Quy ước giờ mùa hè

Quy ước giờ mùa hè hay giờ tiết kiệm ánh sáng ban ngày (DST) là quy ước chỉnh đồng hồ tăng thêm một khoảng thời gian (thường là 1 giờ) so với giờ tiêu chuẩn, tại một số địa phương của một số quốc gia, trong một giai đoạn (thường là vào mùa hè) trong năm.

Quy ước này thường được thực hiện tại các nước ôn đới hay gần cực, nơi mà vào mùa hè, ban ngày bắt đầu sớm hơn so với mùa đông vài tiếng đồng hồ. Nó có ý nghĩa thực tiễn là giúp tiết kiệm năng lượng chiếu sáng và sưởi ấm, khi tận dụng ánh sáng ban ngày của ngày làm việc từ sớm, giảm chiếu sáng ban đêm nhờ ngủ sớm. Chính vì ý nghĩa này mà một số nước gọi quy ước này với cái tên "Giờ tiết kiệm ánh sáng ban ngày" (daylight saving time trong tiếng Anh). Ví dụ tại phần lớn Hoa Kỳ Lục địaCanada, thời gian sử dụng "giờ tiết kiệm ánh sáng ngày" bắt đầu từ chủ nhật trong tuần thứ hai của tháng 3 đến chủ nhật trong tuần đầu tiên của tháng 11. Như vậy thời kỳ sử dụng giờ tiết kiệm ánh sáng ngày kéo dài gần như 2/3 năm.

DaylightSaving-World-Subdivisions
  DST đang được áp dụng
  DST không còn được áp dụng
  DST chưa bao giờ được áp dụng

Thực trạng trên thế giới hiện nay

Mặc dù được nhiều nơi trên thế giới sử dụng, giờ mùa hè phổ biến ở các vĩ độ cao ở Bắc bán cầu.

Bảng dưới đây cho biết lúc bắt đầu và kết thúc của việc chỉnh giờ mùa hè ở một số vùng lãnh thổ. Các đồng hồ được vặn sớm lên một tiếng đồng hồ vào ngày bắt đầu và lùi lại từng này thời gian vào ngày kết thúc. Chú ý, mùa hèNam Bán Cầu tương ứng với mùa đôngBắc Bán Cầu.

Vùng Bắt đầu Kết thúc
Đa phần Bắc Mỹ 02:00 giờ địa phương, chủ nhật lần thứ hai của tháng 3 (bắt đầu áp dụng vào năm 2007) 02:00 giờ địa phương, chủ nhật đầu tiên của tháng 11 (bắt đầu áp dụng vào năm 2007)
Newfoundland và Labrador 01:00 giờ địa phương, chủ nhật đầu tiên tháng 4 01:00 giờ địa phương, chủ nhật cuối cùng tháng 10
Đa phần Châu Âu trừ Iceland 01:00 UTC, chủ nhật cuối cùng tháng 3 01:00 UTC, chủ nhật cuối cùng tháng 10
Ai Cập 00:00 giờ địa phương, thứ sáu cuối cùng tháng 4 00:00 giờ địa phương, thứ năm cuối cùng tháng 9
Israel 02:00 giờ địa phương, thứ sáu cuối cùng tháng 3 02:00 giờ địa phương, chủ nhất của tháng Tishrei giữa Rosh HashanahYom Kippur
Cuba 00:00 giờ địa phương, chủ nhật của tháng 3 00:00 giờ địa phương, chủ nhật của tháng 11
Một phần Brasil 00:00 giờ địa phương, thường vào một chủ nhật tháng 10 (ít khi vào tháng 11) 00:00 giờ địa phương, thường vào một chủ nhật tháng 2
Úc (Australia) 02:00 giờ địa phương, chủ nhật đầu tiên tháng 10 02:00 giờ địa phương, chủ nhật đầu tiên tháng 4

Lịch sử

Một số người nói đến Benjamin Franklin như là người đầu tiên gợi ý về quy ước giờ mùa hè trong một bức thư gửi đến Tạp chí Paris [1]. Tuy nhiên bức thư này chỉ muốn gợi ý mọi người nên dậy sớm vào mùa hè. Quy ước được nhắc đến lần đầu tiên một cách nghiêm túc bởi William Willett trong bài viết Waste of Daylight (Lãng phí ánh sáng ban ngày) [2], xuất bản năm 1907, nhưng Quốc hội Anh đã chưa muốn thông qua quy ước này, dù Willett đã bỏ nhiều công sức vận động hành lang.

Quy ước giờ mùa hè được chính phủ Đức áp dụng khi xảy ra Chiến tranh thế giới thứ nhất khoảng từ 30 tháng 4 năm 1916 đến 1 tháng 10 năm 1916. Ngay sau đó, Anh Quốc cũng theo chân, bắt đầu từ 21 tháng 5 năm 1916 đến 1 tháng 10 năm 1916. Quy ước này cũng được áp dụng tại Pháp từ 1916 đến 1946, với sự không tương thích giữa vùng tự do và vùng bị Đức chiếm đóng.

Vào ngày 19 tháng 3 năm 1918 Quốc hội Hoa Kỳ đặt ra một số múi giờ và chính thức áp dụng quy ước giờ mùa hè, có hiệu lực từ 31 tháng 3, cho những năm tháng tiếp theo của Chiến tranh thế giới thứ nhất (1918 đến 1919). Bộ luật này đã vấp phải nhiều phản đối từ nhân dân và đã bị rút lại sau đó.

Brasil bắt đầu áp dụng quy ước giờ mùa hè năm 1931, nhưng sau đó có những lần bãi bỏ.

Quy ước giờ mùa hè quay trở lại Mỹ ngày 9 tháng 2 năm 1942, như một biện pháp tiết kiệm tài nguyên trong thời chiến, để tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai. Khi chiến tranh sắp kết thúc, luật này lại được bãi bỏ vào ngày 30 tháng 9 năm 1945.

IrelandÝ, rồi tiếp đến là đa phần các nước châu Âu, đã bắt đầu tái áp dụng quy ước sau khi chiến tranh kết thúc. Tại Đức, từ 1947 đến 1949, quy ước còn được áp dụng đến 2 lần trong năm, với tên gọi Hochsommerzeit; các đồng hồ được chỉnh thêm một giờ nữa từ 11 tháng 5 đến 29 tháng 6.

Năm 1966 Mỹ ra Luật Thống nhất Thời gian yêu cầu toàn quốc áp dụng quy ước giờ mùa hè từ chủ nhật cuối cùng của tháng 4 đến chủ nhật cuối cùng của tháng 10 hằng năm. Khủng hoảng năng lượng 1973 khiến Mỹ phải bắt đầu giờ mùa hè sớm hơn vài tháng vào năm 1974 (chủ nhật đầu tiên của tháng 1) và 1975 (chủ nhật cuối cùng của tháng 2).

Cuộc khủng hoảng này cũng là nguyên nhân để Pháp chính thức áp dụng quy ước giờ mùa hè từ năm 1976. Toàn bộ Cộng đồng châu Âu thực hiện việc đổi giờ mùa hè từ thập niên 1980.

Từ năm 1985, các tỉnh miền nam Brasil chính thức áp dụng quy ước giờ mùa hè, với ngày bắt đầu chỉnh đồng hồ thay đổi tùy vùng.

Năm 1986 Trung Quốc thử nghiệm quy ước giờ mùa hè. Cùng năm này Mỹ đổi ngày bắt đầu giờ mùa hè sang chủ nhật đầu tiên của tháng 4.

Vào thập niên 1990, Trung Quốc dần bãi bỏ quy ước giờ mùa hè và áp dụng giờ thống nhất toàn quốc không thay đổi.

Năm 1998, điều luật 2000/84/CE của Quốc hội châu ÂuHội đồng châu Âu quy ước thống nhất lịch đổi giờ tại tất cả các nước thành viên.

Xem thêm

Tham khảo

(bằng tiếng Anh)

Liên kết ngoài

(bằng tiếng Anh)

6 tháng 1

Ngày 6 tháng 1 là ngày thứ 6 trong lịch Gregory. Còn 359 ngày trong năm (360 ngày trong năm nhuận).

Giờ Bình Nhưỡng

Giờ Bình Nhưỡng đi trước 9 tiếng so với Giờ phối hợp quốc tế (UTC+9) và là múi giờ tiêu chuẩn ở Bắc Triều Tiên kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2015. Vào giữa đêm (00:00) UTC, thì sẽ là 9:00 sáng (09:00) Giờ Bình Nhưỡng. Cũng như Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên không sử dụng quy ước giờ mùa hè.

Giờ Cabo Verde

Giờ Cabo Verde, hoặc CVT, là một múi giờ được sử dụng tại quần đảo quốc gia Atlantic của Cape Verde. Múi giờ này sau UTC 1 giờ (UTC-1).

Quy ước giờ mùa hè không được áp dụng tại múi giờ này.

Giờ Kyrgyzstan

Giờ Kyrgyzstan (KGT) là múi giờ của Kyrgyzstan. Nó đi trước +6:00 giờ so với Giờ Phối hợp Quốc tế (UTC+6). Kyrgyzstan không sử dụng Quy ước giờ mùa hè.

Lịch sử múi giờ của Kyrgyzstan

Từ 1924 đến 1992 Kyrgyzstan luôn có Giờ Moskva + 3 giờ.

Giờ Phối hợp Quốc tế

Thời gian Phối hợp Quốc tế hay UTC, thường gọi là Giờ Phối hợp Quốc tế, là một chuẩn quốc tế về ngày giờ thực hiện bằng phương pháp nguyên tử. "UTC" không hẳn là một từ viết tắt, mà là từ thỏa hiệp giữa viết tắt tiếng Anh "CUT" (Coordinated Universal Time) và viết tắt tiếng Pháp "TUC" (temps universel coordonné). Nó được dựa trên chuẩn cũ là giờ trung bình Greenwich (GMT, tiếng Anh: Greenwich Mean Time) do hải quân Anh đặt ra vào thế kỷ thứ 19, sau đó được đổi tên thành giờ quốc tế (UT, tiếng Anh: Universal Time). Múi giờ trên thế giới được tính bằng độ lệch âm hay dương so với giờ quốc tế.

Giờ quốc tế có vấn đề là vì nó định nghĩa một ngày là thời gian Trái Đất quay quanh trục của chính nó, tuy nhiên, tốc độ này không cố định, độ dài ngày theo UT không phải lúc nào cũng như nhau.

Để giải quyết vấn đề này, vào giữa những năm 1980 người ta chuyển sang dùng UTC là chuẩn dùng giờ nguyên tử quốc tế (TAI), được Văn phòng Cân đo Quốc tế (tiếng Pháp: Bureau International des Poids et Mesures, BIPM) đặt ở Pavillon de Breteuil (thuộc vùng Sèvres ở Pháp) định nghĩa dựa trên hàng trăm đồng hồ nguyên tử xezi trên khắp thế giới.

Giờ Trung Phi

Giờ Trung Phi, hoặc CAT, là một múi giờ được sử dụng ở Trung và Nam Phi. Giờ Trung Phi đi trước Giờ phối hợp quốc tế 2 giờ (UTC+02:00), nó gần giống như Giờ chuẩn Nam Phi và Giờ Đông Âu.

Múi giờ này chủ yếu nằm trong vùng gần xích đạo, không có sự thay đổi đáng kể chiều dài ngày trong năm, vì vậy Quy ước giờ mùa hè không được áp dụng.

Giờ Trung Phi được sử dụng ở các quốc gia sau:

Burundi

Botswana

Ai Cập

Cộng hòa Dân chủ Congo (miền đông)

Libya

Malawi

Mozambique

Rwanda

Nam Phi

Zambia

Zimbabwe

Giờ chuẩn Ai Cập

Giờ chuẩn Ai Cập là UTC+2.

Vào mùa hè, đồng hồ chạy thêm một giờ, tạo nên múi giờ: UTC+3. Khoảng thời gian mùa hè thường là áp dụng vào giữa thứ 6 cuối cùng của tháng 4 và thứ 6 cuối cùng của tháng 9.

Vào 21 tháng 4 năm 2011, chính phủ của Ai Cập đã ngưng sử dụng Quy ước giờ mùa hè. Giờ chuẩn được sử dụng trong một năm, và không thay đổi trong mùa hè.

Vào 7 tháng 5 năm 2014, chính phủ Ai Cập quyết định sử dụng giờ mùa hè bắt đầu từ 15 tháng 5 năm 2014, ngày thứ 6 thứ ba của tháng 5, với ngoại lệ cho ngày tháng chay của Ramadan.

Giờ mùa hè Trung Âu

Giờ mùa hè Trung Âu (viết tắt theo tiếng Anh là CEST - Central European Summer Time) là tên gọi khác của múi giờ UTC+2. Nó được dùng như là giờ mùa hè tại các nước Trung Âu, nơi sử dụng múi giờ UTC+1 trong suốt mùa đông.

Từ năm 1996, giờ mùa hè Trung Âu được thống nhất từ 2:00 giờ (theo múi giờ Giờ chuẩn Trung Âu vào ngày Chủ Nhật cuối cùng của tháng 3 đến 3:00 (Giờ chuẩn Trung Âu) ngày Chủ Nhật cuối cùng của tháng 10 hàng năm. Trước đó, khái niệm này chưa được thống nhất giữa các quốc gia châu Âu.

Giờ Đông Phi

Giờ Đông Phi, hoặc EAT, là một múi giờ được sử dụng ở phía Đông Châu Phi. Vùng có múi giờ đi trước UTC 3 giờ (UTC+3), giống như Giờ chuẩn Arabia, và Giờ mùa hè Đông Âu.Múi giờ này nằm chủ yếu ở khu vực xích đạo, không thay đổi đáng kể chiều dài ngày trong năm, vì vậy Quy ước giờ mùa hè không xảy ra.Giờ Đông Phi bao gồm các quốc gia:

Comoros

Djibouti

Eritrea

Ethiopia

Kenya

Madagascar

Somalia

Nam Sudan

Sudan

Tanzania

Uganda

Giờ ở Colombia

Colombia có một múi giờ, Giờ Colombia (COT), nằm trong khu vực UTC−05:00, sau 5 giờ Giờ phối hợp quốc tế (UTC). Viết tắt múi giờ tiêu chuẩn của nó là COT.Colombia không quan sát quy ước giờ mùa hè, nhưng đã sử dụng nó trong mười một tháng trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 1992 đến tháng 4 năm 1993.

Giờ ở Úc

Nước Úc chia thành ba múi giờ riêng biệt: Giờ chuẩn Tây Úc (AWST; UTC+08:00), Giờ chuẩn Trung úc (ACST; UTC+09:30), và Giờ chuẩn Đông Úc (AEST; UTC+10:00). Thời gian ở mỗi khu vực do chính quyền các bang quy định, một số bang thực hiện quy ước giờ mùa hè (DST). Các lãnh thổ hải ngoại và hải đảo của Úc áp dụng múi giờ riêng khác với đất liền.

Khoảng những năm 1890, các xứ thuộc địa Anh bắt đầu áp dụng múi giờ tính theo giờ chuẩn Greenwich (GMT). Trước đó, mỗi thành phố và thị trấn sử dụng giờ thoả ước riêng cho địa phương mình. Ngày nay, tiểu bang Tây Úc dùng Giờ chuẩn miền Tây Úc; tiểu bang Nam Úc và vùng Lãnh thổ Bắc Úc sử dụng Giờ chuẩn miền Trung Úc; còn các bang New South Wales, Queensland, Tasmania, Victoria, và Lãnh thổ Thủ đô (ACT) áp dụng múi giờ chuẩn miền Đông.

Vào mùa hè, các tiểu bang và lãnh thổ phía nam như Nam Úc, New South Wales, Victoria, Tasmania, và Lãnh thổ Thủ đô (ACT) điều chỉnh giờ thêm một tiếng. Các bang Tây Úc, Queensland và Lãnh thổ Bắc Úc không áp dụng quy chế này.

Indiana

Indiana (phát âm như In-đi-a-na, hay giống In-đi-e-nơ trong tiếng Anh) là một tiểu bang ở miền Trung Tây Hoa Kỳ.

Múi giờ

Một múi giờ là một vùng trên Trái Đất mà người ta quy ước sử dụng cùng một thời gian tiêu chuẩn, thông thường được nói đến như là giờ địa phương. Về lý thuyết, các đồng hồ tại vùng này luôn chỉ cùng một thời gian.

Trên Trái Đất, thời gian biến đổi dần dần từ Đông sang Tây. Tại một thời điểm xác định, có vùng đang là buổi sáng, có vùng khác lại đang là buổi tối. Trong lịch sử, người ta dùng vị trí Mặt Trời để xác định thời gian trong ngày (gọi là giờ Mặt Trời), và các thành phố nằm ở các kinh tuyến khác nhau có thời gian trên đồng hồ khác nhau. Khi ngành đường sắt và viễn thông phát triển, sự biến đổi liên tục về giờ giấc giữa các kinh tuyến gây trở ngại đáng kể. Các múi giờ được sinh ra để giải quyết phần nào vấn đề này. Các đồng hồ của từng vùng được lấy đồng bộ bằng thời gian tại kinh tuyến trung bình đi qua vùng. Mỗi vùng như vậy là một múi giờ.

Có thể dùng 24 đường kinh tuyến chia bề mặt Trái Đất ra làm 24 phần bằng nhau, giúp cho chênh lệch giờ giữa các múi giờ là 1 giờ, một con số thuận tiện. Tuy nhiên, việc phân chia trên chỉ là cơ sở chung; các múi giờ cụ thể được xây dựng dựa trên các thỏa ước địa phương, có yếu tố quan trọng của việc thống nhất lãnh thổ quốc gia. Do vậy trên bản đồ thế giới, có thể thấy rất nhiều ngoại lệ, và chênh lệch giờ giữa một số múi giờ có thể không bằng 1 giờ.

Mọi múi giờ trên Trái Đất đều lấy tương đối so với giờ UTC (xấp xỉ bằng giờ GMT trong lịch sử) là giờ tại kinh tuyến số 0, đi qua Đài thiên văn Hoàng gia Greenwich, Greenwich, Luân Đôn, Anh.

Một số địa phương có thể thay đổi múi giờ theo mùa. Ví dụ như, vào mùa hè, một số nước ôn đới hoặc gần vùng cực thực hiện quy ước giờ mùa hè, chỉnh giờ sớm lên một giờ. Điều này khiến chênh lệch giờ giữa các địa phương thêm phức tạp.

Ngày

Ngày là một đơn vị thời gian bằng 24 giờ, tương đương khoảng thời gian Trái Đất hoàn thành một vòng tự quay quanh chính nó (với quy chiếu Mặt Trời). Năm 1960, giây được định nghĩa lại theo chuyển động quỹ đạo của Trái đất trong năm 1900, và được chỉ định làm đơn vị thời gian cơ bản của SI. Đơn vị đo "ngày", được định nghĩa là 86 400 đơn vị giây và được viết tắt thành d. Năm 1967, giây và ngày được định nghĩa lại theo thời gian chuyển đổi electron nguyên tử. Một ngày thông thương bằng 86 400 giây, thêm hoặc giảm 1 giây nhuận trong giờ Phối hợp Quốc tế, và đôi khi cộng hoặc trừ một giờ ở những vị trí có thay đổi so với quy ước giờ mùa hè.

Staffordshire

Staffordshire (phát âm tiếng Anh: /ˈstæfərdʃɪər/ hay /ˈstæfərdʃər/; rút gọn là Staffs) là một hạt không giáp biển ở vùng West Midlands của Anh. Nó giáp với Cheshire về phía tây bắc, Derbyshire và Leicestershire về phía đông, Warwickshire về phía đông nam, West Midlands và Worcestershire về phía nam, và Shropshire về phía tây.

Thành phố lớn nhất của Staffordshire là Stoke-on-Trent, mà cũng là một vùng chính quyền đơn nhất mà được quản lý riêng rẽ. Lichfield cũng có địa vị địa vị thành phố, dù nó là một thành phố nhà thờ tương đối nhỏ. Các thị trấn lớn là Stafford (county town), Burton upon Trent, Cannock, Newcastle-under-Lyme, Leek, và Tamworth. Những điểm dân cư nổi bật khác là các thị trấn nhỏ Stone, Uttoxeter, Rugeley, Eccleshall, Penkridge và các làng Wombourne, Kinver, Tutbury và Stretton.

Suffolk

Suffolk ( /ˈsʌfək/) là một hạt East Anglia lịch sử của Anh. Nó giáp với Norfolk về phía bắc, Cambridgeshire và phía tây, Essex về phía nam và biển Bắc về phía đông. County town là Ipswich; những thị trấn quan trọng khác là Lowestoft, Bury St Edmunds, Newmarket và Felixstowe (một trong những cảng container lớn nhất châu Âu.Hạt này có địa hình thấp trũng với ít đồi, đa phần diện tích là đất trồng, với những vạt đất ngập nước (the Broads) ở mạn bắc.

Trưa

Buổi trưa là thời gian chính xác nửa ngày, được viết 12,00 hoặc 12:00 trên đồng hồ 24 giờ và 0:00 pm trên đồng hồ 12 giờ. Buổi trưa cũng có thể hiểu theo nghĩa là một khoảng thời gian xung quanh 12 giờ trưa chia thành ba giai đoàn là chớm trưa,giữa trưa và xế trưa.

Năng lượng mặt trời chiếu giữa trưa mạnh nhất khi mặt trời xuất hiện cao nhất trên bầu trời so với vị trí của nó trong phần còn lại của ngày, gọi là đứng bóng. Nó xảy ra khi mặt trời là chính xác nằm giữa vị trí mặt trời mọc (bình minh) và hoàng hôn. Đây cũng là nguồn gốc của các cách nói am và pm, (ante meridiem và post ​​meridiem).Người Hồi giáo coi thời điểm này như Zawwal (زوال) và là thời gian mà họ có thể bắt đầu cung cấp những lời cầu nguyện Dhuhr của họ.

Lúc trưa,đứng phía nam nhìn thấy mặt trời từ Bắc bán cầu, và ngược lại đứng phía Bắc nhìn thấy mặt trời từ Nam bán cầu.

Bởi vì việc sử dụng các múi giờ và quy ước giờ mùa hè,thời điểm cao nhất của mặt trời và thời gian đồng hồ chỉ buổi trưa thường khác nhau.

Trái với trưa là nửa đêm.

Warwickshire

Warwickshire là một hạt của Anh. Hạt có diện tích 1975 km², dân số 536.100 người.

Warwickshire là hạt không giáp biển ở West Midlands của Anh. Thị trấn thủ phủ là Warwick, mặc dù thị trấn lớn nhất là Nuneaton. Hạt này nổi tiếng là nơi sinh của William Shakespeare. Các chữ viết tắt thường dùng cho hạt là Warks hoặc Warwicks.

Hạt được chia thành 5 quận của Bắc Warwickshire, Nuneaton và Bedworth, Rugby, Warwick và Stratford-on-Avon. Các ranh giới của quận hạt hiện nay được đặt ra năm 1974 theo Đạo luật Chính quyền Địa phương năm 1972. Các ranh giới của quận hạt lịch sử cũng bao gồm Coventry và Solihull cũng như nhiều thành phố Birmingham.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.