל הַזָהָב/‘ēggel hazāhāv, tiếng Anh: Golden calf) là một hình tượng thờ cúng và sùng bái động vật dưới dạng con bê do người Do Thái đúc ra để thờ khi Moses lên núi Sinai, đây là động vật được nhắc đến trong Kinh Thánh. Trong tiếng Do Thái, vụ việc này được gọi là Tội lỗi của con Bê (tiếng Do Thái: ḥēṭ’ ha‘ēggel/חֵטְא הַעֵגֶּל/the Sin of the Calf). Nó được đề cập lần đầu tiên trong Xuất hành. Trong Công giáo đã chỉ trích người Do Thái vì tội thờ con Bò vàng như chuyện kể trong sách Xuất Hành.

Tuy họ vừa mới được Thiên Chúa cứu thoát khỏi kiếp sống nô lệ từ Ai Cập chưa được bao lâu, dân Do Thái đã đúc con bò vàng và coi đó là Thiên Chúa của mình, tổ chức cúng bái thờ lạy nó, rồi mở hội vui chơi nhảy múa, không tuân giữ giới răn của Chúa, họ đã gây áp lực với tư tế Aharon để làm con bò vàng thay thế là Đấng đã giải thoát Israel ra khỏi Ai Cập. Thờ ngẫu tượng là hành vi bị cấm, mặc dù, Kinh Thánh răn dạy con người phải yêu thương và bác ái với loài vật nhưng là tín hữu thì phải thờ phượng và phụng sự Thiên Chúa.

Kinh Thánh

Kinh Thánh (hoặc Thánh Kinh; từ gốc tiếng Hy Lạp: τὰ βιβλία, tà biblía, "những quyển sách") là từ ngữ để chỉ các văn bản thiêng liêng của nhiều niềm tin khác nhau, nhưng thường là từ các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham. Do Thái giáo và Kitô giáo chia sẻ cùng một thuật ngữ "Kinh Thánh", mặc dù giữa họ không đồng nhất về số lượng sách. Quy điển Kinh Thánh là cách thức tuyển chọn và công nhận sách nào được cho là thiêng liêng. Các văn bản này thường được viết trong giai đoạn hình thành của các niềm tin Do Thái giáo và Kitô giáo; những người lãnh đạo của các cộng đồng này tin đây là các sách được linh truyền từ Thiên Chúa để thể hiện lịch sử uy quyền của mối liên hệ giữa Thiên Chúa và dân của ngài. Kinh Thánh có thể nói là sự ghi chép theo sự truyền đạt của một vị Thánh trong Thánh đạo.

Người Do Thái gọi Kinh Thánh của họ là Tanakh, gồm 24 quyển, chia làm 3 phần: Sách Luật Giao Ước (Torah), Sách Ngôn Sứ (Nevi'im) và Sách Văn Chương (Ketuvim).

Kinh Thánh Kitô giáo gồm Cựu Ước (nghĩa là "Giao ước cũ") và Tân Ước (nghĩa là "Giao ước mới"). Cựu Ước là phần kế thừa từ Tanakh, được chia thành các nhóm sách: Ngũ Thư, Lịch sử, Ngôn Sứ và Giáo Huấn; còn Tân Ước là các văn bản do các môn đệ của Chúa Giêsu (và những người thừa kế họ) viết ra với nội dung liên quan đến cuộc đời ông. Tân Ước gồm 27 quyển, số lượng này được cố định vào thế kỷ thứ 4 và được hầu hết các giáo hội Kitô giáo chấp nhận. Chúng bao gồm sách Phúc Âm, sách Công vụ Tông đồ, các thư của Phaolô, các thư của các sứ đồ khác và sách Khải Huyền.

Dù Tanakh gồm 24 quyển, nhưng các nhóm Kháng Cách tính thành 39 quyển. Giáo hội Công giáo và các giáo hội Kitô khác có thêm một số sách trong Cựu Ước, lấy từ Bản Bảy Mươi (Septuaginta) của Do Thái vì họ giữ các sách này lại sau khi chúng bị những người Cải cách Kháng Cách (Tin Lành) loại bỏ.

Kinh Thánh là bộ sách bán chạy nhất mọi thời đại, ước tính mỗi năm có thêm 100 triệu bản, và nó đã gây sức ảnh hưởng lớn về văn học và lịch sử, đặc biệt là ở phương Tây, nơi mà nó là sách đầu tiên được in hàng loạt.

Kinh Thánh có lẽ là bộ sách gây ảnh hưởng nhiều nhất trong lịch sử loài người. Số bản in Kinh Thánh vượt mọi sách khác. Kinh Thánh Hebrew giáo cũng như Kinh Thánh Kitô giáo được dịch nhiều lần, sang nhiều ngôn ngữ hơn bất cứ sách nào khác. Kinh Thánh trọn bộ, hoặc một phần, đã được dịch sang hơn 2.100 ngôn ngữ của 90% dân số thế giới. Kể từ năm 1815, ước tính có khoảng hơn 5 tỉ ấn bản Kinh Thánh trọn bộ hoặc các phần quan trọng của Kinh Thánh được phân phối, trở nên sách bán chạy nhất trong mọi thời đại.

Thuật ngữ "Kinh Thánh" cũng được dùng cho các văn bản thiêng liêng của các niềm tin không Do Thái và không Ki-tô; vì vậy Guru Granth Sahib thường được dùng để chỉ "Kinh Thánh Sikh".

Nhiều nhà giáo dục thấy rằng Kinh Thánh Ki-tô giáo đã ăn rễ vững chắc vào văn hoá phương Tây đến nỗi "bất cứ ai, dù có niềm tin hay không, nếu không quen thuộc với các giá trị và giáo huấn của Kinh Thánh sẽ trở nên dốt nát về văn hoá."Từ "kinh Thánh" trong tiếng Hy Lạp là βιβλια (biblia), nghĩa là "sách", từ này lại có nguồn gốc từ βυβλος (byblos) có nghĩa "giấy cói" (papyrus), từ tên của thành phố Byblos xứ Phenicie (Phoenicia) cổ đại, là nơi xuất khẩu giấy cói.

Lễ Lều Tạm

Lễ Lều Tạm (Tiếng Hebrew: סוכות‎ or סֻכּוֹת, sukkōt) (Tiếng Anh: Sukkot hoặc Succot) là một ngày lễ Do Thái Giáo của người Do Thái. Lễ Lều Tạm là ngày lễ trong Kinh Thánh được tổ chức vào ngày thứ 15 của tháng Tishrei (thay đổi từ cuối Tháng Chín đến cuối Tháng Mười).

Lễ Lều Tạm có hai ý nghĩa quan trọng. Được nhắc tới trong Sách Xuất Hành về ngành nông nghiệp tự nhiên - "Lễ đem lúa đi gặt ở cuối của năm" (Exodus 34:22) và đánh dấu sự kết thúc của thời gian thu hoạch và năm nông nghiệp trong xứ sở Do Thái Israel. Ý nghĩa tôn giáo phức tạp hơn từ Sách Lêvi trong thời kỳ di cư và sự phụ thuộc của dân tộc Do Thái vào ý muốn của Thiên Chúa. (Leviticus 23:42-43)

Lễ Lều Tạm diễn ra trong bảy ngày ở Israel và tám ngày ở ngoại bang. Tiếng Hebrew từ Sukkot là số nhiều của sukkah, "gian hàng" hoặc "lều tạm", vật liệu xây dựng là thực vật nhứ lá dừa lá cọ. Lều tạm là nơi ở tạm thời cho người nông dân Do Thái trú ẩn trong mùa thu hoạch, nghỉ ngơi là quan trọng nông nghiệp được nhắc tới trong Sách Xuất Hành. Như đã nêu trong Sách Lêvi, Lễ Lều Tạm là một kỷ niệm của người Do Thái cư ngụ trong suốt 40 năm lang thang trong sa mạc sau khi thoát khỏi chế độ nô lệ ở Ai Cập. Trong những ngày nghỉ ngơi, người Do Thái ăn đủ bữa, trú ẩn bên trong lều tạm và nhiều người ngủ ở đó là điều tốt.

Vào mỗi ngày của ngày lễ, người do thái bắt buộc phải cầm Bốn Loại Cây và vẫy lắc. Lễ Lều Tạm cũng kèm theo các hoạt động sinh hoạt tôn giáo như đọc kinh và cầu nguyện. Các khu chợ rất đông đúc vì có nhiều người Do Thái mua bán Bốn Loại Cây trong ngày lễ lều tạm.

Lễ dâng Đức Maria vào đền thánh

Lễ dâng Đức Maria vào đền thánh là một ngày lễ trong lịch phụng vụ của Giáo hội Công giáo Rôma, Giáo hội Công giáo phương Đông và Giáo hội Chính Thống.

Theo Sách Xuất Hành 13:2 và 13:12 thì tất cả các con trai đầu lòng Do Thái phải được dâng vào Đền Thờ. Điều này khiến người ta tin rằng Gioankim và Anna đã dâng Maria vào Đền Thờ, con trẻ mà họ đã được Thiên Chúa nhậm lời sau thời gian dài cầu nguyện.

Trong trình thuận Luca (1:34), Maria đã đáp lại lời sứ thần: "Việc ấy xảy ra thế nào được, vì tôi không biết đến người nam". Điều này khiến người ta nghĩ đến giả thiết Maria đã có một lời khấn nguyện đồng trinh. Mà dịp thuận tiện nhất cho lời khấn ấy là khi Maria được dâng vào Đền Thờ. Tin mừng ngoại thư của Thánh Giacôbê và tác phẩm "De nativ.Mariae"(7-8) khẳng định rằng Gioankim và Anna đã dâng con trẻ Maria vào Đền Thờ khi con trẻ này được 3 tuổi. Thánh Grêgôriô thành Nýt và Thánh Germanô thành Constantinôpôli cũng theo trình thuật này.

Truyền thống của giáo hội không định rõ con trẻ Maria được dâng vào Đền Thờ khi mấy tuổi nhưng đã tổ chức mừng lễ này. Lễ này được đề cập lần đầu tiên trong một tư liệu của Manuel Commenus vào năm 1166; xuất phát từ Constantinôpôli, lễ này đã được truyền sang Giáo hội Tây phương vào khoảng năm 1371. Một thế kỷ sau đó, Giáo hoàng Xíttô IV đưa lễ này vào Kinh thần vụ. Năm 1585, Giáo hoàng Xíttô V mở rộng lễ này cho toàn thể Giáo hội.

Messiah

Messiah (tiếng Hebrew: מָשִׁיחַ, Tiêu chuẩn Mashiaẖ Tiberian Māšîăḥ, tiếng Việt: Mê-si-a, dịch nghĩa là "người được xức dầu") được xem là một vị cứu tinh đến giải phóng một nhóm người, phổ biến nhất trong các tôn giáo Abraham. Trong Kinh Thánh Hebrew, một messiah có thể là một vị vua hoặc Thượng tế được xức dầu theo cách truyền thống với dầu thánh. Tuy nhiên, các messiah không phải chỉ là người Do Thái, như Kinh Thánh Hebrew đã đề cập đến Cyrus Đại đế, vua Ba Tư, là một messiah vì ông đã ra sắc lệnh cho xây dựng lại Đền thờ Giêrusalem. Messiah của người Do Thái là một nhà lãnh đạo được Thiên Chúa xức dầu, phải là hậu duệ của dòng dõi vua David, là người sẽ cai trị các chi tộc thống nhất của dân Israel và báo trước Thời đại của Đấng cứu độ sẽ đem lại hòa bình trên toàn cầu.

Kinh Thánh Bản Bảy Mươi (Septuaginta) dịch từ Hebrew này sang tiếng Hy Lạp là Χριστός (Khristós), phiên âm tiếng Việt: Ki-tô hay Cơ-đốc, mà trong Kitô giáo đã trở thành tên gọi và danh hiệu cho Giê-su. Các Kitô hữu tin rằng các lời tiên tri trong Kinh Thánh Hebrew (đặc biệt là sách Isaiah) đề cập tới một vị cứu độ tinh thần mà Giê-su chính là vị Messiah đó.

Moses

Moses (tiếng Latin: Moyses, tiếng Hebrew: מֹשֶׁה, Tiêu chuẩn Moshe Tiberian Mōšeh; Hy Lạp: Mωυσής; Ả Rập: موسىٰ, Mūsa; Ge'ez: ሙሴ, Musse), trong tiếng Việt là Mô-sê hoặc Môi-se hoặc Môi-dơ, là lãnh tụ tôn giáo, người công bố luật pháp, nhà tiên tri, nhà chỉ huy quân sự và sử gia. Ông cũng được xem là người chép kinh Torah (năm sách đầu tiên của Kinh Thánh, còn gọi là Ngũ kinh Moses). Trong tiếng Hebrew, ông được gọi là Moshe Rabbeinu (מֹשֶׁה רַבֵּנוּ, Lit. "Moses Thầy chúng ta"). Moses cũng là một nhà tiên tri quan trọng trong Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo, Hồi giáo, Đạo Bahá'í, Mormon, và Phong trào Rastafari.Theo ký thuật của Kinh Thánh, Moses là con của một phụ nữ Hebrew (Do Thái). Khi nhận biết đứa bé sơ sinh là con trai, bà tìm cách cứu con mình khỏi bị giết theo một chiếu chỉ của Pharaoh ra lệnh tàn sát tất cả bé trai thuộc dân tộc Do Thái nô lệ ngay khi chúng vừa chào đời. Cuối cùng, cậu bé Moses được nhận nuôi để trở nên một thành viên của Hoàng gia Ai Cập. Sau khi ra tay giết chết một quản nô Ai Cập để cứu một người Hebrew, Moses bị buộc phải chạy trốn, rồi trở thành mục tử. Về sau ông được Thiên Chúa kêu gọi trở về Ai Cập với sứ mạng giải phóng dân tộc mình khỏi ách nô lệ, dẫn dắt họ băng qua Hồng Hải, tiến vào hoang mạc và, vì lòng vô tín và sự cứng lòng của dân Israel, ông cùng với họ lưu lạc trong đó suốt 40 năm. Moses không được vào Đất Hứa, ông sống thọ 120 tuổi.

Ông là một thiên tài quân sự. Buổi đầu sự nghiệp của ông khá giống với vua Cyrus Đại Đế - vị Hoàng đế khởi lập Đế quốc Ba Tư (xem bộ sử "Historiai" của Herodotos) - và ông cùng với vua Cyrus Đại Đế đóng vai trò vô cùng lớn lao trong lịch sử. Ông trở thành một vị anh hùng dân tộc của người Do Thái.

Mười điều răn

Mười điều răn là danh sách các mệnh lệnh đạo đức và tôn giáo, theo Kinh thánh, được Thiên Chúa (Gia-vê) phán truyền Môi-sê ở núi Sinai và được khắc vào hai phiến đá. Mười điều răn đóng vai trò quan trọng trong Do Thái giáo và Kitô giáo.

Tên gọi Mười điều răn được ghi nhận ở 3 nguồn: một ở Sách Xuất hành (Xuất Ê-díp-tô Ký) 34:28, ngày nay thường được gọi là Mười điều răn lễ nghi, Sách Đệ nhị luật (Phục-truyền Luật-lệ Ký) 4:13 và 10:4, thường được cho là liên hệ đến các mệnh lệnh được liệt kê ở Đệ nhị luật 5:6-21 (và danh sách tương tự ở Xuất hành 20:2-17), và để tránh nhầm lẫn, bản này thường được gọi là Mười điều răn đạo đức. Trong hầu hết các trường hợp, thuật ngữ Mười điều răn chỉ dùng để nói đến Mười điều răn đạo đức.

Ngũ Thư

Ngũ Thư là năm quyển sách đầu tiên trong Kinh Thánh Hebrew, bao gồm: Sách Sáng thế, Sách Xuất hành, Sách Lêvi, Sách Dân số và Sách Đệ nhị luật. Trong Do Thái giáo, Ngũ Thư được gọi là Torah, và là phần đầu của Tanakh; trong khi đó với Kitô giáo, đây là phần đầu của Cựu Ước.

Năm sách này trình bày về công cuộc sáng tạo vũ trụ và muôn loài của Thiên Chúa, sự kiện cả dân tộc Israel được giải thoát ra khỏi Ai Cập, giao ước của dân với Thiên Chúa, hành trình tiến về miền đất hứa Canaan, các luật lệ tôn giáo và dân sự, những vấn đề lớn có liên quan đến lịch sử sơ khai của Israel v.v.

Người Do Thái

Người Do Thái (tiếng Hebrew: יְהוּדִים ISO 259-3 Yehudim, phát âm [jehuˈdim]) là một sắc tộc tôn giáo là một dân tộc có nguồn gốc từ người Israel, còn gọi là người Hebrew, trong lịch sử vùng Cận Đông cổ đại. Các đặc tính sắc tộc, dân tộc và tôn giáo của người Do Thái có liên quan chặt chẽ với nhau, khi mà Do Thái giáo là tín ngưỡng truyền thống của dân Do Thái, cho dù mức độ hành đạo của họ rất đa dạng, từ tuân thủ nghiêm ngặt cho tới hoàn toàn không thực hành.

Người Do Thái bắt nguồn từ một nhóm dân tộc và cũng là một nhóm tôn giáo ở Trung Đông trong thiên niên kỷ thứ hai trước công nguyên, ở một phần của vùng Levant được gọi là mảnh đất của Israel. Merneptah Stele khẳng định sự tồn tại của một dân tộc được gọi là Israel nằm ở đâu đó trong vùng Canaan từ khoảng thế kỷ thứ XIII trước công nguyên (cuối thời đại đồ đồng). Người Israel phát triển từ dân số Canaanite, củng cố các tổ chức của họ với sự xuất hiện của Vương quốc Israel và Vương triều Judah. Một số người cho rằng các dân tộc định cư ở vùng Canaan này kết hợp với các nhóm du mục di cư đến được gọi là người Hebrew. Mặc dù một vài nguồn chi tiết đề cập đến các giai đoạn lưu vong, kinh nghiệm cuộc sống vong quốc của người Do Thái, từ chế độ nô lệ Ai Cập cổ đại đối với người Levant, đến sự đóng chiếm của người Assyria và chế độ lưu đày, cho đến xự chiếm đóng của người Babylonian và sự trục xuất, cho đến sự cai trị của Vương quốc Seleukos, tiếp theo là sư độ hộ của đế quốc La Mã và sự tha hương viễn xứ, và các mối quan hệ lịch sử giữa người Do Thái với quê hương của họ sau đó, trở thành đặc điểm chính của lịch sử, bản sắc và ký ức của người Do Thái.Người Do Thái đã trải qua một lịch sử lâu dài bị đàn áp và thảm sát trên nhiều vùng đất khác nhau; dân số và phân bố dân cư của họ thay đổi qua nhiều thế kỷ. Số lượng người Do Thái trên khắp thế giới đã đạt đỉnh là 16,7 triệu người trước Thế Chiến thứ Hai, chiếm khoảng 0,7% tổng dân số thế giới vào thời điểm đó, nhưng khoảng 6 triệu người do thái đã bị tàn sát có hệ thống trong suốt nạn diệt chủng Do Thái. Sau đó, dân số tăng chậm trở lại, và vào năm 2014, theo North American Jewish Data Bank, ước tính có khoảng 14,2 triệu người Do Thái, chiếm gần 0,2% tổng dân số thế giới (khoảng một trong 514 người là người Do thái). Dựa theo báo cáo, khoảng 44% trong số tất cả người Do Thái sống ở Israel (6,3 triệu), và 40% người Do Thái ở Hoa Kỳ (5,7 triệu), phần lớn số người Do Thái còn lại sống ở châu Âu (1,4 triệu) và Canada (0,4 triệu). Những con số này bao gồm tất cả những người tự xác định là người Do Thái trong một nghiên cứu xã hội nhân khẩu học hoặc đã được xác định là như vậy bởi một người trả lời trong cùng một hộ gia đình. Tuy nhiên, số liệu chính xác của người Do Thái trên toàn thế giới rất khó đo lường. Ngoài các vấn đề về phương pháp thống kê, các tranh chấp giữa các yếu tố nhân dạng theo luật Do Thái halakhic, thế tục, chính trị, và tổ tiên liên quan đến người Do Thái và ai là một người Do Thái cũng có thể ảnh hưởng đáng kể đến con số thống kê tùy thuộc vào nguồn gốc. Israel là quốc gia duy nhất nơi mà người Do Thái chiếm đa số. Nhà nước Israel hiện đại được thành lập như một nhà nước Do thái và tự định nghĩa bản sắc của nó trong bảng Tuyên bố Độc lập và hiến pháp cơ bản. Luật về Sự trở lại của quốc gia Israel trao quyền công dân cho bất kỳ người Do Thái nào yêu cầu quốc tịch Israel.

Núi Sinai

Núi Sinai (còn được gọi là Núi Horeb) là ngọn núi linh thiêng nhất của các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham, tọa lạc ở bán đảo Sinai của Ai Cập. Núi Thánh Sinai được đề cập nhiều lần trong Sách Xuất Hành của Torah (Cựu Ước) và Kinh Qur'an. Theo truyền thống của Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo thì núi Sinai là nơi Moses tiếp nhận Mười Điều Răn. Núi cao 2.285 mét (7.497 ft).

Rosh Hashanah

Rosh Hashanah (tiếng Hebrew: רֹאשׁ הַשָּׁנָה, nghĩa là "đầu năm") là năm mới của người Do Thái. Tên Kinh Thánh cho kỳ nghỉ này là Yom Teruah (tiếng Hebrew: יוֹם תְּרוּעָה, nghĩa đen "ngày la hét/tạo một tiếng ồn") hay Lễ hội kèn trumpet. Đó là lần đầu tiên của Yamim Noraïm hoặc יָמִים נוֹרָאִים Yamim Nora'im ("Những ngày tôn sùng") mà thường xảy ra vào mùa thu năm đầu của Bắc bán cầu. Rosh Hashanah kéo dài hai ngày, bắt đầu vào ngày đầu tiên của Tishrei. Tishrei là tháng đầu tiên của năm Do Thái, nhưng tháng thứ bảy của năm của giáo hội.

Tết Do Thái là một lễ tổ chức gồm hai, tết bắt đầu vào ngày đầu tiên của Tishrei. Tishrei là tháng đầu tiên của năm dân sự Do Thái, nhưng là tháng thứ bảy của năm giáo sĩ.

Dựa theo đạo Do Thái Giáo ngày này được cho ngày đánh dấu để kỷ niệm việc sáng tạo ra hai nhân vật tổ tiên loài người là ông Adam và bà Eva, họ chính là người đàn ông và người phụ nữ đầu tiên dựa theo Kinh Thánh của người Do Thái, và hành động đầu tiên của họ đối với việc thực hiện vai trò của con người trong thế giới của Thiên Chúa. Theo một quan điểm thế tục, kỳ nghỉ này là thời điểm bắt đầu năm kinh tế ở Tây Nam Á và Đông Bắc Phi, đánh dấu sự bắt đầu của chu kỳ nông nghiệp.Các phong tục Tết Do Thái bao gồm rung shofar (kèn sừng trâu rỗng) đã được ghi dấu trong Kinh Torah nghĩa là tạo ra tiếng ồn vào ngày Yom Teruah; và trong những phong tục đó còn bao gồm các sinh hoạt tôn giáo như đi lễ nhà thờ, và đọc kinh cầu nguyện để xét mình ăn năn hối hận đền tội lỗi, và ăn uống trong ngày tết. Những món thức ăn có tính biểu tượng như táo nhúng vào mật ong hiện nay là một truyền thống với niềm hy vọng là để đánh thức một "năm mới ngọt ngào".

Tefillin

Tefillin (tiếng Hebrew: תפילין‎) là một bộ các hộp nhỏ màu đen được làm bằng da thuộc, có chứa các cuộn giấy da trích dẫn các câu từ Kinh Torah, được người Do Thái hành đạo đeo trong suốt các buổi cầu nguyện ban sáng vào các ngày trong tuần.

Sợi dây Tefillin, gọi là Shel yad, được đặt trên cánh tay, quấn sợi dây quanh cánh tay đến bàn tay và ngón tay.

Đầu Tefillin là cái hộp màu đen, gọi là Shel Rosh, được đặt trên trán.

Lệnh Kinh Thánh Torah rằng người Do Thái nên đeo để phục vụ như là một "dấu hiệu" và "tưởng nhớ" đến việc Thiên Chúa đã đưa Con Cái Israel ra khỏi Ai Cập.

Tìm thấy Chúa Giê-su trong đền thánh

Tìn thấy Chúa Giê-su trong đền thánh, còn được gọi là "Chúa Giêsu giữa các nhà hiền triết", là một sự việc trong thời niên thiếu của Chúa Giêsu mô tả trong Tin Mừng Thánh Luca. Đây là sự kiện duy nhất trong thời thơ ấu của Chúa Giêsu được đề cập đến trong sách Tin Mừng.

Theo mô tả của Luca (2: 41-52) thì: "khi cha mẹ Ðức Giêsu trẩy hội đến Giêrusalem mừng Lễ Vượt Qua. Khi đó, trẻ Giêsu được 12 tuổi và cả gia đình cùng lên đền theo tập tục ngày lễ. Xong kỳ lễ, hai ông bà trở về, còn cậu bé Giêsu thì ở lại Giêrusalem, mà cha mẹ chẳng hay biết. Ông bà cứ tưởng là cậu về chung với đoàn lữ hành, nên sau một ngày đường, mới đi tìm kiếm giữa đám bà con và người quen thuộc. Không thấy con đâu, hai ông bà trở lại Giêrusalem mà tìm. Sau ba ngày, hai ông bà mới tìm thấy con trong Ðền Thờ, đang ngồi giữa các thầy dạy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi. Ai nghe cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đáp của cậu. Khi thấy con, hai ông bà sửng sốt, và mẹ Người nói với Người: "Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!". Người đáp: "Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?". Nhưng ông bà không hiểu lời Người vừa nói.

Theo luật Do Thái được đề cập trong Sách Xuất Hành 23:17 thì những người đàn ông mới buộc phải đi viếng Đền thờ trong ba ngày lễ trọng của năm nhưng những người phụ nữ thường đi với những người đàn ông để tỏ lòng sùng kính của họ. Có lẽ ông Giuse và bà Maria đã trở về trong ngày thứ hai của kỳ lễ và nghỉ đêm ở Bêrốt trên biên giới phía bắc vương quốc Giuđa. Tại vị trí này, quân Thập Tự Chinh sau đó đã xây dựng một đền thờ để tưởng nhớ nỗi buồn phiền của Đức Maria khi "để lạc mất con".

Vàng

Vàng là tên nguyên tố hoá học có ký hiệu Au (L. aurum) và số nguyên tử 79 trong bảng tuần hoàn. Là kim loại chuyển tiếp (hoá trị 3 và 1) mềm, dễ uốn, dễ dát mỏng, màu vàng và chiếu sáng, vàng không phản ứng với hầu hết các hoá chất nhưng lại chịu tác dụng của nước cường toan (aqua regia) để tạo thành axit cloroauric cũng như chịu tác động của dung dịch xyanua của các kim loại kiềm. Kim loại này có ở dạng quặng hoặc hạt trong đá và trong các mỏ bồi tích và là một trong số kim loại đúc tiền.

Vàng được dùng làm một tiêu chuẩn tiền tệ ở nhiều nước và cũng được sử dụng trong các ngành trang sức, nha khoa và điện tử. Mã tiền tệ ISO của nó là XAU.

When You Believe

"When You Believe" là bài hát trong bộ phim hoạt hình âm nhạc có tựa đề Hoàng Tử Ai Cập ra mắt năm 1998 của hãng DreamWorks, được sáng tác bởi Stephen Schwartz. Một đĩa đơn phiên bản nhạc pop của "When You Believe", với phần nhạc và lời do nhà viết nhạc-nhà sản xuất Babyface viết thêm, cũng được hai ca sĩ người Mỹ Mariah Carey và Whitney Houston thu âm cho phần giới thiệu cuối phim và album nhạc phim. Ngoài ra, bài hát cũng được đưa vào album phòng thu thứ tư của Houston, My Love Is Your Love và trong album tuyển tập đầu tiên của Carey, #1's. Phiên bản gốc của ca khúc, xuất hiện trong phần kể chuyện của bộ phim, được trình bày bởi Sally Dworsky, Michelle Pfeiffer cùng với một dàn hợp xướng thiếu nhi. "When You Believe" được mô tả là một bài hát đậm chất ballad, với phần lời giàu ý nghĩa và truyền cảm hứng cho người nghe. Bài hát nói về khả năng mà mỗi con người có thể nhận lấy phép màu khi họ tiếp cận và đặt niềm tin vào Chúa.

Ca khúc nhận được phản hồi trái chiều từ các nhà phê bình âm nhạc và đạt được thành công khiêm tốn trên các bảng xếp hạng, khi chỉ đạt đến vị trí cao nhất là 15 trên bảng xếp hạng US Billboard Hot 100, mặc dù đã nhận được sự chú ý của giới truyền thông và được biểu diễn trực tiếp để quảng bá. Bài hát thành công hơn ở khu vực châu Âu và các quốc gia khác, nằm trong top 5 trên bảng xếp hạng của Bỉ, Pháp, Ý, Hà Lan, Đan Mạch, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ và Vương quốc Anh. "When You Believe" đã được trao Giải Oscar cho ca khúc trong phim hay nhất tại lễ trao giải Oscar lần thứ 71 diễn ra vào ngày 21 tháng 3 năm 1999. Trước màn biểu diễn ca khúc của hai ca sĩ vào đêm trao giải, Schwartz xóa tên Babyface khỏi đơn đệ trình đề cử. Ông thấy rằng phần mà Babyface bổ sung vào bài hát đã không xuất hiện trong phiên bản của bộ phim, do đó, anh không xứng đáng được ghi tên vào phần đội ngũ thực hiện của ca khúc. Tuy Babyface không được nhận giải Oscar, nhưng Carey và Houston lại biểu diễn phiên bản của anh trong đêm trao giải, vì họ quen với nó hơn là với phiên bản trong bộ phim. Trước khi trình diễn tại lễ trao giải Oscar, hai nữ ca sĩ đã biểu diễn ca khúc trực tiếp trong chương trình The Oprah Winfrey Show vào ngày 26 tháng 11 năm 1998, nhằm quảng bá cho ca khúc lẫn album mới của họ.

Có hai video âm nhạc được quay cho bài hát. Video đầu tiên và cũng là video phổ biến hơn, được ghi hình ở trung tâm biểu diễn nghệ thuật Brooklyn Academy of Music. Video có sự xuất hiện của cả hai nữ ca sĩ và bắt đầu với cảnh Houston và Carey biểu diễn trong một khán phòng lớn, gợi lên hình ảnh của một buổi hòa nhạc. Trước khi kết thúc video, những cảnh quay trong phim được trình chiếu trên một màn hình lớn của buổi hòa nhạc, trong khi hai ca sĩ thể hiện phần cuối của ca khúc. Video còn lại chỉ được phát sóng trong chương trình đặc biệt phát trên đài NBC, When You Believe: Music Inspired by the Prince of Egypt, phát sóng vào ngày 13 tháng 12 năm 1998. Phiên bản này cũng có bối cảnh tương tự, với hai nghệ sĩ trình diễn trên một sân khấu lớn của một kim tự tháp Ai Cập cổ.

Động vật trong Kinh Thánh

Động vật trong Kinh Thánh chỉ về các loài động vật được đề cập đến trong Kinh Thánh, là các tài liệu có ảnh hưởng rộng lớn với phạm vi mô tả rộng đối với nhiều sự vật, hiện tượng, trong đó có mô tả về các loài muôn thú. Có gần 120 loài động vật đã được mô tả trong Kinh Thánh, nhiều trong số chúng là động vật có thực nhưng cũng nhiều loài là sinh vật huyền thoại. Kinh thánh nói nhiều đến loài vật và Kinh Thánh khá thường sử dụng, do minh họa cho các đoạn văn mô tả, đặc tính của động vật nhằm diễn tả một số thái độ của con người. Đạo Thiên chúa đã bãi bỏ tục thờ động vật mà chỉ thờ phượng Thiên Chúa.

Thời Cựu ước, dân Do Thái thường dùng cừu (chiên) trong việc tế lễ, dùng lừa và lạc đà trong việc di chuyển. Vì là dân du mục nên họ sống không nhất định một chỗ và mỗi lần di chuyển họ đều lùa theo tất cả gia súc. Gia súc và các loài thú nói đến nhiều nhất khi ông Nô-e mang từng cặp lên tàu để tránh nạn lụt Đại hồng thủy. Trong các loài muôn thú, ngoài loài cầm điểu có lông vũ và cánh, còn lại là loài thú máu nóng bốn chân, loài bò sát máu lạnh và loài cá dưới nước. Tuy côn trùng cũng là các sinh vật, nhưng chúng được liệt vào một giới sinh vật khác. Đối với các loài ăn được thì chia làm hai loại, loài vật thanh sạch và loài vật ô uế.

Tanakh
Torah
• Sáng Thế (Brʾeišyt)
• Xuất Hành (Šemot)
• Lêvi (Wayiqra)
• Dân Số (Bəmidbar)
• Đệ Nhị Luật (Devarim)
Nevi'im
Tiền tiên tri
• Giôsuê
• Thủ Lãnh
• Samuen
• Các Vua
Hậu tiên tri
• Isaia
• Giêrêmia
• Êdêkien
Tiểu tiên tri
• Hôsê
• Giôen
• Amốt
• Ôvađia
• Giôna
• Mikha
• Nakhum
• Khabacúc
• Xôphônia
• Khácgai
• Dacaria
• Malakhi
Ketuvim
Văn chương
• Thánh Vịnh (Təhillîm)
• Châm Ngôn
• Gióp
Five Scrolls
• Diễm Ca
• Rút
• Ai Ca
• Giảng Viên
• Étte
Historical Books
• Daniel
• Ezra-Nehemiah
• Chronicles
Cựu Ước
Ngũ Thư
• Sáng Thế
• Xuất Hành
• Lêvi
• Dân Số
• Đệ Nhị Luật
Lịch sử
• Giôsuê
• Thủ Lãnh
• Rút
• 1 Samuen
• 2 Samuen
• 1 Các Vua
• 2 Các Vua
• 1 Sử Biên Niên
• 2 Sử Biên Niên
• Étra
• Nơkhemia
• Étte
Giáo huấn
• Gióp
• Thánh Vịnh
• Châm Ngôn
• Giảng Viên
• Diễm Ca
Tiên tri
Đại tiên tri
• Isaia
• Giêrêmia
• Ai Ca
• Êdêkien
• Đanien
Tiểu tiên tri
• Hôsê
• Giôen
• Amốt
• Ôvađia
• Giôna
• Mikha
• Nakhum
• Khabacúc
• Xôphônia
• Khácgai
• Dacaria
• Malakhi
Thứ Kinh
• 1 Macabê
• 2 Macabê
• Khôn Ngoan
• Huấn Ca
• Barúc
• Giuđitha
• Tôbia

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.