Rạn san hô Great Barrier

Rạn san hô Great Barrier ("Đại Bảo Tiều" hoặc “Bờ Đá Lớn”) là hệ thống rạn san hô lớn nhất thế giới,[1][2] bao gồm hơn 2.900 rạn san hô riêng rẽ[3] và 900 hòn đảo trải dài trên 2.300 kilômét (1.400 mi), với tổng diện tích 344.400 kilômét vuông (133.000 sq mi).[4][5] Nó nằm trên khu vực Biển San Hô, ngoài khơi bờ biển Queensland, đông bắc Úc. Rạn san hô Great Barrier có thể được nhìn thấy từ ngoài vũ trụ và là cấu trúc đơn lớn nhất thế giới được tạo ra bởi các sinh vật sống.[6] Cấu trúc rạn san hô này được hình thành bởi hàng tỷ sinh vật nhỏ, được gọi là những polyp san hô.[7] Nó là môi trường sống của rất nhiều các loài động thực vật và đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới vào năm 1981.[1][2] CNN đã gọi nó là một trong bảy kỳ quan thiên nhiên của thế giới.[8] Tổ chức Tín Quốc Queensland coi nó là biểu tượng của bang Queensland.[9]

Phần lớn Rạn san hô này được bảo vệ bởi Công viên biển Rạn san hô Great Barrier nhằm hạn chế tác động của của con người đến hệ sinh thái nơi này như câu cá và du lịch. Những áp lực môi trường khác đối với rạn san hô và hệ sinh thái của nó bao gồm dòng chảy, biến đổi khí hậu và hiện tượng tẩy trắng san hô hàng loạt, nạo vét bùn và bùng phát theo chu kỳ loài Sao biển gai.[10] Theo một nghiên cứu được công bố vào tháng 10 năm 2012 bởi Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ, rạn san hô đã mất hơn một nửa lớp san hô kể từ năm 1985.[11]

Rạn san hô này từ lâu đã được những người thổ dân châu Úc và các đảo Eo biển Torres biết đến và khai thác, là một phần quan trọng trong văn hóa tâm linh của các nhóm người địa phương. Nó là một điểm đến rất phổ biến cho khách du lịch, đặc biệt là ở Quần đảo Whitsunday và khu vực Cairns. Du lịch là một hoạt động kinh tế quan trọng đối với khu vực, tạo doanh thu 3 tỷ Đô la Úc mỗi năm. Vào tháng 11 năm 2014, Google đã ra mắt Google Underwater Street View dưới dạng 3D của Rạn san hô Great Barrier.[12]

Một báo cáo tháng 3 năm 2016 công bố rằng, hiện tượng tẩy trắng san hô đã lan rộng hơn so với dự tính trước đây, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các phần phía bắc của rạn san hô do nhiệt độ đại dương nóng lên.[13] Vào tháng 10 năm 2016, tạp chí Outside xuất bản bài nói về việc rạn san hô đã chết,[14], tuy nhiên nó đã bị chỉ trích là quá sớm và khiến cản trở những nỗ lực giúp phục hồi rạn san hô.[15] Vào tháng 3 năm 2017, tạp chí Nature đã xuất bản một bài báo cho thấy một khu vực rộng lớn dài 800 km (500 dặm) ở phía bắc của rạn san hô đã chết trong năm 2016 do nhiệt độ nước tăng cao, một sự kiện mà các tác giả đưa ra những tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu.[16] Tỷ lệ san hô con được sinh ra ở Great Barrier giảm mạnh vào năm 2018 và các nhà khoa học đang mô tả đây là giai đoạn đầu của "sự kiện chọn lọc tự nhiên khổng lồ". Nhiều san hô trưởng thành và sinh sản đã chết trong các sự kiện tẩy trắng năm 2016-17 dẫn đến tỷ lệ sinh mới san hô thấp.[17]

Rạn san hô Great Barrier
Di sản thế giới UNESCO
GreatBarrierReef-EO
Hình ảnh vệ tinh của một phần của Rạn san hô Great Barrier tiếp giáp với các khu vực ven biển Queensland của Bãi biển Airlie và Mackay.
Vị tríNgoài khơi bờ biển phía đông của lục địa Queensland, Australia
Tiêu chuẩnThiên nhiên: vii, viii, ix, x
Tham khảo154
Công nhận1981 (Kỳ họp 5)
Diện tích34,870,000 ha
Websitewww.gbrmpa.gov.au
Tọa độ18°17′N 147°42′Đ / 18,283°N 147,7°ĐTọa độ: 18°17′N 147°42′Đ / 18,283°N 147,7°Đ
Rạn san hô Great Barrier trên bản đồ Queensland
Rạn san hô Great Barrier
Trung tâm rạn san hô Great Barrier
Rạn san hô Great Barrier trên bản đồ Úc
Rạn san hô Great Barrier
Trung tâm rạn san hô Great Barrier

Địa chất và địa lý

Part of Great Barrier Reef from Helicopter
Ảnh chụp trên không: Một khu vực của rạn san hô Great Barrier

.

Rạn san hô là một đặc điểm khác biệt so với Dãy núi Great Dividing. Nó phát triển từ Eo biển Torres (giữa Bramble Cay và bờ biển phía nam Papua New Guinea) ở phía bắc cho đến một lối đi không tên giữa Đảo Lady Elliot (đảo cực nam của rạn san hô) và Đảo Fraser ở phía nam. Đảo Lady Elliot nằm cách 1.915 km (1.190 mi) về phía đông nam Bramble Cay theo đường chim bay.[18]

Lý thuyết về Kiến tạo mảng đã chỉ ra rằng, Úc đã dịch chuyển về phía bắc với tốc độ 7 cm (2,8 in) mỗi năm, bắt đầu vào Đại Tân sinh.[19] Đông Úc đã trải qua thời kỳ kiến tạo nâng lên, dịch chuyển đường phân thủy ở Queensland 400 km (250 mi) vào trong đất liền. Cũng trong thời gian này, Queensland đã trải qua các vụ phun trào núi lửa tạo thành những dòng chảy bazan. Một số trong đó tạo thành các đảo núi lửa. Sau khi biển San Hô hình thành, các rạn san hô bắt đầu phát triển trong khu vực này nhưng đến khoảng 25 triệu năm trước, phía bắc Queensland vẫn ở vùng nước ôn đới phía nam của vùng nhiệt đới, quá mát mẻ để hỗ trợ sự phát triển của san hô. Lịch sử phát triển của Great Barrier rất phức tạp. Sau khi Queensland trôi dạt vào vùng biển nhiệt đới, nó bị ảnh hưởng phần lớn bởi sự phát triển và suy giảm của rạn san hô khi mực nước biển thay đổi.

Các rạn san hô có thể tăng đường kính từ 1 đến 3 xentimét (0,39 đến 1,18 in) mỗi năm và phát triển theo chiều dọc từ 1 đến 25 cm (0,39 đến 9,84 in) mỗi năm. Tuy nhiên, chúng chỉ phát triển ở độ sâu trên 150 mét (490 ft) do nhu cầu ánh sáng mặt trời và không thể phát triển trên mực nước biển.[20] Khi Queensland trôi dạt đến vùng biển nhiệt đới cách đây 24 triệu năm trước, một số loài san hô đã phát triển. Nhưng rồi sa lắng trầm tích nhanh chóng phát triển cùng với sự xói mòn của Great Dividing tạo ra những đồng bằng châu thổ, đá trầm tích và trầm tích mặt biển, những điều kiện không phù hợp cho sự phát triển của san hô. Khoảng 10 triệu năm trước, mực nước biển hạ xuống đáng kể càng cho phép sa lắng. 400.000 năm trước đây, vào thời kỳ gian băng với mực nước biển dâng cao và nhiệt độ nước biển tăng thêm 4 °C (7 °F).

Vùng đất hình thành nên mặt nền cho rạn san hô Great Barrier hiện nay là một đồng bằng ven biển được hình thành từ các trầm tích bị xói mòn của dãy núi Great Dividing một số ngọn đồi lớn (hầu hết là tàn tích của các rạn san hô cổ[21] hoặc số ít núi lửa.

Từ 20.000 cho đến 6.000 năm trước, mực nước biển tăng đều đặn. Khi mực nước biển tăng, các san hô có thể mọc cao hơn trên những ngọn đồi của miền đồng bằng ven biển. Khoảng 13.000 năm trước, mực nước biển thấp hơn ngày nay khoảng 60m, và các san hô đã bắt đầu mọc quanh các ngọn đồi của miền đồng bằng ven biển - sau đó là các hòn đảo lục địa. Khi mực nước biển tăng cao hơn, hầu hết các hòn đảo lục địa bị nhấn chìm. Các san hô lớn nhanh quá các ngọn đồi để hình thành ra các đảo san hô (cays) và đá ngầm san hô. Mực nước biển trên rạn san hô Great Barrier đã không tăng đáng kể trong 6.000 năm qua.[21] Các kết quả nghiên cứu do trung tâm nghiên cứu đá ngầm Úc tài trợ đã dự đoán tuổi của cấu trúc đá ngầm san hô hiện tại vào khoảng 6.000-8.000 năm.

Ở vùng phía bắc của rạn san hô Great Barrier, các đá ngầm dải và đá ngầm châu thổ đã hình thành tại đây - những cấu trúc đá ngầm này không được tìm thấy trong toàn bộ phần còn lại của hệ thống rạn san hô Great Barrier. San hô lâu đời nhất là một loài san hô của Porites, có tên gọi là san hô tảng lăn, chỉ khoảng 1.000 năm tuổi (nó mọc dài khoảng 1 cm/1năm).

Phần còn lại của một rạn san hô cổ đại tương tự với rạn san hô Great Barrier có thể được tìm thấy ở vùng Kimberley (nằm ở bắc Tây Úc).[22] Khu vực di sản thế giới rạn san hô Great Barrier được chia thành 70 khu sinh học,[23] trong đó có 30 khu vực sinh học rạn san hô.[24][25] Ở phía bắc của Great Barrier là các dải hẹp san hô và trầm tích san hô, và chúng không được thấy trong phần còn lại của rạn san hô. Không có bất kỳ đảo san hô vòng nào ở Great Barrier và các rạn san hô bên bờ biển đại lục là rất hiếm. Rạn san hô viền bờ phân bố rộng rãi nhưng phổ biến nhất ở phía nam, liền với các đảo cao như là Quần đảo Whitsunday. Khu vực này cũng là nơi tìm thấy các đầm phá san hô, kéo dài xa hơn về phía bắc đến Vịnh Công chúa Charlotte. Các rạn san hô hình lưỡi liềm là phổ biến nhất nằm ở khu vực trung tâm Great Barrier, ví dụ như là khu vực xung quanh đảo Lizard, và chúng cũng được thấy xa hơn về phía bắc của Công viên biển Rạn san hô Great Barrier và rạn san hô Swain (từ 20-22 độ Nam). Rạn san hô phẳng được tìm thấy ở phía bắc và nam, gần Bán đảo Cape York, vịnh Công chúa Charlotte và thành phố Cairns. Hầu hết các hòn đảo trong rạn san hô Great Barrier được tìm thấy trên các rạn san hô phẳng này. Lỗ Wonky có thể tác động cục bộ trong rạn san hô, cung cấp nguồn nước ngọt, đôi khi giàu chất dinh dưỡng là nguyên nhân gây ra hiện tượng phú dưỡng.[26][27]

Sinh vật

Coral Outcrop Flynn Reef
Một loạt các san hô đầy màu sắc trên rạn san hô Flynn gần Cairns.
Giant clam or Tridacna gigas
Loài trai khổng lồ ở rạn san hô Great Barrier.

Đây là một khu vực đa dạng về sinh học phi thường, là nơi hỗ trợ môi trường sống cho rất nhiều loài dễ bị thương tổnbị đe dọa, một số trong đó là những loài đặc hữu của rạn san hô.[28][29]

Có tổng cộng 30 loài trong Bộ Cá voi đã được ghi nhận tại rạn san hô Great Barrier bao gồm Cá voi Minke, Cá heo lưng bướu Thái Bình DươngCá voi lưng gù. Đây cũng là nơi có một số lượng lớn loài Cá cúi sinh sống.[29][30][31] Hơn 1.500 loài cá sống tại rạn san hô như Cá hề, Cá hồng đỏ hai đốm, Cá hè mõm dài, một số loài Cá hồngCá mú chấm.[30][32] Có tổng cộng 17 loài rắn biển sống tại khu vực nước ấm của rạn san hô ở độ sâu tới 50 mét (160 ft), và phố biến ở khu vực phía nam hơn. Đây là nơi sinh sản quan trọng của 6 loài rùa biển gồm Đồi mồi dứa, Rùa da, Đồi mồi, Rùa Quản Đồng, Rùa lưng phẳngVích. Đặc biệt, Đồi mồi dứa tại đây có hai quần thể khác biệt về mặt di truyền, một ở phía bắc rạn san hô và một ở phía nam.[33] Có 15 loài Cỏ biển là nguồn thức ăn các loài rùa và cá cúi, đồng thời nó cung cấp môi trường sống có nhiều loài cá. Các chi cỏ biển phổ biến nhất là HalophilaHalodule.[34]

Trong các khu rừng ngập mặn và đầm lầy muối bên bờ biển gần rạn san hô là môi trường sống của Cá sấu nước mặn.[35] Chúng có phạm vi sinh sống rộng nhưng mật độ thấp. Có khoảng 125 loài Cá mập, Cá đuối ó, Cá đuối SkateCá mập ma sống trên các rạn san hô.[36][37] Gần 5.000 động vật thân mềm đã được ghi nhận tại Great Barrier trong đó có cả loài Sò tai tượng khổng lồ, sên biểnốc nón.[30] Có 49 loài Cá chìa vôi, 9 loài Cá ngựa và ít nhất 7 loài ếch sống trên các đảo.[38]

Các rạn san hô và đảo là môi trường kiếm ăn, làm tổ cho 215 loài chim (22 loài chim biển và 32 loài chim lội), bao gồm cả Đại bàng bụng trắng, Nhàn hồng.[30] Khu vực làm tổ tập trung hầu hết ở phía bắc và phía nam rạn san hô với 1,4-1,7 triệu chim bố mẹ.[39][40]

Các hòn đảo của rạn san hô là nơi hỗ trợ cho 2.195 loài thực vật, trong số đó có 3 loài đặc hữu. Các hòn đảo phía bắc với 300 loài thực vật chủ yếu là các cây thân gỗ trong khi 200 loài ở các đảo phía nam có hầu hết là cây thân thảo. Đa dạng nhất là tại Quần đảo Whitsunday với 1.141 loài.[38]

Ít nhất 330 loài Hải tiêu trên hệ thống rạn san hô với đường kính với đường kính từ 1–10 cm (0,4–4 in). Từ 300-500 loài Động vật hình rêu sống trên rạn san hô.[37] Great Barrier là nơi có 400 loài san hô bao gồm San hô cứng và San hô mềm.[30] Ngoài ra là 500 loài Rong biển trong đó có 30 loài thuộc chi Halimeda.

Những mối đe dọa môi trường

GBReef TempChlorophyll 200602
Nhiệt độ nước biển và màu tẩy trắng của Rạn san hô Great Barrier.

Biến đổi khí hậu, ô nhiễm, sao biển gai, và đánh bắt cá là những mối đe dọa chính đối với rạn san hô này. Các mối đe dọa khác gồm các tai nạn tàu bè, sự cố tràn dầu, và lốc xoáy nhiệt đới.[41] Bệnh ăn mòn khung xương của san hô gây ra bởi sinh vật đơn bào Halofolliculina corallasia làm ảnh hưởng đến 31 loài san hô.[42] Theo một nghiên cứu năm 2012 của Viện Hàm lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ, kể từ năm 1985, rạn san hô Great Barrier đã mất đi hơn một nửa phân nửa số loài với 2/3 trong số này xảy ra từ năm 1998 do các yếu tố nêu trên.[43]

Biến đổi khí hậu

Cơ quan quản lý Công viên biển Rạn san hô Great Barrier coi đây là mối đe dọa lớn nhất đối với Rạn san hô Great Barrier. Hiện tượng nóng lên của các đại dương khiến tăng quá trình tẩy trắng san hô.[44][45] Các sự kiện tẩy trắng san hô hàng loạt do nhiệt độ đại dương tăng cao xảy ra vào mùa hè năm 1998, 2002, 2006[46] và nó được dự kiến là sẽ trở thành hiện tượng thường niên.[47] Khi quá trình nóng lên toàn cầu tiếp tục, san hô sẽ không thể thích nghi kịp với nhiệt độ đại dương ngày càng tăng. Tẩy trắng san hô dẫn đến tăng tính nhạy cảm với bệnh tật, gây ra các tác động sinh thái bất lợi cho các loài cộng đồng rạn san hô.[48]

Vào tháng 7 năm 2017, UNESCO đã công bố một dự thảo bày tỏ mối quan ngại nghiêm trọng về tác động của việc tẩy trắng san hô tại Great Barrier. Quyết định dự thảo cũng cảnh báo Úc rằng, họ sẽ không đáp ứng các mục tiêu của rạn san hô trong báo cáo 2050 nếu không có hành động đáng kể để cải thiện chất lượng nguồn nước.[49]

Biến đổi khí hậu có ý nghĩa đối với các dạng sống khác của rạn san hô. Một số khu vực của rạn san hô từng là nhiệt độ ưa thích của một số loài cá nhưng nhiệt độ tăng khiến chúng tìm kiếm môi trường sống mới, do đó làm tăng tỷ lệ chết của nhiều con non của các loài chim biển săn mồi phụ thuộc vào nguồn cá đó. Biến đổi khí hậu cũng sẽ ảnh hưởng đến số lượng và môi trường sống của nhiều loài rùa biển.[50]

Hiện tượng tẩy trắng ở các cộng đồng san hô đáy ở độ sâu trên 20 mét hoặc 66 foot trong rạn san hô Great Barrier không được ghi nhận nhiều như tại các khu vực nước nông, nhưng nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng chúng cũng đang phải đối mặt với nhiệt độ đại dương tăng lên. Năm loài san hô lớn sống ở tầng đáy của Great Barrier được tìm thấy là bị tẩy trắng bởi nhiệt độ cao, khẳng định rằng san hô đáy cũng đã bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ.[51]

Ô nhiễm

Mối đe dọa quan trọng khác mà Great Barrier đang phải đối mặt là ô nhiễm biểnô nhiễm nguồn nước. Các con sông ở phía đông bắc Úc gây ô nhiễm cho rạn san hô trong các đợt lũ lụt nhiệt đới. Hơn 90% quá trình ô nhiễm này gây ra bởi các dòng chảy từ trang trại.[52] 80% diện tích đất liền kế bên rạn san hô được sử dụng để canh tác, bao gồm trồng mía thâm canh và chăn thả bò thịt. Các biện pháp canh tác làm hỏng rạn san hô do quá mức khiến trầm tích nông nghiệp tăng, chất dinh dưỡng và hóa chất từ phân bón, thuốc diệt cỏthuốc trừ sâu gây nguy hại lớn cho san hô và đa dạng sinh học của các rạn san hô.[53] Trầm tích chứa hàm lượng đồng cao và nhiều kim loại nặng khác có nguồn gốc từ mỏ đồng lộ thiên Ok Tedi ở Papua New Guinea là một nguy cơ ô nhiễm tiềm tàng đối với các khu vực rạn san hô Great Barrier và khu vực phía bắcEo biển Torres.[54] Kết quả là khoảng 67% san hô đã chết ở khu vực phía bắc là nơi bị ảnh hưởng nặng nề nhất, theo báo cáo của Trung tâm nghiên cứu về rạn san hô ARC cho biết.[55]

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ a ă UNEP World Conservation Monitoring Centre (1980). “Protected Areas and World Heritage – Great Barrier Reef World Heritage Area”. Department of the Environment and Heritage. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2009.
  2. ^ a ă “The Great Barrier Reef World Heritage Values”. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2008. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  3. ^ The Khu vực Di sản thế giới Rạn san hô Great Barrier, có diện tích 348.000 km vuông, có 2900 rạn san hô. Tuy nhiên, nó không bao gồm các rạn san hô được tìm thấy ở Eo biển Torres, nơi có diện tích ước tính là 37.000 km vuông và có thể có 750 rạn san hô và bãi cạn. Hopley, Smithers & Parnell 2007, tr. 1
  4. ^ Fodor's. “Great Barrier Reef Travel Guide”. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2006. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  5. ^ Department of the Environment and Heritage. “Review of the Great Barrier Reef Marine Park Act 1975”. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2006.
  6. ^ Sarah Belfield (8 tháng 2 năm 2002). “Great Barrier Reef: no buried treasure”. Geoscience Australia (Australian Government). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2007. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  7. ^ Sharon Guynup (4 tháng 9 năm 2000). “Australia's Great Barrier Reef”. Science World. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2007.
  8. ^ CNN (1997). “The Seven Natural Wonders of the World”. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2006.
  9. ^ National Trust Queensland. “Queensland Icons”. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2006.
  10. ^ Smee, Ben (20 tháng 2 năm 2019). “Great Barrier Reef authority gives green light to dump dredging sludge”. The Guardian (bằng tiếng en-GB). ISSN 0261-3077. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2019. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  11. ^ Eilperin, Juliet (1 tháng 10 năm 2012). “Great Barrier Reef has lost half its corals since 1985, new study says”. The Washington Post. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2012. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  12. ^ “Google Launches Underwater Street View”. 16 tháng 11 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2014. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  13. ^ “Great Barrier Reef coral bleaching more widespread than first thought”. The Sydney Morning Herald. 31 tháng 3 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2016. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  14. ^ Jacobsen, Rowan (11 tháng 10 năm 2016). “Obituary: Great Barrier Reef (25 Million BC–2016)”. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2016. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  15. ^ CNN, Sophie Lewis. “The Great Barrier Reef is not actually dead”. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 3 năm 2017. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  16. ^ Cave, Damien; Gillis, Justin (15 tháng 3 năm 2017). “Large Sections of Australia’s Great Reef Are Now Dead, Scientists Find”. The New York Times (bằng tiếng en-US). ISSN 0362-4331. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2018. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  17. ^ “Great Barrier Reef coral bleaching causes numbers of baby coral to plummet”. abc.net.au. 4 tháng 4 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 4 năm 2019.
  18. ^ A.K. Lobeck (1951). Physiographic Diagram of Australia. New York: The Geological Press, Columbia University. to accompany text description and geological sections which were prepared by Joseph Gentili and R.W. Fairbridge of the Đại học Tây Úc
  19. ^ Davies, P.J., Symonds, P.A., Feary, D.A., Pigram, C.J. (1987). “Horizontal plate motion: a key allocyclic factor in the evolution of the Great Barrier Reef”. Science 238 (4834): 1697–1700. Bibcode:1987Sci...238.1697D. doi:10.1126/science.238.4834.1697.
  20. ^ MSN Encarta (2006). Great Barrier Reef. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2006. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  21. ^ a ă Tobin, Barry (2003) [revised from 1998 edition]. “How the Great Barrier Reef Was Formed”. Australian Institute of Marine Science. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2006. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  22. ^ Western Australia's Department of Conservation and Land Management (2005). “The Devonian 'Great Barrier Reef'. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2006.
  23. ^ Great Barrier Reef Marine Park Authority. “Representative Areas in the Marine Park”. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2007.
  24. ^ Great Barrier Marine Park Authority. “Protecting the Bioregions of the Great Barrier Reef” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 6 năm 2011.
  25. ^ Great Barrier Reef Marine Park Authority. “Bio-region Information Sheets”. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2007.
  26. ^ Horstman, Mark (18 tháng 5 năm 2006). “Wonky Holes”. Catalyst transcript. Australian Broadcastiing Corporation. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2019.
  27. ^ Nowak, Rachel (15 tháng 11 năm 2002). 'Wonky holes' blamed for coral death”. New Scientist. doi:10.1029/2002GL015336. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2019.
  28. ^ CSIRO (2006). “Snapshot of life deep in the Great Barrier Reef”. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2007. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  29. ^ a ă Great Barrier Reef Marine Park Authority (2000). “Fauna and Flora of the Great Barrier Reef World Heritage Area”. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2006. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  30. ^ a ă â b c CRC Reef Research Centre Ltd. “Reef facts: Plants and Animals on the Great Barrier Reef”. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2006. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  31. ^ Great Barrier Reef Marine Park Authority (2004). “Environmental Status: Marine Mammals”. The State of the Great Barrier Reef Report – latest updates. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2007.
  32. ^ Great Barrier Reef Marine Park Authority. “Fish Spawning Aggregation Sites on the Great Barrier Reef”. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2009. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  33. ^ Dobbs, Kirstin (2007). Marine turtle and dugong habitats in the Great Barrier Reef Marine Park used to implement biophysical operational principles for the Representative Areas Program (PDF). Great Barrier Marine Park Authority. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2011.
  34. ^ Great Barrier Reef Marine Park Authority (2005). “Environmental Status: Seagrasses”. The State of the Great Barrier Reef Report – latest updates. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2007.
  35. ^ Great Barrier Reef Marine Park Authority (2005). “Environmental Status: Marine Reptiles”. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 6 năm 2011.
  36. ^ “Environmental Status: Sharks and rays”. The State of the Great Barrier Reef Report – latest updates. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2007. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  37. ^ a ă “Appendix 4 – Other species of conservation concern”. Fauna and Flora of the Great Barrier Reef World Heritage Area. 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2007. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  38. ^ a ă “Appendix 5 – Island Flora and Fauna”. Fauna and Flora of the Great Barrier Reef World Heritage Area. 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2007. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  39. ^ Great Barrier Reef Marine Park Authority. “Environmental status: birds”. The State of the Great Barrier Reef Report – latest updates. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2007.
  40. ^ “Environmental status: birds Condition”. The State of the Great Barrier Reef Report – latest updates. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2007.
  41. ^ Harriott, V.J. (2002). “Marine tourism impacts and their management on the Great Barrier Reef” (PDF). CRC Reef Research Centre Technical Report No. 46. CRC Reef Research Centre. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2009.
  42. ^ “AIMS Longterm Monitoring – Coral Diseases on the Great Barrier Reef – Skeletal Eroding Band”. www.aims.gov.au. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2009. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  43. ^ Eilperin, Juliet (2 tháng 10 năm 2012). “Great Barrier Reef has 'lost half its coral since 1985'. Washington Post (London: The Independent). Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2012. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  44. ^ Rothwell, Don; Stephens, Tim (19 tháng 11 năm 2004). “Global climate change, the Great Barrier Reef and our obligations”. Melbourne: The National Forum. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2007.
  45. ^ Great Barrier Reef Marine Park Authority. “Our changing climate”. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2007.
  46. ^ Great Barrier Reef Marine Park Authority. “Coral Bleaching and Mass Bleaching Events”. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2006. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  47. ^ “Online version”. The Daily Telegraph. 30 tháng 1 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 2 năm 2009. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  48. ^ Littman, Raechel; Willis, Bette L.; Bourne, David G. (2011). “Metagenomic analysis of the coral holobiont during a natural bleaching event on the Great Barrier Reef”. Environmental Microbiology Reports 3 (6): 651–660. doi:10.1111/j.1758-2229.2010.00234.x.
  49. ^ Great Barrier Reef: Australia must act urgently on water quality, says Unesco. Lưu trữ 3 June 2017 tại Wayback Machine. The Guardian Retrieved on 3 June 2017
  50. ^ Great Barrier Reef Marine Park Authority. “Climate change and the Great Barrier Reef”. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2007.
  51. ^ Schmidt, C.; Heinz, P.; Kucera, M.; Uthicke, Sven (2011). “Temperature-induced stress leads to bleaching in larger benthic foraminifera hosting endosymbiotic diatoms” (PDF). Limnology and Oceanography 56 (5): 1587–1602. Bibcode:2011LimOc..56.1587S. doi:10.4319/lo.2011.56.5.1587. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  52. ^ “Coastal water quality” (PDF). The State of the Environment Report Queensland 2003. Environment Protection Agency Queensland. 2003. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2007.
  53. ^ “Human Impact on the Great Barrier Reef”. University of Michigan. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2014. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  54. ^ Harris, P.T., 2001. Environmental Management of Torres Strait: a Marine Geologist’s Perspective, in: Gostin, V.A. (Ed.), Gondwana to Greenhouse: environmental geoscience – an Australian perspective. Geological Society of Australia Special Publication, Adelaide, pp. 317–328
  55. ^ Griffith, Hywel (28 tháng 11 năm 2016). “Great Barrier Reef suffered worst bleaching on record in 2016, report finds”. BBC News (bằng tiếng en-GB). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2016. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)

Đọc thêm

Liên kết ngoài

Phương tiện liên quan tới Great Barrier Reef tại Wikimedia Commons

24 tháng 2

Ngày 24 tháng 2 là ngày thứ 55 trong lịch Gregory. Còn 310 ngày trong năm (311 ngày trong năm nhuận).

Assiculus punctatus

Assiculus punctatus, thường được gọi là cá đạm bì chấm xanh, là loài cá biển duy nhất thuộc chi Assiculus trong họ Cá đạm bì. Loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1846.

Biển San Hô

Biển San Hô là một biển ven lục địa ở ngoài bờ đông bắc Úc. Ranh giới về phía tây của biển này là bờ phía đông của bang Queensland, do đó biển này gồm cả Rạn san hô Great Barrier, ranh giới phía đông là Vanuatu (trước kia tên là New Hebrides) và Nouvelle-Calédonie, ranh giới phía bắc ở khoảng cực nam của Quần đảo Solomon. phía nam của biển này là Biển Tasman.

Trong khi Rạn san hô Great Barrier cùng với các đảo của nó thuộc về bang Queensland, thì phần lớn các vỉa san hô và các đảo nhỏ ở phía đông của biển này thuộc về Lãnh thổ Quần đảo Biển San hô (Coral Sea Islands Territory). Thêm vào đó, về mặt địa lý, một số đảo ở phía tây và thuộc về Nouvelle Calédonie cũng là thành phần của Quần đảo Biển San hô, như Quần đảo Chesterfield và Bellona Reefs.

Vũng Biển San hô được hình thành từ khoảng 58 - 48 triệu năm trước vì thềm lục địa Queensland nâng lên, tạo thành dãy núi Great Dividing Range, và cùng lúc đó, các khối lục địa lún xuống.Về mặt sinh thái học, Biển San hô là nguồn cung cấp san hô quan trọng cho Rạn san hô Great Barrier, cả trong lúc hình thành và sau khi mức biển thấp xuống.

Centropyge nox

Centropyge nox, thường được gọi là cá thần tiên bóng đêm hay cá thần tiên đen, là một loài cá biển thuộc chi Centropyge trong họ Cá bướm gai. Loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1853.

Cá chim hoàng đế

Cá chim hoàng đế hay cá bướm đế (danh pháp hai phần: Pomacanthus imperator) là một loài cá biển bản địa Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, từ Hồng Hải và Đông Phi đến Hawaii, các quần đảo Line, Tuamotu; phía bắc tới miền nam Nhật Bản và quần đảo Ogasawara; phía nam tới rạn san hô Great Barrier, New Caledonia và quần đảo Austral. P. imperator thường sống cố định xung quanh các rạn san hô và các bãi đá ngầm ở độ sâu khoảng 1 - 100 m.

Con chưa trưởng thành có màu xanh da trời đậm với các vòng xuyến trắng và xanh da trời. Con trưởng thành có các dải xanh da trời vàng, với dải đen quanh mắt. Cần 24-30 tháng để con non có màu sắc như con trưởng thành. Chúng dài 40 cm.

Gai vây lưng: 13 - 14; Tia mềm vây lưng: 17-21; Gai vây hậu môn: 3; Tia mềm vây hậu môn: 18 - 21.

Danh sách di sản thế giới tại Úc

Ủy ban Di sản thế giới của UNESCO là nơi có tầm quan trọng trong việc bảo tồn các di sản văn hóa và tự nhiên của nhân loại được mô tả trong Công ước Di sản thế giới năm 1972. Úc phê chuẩn Công ước vào ngày 22 tháng 8 năm 1974 khiến các di tích văn hóa và tự nhiên của quốc gia này đủ điều kiện xét công nhận Di sản thế giới. Tính đến hết năm 2017, Úc đã có tổng cộng 19 di sản thế giới, trong đó có 3 di sản văn hóa, 12 di sản thiên nhiên và 4 địa điểm hỗn hợp (bao gồm cả giá trị về văn hóa lẫn tự nhiên).

Địa điểm đầu tiên của Úc được công nhận là Rạn san hô Great Barrier, Vùng các hồ Willandra và Vườn quốc gia Kakadu được công nhận vào năm 1981. Trong đó, Rạn san hô Great Barrier có diện tích 34.870.000 là di sản thế giới có diện tích lớn thứ ba trên thế giới (chỉ sau Khu bảo tồn Quần đảo Phoenix và Papahānaumokuākea).Úc có 4 Di sản hỗn hợp là Vườn quốc gia Kakadu, Vườn quốc gia Uluru-Kata Tjuta, Vùng các hồ Willandra và Vùng hoang dã ở Tasmania. Vùng hoang dã ở Tasmania chính là một trong hai địa điểm trên thế giới đáp ứng được 7 trong số 10 tiêu chí liệt kê Di sản thế giới (cùng với núi Thái Sơn ở Trung Quốc).

Ngoài ra, Úc cũng có một số địa điểm nằm trong danh sách dự kiến để xét công nhận Di sản thế giới trong tương lai.

Enchelycore bayeri

Enchelycore bayeri là danh pháp khoa học của một loài cá lịch biển trong họ Muraenidae.

Loài cá này sinh sống ven các rạn san hô ở độ sâu 1-64m, chủ yếu ở độ sâu 1-20m trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương từ quần đảo Chagos và đảo Réunion ở phía tây tới các quần đảo Line và Society ở phía đông, về phía bắc tới quần đảo Lưu Cầu (Ryukyu), về phía nam tới rạn san hô Great Barrier. Chúng là cá nhút nhát với thức ăn là cá, nhưng đôi khi cũng cắn do ngẫu nhiên hay khi bị kích động.

Giống như các thành viên khác của chi, loài cá này có các hàm cong và các hàng răng lớn giống như thủy tinh. Với chiều dài có thể đạt 70 cm (28 in), nó là một trong những loài cá lịch nhỏ-trung bình của chi này.Các tên gọi tiếng Anh của nó là Bayer's moray (cá lịch Bayer), Bowmouth moray (cá lịch miệng cung) và Hookjaw moray (cá lịch hàm móc).

Naso vlamingii

Naso vlamingii là một loài cá thuộc họ Cá đuôi gai. Loài cá này sinh sống ở vùng biển Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Chúng chủ yếu ăn cỏ nhưng cũng ăn động vật giáp xác nhỏ như giáp xác chân chèo, tôm biển và tôm mysis. Hầu hết các chế độ ăn uống tự nhiên của chúng là tảo.

Người ta quan sát thấy loài cá này trong vùng biển Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương ngoài khơi bờ biển Đông Phi, quần đảo Marquises và Tuamotu, miền nam Nhật Bản và miền nam khu vực Rạn san hô Great Barrier. Đa phần chúng có mặt tại các rạn san hô và đầm phá ven bờ, đôi khi bơi thành từng đàn nhỏ.

Pomacentrus magniseptus

Pomacentrus magniseptus là một loài cá biển thuộc chi Pomacentrus trong họ Cá thia. Loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 2017. Trong tiếng Latin, magnis nghĩa là "to lớn" (tiếng Anh: "great"), còn septum nghĩa là "bức tường, chắn ngang" (tiếng Anh: "wall", "barrier"), ám chỉ tên của nơi tìm thấy loài này, rạn san hô Great Barrier.

Rhinecanthus lunula

Rhinecanthus lunula, thường được gọi là cá bò bán nguyệt, là một loài cá bò hiếm gặp thuộc chi Rhinecanthus trong họ Cá nóc gai. Loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1983.

Rạn san hô Belize Barrier

Rạn san hô Belize Barrier là một loạt các rạn san hô trải dài theo bờ biển Belize, khoảng khoảng 300 mét (980 ft) ngoài khơi ở phía bắc và 40 km (25 dặm) ở phía nam bờ biển. Nó được biết đến như là một phần dài 300 km của Hệ thống Rạn san hô Trung Bộ châu Mỹ dài 900 km liên tục từ Cancún trên mũi phía đông bắc bán đảo Yucatán qua Riviera Maya xuống tới Honduras khiến nó trở thành rạn san hô lớn thứ ba thế giới sau Rạn san hô Great Barrier ở Úc và Rạn san hô Nouvelle-Calédonie ở New Caledonia. Đây là điểm đến du lịch hàng đầu của Belize, phổ biến cho lặn biển và thu hút gần một nửa trong số 260.000 khách đến đây. Nó cũng là khu vực quan trọng đối với ngành công nghiệp đánh cá của đất nước. Charles Darwin từng mô tả nó là rạn san hô đáng chú ý nhất tại Tây Ấn vào năm 1842.

Ngoài rạn san hô chính, nó còn có các đảo san hô vòng của khu vực Caribe là Turneffe Atoll, Glover's Reef và Lighthouse Reef. Trong đó Lighthouse Reef được biết đến là khu vực lặn biển đông nhất tại Belize, nơi có Great Blue Hole (được biết đến là Hố Xanh) được Jacques Cousteau phát hiện ra vào năm 1970. Đảo san hô vòng Turneffe là đảo san hô gần bờ biển Belize nhất.

San hô

San hô là các sinh vật biển thuộc lớp San hô (Anthozoa) tồn tại dưới dạng các thể polip nhỏ giống hải quỳ, thường sống thành các quần thể gồm nhiều cá thể giống hệt nhau. Các cá thể này tiết ra cacbonat canxi để tạo bộ xương cứng, xây nên các rạn san hô tại các vùng biển nhiệt đới.

Một "đầu" san hô thực tế được tạo từ hàng ngàn cá thể polip có cấu tạo gen giống hệt nhau, mỗi polip chỉ có đường kính vài milimet. Sau hàng ngàn thế hệ, các polip này để lại một khung xương là đặc trưng về loài của chúng. Mỗi đầu san hô phát triển nhờ sự sinh sản vô tính của các polip. San hô còn sinh sản hữu tính bằng các giao tử, được giải phóng đồng thời trong một thời kì từ một đến vài đêm liên tiếp trong kì trăng tròn.

Tuy san hô có thể dùng các tế bào châm (nematocyst) tiết chất độc tại các xúc tu để bắt phù du, loại động vật này thu nhận phần lớn dưỡng chất từ loại tảo đơn bào cộng sinh có tên tảo vàng đơn bào (zooxanthella). Do đó, hầu hết san hô phụ thuộc vào ánh sáng mặt trời và phát triển ở các vùng nước trong và nông, thường ở độ sâu không tới 60 m (200 ft). San hô có thể đóng góp lớn cho cấu trúc vật lý của các rạn san hô phát triển ở những vùng biển nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới, chẳng hạn như rạn san hô Great Barrier ở ngoài khơi bang Queensland, Úc. Các loại san hô khác không cần đến tảo và có thể sống ở vùng nước sâu hơn, chẳng hạn các loài trong chi Lophelia nước-lạnh sống được tới độ sâu 3.000 m ở Đại Tây Dương. Một ví dụ khác là Darwin Mounds ở phía tây nam Cape Wrath, Scotland. San hô còn được tìm thấy ở ngoài khơi bang Washington và quần đảo Aleutian ở Alaska, Mỹ.

Thaumoctopus mimicus

Bạch tuộc biến hình hay bạch tuộc bắt chước (Danh pháp khoa học: Thaumoctopus mimicus) là một loài bạch tuộc được tìm thấy từ thập niên 1998 ngoài khơi vùng biển Indonesia và ở rạn san hô Great Barrier.

Tremoctopus violaceus

Bạch tuộc chăn thông thường (Tremoctopus violaceus) là một con bạch tuộc lớn của họ Tremoctopodidae được tìm thấy trên toàn thế giới trong vùng biển vùng mặt biển khơi của biển ấm. Mức độ dị hình giới tính ở loài này rất cao, với con cái dài tới hai mét, trong khi con đực, mẫu vật sống đầu tiên được nhìn thấy từ Rạn san hô Great Barrier vào năm 2002, dài khoảng 2,4 & nbsp; cm. Trọng lượng riêng của con đực và con cái khác nhau theo hệ số khoảng 10.000.Con đực và con cái nhỏ dưới 7 & nbsp; cm đã được báo cáo mang theo chúng những xúc tu của Physalia physalis, với chất độc mà chúng được miễn dịch. Đó là suy đoán rằng những xúc tu phục vụ như là một cơ chế phòng thủ và có thể là một phương pháp bắt con mồi. Cơ chế này không còn hữu ích ở kích thước lớn hơn, đó có thể là lý do tại sao con đực của loài này quá nhỏ. Lưới giữa cánh tay của bạch tuộc cái trưởng thành cũng là một biện pháp phòng thủ, làm cho con vật trông lớn hơn, và dễ dàng bị tách ra nếu bị một động vật ăn thịt cắn vào.

Vùng nhiệt đới ẩm ướt của Queensland

Vùng nhiệt đới ẩm ướt của Queensland là vùng rừng nhiệt đới ẩm ướt dọc theo miền đông bắc bang Queensland, Úc. Vùng này rộng khoảng 8.940 km², là phần của Dãy núi Great Dividing, trải dài từ Townsville tới Cooktown, song song sát với Rạn san hô Great Barrier. Vùng nhiệt đới ẩm ướt của Queensland đáp ứng tất cả bốn tiêu chí để lựa chọn di sản thiên nhiên như là một di sản thế giới. Di sản thế giới được công nhận vào năm 1988 và là di sản Quốc gia của Úc trong tháng 5 năm 2007.Rừng nhiệt đới có mật độ cao các loài thực vật có hoa nguyên thủy trên thế giới. Ngoài ra, chỉ ở Madagascar và Nouvelle-Calédonie, do cô lập về địa lý, thì mới có các cánh rừng ẩm ướt vùng nhiệt đới với một mức độ có thể so sánh được về tính đặc hữu.

Vườn quốc gia Capricornia Cays

Vườn quốc gia Capricornia Cays là một vườn quốc gia ở bang Queensland, (Úc), cách thành phố Brisbane 486 km về phía bắc.

Vườn quốc gia này bảo vệ 8 cồn có san hô mọc trong nhóm đảo Capricorn và Bunker của Rạn san hô Great Barrier phía nam:

Đảo Broomfield

Đảo Erskine

Đảo Heron (nửa phía đông)

Đảo Lady Musgrave - Mở cho khách tham quan, chứa được 50 người cắm trại.

Đảo Masthead - Mở cho khách tham quan, chứa được 60 người cắm trại, tuy nhiên từ tháng 10 tới tháng 3 hàng năm, chỉ hạn chế cho 30 người, để tránh làm bể vỡ các trứng rùa biển đẻ ở đây.

Đảo North West - Mở cho khách tham quan, chứa được 150 người cắm trại.

Đảo Tryon - Hiện nay không cho khác tham quan vì có việc nhiễm trùng cây. Đảo này chứa được 30 người cắm trại.

Đảo WilsonCác đảo này là một phần của Rạn san hô Great Barrier, một di sản thế giới.

Vườn quốc gia Michaelmas and Upolu Cays

Vườn quốc gia Michaelmas and Upolu Cays là một vườn quốc gia ở Queensland, Úc, cách Brisbane 1.409 km (876 mi) phía tây bắc và cách Cairns 33 km (21 dặm). Nó bao gồm hai hẻm nhỏ trên Michaelmas Reef, tạo thành phần phía đông bắc của phức hợp rạn san hô Arlington, trong rạn san hô Great Barrier Reef.

Vịnh Honduras

Vịnh Honduras là một vịnh trong biển Caribe, khoét vào các bờ biển của các nước Belize, Honduras và Guatemala. Từ bắc tới nam, vịnh này trải dài khoảng 200 km, từ Dangriga, Belize, tới La Ceiba, Honduras.

Nhiều con sông từ đất liền vùng Trung Mỹ chảy vào vịnh này, trong đó có các sông Motagua và Ulúa. Hồ Izabal ở Guatemala cũng chảy vào vịnh này qua một kênh hẹp.

Có một số lớn các vỉa ngầm và các cồn nằm trong vịnh Honduras, thường được gọi chung là Pelican Cays (các cồn Pelican). Trong vịnh này cũng có vỉa san hô lớn thứ nhì thế giới - sau Rạn san hô Great Barrier ở Úc - là Vỉa san hô Belize (Belize Barrier Reef).

Nhiều ngư dân người Mỹ thường tới vịnh này để đánh bắt cá marlin (Istiophoridae). Các du khách cũng thường đi tàu tới "Pelican Cays", nhất là các đảo nhỏ Caye Caulker và Ambergris Caye.

Năm 1961 trận bão Hattie thổi qua Vịnh Honduras, đã làm hư hại nhiều nhà cửa ở Belize.

Đảo Lady Musgrave

Đảo Lady Musgrave là một hòn đảo san hô có diện tích 14 ha (35 mẫu Anh) thuộc Rạn san hô Great Barrier, với 1.192 ha (2.950 mẫu Anh) là các rạn san hô xung quanh. Đây là hòn đảo lớn thứ hai trong chuỗi các hòn đảo của Rạn san hô Great Barrier (sau đảo Lady Elliot). Hòn đảo này có thể dễ dàng ghé thăm từ thị trấn 1770, và nằm cách ​​khoảng 5 giờ di chuyển về phía bắc của Brisbane. Hòn đảo được đặt theo tên phu nhân của Sir Anthony Musgrave, thống đốc giai đoạn 1883-1888 của Queensland thời thuộc địa.

Đảo Lady Musgrave và các khu vực bao quanh là một vườn quốc gia của Úc và có thể đến được bằng thuyền tham quan từ thị trấn 1770. Nó cũng là một phần của vùng chim quan trọng Capricornia Cays.

San hô đá
San hô mềm
Rạn san hô
Vùng san hô
Bệnh san hô
Bảo tồn
Khác
New South Wales
Lãnh thổ phía Bắc
Queensland
Nam Úc
Tasmania
Victoria
Tây Úc
Lãnh thổ Hải ngoại

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.