Sách Dân Số

Sách Dân số hay Dân số ký (tiếng Do Thái: במדבר, Bamidbar) là cuốn sách thứ tư trong Kinh thánh Do TháiCựu Ước. Sách dân số cũng là cuốn thứ tư trong Ngũ Kinh Môisê, bốn cuốn còn lại là Sáng thế, Xuất hành, LêviĐệ nhị luật.

Sách Dân số ghi những cuộc kiểm tra lại dân số trong 12 chi tộc Israel sau khi rời khỏi Ai Cập để đi đến Đất Hứa. Cuốn sách này có thể được chia thành ba phần:

  • Kiểm tra dân số ở Sinai và chuẩn bị lễ toàn thiêu. (1-10:10).
  • Lên đường hành trình từ Sinai về Moab với những khó khăn mà Israel gặp phải và tám lần trách móc, yêu sách của họ với Thiên Chúa về cuộc hành trình này. (10:11-21:20).
  • Các thỏa thuận tại đồng bằng Moab trước khi băng qua sông Jordan (21:21-36).
Tanakh
Cựu Ước
Aleppo Codex Joshua 1 1
Chủ đề Do Thái giáo
Chủ đề Kitô giáo

Liên kết ngoài

Canaan

Canaan, một vùng ở Cận Đông cổ đại, trong suốt cuối thiên niên kỷ thứ 2 TCN. Theo mô tả trong Kinh Thánh, tương ứng với vùng Levant. Ngày nay là Liban, Israel, Palestine, phần phía Tây Jordan và Tây Nam Syria. Nó còn được hiểu là Ngã tư Tây Á.Tên Canaan được sử dụng phổ biến trong Kinh thánh Hebrew, với định nghĩa cụ thể được đề cập đến trong Sách Sáng thế ký chương 10 và Sách Dân số chương 34, nơi "đất Canaan" kéo dài từ phía nam Lebanon vào "Sách của Ai Cập" và phía đông giáp thung lũng sông Jordan. Sự tham chiếu đến Canaan trong Kinh Thánh thường nhìn về quá khứ, đề cập đến một khu vực mà đã trở thành một cái gì đó khác (ví dụ như đất của Israel). Thuật ngữ "Canaan" đến nay là hạn dân tộc thường xuyên nhất được sử dụng trong Kinh Thánh, trong đó chúng thường được mô tả như một dân tộc đã bị tiêu diệt.

Chứng thực khảo cổ về tên gọi Canaan trong các nguồn Cận Đông Cổ đại là gần như hoàn toàn trong giai đoạn mà trong đó khu vực là một thuộc địa của Vương quốc Ai Cập mới, với việc sử dụng tên gọi gần như biến mất sau sự sụp đổ cuối thời kỳ đồ đồng. Các nguồn dẫn cho rằng trong thời gian này, thuật ngữ rất quen thuộc với các nước láng giềng trong khu vực trên tất cả các bên, mặc dù còn tranh cãi đến mức độ nào tham chiếu như cung cấp một mô tả mạch lạc về vị trí và ranh giới của nó, và liên quan đến việc người dân sử dụng thuật ngữ này để mô tả bản thân.

Dân số

Dân số là tập hợp của những con người đang sống ở một vùng địa lý hoặc một không gian nhất định, là nguồn lao động quý báu cho sự phát triển kinh tế – xã hội, thường được đo bằng cuộc điều tra dân số và biểu hiện bằng tháp dân số.

Dân số được nghiên cứu ở trong các lĩnh vực riêng, trong một nhánh của sinh thái học có tên gọi sinh vật học, và trong di truyền học. Trong động lực học về dân số, kích cỡ dân số, độ tuổi và cấu trúc giới tính, số người tử vong, tỉ lệ sinh và sự phát triển dân số được nghiên cứu.

Nhân khẩu học nghiên cứu về mật độ dân số. 3 trọng tâm chính của nó là phương thức sinh sản, sự tử vong và nhập cư, mặc dù các lĩnh vực như sự thay đổi của gia đình, (kết hôn và li dị), sức khỏe cộng đồng, việc làm và lực lượng lao động cũng được nghiên cứu. Có rất nhiều khía cạnh khác nhau trong hành vi của con người trong lĩnh vực dân số được nghiên cứu như trong xã hội học, kinh tế học và địa lý. Các nghiên cứu về dân số hầu hết thường theo những quy luật của xác suất, và sự kết luận của các nghiên cứu này do đó có thể không thể sử dụng cho một vài các cá thể riêng biệt.

Số người trên Trái Đất không ngừng tăng lên và tăng nhanh nhất khi bước sang giữa thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, trong đó các nước trên thế giới đang phát triển có tốc độ gia tăng dân số tự nhiên đến chóng mặt. Đây là một trong những vấn đề toàn cầu của xã hội hiện nay. Xem sự bùng nổ dân số

Hồi giáo Shia

Hồi giáo Shia (tiếng Ả Rập: شيعة‎ Shī‘ah, thường đọc là Shi'a), là giáo phái lớn thứ hai của đạo Hồi, sau Hồi giáo Sunni.

"Shia" là tên rút gọn của một thành ngữ lịch sử Shī‘atu ‘Alī (شيعة علي), nghĩa là người theo Ali, con rể của Muhammad, người được người Shia tin là người kế tục Muhammad.Hồi giáo Shia được dựa theo kinh Quran và thông điệp của nhà tiên tri Muhammad chứng thực trong hadith được ghi nhận bởi Shia, và các quyển sách được coi là thiêng liêng đối với Shia (Nahj al-Balagha). Ngược lại với các dòng Hồi giáo khác, Shia tin rằng chỉ có Chúa trời có quyền chọn người đại diện để bảo vệ Hồi Giáo, Quran và sharia. Do đó, Shia xem Ali, con trai nuôi của Muhammad, được xem là người được kính trọng và được bổ nhiệm thiêng liêng, là người kế thừa hơp pháp của Muhammad, và là Imam đầu tiên. Trong nhiều thế kỷ sau khi Muhammad chết, Shia đã mở rộng học thuyết "Imami" này đối với gia đình Muhammad, Ahl al-Bayt ("the People of the House"), và những cá nhân nhất định trong số hậu duệ của ông, được gọi là Imams, những người mà họ tin rằng có quyền về tinh thần và chính trị trong cộng đồng, không thể sai lầm, và những đặc điểm gần như thần thánh khác.

Mặc dù có vô số phân nhánh của Shia, Hồi giáo Shia hiện đại được chia thành 3 nhóm chính: Twelver, Ismaili và Zaidiyyah. Twelver Shia (Ithnā'ashariyyah) là chi nhánh lớn nhất của Hồi giáo Shia, và từ Shia thường được dùng ngầm định để chỉ Twelvers Shia. Tính đến năm 2009 người Hồi giáo Shia chiếm 10-13% dân số Hồi giáo trên thế giới, người Shia gồm 11-14% dân số Hồi giáo ở khu vực Trung Đông-Bắc Phi, và từ 68% đến 80% của người Shia sinh sống ở bốn nước: Iran, Pakistan, Ấn Độ và Iraq.

Kinh Thánh

Kinh Thánh (hoặc Thánh Kinh; từ gốc tiếng Hy Lạp: τὰ βιβλία, tà biblía, "những quyển sách") là từ ngữ để chỉ các văn bản thiêng liêng của nhiều niềm tin khác nhau, nhưng thường là từ các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham. Do Thái giáo và Kitô giáo chia sẻ cùng một thuật ngữ "Kinh Thánh", mặc dù giữa họ không đồng nhất về số lượng sách. Quy điển Kinh Thánh là cách thức tuyển chọn và công nhận sách nào được cho là thiêng liêng. Các văn bản này thường được viết trong giai đoạn hình thành của các niềm tin Do Thái giáo và Kitô giáo; những người lãnh đạo của các cộng đồng này tin đây là các sách được linh truyền từ Thiên Chúa để thể hiện lịch sử uy quyền của mối liên hệ giữa Thiên Chúa và dân của ngài. Kinh Thánh có thể nói là sự ghi chép theo sự truyền đạt của một vị Thánh trong Thánh đạo.

Người Do Thái gọi Kinh Thánh của họ là Tanakh, gồm 24 quyển, chia làm 3 phần: Sách Luật Giao Ước (Torah), Sách Ngôn Sứ (Nevi'im) và Sách Văn Chương (Ketuvim).

Kinh Thánh Kitô giáo gồm Cựu Ước (nghĩa là "Giao ước cũ") và Tân Ước (nghĩa là "Giao ước mới"). Cựu Ước là phần kế thừa từ Tanakh, được chia thành các nhóm sách: Ngũ Thư, Lịch sử, Ngôn Sứ và Giáo Huấn; còn Tân Ước là các văn bản do các môn đệ của Chúa Giêsu (và những người thừa kế họ) viết ra với nội dung liên quan đến cuộc đời ông. Tân Ước gồm 27 quyển, số lượng này được cố định vào thế kỷ thứ 4 và được hầu hết các giáo hội Kitô giáo chấp nhận. Chúng bao gồm sách Phúc Âm, sách Công vụ Tông đồ, các thư của Phaolô, các thư của các sứ đồ khác và sách Khải Huyền.

Dù Tanakh gồm 24 quyển, nhưng các nhóm Kháng Cách tính thành 39 quyển. Giáo hội Công giáo và các giáo hội Kitô khác có thêm một số sách trong Cựu Ước, lấy từ Bản Bảy Mươi (Septuaginta) của Do Thái vì họ giữ các sách này lại sau khi chúng bị những người Cải cách Kháng Cách (Tin Lành) loại bỏ.

Kinh Thánh là bộ sách bán chạy nhất mọi thời đại, ước tính mỗi năm có thêm 100 triệu bản, và nó đã gây sức ảnh hưởng lớn về văn học và lịch sử, đặc biệt là ở phương Tây, nơi mà nó là sách đầu tiên được in hàng loạt.

Kinh Thánh có lẽ là bộ sách gây ảnh hưởng nhiều nhất trong lịch sử loài người. Số bản in Kinh Thánh vượt mọi sách khác. Kinh Thánh Hebrew giáo cũng như Kinh Thánh Kitô giáo được dịch nhiều lần, sang nhiều ngôn ngữ hơn bất cứ sách nào khác. Kinh Thánh trọn bộ, hoặc một phần, đã được dịch sang hơn 2.100 ngôn ngữ của 90% dân số thế giới. Kể từ năm 1815, ước tính có khoảng hơn 5 triệu ấn bản Kinh Thánh trọn bộ hoặc các phần quan trọng của Kinh Thánh được phân phối, trở nên sách bán chạy nhất trong mọi thời đại.

Thuật ngữ "Kinh Thánh" cũng được dùng cho các văn bản thiêng liêng của các niềm tin không Do Thái và không Ki-tô; vì vậy Guru Granth Sahib thường được dùng để chỉ "Kinh Thánh Sikh".

Nhiều nhà giáo dục thấy rằng Kinh Thánh Ki-tô giáo đã ăn rễ vững chắc vào văn hoá phương Tây đến nỗi "bất cứ ai, dù có niềm tin hay không, nếu không quen thuộc với các giá trị và giáo huấn của Kinh Thánh sẽ trở nên dốt nát về văn hoá."Từ "kinh Thánh" trong tiếng Hy Lạp là βιβλια (biblia), nghĩa là "sách", từ này lại có nguồn gốc từ βυβλος (byblos) có nghĩa "giấy cói" (papyrus), từ tên của thành phố Byblos xứ Phenicie (Phoenicia) cổ đại, là nơi xuất khẩu giấy cói.

Kế hoạch hóa gia đình

Kế hoạch hoá gia đình là việc lập kế hoạch khi nào có trẻ em, và việc sử dụng kiểm soát sinh sản và các kỹ thuật khác để thực hiện các kế hoạch đó. Các kỹ thuật khác thường được sử dụng gồm giáo dục giới tính, ngăn chặn và quản lý các bệnh lây truyền qua đường tình dục, tư vấn trước khi mang thai và quản lý mang thai, và quản lý vô sinh.Kế hoạch hoá gia đình thỉnh thoảng được sử dụng như một thuật ngữ đồng nghĩa với kiểm soát sinh sản, dù nó thường có nội hàm lớn hơn. Nó chủ yếu được áp dụng với một cặp nữ-nam muốn hạn chế số lượng trẻ em họ có và/hay kiểm soát thời gian mang thai (cũng được gọi là giãn cách sinh sản).

Các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình được định nghĩa là "giáo dục, y tế toàn diện hay các hoạt động xã hội cho phép các cá nhân, gồm cả người chưa thành niên, tự do quyết định số lượng và thời gian giãn cách giữa những đứa trẻ và lựa chọn các biện pháp để thực hiện điều đó."

Merzig

Merzig là thủ phủ của huyện Merzig-Wadern, bang Saarland, Đức. Đô thị Merzig có diện tích 108,79 km².Đô thị này tọa lạc/có cự ly Đô thị này nằm bên sông Saar, cự ly khoảng 35 km về phía nam của Trier, và 35 km về phía tây bắc của Saarbrücken.

Merzig đã được lập năm 1974 trong đợt cải tổ địa giới ở Saarland. Thành phố ngày nay bao gồm thành phố Merzig và 16 đô thị cũ xung quanh nó. Dưới đây là danh sách, dân số thời điểm ngày 1/1/2005.

Mật độ dân số

Mật độ dân số là một phép đo dân số trên đơn vị diện tích hay đơn vị thể tích. Nó thường được áp dụng cho các sinh vật sống nói chung, con người nói riêng.

Ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước, hay ngân sách chính phủ, là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử; là một thành phần trong hệ thống tài chính. Thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu. Các nhà kinh tế Nga quan niệm: Ngân sách nhà nước là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia. Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đã được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002 định nghĩa: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.

Sự hình thành và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hóa - tiền tệ trong các phương thức sản xuất của cộng đồng và nhà nước của từng cộng đồng. Nói cách khác, sự ra đời của nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hóa - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách nhà nước.

Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách trung ương là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở trung ương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân.

Ngũ Thư

Ngũ Thư là năm quyển sách đầu tiên trong Kinh Thánh Hebrew, bao gồm: Sách Sáng thế, Sách Xuất hành, Sách Lêvi, Sách Dân số và Sách Đệ nhị luật. Trong Do Thái giáo, Ngũ Thư được gọi là Torah, và là phần đầu của Tanakh; trong khi đó với Kitô giáo, đây là phần đầu của Cựu Ước.

Năm sách này trình bày về công cuộc sáng tạo vũ trụ và muôn loài của Thiên Chúa, sự kiện cả dân tộc Israel được giải thoát ra khỏi Ai Cập, giao ước của dân với Thiên Chúa, hành trình tiến về miền đất hứa Canaan, các luật lệ tôn giáo và dân sự, những vấn đề lớn có liên quan đến lịch sử sơ khai của Israel v.v.

Nhà Đường

Nhà Đường (tiếng Trung: 唐朝; bính âm: Táng Cháo, Hán Việt: Đường triều; phát âm tiếng Trung: [tʰɑ̌ŋ tʂʰɑ̌ʊ]; tiếng Hán trung đại: Dâng) (18 tháng 6, 618 - 1 tháng 6, 907) là một triều đại Trung Quốc tiếp nối sau nhà Tùy và trước thời kì Ngũ Đại Thập Quốc. Nhà Đường được hoàng đế Đường Cao Tổ Lý Uyên thành lập sau khi thâu tóm quyền hành khi nhà Tùy suy yếu rồi sụp đổ. Triều đại này bị gián đoạn 15 năm khi nữ hoàng đế Võ Tắc Thiên nắm lấy quyền hành và lập ra nhà Võ Chu (8 tháng 10, 690 - 3 tháng 3, 705).

Nhà Đường với kinh đô Trường An (là thành phố đông dân nhất thời bấy giờ, nay là Tây An) được các nhà sử học coi là đỉnh cao trong văn minh Trung Hoa; ngang bằng hoặc vượt trội hơn so với thời kì đầu nhà Hán — một thời kì hoàng kim của văn minh thế giới.

Lãnh thổ của nhà Đường rất rộng lớn, lúc cực thịnh đạt gấp rưỡi lãnh thổ của nhà Hán nhờ có lực lượng quân đội hùng mạnh và các cuộc chinh chiến quân sự. Trong hai cuộc điều tra trong thế kỷ VII và thế kỷ VIII, dân số trên lãnh thổ nhà Đường được ước tính lên đến 50 triệu người (đây mới là dân số dựa trên số hộ trong sổ sách, dân số thực có thể còn gấp đôi như vậy). Và, khi bộ máy nhà nước đi xuống và không thể điều tra dân số một cách chính xác trong thế kỷ IX, con số ước tính là 80 triệu người. Với số dân lớn như vậy, nhà Đường có một lực lượng quân đội hùng mạnh với binh lính chuyên nghiệp và những thương nhân buôn bán, trao đổi hàng hóa trên toàn bộ khu vực châu Á dọc theo Con đường Tơ lụa nổi tiếng. Nhiều nước khác nhau đã triều cống cho triều đình nhà Đường, nhà Đường cũng chinh phục hoặc khuất phục một số khu vực rồi đặt chúng dưới quyền cai trị gián tiếp thông qua một hệ thống bảo hộ. Bên cạnh quyền bá chủ về mặt chính trị, nhà Đường cũng có ảnh hưởng lớn đến văn hóa các nước láng giềng như Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam.

Thời kì nhà Đường phần lớn là một giai đoạn tiến bộ và ổn định, nhưng vào giữa triều đại thì xảy ra loạn An Sử, từ đó nhà Đường ngày càng đi xuống. Giống với nhà Tùy, nhà Đường duy trì bộ máy các quan lại trong triều đình từ các sĩ đại phu thông qua các cuộc thi khoa cử và tiến cử. Trật tự này đã bị suy yếu khi các thống đốc quân sự khu vực được gọi là tiết độ sứ nổi lên trong thế kỷ IX. Văn hóa Trung Quốc phát triển mạnh mẽ và cường thịnh trong thời kì nhà Đường, đây được coi là thời kì đỉnh cao của thi ca, hay thơ Trung Quốc. Hai thi sĩ nổi tiếng nhất Trung Hoa là Lý Bạch và Đỗ Phủ, thuộc về thời kì của Triều đại này, cùng với các họa sĩ nổi tiếng như Hàn Cán, Chương Tuyển và Chu Phương. Có một số lượng lớn các công trình văn học lịch sử, toàn thư và các nghiên cứu về địa lý được hoàn thành trong thời kỳ nhà Đường.

Có nhiều đổi mới đáng được công nhận và chú ý dưới thời nhà Đường, trong đó bao gồm sự phát triển của ngành in mộc bản. Trong thời nhà Đường, Phật giáo có tác động chủ yếu đến văn hóa Trung Quốc, và nhiều giáo phái bản địa trở nên nổi bật. Tuy nhiên, về sau triều đình đã ngược đãi Phật giáo và tôn giáo này đã suy giảm tầm ảnh hưởng. Mặc dù chính phủ và triều đình nhà Đường suy sụp trong thế kỷ IX, song nghệ thuật và văn hóa vẫn tiếp tục phát triển. Triều đình trung ương mục nát nên đã không thể quản lý được nền kinh tế, song việc mậu dịch vẫn không bị ảnh hưởng và thương mại vẫn tiếp tục thịnh vượng.

Phân cấp hành chính quận Dobong

Có 4 dong trong Dobong-gu.

Banghak-dong (방학동 放鶴洞) 1, 2, 3

Chang-dong (창동 倉洞) 1, 2, 3, 4, 5

Dobong-dong (도봉동 道峰洞) 1, 2

Ssangmun-dong (쌍문동 雙門洞) 1, 2, 3, 4

Rosh Hashanah

Rosh Hashanah (tiếng Hebrew: רֹאשׁ הַשָּׁנָה, nghĩa là "đầu năm") là năm mới của người Do Thái. Tên Kinh Thánh cho kỳ nghỉ này là Yom Teruah (tiếng Hebrew: יוֹם תְּרוּעָה, nghĩa đen "ngày la hét/tạo một tiếng ồn") hay Lễ hội kèn trumpet. Đó là lần đầu tiên của Yamim Noraïm hoặc יָמִים נוֹרָאִים Yamim Nora'im ("Những ngày tôn sùng") mà thường xảy ra vào mùa thu năm đầu của Bắc bán cầu. Rosh Hashanah kéo dài hai ngày, bắt đầu vào ngày đầu tiên của Tishrei. Tishrei là tháng đầu tiên của năm Do Thái, nhưng tháng thứ bảy của năm của giáo hội.

Tết Do Thái là một lễ tổ chức gồm hai, tết bắt đầu vào ngày đầu tiên của Tishrei. Tishrei là tháng đầu tiên của năm dân sự Do Thái, nhưng là tháng thứ bảy của năm giáo sĩ.

Dựa theo đạo Do Thái Giáo ngày này được cho ngày đánh dấu để kỷ niệm việc sáng tạo ra hai nhân vật tổ tiên loài người là ông Adam và bà Eva, họ chính là người đàn ông và người phụ nữ đầu tiên dựa theo Kinh Thánh của người Do Thái, và hành động đầu tiên của họ đối với việc thực hiện vai trò của con người trong thế giới của Thiên Chúa. Theo một quan điểm thế tục, kỳ nghỉ này là thời điểm bắt đầu năm kinh tế ở Tây Nam Á và Đông Bắc Phi, đánh dấu sự bắt đầu của chu kỳ nông nghiệp.Các phong tục Tết Do Thái bao gồm rung shofar (kèn sừng trâu rỗng) đã được ghi dấu trong Kinh Torah nghĩa là tạo ra tiếng ồn vào ngày Yom Teruah; và trong những phong tục đó còn bao gồm các sinh hoạt tôn giáo như đi lễ nhà thờ, và đọc kinh cầu nguyện để xét mình ăn năn hối hận đền tội lỗi, và ăn uống trong ngày tết. Những món thức ăn có tính biểu tượng như táo nhúng vào mật ong hiện nay là một truyền thống với niềm hy vọng là để đánh thức một "năm mới ngọt ngào".

Satan

Satan hay Sa-tăng (Heb.: הַשָּׂטָן ha-Satan "kẻ chống đối"; Gk.:Σατανᾶς Satanás; Arab.: شيطان; Aram.: צטנא, Ṣaṭana) là một nhân vật xuất hiện trong các kinh sách của những tôn giáo khởi nguồn từ Abraham.

Sông Jordan

Sông Jordan (tiếng Hebrew: נהר הירדן nehar hayarden, tiếng Ả Rập: نهر الأردن nahr al-urdun) là một sông ở Tây Nam Á, chảy từ chân núi Hermon vào biển Chết. Sông này được coi là một trong các sông thiêng liêng nhất thế giới. Sông dài 251 km (156 dặm Anh).

Trần Thánh Tông

Trần Thánh Tông (chữ Hán: 陳聖宗 12 tháng 10 năm 1240 – 3 tháng 7 năm 1290) tên húy Trần Hoảng (陳晃) là vị hoàng đế thứ hai của Hoàng triều Trần nước Đại Việt, ở ngôi từ ngày 30 tháng 3 năm 1258 đến ngày 8 tháng 11 năm 1278. Sau đó ông làm Thái thượng hoàng từ cuối năm 1278 cho đến khi qua đời năm 1290. Ông thường được sử sách mô tả là một hoàng đế tài giỏi, giữ vững được cơ nghiệp của triều đại và nền độc lập của quốc gia.Trần Hoảng là đích trưởng tử của Trần Thái Tông, đã góp phần chỉ huy quân đội đẩy lùi cuộc xâm lược của người Mông Cổ năm 1258. Không lâu sau kháng chiến thắng lợi, Hoàng đế Thái Tông nhường ngôi cho Thái tử Hoảng, tức Hoàng đế Thánh Tông. Trong thời kỳ cầm quyền của mình, Trần Thánh Tông đã ban hành nhiều chính sách nhằm hoàn thiện nền hành chính, giáo dục, kinh tế, bảo trợ Phật giáo, trọng dụng quan viên, tướng lĩnh có tài và duy trì sự hòa hợp, kỷ cương trong triều đình. Về đối ngoại, Trần Thánh Tông phải đương đầu với tham vọng bành trướng của đế quốc Nguyên-Mông cường thịnh ở phương Bắc. Ông đã thực thi một chính sách ngoại giao mềm mỏng, cống nạp Nhà Nguyên 3 năm 1 lần, nhưng cự tuyệt mọi yêu sách của vua Nguyên đòi ông cống người, cống voi, đích thân sang chầu, gửi quân giúp tỉnh Vân Nam, nộp sổ sách dân số,... Ngoài ra ông tích cực chỉnh đốn quân đội, tổ chức tuần tra biên giới để đề phòng sự xâm lược của người Nguyên.Sau khi Thượng hoàng Thái Tông mất, tháng 11 năm 1278, Trần Thánh Tông nhường ngôi cho Thái tử Trần Khâm, tức Hoàng đế Trần Nhân Tông, và được tôn làm Quang Nghiêu Từ Hiếu Thái Thượng Hoàng Đế (光尧慈孝太上皇帝). Trước bối cảnh người Nguyên đã tiêu diệt Nam Tống và chuẩn bị chinh phạt Đại Việt, hai vua Trần ra sức đoàn kết lòng dân, kén tướng rèn quân và xây dựng quan hệ tích cực với Chiêm Thành ở phía Nam. Cùng Hoàng đế Nhân Tông và Quốc công Tiết chế Hưng Đạo vương, Thượng hoàng Thánh Tông đã lãnh đạo quân dân Đại Việt kháng chiến đánh bại hai cuộc xâm lược của Nguyên-Mông năm 1285 và 1287. Ông cũng là một nhà văn hóa, nhà Thiền học, từng tu tập ở chùa Tư Phúc (Thăng Long), thường hay sáng tác thơ ca hoặc những bài kệ về thiền, một số tác phẩm như Di hậu lục ("Chép để lại cho đời sau"), Thiền tông liễu ngộ ("Bài ca giác ngộ Thiền tông"), Trần Thánh Tông thi tập ("Tập thơ Trần Thánh Tông"),... nhưng hầu hết đều đã thất lạc, chỉ còn lưu lại 6 bài thơ chép rải rác trong Việt âm thi tập và Đại Việt sử ký toàn thư.

Động vật trong Kinh Thánh

Động vật trong Kinh Thánh chỉ về các loài động vật được đề cập đến trong Kinh Thánh, là các tài liệu có ảnh hưởng rộng lớn với phạm vi mô tả rộng đối với nhiều sự vật, hiện tượng, trong đó có mô tả về các loài muôn thú. Có gần 120 loài động vật đã được mô tả trong Kinh Thánh, nhiều trong số chúng là động vật có thực nhưng cũng nhiều loài là sinh vật huyền thoại. Kinh thánh nói nhiều đến loài vật và Kinh Thánh khá thường sử dụng, do minh họa cho các đoạn văn mô tả, đặc tính của động vật nhằm diễn tả một số thái độ của con người. Đạo Thiên chúa đã bãi bỏ tục thờ động vật mà chỉ thờ phượng Thiên Chúa.

Thời Cựu ước, dân Do Thái thường dùng cừu (chiên) trong việc tế lễ, dùng lừa và lạc đà trong việc di chuyển. Vì là dân du mục nên họ sống không nhất định một chỗ và mỗi lần di chuyển họ đều lùa theo tất cả gia súc. Gia súc và các loài thú nói đến nhiều nhất khi ông Nô-e mang từng cặp lên tàu để tránh nạn lụt Đại hồng thủy. Trong các loài muôn thú, ngoài loài cầm điểu có lông vũ và cánh, còn lại là loài thú máu nóng bốn chân, loài bò sát máu lạnh và loài cá dưới nước. Tuy côn trùng cũng là các sinh vật, nhưng chúng được liệt vào một giới sinh vật khác. Đối với các loài ăn được thì chia làm hai loại, loài vật thanh sạch và loài vật ô uế.

Đức Quốc Xã

Đức Quốc xã, còn gọi là Đệ Tam Đế chế hay Đế chế thứ ba (tiếng Đức: Drittes Reich), là nước Đức trong thời kỳ 1933 – 1945 đặt dưới một chế độ độc tài chịu sự kiểm soát của Adolf Hitler và Đảng Quốc xã (NSDAP). Dưới sự thống trị của Hitler, Đức đã biến đổi thành một nhà nước phát xít toàn trị cai quản gần như mọi mặt của đời sống. Tên gọi chính thức của quốc gia này là Deutsches Reich (Đế chế Đức) từ 1933 đến 1945 và Großdeutsches Reich (Đế chế Đại Đức) từ 1943 đến 1945. Đức Quốc xã chấm dứt sự tồn tại của mình vào tháng 5 năm 1945 sau khi bại trận trước quân Đồng Minh, sự kiện đánh dấu hồi kết cho chiến tranh thế giới thứ hai tại châu Âu.

Vào ngày 30 tháng 1 năm 1933 Hitler được Tổng thống Cộng hòa Weimar Paul von Hindenburg bổ nhiệm làm Thủ tướng Đức. Sau đó đảng Quốc xã bắt đầu loại trừ tất cả các đối thủ chính trị và củng cố quyền lực của mình. Với việc Hindenburg qua đời vào ngày 2 tháng 8 năm 1934, Hitler đã trở thành nhà độc tài của nước Đức bằng việc sáp nhập chức vụ và những quyền hạn của Thủ tướng và Tổng thống vào với nhau. Kết quả cuộc trưng cầu ý dân tổ chức trên toàn quốc vào ngày 19 tháng 8 năm 1934 đã xác nhận Hitler là Führer (lãnh tụ) duy nhất của nước Đức. Tất cả mọi quyền lực đều tập trung vào tay Hitler, và lời nói của ông ta xếp trên mọi luật lệ. Chính phủ không phải là một cơ quan hợp tác, phối hợp, mà là một tập hợp các bè phái đấu tranh vì quyền lực và lợi ích của Hitler. Trong giai đoạn đỉnh điểm của cuộc Đại Suy thoái, những người Quốc xã đã khôi phục được một nền kinh tế ổn định và chấm dứt nạn thất nghiệp hàng loạt bằng biện pháp chi tiêu mạnh cho quân sự và vận dụng kinh tế hỗn hợp. Các công trình công cộng lớn được tiến hành xây dựng, bao gồm các Autobahn (đường cao tốc). Sự hồi phục của nền kinh tế đã làm tăng thêm lòng yêu mến của nhân dân đối với chế độ.

Một nét đặc trưng nổi bật của Đức Quốc Xã là vấn đề phân biệt chủng tộc, đặc biệt là bài Do Thái. Các dân tộc German (chủng tộc Bắc Âu) được cho là chủng tộc Aryan thuần khiết nhất, do đó là chủng tộc thượng đẳng. Hàng triệu người Do Thái và các nạn nhân khác, bất kỳ ai mà Quốc xã cho là "đáng ghét, hạ đẳng, không mong muốn", đã bị khủng bố và tàn sát trong cuộc diệt chủng Holocaust. Những địch thủ đối lập chống lại quy tắc của Hitler đều bị đàn áp một cách tàn nhẫn. Quốc xã đã giam cầm, trục xuất và giết hại những người theo chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Các Giáo hội Cơ đốc cũng bị áp bức, với hàng loạt lãnh đạo bị bắt giam. Nền giáo dục tập trung vào sinh học về chủng tộc, chính sách dân số và rèn luyện thể lực để thực hiện nghĩa vụ quân sự. Nữ giới bị hạn chế về nghề nghiệp và những cơ hội được học tập. Các hoạt động du lịch và giải trí được tổ chức thông qua chương trình Kraft durch Freude, và Thế vận hội mùa hè 1936 là một dịp để Đế chế Thứ ba giới thiệu mình ra với thế giới. Bộ trưởng tuyên truyền Joseph Goebbels đã sử dụng phim ảnh, các cuộc mít tinh lớn, và tài hùng biện của Hitler một cách hiệu quả để khống chế dư luận. Chính quyền kiểm soát biểu hiện nghệ thuật, thúc đẩy các hình thức nghệ thuật cụ thể và ngăn chặn hoặc không khuyến khích các hình thức khác.

Theo thời gian, Đức Quốc Xã ngày một đòi hỏi hung hăng về lãnh thổ và đe dọa tiến hành chiến tranh nếu vấn đề này không được đáp ứng. Lần lượt vào các năm 1938 và 1939 Quốc xã xâm chiếm Áo rồi đến Tiệp Khắc. Hitler đã ký với Joseph Stalin một hiệp ước rồi sau đó tiến hành xâm lược Ba Lan vào tháng 9 năm 1939, sự kiện mở màn chiến tranh thế giới thứ hai ở châu Âu. Đến năm 1940, Đức Quốc Xã trong khối liên minh với các nước Phe trục đã chinh phạt hầu khắp châu Âu và đe dọa xâm lược nước Anh. Song song với đó, Quốc xã đồng thời tiến hành vây bắt, sát hại các chủng tộc "đáng ghét" trong các trại tập trung và trại hủy diệt. Hoạt động thi hành các chính sách phân biệt chủng tộc lên đến đỉnh điểm với cuộc tàn sát trên quy mô lớn người Do Thái và các nhóm dân tộc thiểu số khác trong cuộc diệt chủng Holocaust. Vào năm 1941 Hitler tiến hành chiến dịch xâm lược Liên bang Xô viết và giành được những thắng lợi đáng kể ban đầu. Tuy nhiên, kể từ năm 1943, Quốc xã bắt đầu phải hứng chịu những thất bại to lớn về mặt quân sự. Sang năm 1944, số lượng các chiến dịch ném bom quy mô lớn của Anh và Mỹ ngày một tăng lên, và Quốc xã đã lần lượt phải thoái lui khỏi Đông và Nam Âu. Theo sau sự kiện Đồng Minh giải phóng Pháp, Đức Quốc xã đã bị Liên Xô đánh bại ở mặt trận phía Đông và những quốc gia Đồng Minh khác ở phía Tây, cuối cùng buộc phải đầu hàng vào tháng 5 năm 1945. Trong những tháng cuối cùng của chiến tranh, Hitler với việc không chấp nhận thất bại đã ra lệnh phá hủy toàn bộ cơ sở hạ tầng của nước Đức, qua đó làm tăng thêm số nạn nhân thiệt mạng liên quan đến cuộc chiến. Phe Đồng Minh chiến thắng đã khởi xướng ra chính sách Entnazifizierung (tiêu diệt, xóa bỏ chủ nghĩa Quốc xã) và đem hàng loạt những cựu lãnh đạo cấp cao còn sống sót của chế độ này ra xét xử tại tòa án Nuremberg.

Ủy ban nhân dân tỉnh Việt Nam

Ủy ban nhân dân cấp Tỉnh hay Ủy ban nhân dân cấp Thành phố do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành phố bầu ra là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố và cơ quan nhà nước cấp trên.Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành phố nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn.

Tanakh
Torah
• Sáng Thế (Brʾeišyt)
• Xuất Hành (Šemot)
• Lêvi (Wayiqra)
• Dân Số (Bəmidbar)
• Đệ Nhị Luật (Devarim)
Nevi'im
Tiền tiên tri
• Giôsuê
• Thủ Lãnh
• Samuen
• Các Vua
Hậu tiên tri
• Isaia
• Giêrêmia
• Êdêkien
Tiểu tiên tri
• Hôsê
• Giôen
• Amốt
• Ôvađia
• Giôna
• Mikha
• Nakhum
• Khabacúc
• Xôphônia
• Khácgai
• Dacaria
• Malakhi
Ketuvim
Văn chương
• Thánh Vịnh (Təhillîm)
• Châm Ngôn
• Gióp
Five Scrolls
• Diễm Ca
• Rút
• Ai Ca
• Giảng Viên
• Étte
Historical Books
• Daniel
• Ezra-Nehemiah
• Chronicles
Cựu Ước
Ngũ Thư
• Sáng Thế
• Xuất Hành
• Lêvi
• Dân Số
• Đệ Nhị Luật
Lịch sử
• Giôsuê
• Thủ Lãnh
• Rút
• 1 Samuen
• 2 Samuen
• 1 Các Vua
• 2 Các Vua
• 1 Sử Biên Niên
• 2 Sử Biên Niên
• Étra
• Nơkhemia
• Étte
Giáo huấn
• Gióp
• Thánh Vịnh
• Châm Ngôn
• Giảng Viên
• Diễm Ca
Tiên tri
Đại tiên tri
• Isaia
• Giêrêmia
• Ai Ca
• Êdêkien
• Đanien
Tiểu tiên tri
• Hôsê
• Giôen
• Amốt
• Ôvađia
• Giôna
• Mikha
• Nakhum
• Khabacúc
• Xôphônia
• Khácgai
• Dacaria
• Malakhi
Thứ Kinh
• 1 Macabê
• 2 Macabê
• Khôn Ngoan
• Huấn Ca
• Barúc
• Giuđitha
• Tôbia

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.