Quần đảo Anh

Quần đảo Anh là một nhóm các đảo ngoài khơi bờ biển tây bắc châu Âu lục địa gồm có đảo Anhđảo Ireland cùng trên sáu nghìn đảo nhỏ khác.[1] Có hai quốc gia có chủ quyền trên quần đảo: Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland (thường gọi là nước Anh) và Ireland (cũng được gọi là Cộng hòa Ireland).[2] Quần đảo Anh cũng gồm có ba Lãnh thổ phụ thuộc hoàng gia Anh: Đảo Man cùng JerseyGuernsey thuộc Quần đảo Eo Biển, tuy vậy hai vùng về sau không thuộc quần đảo về mặt tự nhiên.[3][4]

Khối đá cổ nhất trong quần đảo nằm ở phía tây bắc của Scotland và Ireland và có niên đại 2.700 triệu năm. Vào Kỷ Silur, vùng tây-bắc va chạm với vùng đông-nam, đã tạo ra một vùng đất lục địa rộng riêng biệt. Địa hình của quần đảo khá khiêm tốn so với tiêu chuẩn toàn cầu. Ben Nevis chỉ cao 1.344 mét (4.409 ft), Lough Neagh, là hồ lớn nhất trên toàn quần đảo cũng chỉ rộng 381 kilômét vuông (147 sq mi). Quần đảo có khí hậu đại dương ôn hòa, với một mùa đông không gắt và một mùa hè ấm áp. Gió Bắc Đại Tây Dương mang lại một độ ẩm đáng kể và làm tăng nhiệt độ lên 11 °C (20 °F), trên mức trung bình toàn cầu ở những nơi cùng vĩ độ. Điều này khiến cho phong cảnh quần đảo từ lâu được chi phối bởi rừng mưa ôn đới, mặc dù các hoạt động của con người đã xóa sổ phần lớn diện tích rừng này. Khu vực quần đảo lại một lần nữa có người cư trú vào thời kỳ băng hà cuối cùng của Kỷ Băng hà thứ 4, khoảng năm 12.000 TCN tại đảo Anh và 8000 TCN tại Ireland. Vào thời điểm đó, Đảo Anh còn là một bán đảo của châu Âu lục địa còn Ireland đã trở thành một hòn đảo riêng biệt.

Các bộ lạc Scoti (Ireland), Pictish (miền bắc đảo Anh) và Brython (miền nam đảo Anh) đã định cư trên quần đảo vào thời điểm bắt đầu thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên. Phần lớn đảo Anh do người Briton kiểm soát đã bị quân La Mã chinh phục năm 43 SCN. Những người Anglo-Saxon đầu tiên đã đến khi thế lực La Mã suy yếu vào thế kỷ 5 và cuối cùng thống trị nơi mà nay là xứ Anh.[5] Người Viking xâm lược quần đảo bắt đầu từ thế kỷ thứ 9, theo sau là các khu định cư thường xuyên và thay đổi chính trị đặc biệt tại Anh. Người Norman chinh phục Anh vào năm 1066 và sau đó Angevin đã chinh phục một phần Ireland từ 1169 dẫn đến việc áp đặt một hệ thống thống trị Norman mới gần như khắp Đảo Anh và nhiều phần tại Ireland. Đến Hậu kỳ Trung cổ, đảo Anh bị phân tách thành các vương quốc AnhScotland, trong khi Ireland là sự thay đổi liên tục giữa các vương quốc Gael, các chúa Hiberno-Norman và các lãnh địa Ireland do người Anh thống trị, và không lâu sau đó nằm dưới quyền kiểm soát của vua Anh. Việc lập Liên minh vương quyền năm 1603, Đạo luật Liên hiệp 1707 và Đạo luật Liên hiệp 1800 đã cố gắng củng cố việc Đảo Anh và Ireland thành một thực thể chính trị đơn nhất, Vương quốc Liên hiệp, còn Đảo Man và quần đảo Eo Biển vẫn là lãnh thổ phụ thuộc hoàng gia. Sự mở rộng của đế quốc Anh và việc di cư do Nạn đói Lớn và Dọn quang Cao nguyên đã dẫn đến việc cư dân cũng như văn góa của quần đảo phân bổ khắp thế giới và việc suy giảm dân số nhanh chóng tại Ireland vào nửa cuối của thế kỷ 19. Hầu hết lãnh thổ Ireland rút ra khỏi Vương quốc Liên hiệp sau chiến tranh giành độc lập và hiệp ước Anh-Ireland (1919–1922) sau đó, chỉ còn sáu quận vẫn còn nằm trong nước Anh với tên gọi Bắc Ireland.

Thuật ngữ British Isles (quần đảo Anh) gây tranh cãi tại Ireland,[1][6] tại đây có sự chống đối việc sử dụng những thuật ngữ có từ British với những gì liên quan đến Ireland.[7] Chính phủ Ireland không sử dụng thuật ngữ này và đại sứ quán nước này tại Luân Đôn không khuyến khích sử dụng nó.[8] "Anh và Ireland" hay "quần đảo Đại Tây Dương" trở thành các thuật ngữ có thể dùng thay thế song "quần đảo Anh" vẫn là một tên thông dụng.

Quần đảo Anh

Britain and Ireland satellite image bright
Ảnh vệ tinh Quần đảo Anh, không bao gồm các đảo OrkneyShetland.
British Isles (orthographic projection)
Địa lý
Vị tríTây Âu
Tọa độ54°B 4°T / 54°B 4°T
Tổng số đảo6.000+
Đảo chínhĐảo AnhIreland
Diện tích315.134 km2 (121.673,9 mi2)
Độ cao tương đối lớn nhất1.344 m (4.409 ft)
Đỉnh cao nhấtBen Nevis
Hành chính
Nhân khẩu học
Dân số~67 triệu
Dân tộcAnh, Quần đảo Eo Biển, Ireland, Manx, Scotland, Ulster-Scots, Wales

Tham khảo

  1. ^ a ă "British Isles," Encyclopædia Britannica
  2. ^ Tên trong ngoại giao và hiến pháp của nhà nước Ireland chỉ là Ireland. Để rõ nghĩa, Cộng hòa Ireland thường được sử dụng mặc dù về mặt lý thuyết đây không phải là tên quốc gia, song theo Đạo luật Cộng Hòa Ireland 1948, quốc gia "có thể mô tả" như vậy.
  3. ^ Oxford English Dictionary: "British Isles: một thuật ngữ địa lý để chỉ quần đảo bao gồm Đảo Anh và Ireland cùng các đảo ngoài khơi bao gồm Đảo Man và Quần đảo Eo Biển."
  4. ^ Alan, Lew; Colin, Hall; Dallen, Timothy (2008). World Geography of Travel and Tourism: A Regional Approach. Oxford: Elsevier. ISBN 9780750679787. Quần đảo Anh gồm có trên 6.000 hòn đảo ngoài khơi lục địa châu Âu, bao gồm Liên hiệp Vương quốc Anh (xứ Anh, Scotland và Wales) và Bắc Ireland, và Cộng hòa Ireland. Nhóm đảo cũng bao gồm các lãnh thổ phụ thuộc hoàng gia Anh là Đảo Man, và theo truyền thống là Quần đảo Eo Biển (Guernsey và Jersey), mặc dù các đảo này hoàn toàn nằm ngay ngoài bờ biển Normandy (Pháp) hơn là một phần của Đảo Anh.
  5. ^ British Have Changed Little Since Ice Age, Gene Study SaysJames Owen for National Geographic News, 19 tháng 7 năm 2005 [1]
  6. ^ Social work in the British Isles by Malcolm Payne, Steven Shardlow When we think about social work in the British Isles, a contentious term if ever there was one, what do we expect to see?
  7. ^ Davies, Alistair; Sinfield, Alan (2000), British Culture of the Postwar: An Introduction to Literature and Society, 1945–1999, Routledge, tr. 9, ISBN 0415128110, Some of the Irish dislike the 'British' in 'British Isles', while a minority of the Welsh and Scottish are not keen on 'Great Britain'. … In response to these difficulties, 'Britain and Ireland' is becoming preferred official usage if not in the vernacular, although there is a growing trend amongst some critics to refer to Britain and Ireland as 'the archipelago'.
  8. ^ Sharrock, David (ngày 3 tháng 10 năm 2006), “New atlas lets Ireland slip shackles of Britain”, The Times (UK), truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2010, A spokesman for the Irish Embassy in London said: "The British Isles has a dated ring to it, as if we are still part of the Empire. We are independent, we are not part of Britain, not even in geographical terms. We would discourage its useage [sic]."

Đọc thêm

Liên kết ngoài

Anthus pratensis

Anthus pratensis là một loài chim trong họ Motacillidae.

Carduelis flavirostris

Carduelis flavirostris là một loài chim trong họ Fringillidae.

Charadrius hiaticula

Charadrius hiaticula là một loài chim trong họ Charadriidae.

Machair

Machair (có khi viết là machar) là một danh từ trong tiếng Gael, dùng để chỉ một đồng bằng thấp, màu mỡ và có nhiều cỏ mọc ở bờ biển đảo Ireland và tây bắc Liên hiệp Anh, trong đó gần một nửa số machair của Scotland tập trung tại vùng Ngoại Hebrides. Có hai loại machair:

Loại thứ nhất là một đồng cỏ có đụn cát, gắn với hoạt động canh tác nông nghiệp. Thường gặp loại này ở những vùng ẩm ướt và nhiều gió.

Loại thứ hai là một vùng đất nằm giữa bãi biển và một khu vực mà tại đó cát lấn lên đầm lầy than bùn sâu trong đất liền.

Mercia

Mercia (, ) là một trong các vương quốc của thất quốc Anglo-Saxon. Vương quốc này tập trung vào các thung lũng của sông Trent và các nhánh của nó trong khu vực hiện nay được gọi là Trung du Anh. Tên được Latin hóa tiếng Anh cổ là Mierce hoặc Myrce, có nghĩa là "dân biên giới". Các nước láng giền của Mercia gồm có Northumbria, Powys và các vương quốc ở miền nam xứ Wales, Wessex, Sussex, Essex và East Anglia.

Tên gọi Mercia vẫn còn trong sử dụng ngày nay bởi một loạt các tổ chức, bao gồm cả các đơn vị quân đội, các cơ quan công cộng, thương mại và tự nguyện, và là một tên cho nữ.

Napoléon Bonaparte

Napoléon Bonaparte (phiên âm: Na-pô-lê-ông Bôn-na-pác; tiếng Pháp: Napoléon Bonaparte [napoleɔ̃ bɔnɑpaʁt], tiếng Ý: Napoleone Buonaparte; một số sách Việt còn ghi tên ông là Nã Phá Luân (拿破侖); 15 tháng 8 năm 1769 – 5 tháng 5 năm 1821) là một nhà quân sự và nhà chính trị tiêu biểu của Pháp trong và sau cuộc cách mạng Pháp cũng như các cuộc chiến tranh liên quan ở châu Âu.

Với đế hiệu Napoléon I, ông là Hoàng đế của người Pháp từ năm 1804 đến năm 1815. Cuộc cải cách pháp luật của ông, Bộ luật Napoléon, đã có những ảnh hưởng lớn lên nhiều bộ luật dân sự trên toàn thế giới, nhưng ông được nhớ đến nhất bởi vai trò của mình trong các cuộc chiến tranh mà Pháp phải đương đầu với hàng loạt liên minh, được gọi là các cuộc chiến tranh Napoléon. Ông đã thiết lập quyền bá chủ trên phần lớn lục địa châu Âu và tìm cách truyền bá những lý tưởng của cách mạng Pháp, đồng thời củng cố nền đế chế làm phục hồi những nét của chế độ cũ Pháp (Ancien Régime). Nhờ thắng lợi trong những cuộc chiến này, thường là chống lại đối phương có ưu thế về quân số, ông được coi là một trong những nhà chỉ huy quân sự tài ba nhất mọi thời đại, và các chiến dịch của Napoléon

được nghiên cứu tại các học viện quân sự trên khắp thế giới.

Napoléon được sinh ra ở Ajaccio thuộc Corse, trong một gia đình thuộc dòng dõi quý tộc Genova (Ý). Ông được đào tạo thành một sĩ quan pháo binh ở Pháp. Bonaparte trở nên nổi tiếng dưới thời Đệ Nhất Cộng hòa Pháp khi chỉ huy thành công nhiều chiến dịch chống lại Liên minh thứ nhất và thứ hai chống Pháp. Ông cũng tiến hành cuộc chinh phạt bán đảo Ý.

Năm 1799, ông đã tổ chức một cuộc đảo chính và tự đưa mình trở thành vị Tổng tài thứ nhất; năm năm sau đó Thượng viện Pháp tuyên xưng ông là Hoàng đế Pháp. Trong thập niên đầu tiên của thế kỷ XIX, Đệ Nhất Đế chế Pháp dưới quyền Napoléon đã tham gia vào một loạt xung đột — những cuộc chiến tranh Napoléon — lôi kéo mọi cường quốc chính ở châu Âu tham gia. Sau một loạt thắng lợi, Pháp đạt được vị trí thống trị ở lục địa châu Âu, và Napoléon duy trì phạm vi ảnh hưởng của Pháp thông qua việc thành lập của những mối đồng minh rộng lớn và bổ nhiệm bạn bè và người thân cai trị các quốc gia châu Âu khác như những chư hầu của Pháp.

Cuộc chiến kéo dài ở bán đảo Iberia và cuộc xâm lược nước Nga năm 1812 đánh dấu bước ngoặt trong cơ đồ của Napoléon. Quân đội chủ lực của Pháp, Grande Armée, bị tổn thất nặng nề trong chiến dịch và không bao giờ có thể khôi phục lại hoàn toàn. Năm 1813, Liên minh thứ sáu đã đánh bại quân đội của ông tại Leipzig, năm sau đó Liên minh xâm lược Pháp, buộc Napoléon phải thoái vị và đày ông đến đảo Elba. Chưa đầy một năm sau, ông thoát khỏi Elba và trở lại nắm quyền, nhưng đã bị đánh bại trong trận Waterloo vào tháng 6 năm 1815. Napoléon trải qua sáu năm cuối cùng của cuộc đời trong sự giam cầm của người Anh trên đảo Saint Helena. Cái chết của ông gây ra nhiều tranh cãi về sau, chẳng hạn một số học giả cho rằng ông là nạn nhân của một vụ đầu độc bằng arsen.

Ảnh hưởng của Napoléon đối với thế giới hiện đại là đã mang lại những cải cách tự do cho nhiều vùng lãnh thổ mà ông đã chinh phục và kiểm soát, chẳng hạn như Hà Lan, Thụy Sĩ và một phần lớn của nước Ý và Đức hiện đại. Ông đã thực hiện các chính sách tự do cơ bản ở Pháp và khắp Tây Âu. Bộ luật Napoleon của ông đã ảnh hưởng đến hệ thống pháp luật của hơn 70 quốc gia trên thế giới. Nhà sử học Anh, Andrew Roberts bình luận: "Những ý tưởng củng cố thế giới hiện đại của chúng ta — công lý, chế độ nhân tài (chính quyền do những người thực sự có tài năng nắm giữ), bình đẳng trước pháp luật, quyền sở hữu, sự khoan dung tôn giáo, giáo dục thế tục hiện đại, tài chính ổn định, và nhiều thứ khác... — đã được bảo vệ, củng cố, chỉnh lý và mở rộng về mặt địa lý bởi Napoleon. Ông còn bổ sung theo đó là một chính quyền địa phương hợp lý và có năng lực, chấm dứt nạn cướp bóc ở nông thôn, khuyến khích khoa học và nghệ thuật, việc bãi bỏ chế độ phong kiến và sự lập pháp lớn nhất kể từ khi Đế quốc La Mã sụp đổ".

Nhà Stuart

Nhà Stuart, còn được gọi là Nhà Stewart, là một hoàng tộc châu Âu. Được thành lập bởi Robert II của Scotland, những người mang họ Stewart đầu tiên trở thành quốc vương của Vương quốc Scotland trong cuối thế kỷ 14. Tổ tiên trực tiếp của họ (từ Bretagne, Pháp) đã giữ tước vị Hight Steward of Scotland (Đại Quản quan của Scotland) từ thế kỷ thứ 12, sau khi đến băng qua lãnh thổ của Nước Anh thuộc Norman. Tới thế kỷ 17, hoàng tộc này kế thừa lãnh thổ rộng lớn của trong đó bao gồm toàn bộ quần đảo Anh, bao gồm các Vương quốc Anh và Vương quốc Ireland, và vẫn tiếp tục đòi hỏi ngai vàng Vương quốc Pháp. Hoàng tộc này hiện vẫn còn tồn tại như là một gia đình quý tộc của Đảo Anh với trưởng tộc hiện thời là Randolph Stewart, Bá tước thứ 13 xứ Galloway.

Quần đảo Eo Biển

Quần đảo Eo Biển (tiếng Anh: Channel Islands, tiếng Norman: Îles d'la Manche, tiếng Pháp: Îles Anglo-Normandes hay Îles de la Manche) là một thuộc địa Hoàng gia Anh Quốc tại eo biển Manche, ngoài khơi bờ biển Normandy của Pháp. Lãnh thổ này bao gồm hai địa hạt riêng biệt: Guernsey và Jersey. Chúng được coi là tàn dư của Công quốc Normandie, và không phải là một phần của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Hai địa hạt có tổng số cư dân vào khoảng 158.000 người và thủ phủ tương ứng của chúng là St. Peter Port và St. Helier, có dân số là 16.488 và 28.310 người. Tổng diện tích quần đảo là 194 km².

Quần đảo Falkland

Quần đảo Falkland (tiếng Anh: Falkland Islands ) hay Quần đảo Malvinas (tiếng Tây Ban Nha: Islas Malvinas [malˈβinas]) nằm tại Nam Đại Tây Dương. Các đảo chính của quần đảo này nằm cách 500 km về phía đông của bờ biển nam bộ Patagonia trên lục địa Nam Mỹ. Quần đảo có diện tích 12.200 km², gồm có đảo Đông Falkland, Tây Falkland và 776 đảo nhỏ hơn. Quần đảo là một lãnh thổ hải ngoại của Anh Quốc, chịu trách nhiệm tự quản nội bộ, còn Anh Quốc chịu trách nhiệm về các sự vụ quốc phòng và đối ngoại. Thủ phủ của quần đảo là Stanley trên đảo Đông Falkland.

Có tranh luận về vấn đề người châu Âu phát hiện và tiếp đến là thuộc địa hóa Quần đảo Falkland. Trong những thời điểm khác nhau, quần đảo có các khu định cư của Pháp, Anh Quốc, Tây Ban Nha, và Argentina. Anh Quốc tái xác nhận quyền thống trị của họ vào năm 1833, song Argentina duy trì tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo. Năm 1982, sau khi Argentina xâm chiếm quần đảo, Chiến tranh Falkland bùng phát với kết quả là lực lượng Argentina đầu hàng, quần đảo lại nằm dưới sự cai trị của Anh Quốc.

Dân số (2.932 cư dân năm 2012) chủ yếu gồm có người Quần đảo Falkland bản địa, phần lớn họ có huyết thống Anh Quốc. Các dân tộc khác gồm có người Pháp, người Gibraltar và người Scandinavia. Nhập cư từ Anh Quốc, đảo Saint Helena, và Chile giúp đảo ngược hiện tượng suy giảm dân số. Ngôn ngữ chiếm ưu thế (và chính thức) là tiếng Anh. Theo một đạo luật được Quốc hội Anh thông qua vào năm 1983, người Quần đảo Falkland là công dân Anh Quốc trên phương diện pháp luật.

Cả hai đảo lớn của quần đảo đều có các dãy núi đạt độ cao 2.300 foot (700 m). Quần đảo là nơi sinh sống của các quần thể chim lớn, song nhiều quần thể không còn sinh sản trên các đảo chính do sự cạnh tranh của những loài du nhập. Các hoạt động kinh tế chính tại quần đảo gồm có ngư nghiệp, du lịch, và chăn nuôi cừu, với trọng điểm là xuất khẩu len chất lượng cao. Hoạt động thăm dò dầu mỏ được Chính phủ Quần đảo Falkland cấp phép, song vẫn là vấn đề gây tranh luận do tranh chấp hàng hải với Argentina.

Quốc gia cấu thành Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland

Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland (United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland) được cấu thành từ 4 nước (country): Anh (England), Bắc Ireland, Scotland và Wales. Trước năm 1922, cả hòn đảo Ireland, tức bao gồm lãnh thổ của Cộng hòa Ireland, là một trong những nước thuộc vương quốc này.

England, Bắc Ireland, Scotland và Wales không được liệt vào danh sách các quốc gia của Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO). Tuy nhiên danh sách ISO về các vùng ở vương quốc Anh được cung cấp bởi tiêu chuẩn Anh đã dùng chữ "country" để mô tả England, Scotland và Wales. Bắc Ireland, ngược lại, được mô tả là một tỉnh (province). Quốc hội của Vương quốc Anh và chính phủ của nước này chịu trách nhiệm về mọi vấn đề về lập pháp và hành pháp, ngoại trừ những lãnh vực mà đã giao cho các quốc hội địa phương (Bắc Ireland, Scotland và Wales). England chịu trách nhiệm hoàn toàn cho quốc hội vương quốc Anh mà tập trung ở London.

Trung Cổ

Thời kỳ Trung Cổ (hay Trung Đại) là giai đoạn trong lịch sử châu Âu bắt đầu từ sự sụp đổ của Đế quốc Tây Rôma vào thế kỷ 5, kéo dài tới thế kỉ 15, hòa vào thời Phục hưng và Thời đại khám phá. Thời Trung Cổ (Trung đại) là thời đại thứ hai trong ba thời đại lịch sử theo cách phân kỳ truyền thống của lịch sử phương Tây, cùng với Cổ đại và Hiện đại. Thời kỳ Trung Cổ tự nó chia làm ba giai đoạn, Sơ kỳ Trung Cổ, Trung kỳ Trung Cổ và Hậu kỳ Trung Cổ.

Suy giảm dân số, sự đảo ngược đô thị hóa, xâm lược, và di dân, bắt đầu từ Hậu kỳ Cổ đại, tiếp diễn trong thời Sơ kỳ Trung Cổ. Những man tộc xâm lược, bao gồm các dân tộc German, lập nên những vương quốc mới trên tàn tích của Đế quốc Tây Rôma. Bắc Phi, Trung Đông và bán đảo Iberia rơi vào tay người Hồi giáo, tuy Đế quốc Đông Rôma (tức Byzantine) vẫn duy trì vai trò một cường quốc quan trọng ở phương Đông. Quá trình Kitô hóa vẫn tiếp tục, chế độ tu viện được thành lập. Người Frank, dưới triều đại Nhà Carolingien, đã thiết lập nên một đế chế ngắn ngủi bao phủ phần lớn Tây Âu, trước khi tàn lụi dưới áp lực của nội chiến cộng với ngoại xâm.

Trong thời Trung kỳ Trung Cổ, bắt đầu từ thế kỉ 11, dân số châu Âu tăng nhanh khi các tiến bộ kĩ thuật và thời tiết thuận lợi giúp sản xuất phát triển và theo đó là thương mại phát đạt. Chế độ trang viên và chế độ phong kiến xác lập nên cấu trúc kinh tế-chính trị của xã hội thời Trung kỳ Trung Cổ. Giáo hội Công giáo củng cố sức ảnh hưởng trong khi những cuộc thập tự chinh được kêu gọi để tái chiếm Đất Thánh từ tay người Hồi giáo. Các nhà quân chủ ở nhiều quốc gia củng cố nhà nước trung ương tập quyền, giảm bớt tình trạng cát cứ. Đời sống trí thức ghi nhận sự thống trị của chủ nghĩa kinh viện và sự thành lập những trường đại học, trong khi nghệ thuật chứng kiến phong cách Gothic lên đến đỉnh cao.

Thời Hậu kỳ Trung Cổ đánh dấu một loạt những khó khăn và tai họa bao gồm nạn đói, dịch hạch, và chiến tranh, gây suy giảm nghiêm trọng dân số Tây Âu; chỉ riêng Cái chết Đen đã hủy diệt một phần ba dân số châu Âu. Tranh cãi giáo lý, dị giáo và ly giáo bên trong Giáo hội song hành với chiến tranh quy mô giữa các cường quốc, nội chiến, khởi nghĩa nông dân nổ ra trong khắp châu lục. Trong khi đó, những phát triển và văn hóa biến đổi xã hội châu Âu, khép lại thời Trung Cổ và bắt đầu thời kỳ Cận đại.

Tắc kè lùn quần đảo Virgin

Tắc kè lùn quần đảo Virgin (Sphaerodactylus parthenopion) là một trong hai loài tắc kè mang danh hiệu "loài bò sát nhỏ nhất trên thế giới" (loài kia là tắc kè lùn Jaragua S. ariase). Nó được tìm thấy trên ba hòn đảo trong quần đảo Virgin thuộc Anh: Virgin Gorda, Tortola, và đảo Moskito. S. parthenopion được phát hiện vào năm 1964 và được cho rằng là họ hàng gần của loài tắc kè lùn Sphaerodactylus nicholsi sống ở Puerto Rico gần đó. Nó chia sẻ chung vùng phân bố với tắc kè nhỏ vảy lớn (S. macrolepis) vốn sinh sống trên các lá cây mục. Trái với S. macrolepis, S. parthenopion sinh sống trên các sườn đồi khô hơn mặc dù chúng cũng ưa thích các khu vực ẩm ướt nằm dưới các tảng đá vì chúng thiếu các cơ chế ngăn chặn việc mất nước - một vấn đề hóc búa do kích thước quá nhỏ của con vật.

Tắc kè lùn quần đảo Virgin có màu nâu sậm ở mặt lưng - thường đi kèm với những vết lốm đốm sẫm màu. Trung bình, chiều dài của chúng là khoảng 18 mm (0,71 in) tính từ mõm tới lỗ huyệt và kích thước gần như nhỏ bằng đồng 10 xu Hoa Kỳ. Con vật có cân nặng tối đa chỉ chừng 0,15 g (0,0053 oz). Tại vùng sau mắt và trên đỉnh cổ có những vằn màu nhạt, đây là một đặc điểm nhận dạng loài tắc kè này. Màu sắc của con đực và con cái không có gì khác biệt nhau, trong khi con cái thì to hơn con đực một chút. Khi rụng hay đứt đuôi thì đuôi của con vật có thể tự mọc lại được. Không có nhiều thông tin về đặc điểm sinh học cũng như quần thể của loài vật này được biết đến.

U-boat

'U-boat là tên được phiên âm tiếng Anh của tên tiếng Đức U-Boot, viết tắt của từ Unterseeboot (cũng là underseeboat trong tiếng Anh). Tuy nhiên, U-Boot liên hệ đến mọi loại tàu ngầm còn U-boat dùng để chỉ riêng các tàu ngầm quân sự của Đức trong Đệ nhất và Chiến tranh thế giới thứ hai. Mặc dù trên lý thuyết, các tàu U-boat có thể được sử dụng hiệu quả chống lại tàu chiến đối phương, nhưng trên thực tế, chúng được sử dụng hữu hiệu nhất trong chiến tranh kinh tế (săn bắt tàu hàng), phong tỏa bờ biển chống chuyên chở đường thủy. Mục tiêu chính của các chiến dịch sử dụng U-boat trong cả hai cuộc đại chiến là các chuyến tàu vận tải tiếp vận từ Anh Quốc và Hoa Kỳ tới các đảo thuộc quần đảo Anh. Các tàu ngầm của Đế quốc Áo Hung trong Chiến tranh thế giới thứ nhất cũng được gọi là U-boat.

Vương quốc Anh

Vương quốc Anh (tiếng Anh: Kingdom of England) là quốc gia có chủ quyền đã từng tồn tại từ năm 927 đến năm 1707 ở phía tây bắc lục địa châu Âu. Ở thời đỉnh cao, Vương quốc Anh đã từng kéo dài tới hai phần ba phía nam Đảo Anh (bao gồm cả Anh và xứ Wales ngày nay) và một vài hòn đảo nhỏ xa trung tâm; hiện nay thuộc thẩm quyền pháp lý của Anh và xứ Wales. Vương quốc này có biên giới đất liền với Vương quốc Scotland ở phía bắc.

Hoàng cung lúc đầu đặt ở Winchester, Hampshire, nhưng từ thế kỉ 12 trở đi, Luân Đôn thực tế đã trở thành thủ đô của quốc gia này.

Vương quốc Anh (1707–1800)

Vương quốc Anh (tiếng Anh: Kingdom of Great Britain) là phần của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland nằm hoàn toàn trên đảo Anh (Great Britain). Vương quốc Anh, do đó, bao gồm ba xứ Anh (England), Scotland, Wales, với lại những quần đảo Scilly, Hebride, Orkney và Shetland, nhưng không bao gồm Đảo Man hoặc Quần đảo Eo biển (Channel Islands).

Giữa những năm 1707 – 1800 nó là vương quốc ở Tây Âu đóng đô ở Luân Đôn. Nó được thành lập do Đạo luật Liên hiệp năm 1707 và được thay bởi Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland năm 1801 khi Vương quốc Ireland bị sáp nhập vào do Đạo luật Liên hiệp năm 1800, sau cuộc nổi loạn Ireland năm 1798 bị đàn áp.

Wessex

Vương quốc Tây Saxons thường được gọi là Vương quốc Wessex, là vương quốc của người Anglo-Saxon nằm ở phía Nam của Đảo quốc Anh. Thành lập từ năm 519 đến khi thành lập Vương quốc Anh vào đầu thế kỷ thứ X.

Đảo Anh

Đảo Anh hay là Đại Anh (tiếng Anh: Great Britain) nằm ở phía tây bắc của châu Âu đại lục. Đây là hòn đảo lớn thứ tám thế giới, và là đảo lớn nhất quần đảo Anh cũng như châu Âu. Với dân số khoảng 60,0 triệu người vào giữa năm 2009, đây là đảo đông dân thứ ba trên thế giới, chỉ sau Java và Honshu. Đảo Anh có trên 1.000 đảo nhỏ hơn bao quanh. Đảo Ireland nằm ở phía tây của đảo Anh. Về mặt chính trị, "Great Britain" trong tiếng Anh cũng có thể đề cập tới đảo Anh cùng các đảo lân cận hợp thành các xứ Anh, Scotland và Wales.Toàn bộ đảo Anh là lãnh thổ của quốc gia có chủ quyền Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland (nước Anh), và hầu hết lãnh thổ của nước Anh là đảo Anh. Hầu hết lãnh thổ của các xứ Anh, Scotland, và Wales nằm trên đảo Anh, và thủ phủ của các xứ cũng nằm trên đảo: tương ứng là Luân Đôn, Edinburgh, và Cardiff.

Vương quốc Anh (Kingdom of Great Britain) là kết quả của sự liên hiệp chính trị giữa Vương quốc Anh (Kingdom of England) và Vương quốc Scotland theo Đạo luật Liên hiệp 1707 vào ngày 1 tháng 5 năm 1707 dưới sự trị vì của Nữ hoàng Anne. Năm 1801, theo Đạo luật Liên hiệp 1800, vương quốc này sáp nhập với Vương quốc Ireland để tại thành Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland. Sau Chiến tranh Độc lập Ireland, hầu hết đảo Ireland ly khai khỏi liên hiệp, và vương quốc do đó trở thành Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland.

Sự đa dạng về hệ động thực vật trên đảo Anh tương đối hạn chế do kích thước của đảo và do thực tế rằng động vật hoang dã đã có ít cơ hội để phát triển từ thời kỳ băng hà cuối. Mức độ đô thị hóa cao đã góp phần vào việc đảo Anh có một tỉ lệ tuyệt chủng loài cao hơn 100 lần so với tỷ lệ tuyệt chủng chung của trái đất.

Đảo Man

Đảo Man (tiếng Anh: Isle of Man, ; tiếng Man: Ellan Vannin [ˈɛlʲən ˈvanɪn]), cũng được gọi ngắn là Mann, là một vùng đất tự trị, lãnh thổ phụ thuộc của Hoàng gia Anh, nằm ở biển Ireland giữa đảo Anh và đảo Ireland. Nữ hoàng Elizabeth II là nguyên thủ, đồng thời là người cai quản Mann (tiếng Anh: "Lord of Mann" - chúa tể Mann). Quan hệ quốc tế và bảo vệ đảo Man do Chính phủ Anh lo liệu.

Hòn đảo này đã có người định cư từ trước năm 6500 trước công nguyên. Ảnh hưởng của văn hóa Gael bắt đầu vào thế kỷ thứ 5 và tiếng Man, một ngôn ngữ thuộc nhánh Goidel, xuất hiện. Năm 627, Edwin của Northumbria chinh phục đảo Man cùng với phần lớn Mercia. Thế kỷ thứ 9, người Norse lập ra Vương quốc Tiểu quần đảo. Magnus III, Vua của Na Uy, cũng là Vua Mann và các Tiểu Quần đảo (King of Mann and the Isles) từ năm 1099 tới 1103.Năm 1266, đảo Man trở thành một phần của Scotland nhờ Hiệp ước Perth, trước đó nó là một phần của Na Uy. Sau một thời kỳ được xen kẻ cai trị bởi những vị vua Scotland và Anh, hòn đảo được quản lý bởi Vương vị Anh năm 1399. Quyền quản lý được trao cho Vương vị Đảo Anh năm 1765, nhưng đảo Man chưa bao giờ là một phần Vương quốc Đảo Anh hay Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland, và hiện giữ tình trạng là lãnh thổ tự trị Thuộc địa Vương thất.

Đế quốc Anh

Đế quốc Anh (tiếng Anh: British Empire) bao gồm các quốc gia tự trị, các thuộc địa, các lãnh thổ bảo hộ, các lãnh thổ ủy thác và các lãnh thổ khác do Anh cai trị và quản lý. Đế quốc Anh khởi nguồn với các thuộc địa và trạm mậu dịch hải ngoại do Anh thiết lập từ cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVIII. Vào giai đoạn đỉnh cao của nó, đây là đế quốc hùng mạnh nhất trong lịch sử và là thế lực đứng đầu toàn cầu trong hơn một thế kỷ. Đến năm 1913, Đế quốc Anh cai trị khoảng 412,2 triệu người, chiếm 23% dân số thế giới lúc đó và bao phủ diện tích hơn 35.500.000 km², gần một phần tư tổng diện tích toàn cầu. Do vậy, những di sản về văn hóa, ngôn ngữ, luật pháp của Đế quốc Anh được truyền bá rộng rãi. Vào thời điểm nó đạt tới đỉnh cao của quyền lực, Đế quốc Anh thường được ví với câu nói "đế quốc có mặt trời không bao giờ lặn" bởi vì sự mở rộng cương thổ ra toàn địa cầu đồng nghĩa với việc mặt trời luôn chiếu sáng trên ít nhất một trong những vùng lãnh thổ của nó.

Trong suốt Thời đại Khám phá vào thế kỷ XV và XVI, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là hai quốc gia châu Âu đi tiên phong trong phong trào thám hiểm thế giới và trong quá trình đó họ đã thiết lập các đế quốc hải ngoại lớn. Đố kỵ với sự thịnh vượng vô cùng lớn mà hai đế quốc thực dân này giành được, các nước Anh, Pháp và Hà Lan bắt đầu thiết lập các thuộc địa và các mạng lưới mậu dịch của họ tại châu Mỹ và châu Á. Một loạt cuộc chiến với Pháp và Hà Lan trong thế kỷ XVII và XVIII đã giúp Anh trở thành một cường quốc chi phối thống trị tại Bắc Mỹ và Ấn Độ. Nhưng đồng thời, uy thế của nước Anh (và cả Pháp) bị hạn chế tại châu Âu sau năm 1763, trước sự phát triển lớn mạnh của các cường quốc phía Đông như Phổ, Áo và Nga.Sự kiện Mười ba thuộc địa tại Bắc Mỹ giành được độc lập vào năm 1783 sau cuộc Chiến tranh Cách mạng Mỹ khiến cho nước Anh mất đi một số thuộc địa lâu đời nhất và đông dân nhất của mình. Ngay sau đó nước Anh nhanh chóng chuyển sự quan tâm sang châu Phi, châu Á và Thái Bình Dương. Sau thất bại của nước Pháp trong cuộc chiến tranh Cách mạng Pháp và chiến tranh Napoléon (1792 – 1815), nước Anh tận hưởng một thế kỷ thống trị hầu như không có đối thủ, và mở rộng phạm vi trên khắp toàn cầu. Địa vị thống trị của Anh sau này được ca ngợi như là Pax Britannica (Thái bình Anh Quốc), một giai đoạn mà châu Âu và thế giới tương đối thái bình (1815 – 1914), đây là thời điểm mà nước Anh nắm quyền bá chủ toàn cầu và trở thành người canh giữ cho hoà bình thế giới. Vào đầu thể kỷ 19, cuộc Cách mạng công nghiệp bắt đẩu biến đổi nước Anh; tại thời điểm diễn ra cuộc "Đại Triển Lãm" vào năm 1851, nước Anh được ca ngợi như là "công xưởng của thế giới". Đế quốc Anh còn bành trướng đến Ấn Độ, phần lớn Châu Phi và nhiều khu vực khác trên thế giới. Cùng với sự kiểm soát chính thức của nước Anh đối với các thuộc địa riêng của mình, nó còn thống trị gần như toàn bộ nền thương mại của thế giới đồng nghĩa với việc là nó kiểm soát nền kinh tế của nhiều khu vực khác như châu Á và Mỹ Latinh.Tại nước Anh, những quan điểm chính trị đã thay đổi theo hướng ủng hộ chính sách tự do thương mại cùng chính sách tự do và phổ cập hoá đặc quyền bầu cử. Vào thế kỷ XIX, dân số của nước Anh đã gia tăng một cách mạnh mẽ, cùng với đó quá trình đô thị hoá nhanh chóng mà gây nên những căng thẳng nghiêm trọng về cả kinh tế cũng như xã hội. Để tìm kiếm các thị trường và các nguồn tài nguyên mới, Đảng Bảo thủ dưới thời Benjamin Disraeli đã khởi động một kỷ nguyên mới của chủ nghĩa bành trướng đế quốc tại Ai Cập, Nam Phi và nhiều nơi khác. Nhiều thuộc địa như Canada, Úc và New Zealand được trao quyền tự trị, một vài trong số đó được tái phân loại là quốc gia tự trị.Đến đầu thế kỷ XX, sự phát triển lớn mạnh của Đức và Hoa Kỳ làm xói mòi phần nào vị thế dẫn đầu về kinh tế của nước Anh. Chính sách đối ngoại của Anh quốc tập trung vào mối quan hệ hợp tác chặt chẽ và hữu nghị với Hoa Kỳ, nhưng những căng thẳng về vấn đề ngoại giao và quân sự khiến quan hệ với nước Đức ngày càng trở nên xấu đi và là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Trong thời kỳ diễn ra cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, nước Anh đã phải dựa nhiều vào đế quốc của mình về mặt nhân sự cũng như lương thực. Cuộc chiến này đã tạo ra một gánh nặng to lớn cả về mặt quân sự, tài chính và nguồn nhân lực cho nước Anh. Mặc dù sau cuộc chiến này, cương thổ của Đế quốc Anh đã được mở rộng lên tới cực điểm, bản thân nó đã không còn giữ được vị thế như là một cường quốc vô song về quân sự và công nghiệp được nữa. Trong Chiến tranh thế giới lần hai, các thuộc địa của Anh tại Đông Nam Á đã bị Nhật Bản chiếm đóng, điều này đã làm cho uy tín của đế quốc Anh bị suy giảm nghiêm trọng và đẩy nhanh quá trình sụp đổ của đế quốc này. Sau chiến tranh, Anh phải trao quyền độc lập cho thuộc địa đông dân và giá trị nhất là Ấn Độ. Trong những năm còn lại của thế kỷ XX, phần lớn những thuộc địa của Đế quốc Anh giành được độc lập như một phần của phong trào phi thuộc địa hóa từ các cường quốc châu Âu, kết thúc với việc chuyển giao Hồng Kông cho Trung Quốc vào năm 1997. 14 lãnh thổ ở hải ngoại hiện vẫn thuộc chủ quyền của Anh.

Sau độc lập, nhiều cựu thuộc địa của Anh gia nhập Thịnh vượng chung các Quốc gia, một hiệp hội tự do của các quốc gia độc lập. 16 quốc gia có chung một nguyên thủ, Nữ vương Elizabeth II, đó là Vương quốc Khối thịnh vượng chung.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.