Praha

Praha (tiếng Séc: Praha, tiếng Đức: Prag, tiếng Anh: Prague) là thành phố lớn nhất và là thủ đô của Tiệp Khắc từ năm 1918 và của Cộng hòa Séc từ năm 1993. Praha có dân số 1,2 triệu người, là thành phố lớn thứ 15 trong Liên minh châu Âu. Ngoài ra còn có khoảng 300.000 người vào lao động tại thành phố, tổng cộng vùng đô thị Praha có khoảng gần 2 triệu người. Thành phố nằm bên sông Vltava ở miền trung Bohemia.[3] Praha là một trong 14 khu vực của Cộng hòa Séc và cũng là một trong những khu vực giàu có nhất ở châu Âu.[4]

Praha là thủ đô lịch sử của Bohemia và là nơi trú ngụ quan trọng của hoàng gia và triều đình, đặc biệt là của dòng họ LuxemburgHabsburg. Praha lần đầu tiên được đề cập trong chữ viết vào thế kỷ 10, các khu vực chung quanh thành phố, tuy nhiên, đã có dân cư đông đúc từ thời tiền sử. Người Slav bắt đầu cư trú tại đây vào thế kỷ thứ 6 trong một khu vực mà trước đây người Marcomanni gốc Đức sinh sống trong hơn 500 năm qua, và trước đó nữa là người Celtic Boii. Sau khi nhà Přemyslid thành lập hai lâu đài trong thế kỷ thứ 9 và thứ 10, các thương gia Do Thái và Đức cũng đã vào đây buôn bán. Khoảng năm 1230 khu cư trú này đã được nâng cấp lên thành thị trấn của hoàng gia và trong thế kỷ 14 là thành phố trú ngụ của hoàng đế La Mã Thần thánh, Praha trở thành trung tâm chính trị và văn hóa của Trung Âu. Tại Praha, trường đại học đầu tiên ở phía bắc của dãy núi Alps và phía đông Paris được thành lập năm 1348. Sau đó một trong những trường đại học kỹ thuật lâu đời nhất ở châu Âu cũng được thành lập ở đây, cũng như một trong những nhạc viện lâu đời nhất. Trong nhiều thế kỷ, Praha là một thành phố đa văn hóa, trong đó văn hóa Séc, Đức và Do Thái gặp nhau và gây cảm hứng qua lại.

Trung tâm lịch sử của Praha được UNESCO công nhận là một trong 12 di sản thế giới tại Cộng hòa Séc. "Thành phố vàng" ngày nay cho thấy một cảnh quan đô thị GothicBaroque thống nhất. Các đia điểm tham quan như Lâu đài Praha, Cầu Karl, đồng hồ tòa thị sảnh thời trung cổ, nghĩa trang cổ của người Do Thái và hội đường Do Thái giáo vẫn hoạt động lâu đời nhất trên thế giới làm cho thành phố một địa điểm được khách du lịch ưa chuộng. Với hơn năm triệu du khách nước ngoài mỗi năm, Praha là một trong mười thành phố được thăm viếng nhiều nhất tại châu Âu.[5]

Praha
tiếng Séc: Praha
Chùm ảnh về Praha
Chùm ảnh về Praha
Hiệu kỳ của Praha
Hiệu kỳ
Huy hiệu của Praha
Huy hiệu
Khẩu hiệuPraga Caput Rei publicae
(Praha, Đầu não của đất nước; Latinh)
Vị trí của Praha
Praha trên bản đồ Cộng hòa Séc
Praha
Praha
Tọa độ: 50°05′B 14°25′Đ / 50,083°B 14,417°ĐTọa độ: 50°05′B 14°25′Đ / 50,083°B 14,417°Đ
Quốc giaCộng hòa Séc
Thành lậpkhoảng 885
Chính quyền
 • Thị trưởngBohuslav Svoboda (ODS)
Diện tích[1]
 • Thành phố496 km2 (192 mi2)
Độ cao cực đại399 m (1,309 ft)
Dân số (2018)[2]
 • Thành phố1.308.632
 • Mật độ2,600/km2 (6,800/mi2)
 • Vùng đô thị1.900.000
Múi giờCET (UTC+1)
 • Mùa hè (DST)CEST (UTC+2)
Mã bưu chính1xx xx
ISO 3166-22
Mã ISO 3166CZ-10
Mã NUTSCZ01
GDP đầu người (tính lại theo sức mua tương đương)€ 42,800(PPS) (2007)
Trang webwww.praha.eu
ZPraha-07
Nhà thờ Tyns nhìn từ phía Đông

Địa lý

Vị trí địa lý

Praha nằm ở trung tâm phía Tây Cộng hòa Séc bên sông Vltava, cách khoảng 40 km trước khi nhập vào sông ElbeMělník. Khoảng cách đến các điểm ranh giới ngoài cùng của quốc gia về phía bắc khoảng 110 km, phía tây và phía nam khoảng 170 km, về phía đông khoảng 320 km đường chim bay.

Phần lớn của thành phố nằm trong một thung lũng rộng của sông Vltava, chảy qua khu vực thành phố với chiều dài là 30 km, tạo thành một vòng lớn ở phía bắc. Tại vòng cung phía nam của vòng này là trung tâm lịch sử, bị chi phối bởi hai đồi ở phía Bắc (Hradčany) và Nam (Vyšehrad) . Phần còn lại nằm trong thung lũng được bao quanh bởi những ngọn đồi khác như: Letná, Vitkov, Vetrov, Skalka, Emauzy, Karlov và cao nhất trong số đó, Petřín . Trong thế kỷ thứ 20, các làng chung quanh được nhập vào, lãnh thổ đô thị mở rộng ra sâu vào vùng cao nguyên Praha (Pražská plošina) .

sông Vltava chảy vào thành phố ở phía nam với độ cao khoảng 190 m và rời thành phố ở phía bắc với độ cao khoảng 176 m. Nó có ở đây độ sâu trung bình 2,75 m và độ sâu tối đa là 10,5 m. Sông chảy xung quanh một số đảo, bao gồm ở phía nam của cầu Karl Slovanský ostrov, Dětský ostrovStřelecký và một phần phía tây của cầu Karl Kampa .

Các vùng cao nằm ở phía Tây và phía Nam thành phố. Về phía tây, Bílá hora ( Núi Trắng ) cao tới 381 m, tại ranh giới của thành phố phía tây nam đạt tới 397 m. Ở phía nam đồi Čihadlo cao đến 385 m.[6]

Về chính trị, Prag được hoàn toàn bao quanh bởi miền Trung Bohemia (Středočeský kraj).

Nhìn từ đồi Petřín về hướng Đông
Nhìn từ đồi Petřín về hướng Đông

Khí hậu

Malá Strana sníh 2010 5
Die Straße Nerudova tại Phố Nhỏ (Malá Strana) trong mùa đông (2010)

Khí hậu ôn hòa ở Praha chịu ảnh hưởng của cả Đại Tây Dương lẫn khí hậu lục địa. Tháng lạnh nhất là tháng Giêng có nhiệt độ trung bình hàng ngày là 1 °C, -3 °C vào ban đêm. Tháng nóng nhất là tháng bảy có nhiệt độ trung bình hàng ngày là 24 °C, ban đêm 13 °C. Nhiệt độ trung bình hàng năm là khoảng 8 °C, nhiệt độ lạnh nhất trong mùa đông (2006) lên đến -17 °C, nóng nhất trong mùa hè lên đến 35 °C. Hầu hết lượng mưa rơi trong những tháng mùa hè (Mai: 77 mm), mùa đông tương đối khô (Tháng Mười-Tháng Ba: 23–32 mm). (Tất cả các dữ liệu liên quan lấy từ trạm khí tượng tại Ruzyně Airport)

So với mức trung bình dài hạn của những năm 1961-1990 (giai đoạn tham khảo quốc tế) trong những năm gần đây nhiệt độ gia tăng khoảng 1 độ và lượng mưa giảm khoảng 20 mm.

Lịch sử

Thời tiền sử cho đến thế kỷ 21

Khu vực Praha đã được cư trú từ thời kỳ đồ đá. Lưu vực Praha trong suốt thời Tiền sử là những vùng luôn được cư trú và đông đúc nhất ở Bohemia. Cho đến khoảng 50 trước Công Nguyên người Celt Boii đến định cư ở đây, sau đó hơn 500 năm người Marcomanni Đức. Các nhóm người Slav đầu tiên đến khu vực này từ khoảng nửa cuối thế kỷ thứ 6. Trong thế kỷ thứ 9 lâu đài Praha đã được tạo ra ở khu vực Suburbium bây giờ thuộc Phố Nhỏ và trong thế kỷ 10 là một lâu đài thứ hai trên Vysehrad như là chỗ trú ngự của nhà Přemyslid. Được bảo vệ bởi hai lâu đài các khu định cư ở 2 bên sông Vltava phát triển thành nơi cư trú của các nghệ nhân địa phương và các thương gia Đức và Do Thái. Khoảng năm 1230/1234 Wenceslas I, cho củng cố khu cư trú dọc theo sông Vltava và ban cho nó quyền thị trấn. Praha từ đó đã trở thành nơi cư trú hoàng gia của các nhà cai trị Bohemia. Con trai ông Premysl Otakar II. đuổi các cư dân Séc ở bờ bên kia của Vltava và thành lập trong năm 1257 Phố mới Praha, Phố Nhỏ (Mala Strana). Khu vực thứ ba của Praha đã được các công tước thành lập trước năm 1320 gọi là Hradčany nằm phía tây lâu đài.

Dưới thời Hoàng đế Karl IV và con trai của ông Wenzel IV, Praha là thành phố của hoàng đế La Mã Thần thánh phát triển thịnh vượng ở nửa phần sau của thế kỷ 14 về kinh tế, văn hóa, chính trị và trong nhiều lĩnh vực khác. Ở đây, Đại học Karl được thành lập năm 1348 là trường đại học đầu tiên ở Trung Âu. Với sự xây dựng khu đô thị mới trong cùng năm, thành phố với hơn 40.000 cư dân là thành phố lớn thứ 4 ở phía bắc của dãy núi Alps và lớn thứ 3 tính về diện tích thành phố ở châu Âu. Từ năm 1419 thành phố bị rối loạn trong các cuộc chiến tranh Hussite và bị phá hủy một phần.

Cuối thế kỷ 16, Hoàng đế Rudolf II lại chọn Praha làm kinh đô. Từ thời điểm đó sinh ra những cung điện Baroque và nhà thờ xa hoa. Chiến tranh Ba mươi năm được kích động bởi việc Ném ra ngoài cửa sổ lần thứ hai ở Praha. Chiến tranh Bảy năm đã để lại nhiều vết tích trong thành phố. 1784 bốn thị trấn trước đây độc lập Hradčany, Phố Nhỏ (Mala Strana), Phố cổ (Stare Mesto) và Phố mới (Nové město) nhập lại thành thành phố Praha.

Trong tiến trình thế kỷ 19 Praha lại chứng kiến ​​một sự phát triển mạnh về văn hóa đáng kể. Ngoài những việc khác, Bảo tàng Quốc gia và Nhà hát Quốc gia được thành lập. Khoảng năm 1860 người gốc Đức ở Praha mà chiếm đa số từ thời Trung Cổ lần đầu tiên trở thành thiểu số. Trong cuộc điều tra dân số ở Tiệp Khắc vào năm 1930 42.000 công dân của Praha cho là tiếng Đức là tiếng mẹ đẻ của họ, họ sống chủ yếu ở trung tâm (Phố Cổ và Phố Nhỏ).

Vào khoảng năm 1900, Praha cởi mở là một trung tâm cho các nghệ sĩ và các nhà văn trẻ người Séc và Đức. Riêng về thơ văn, có 3 nhóm nhà thơ ganh đua với nhau: Nhóm Praha thu hẹp gồm có Max Brod, bạn bè của ông Franz Kafka, Felix Weltsch và Oskar Baum. Hội " Wefa " bao gồm nhiều tác giả hầu như không được biết đến ngày hôm nay, như Friedrich Adler. Một hội khác, thuộc nhóm Tân Lãng mạn của các người trẻ ở Praha, bao gồm, ví dụ, Rainer Maria Rilke, Gustav Meyrink, làm việc ở Praha, và Franz Werfel. Trong thời gian này Praha đã biết tới là một thành phố trong Đế quốc Habsburg có sự trao đổi văn hóa tích cực giữa các dân tộc, tuy nhiên, cũng có nhiều mâu thuẫn giữa các dân tộc, thường là bản chất xã hội tự nhiên.

Sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất phong trào quốc gia Séc thuộc nhóm ông Tomáš Garrigue Masaryk đạt được mục tiêu của mình và Tiệp Khắc, quốc gia của người Sécngười Slovak, được thành lập, Praha trở thành thủ đô của nước này. Quốc gia này đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi các cuộc xung đột giữa các nhóm dân tộc, nhưng là một trong số ít các nước ở châu Âu mà vẫn dân chủ đến cuối những năm 1930. Số phận của nó cuối cùng đã được đóng dấu bởi Hiệp định München vào năm 1938 và sự xâm lược của quân đội Đức theo lệnh của Hitler trong năm sau. Praha trở thành thủ đô của một nước bảo hộ mới Bohemia và Moravia. Trong năm đó, khoảng 120.000 người Do Thái sống ở các vùng đất Bohemia, nhiều người trong số đó ở Praha. Đức Quốc xã cho giết chết khoảng 78.000 người. Khi kết thúc Thế chiến thứ hai vào ngày 1 tháng 5 năm 1945, tin tức tự tử của Hitler được biết tại Praha, bố trí từ Berlin treo cờ rủ ba ngày được tiến hành không có sự phản kháng. Chỉ khi quân đội Liên Xô tiếp cận thành phố, trong thành phố mới có các cuộc nổi dậy của dân Praha và chiến đấu giăng chướng ngại vật vào buổi chiều ngày 4 tháng 5. Ngày 9 Tháng 5, quân đội của tướng Vlasov, người thậm chí trước đó đã chiến đấu bên phía quân đội Đức, vào tới thành phố và đã hỗ trợ những người nổi dậy. Hồng quân cuối cùng lấy được Praha sau những chống cự mạnh mẽ. Theo lệnh của nhà độc tài Liên Xô Stalin nhiều thành viên của các đơn vị Praha của quân đội Vlasov cũng như chính Vlasov bị cầm tù.

Ngay sau khi chiến tranh kết thúc vào tháng 5 năm 1945, hầu hết các người Đức ở Praha bị trục xuất. Nhiều người trong số này ban đầu bị giam giữ, khoảng 5.000 người bị giết chết hay chết trong các trại giam. 1945 trong khuôn khổ sắc lệnh Benes cả người Hungary ở Praha cũng bị tịch thu tài sản và cho đến năm 1947 một phần bị trục xuất sang Hungary hoặc buộc tái định cư. Vào tháng 2 năm 1948, Praha rơi vào chế độ cộng sản của Klement Gottwald.

Trong mùa xuân Praha năm 1968 chính quyền cố gắng một cách hòa bình, thay thế chủ nghĩa xã hội độc tài hiện hành (nhiều người Séc cho là " chủ nghĩa phát xít đỏ ") bằng một "chủ nghĩa xã hội với một khuôn mặt con người". Nhưng việc này đã bị quân đội Khối Warsaw dùng bạo lực vũ khí đập tan.

1989 Praha là sân khấu cái gọi là cách mạng Nhung, đánh dấu sự kết thúc của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Tiệp Khắc, mà còn đẩy nhanh sự tan rã của nhà nước chung của người Séc và người Slovak. Hơn nữa, các sự kiện trong đại sứ quán Tây Đức tại Praha, nơi ẩn nấu cho những người tị nạn từ Đông Đức, viết lên lịch sử toàn Đức.

Phát triển dân số

Khoảng 1,2 triệu người sống tại thủ đô Praha, chiếm hơn một phần mười của tổng dân số cả nước. Phần lớn, tuy nhiên, được phân bố trong các quận xa trung tâm khác nhau và các khu dân cư mới ở vùng ngoại ô. Trung tâm thành phố lịch sử chỉ có khoảng 40.000 cư dân.

Tỷ lệ thất nghiệp trong nhiều năm qua vào khoảng 3,43 % dân số của Praha, hoặc khoảng 41.000 người thất nghiệp.

1230 tới 1880
Năm Cư dân
1230 khoảng 3–4.000[E 1]
1370 khoảng 40.000[E 2]
1600 khoảng 60.000[E 2]
1804 76.000
1837 105.500
1850 118.400 (157.200)[E 3]
1880 162.300 (314.400)[E 3]
1900 tới 1998
Năm Cư dân
1900 201.600 (514.300)[E 3]
1925 718.300
1950 931.500
1980 1.182.800
1998 1.193.300
Từ 2001
Năm Cư dân
2001 1.169.100
2005 1.173.000
2007 1.194.407
2008 1.233.211
2012 1.241.664

Chú thích

  1. ^ chỉ Phố Cổ.
  2. ^ a ă Phố Cổ, Phố Mới, Phố Nhỏ và Hradschin.
  3. ^ a ă â với ngoại ô.

Các con số bên cạnh các năm khác nhau chỉ số dân ở Praha trong các vùng của thành phố trong thời gian đó.

Văn hóa

Prag-totale
„ Thành phố vàng kim“ nhìn từ Pulverturm

Là một trong những thành phố lâu đời nhất và lớn nhất ở Trung Âu, trong đó phần lớn không bị tàn phá bởi chiến tranh thế giới II, Praha bây giờ là một điểm đến du lịch có tầm quan trọng rất lớn. Kể từ năm 1992 trung tâm lịch sử của Praha được xem là một di sản thế giới của UNESCO.

Kiến trúc

Prague (6365084641)
Quảng trường Phố Cổ nhìn tới mit Tòa thị chính Phố Cổ và nhà thờ Teyn
Prag obecni dûm gemeindehaus
"Nhà làng" (Obecní dům) xây theo kiểu Art Nouveau 1912

Lâu đài Praha với Nhà thờ chính tòa Thánh Vitus, Cầu Karl và Quảng trường Phố Cổ với nhà thờ Teyn, Ungelt, Tòa thị chính và đồng hồ thiên văn Tòa thị chính là những điểm thu hút nổi tiếng nhất. Lâu đài thời trung cổ thứ hai, Vysehrad với Thánh Phêrô và Giáo hội của Thánh Phaolô, một trong những cấu trúc được nói tới nhiều. Phố cổ đặc biệt đặc trưng bởi những ngôi nhà cổ, thường có cả từ thời Romanesque và Gothic, tiêu biểu với nhiều nhà thờ và những con đường hẹp. Tại Phố nhỏPhố Hradčany chủ yếu là những cung điện từ thời kỳ Phục hưng và Baroque. Ở đó trên đảo Kampa có bức tường John Lennon. Không xa hai khu phố này là Tu viện Strahov. Trong Phố Do Thái Cổ Josefov nhiều hội đường và nghĩa trang của người Do Thái Cũ vẫn tồn tại.

Giữa thế kỷ 14, Phố mới được thành lập với tòa thị sảnh mới ở Karlsplatz, nhiều nhà thờ và tu viện Gothic và Baroque, cũng như quảng trường lớn nhất và đông đúc nhất ở Praha, Quảng trường Wenceslas, mà có những con đường mua sắm có mái vòm hào nhoáng làm quên đi nguồn gốc thời trung cổ của nó. Gần đó có nhà thờ Maria Schnee.

Praha cũng nổi tiếng là có nhiều tòa nhà xây kiểu nghệ thuật Nouveau. Tại Praha cả nghệ thuật Lập thể (Kubismus) cũng ảnh hưởng đến kiến ​​trúc. Kiến trúc lập thể được xem là một điểm đặc biệt của Praha. Một ví dụ quen thuộc là Nhà Đức mẹ đen của kiến ​​trúc sư Josef Gočár. Các kiến ​​trúc hiện đại được đại diện bởi những tòa nhà nổi bật như Villa Müller phát họa bởi Adolf Loos, Nhà nhảy múa của Frank Gehry.

Prager Rathausuhr bei Nacht

Đồng hồ tòa thị chính Praha về đêm

Nikolauskirche in Prag

Nhà thờ Nikolaus tại Quảng trường Phố Cổ

Praha Jewish Cemetery 2003

Nghĩa trang Do Thái Cổ trong Josefov (Phố Josef)

Kinh tế

GDP đầu người của Praha hơn gấp đôi mức bình quân của Cộng hòa Séc, khoảng 32.357 EUR năm 2002, đạt 153% mức trung bình của Liên minh châu Âu. Praha là trụ sở tại châu Âu của nhiều công ty quốc tế.

Corinthia-tower
Nhà chọc trời Praha
Prag ginger u fred gehry
Nhà hát Vũ kịch Milunić and Gehry's

Tham khảo

  1. ^ Total area and land area, by NUTS 2 regions - km2
  2. ^ Population: by area, region and district of the Czech Republic in January – June 2009 (preliminary results)
  3. ^ Eurostat. “Urban Audit 2004”. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2008. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  4. ^ Europas reichste Regionen: Bratislava und Prag vor Wien Wirtschaftsblatt vom 21. Mai 2015
  5. ^ Meistbesuchte Städte der Welt: London auf Platz eins ForgSight.com, Angaben nach MasterCard Global Destination Cities Index; Artikel vom 15. Juni 2015, abgerufen am 13. August 2015.
  6. ^ Alle Höhenangaben gerundet nach: Turistická mapa, Wanderkarte 1: 50.000. Hrsg.: Klub českých turistů. Bl. 36. Okolí Prahy západ. 3. vydání, dotisk. TRASA, Prag 2004. ISBN 978-80-7324-006-6. Kartengrundlage: MO ČR (Ministerstvo obrany České republiky, Verteidigungsministerium der Tschechischen Republik)
  7. ^ “Praha 6, Ruzyne Climate Normals 1961–1990”. National Oceanic and Atmospheric Administration. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2015.

Liên kết ngoài

AC Sparta Praha

AC Sparta Praha là câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Cộng hòa Séc, có trụ sở chính tại Praha (Czech). AC Sparta Praha được xem là một trong những câu lạc bộ nổi tiếng và thành công nhất Cộng hòa Séc, từng giành được rất nhiều danh hiệu từ các giải Tiệp Khắc và Cộng hòa Séc, thường xuyên được tham dự Champions League.

Berlin

Berlin (phát âm tiếng Đức: [bɛɐ̯ˈliːn] ( nghe), cũng còn gọi với tên tiếng Việt là Bá Lâm hoặc Béc-lin) là thủ đô, và cũng là một trong 16 bang của Cộng hòa Liên bang Đức. Với hơn 3.7 triệu người dân, đây là thành phố lớn nhất của Đức. Nếu so với cả Liên minh châu Âu, Berlin là thành phố lớn thứ nhì chỉ sau Luân Đôn. Nằm ở miền Đông Bắc nước Đức, Berlin là trung tâm của khu vực đô thị Berlin-Brandenburg, trong đó có khoảng 6 triệu người đến từ hơn 180 quốc gia trên thế giới. Nằm trong vùng Đồng bằng châu Âu, Berlin bị ảnh hưởng bởi khí hậu ôn đới theo mùa. Khoảng 1/3 diện tích của thành phố là rừng, công viên, vườn, sông và hồ, do đó thành phố này luôn có một bầu không khí trong lành.Được ghi nhận lần đầu tiên vào thế kỷ 13, Berlin từng là thủ đô của Vương quốc Phổ (1701–1918), Đế chế Đức (1871–1918), Cộng hòa Weimar (1919–1933) và Đức Quốc Xã (1933–1945). Vào những năm 1920, Berlin là thành phố lớn thứ ba trên thế giới. Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thành phố đã bị liên quân bốn nước chiếm đóng, và sau đó các khu vực do Anh, Pháp, Hoa Kỳ chiếm đóng được hợp nhất và trở thành Tây Berlin, được bao quanh bởi Bức tường Berlin và phần còn lại do Liên Xô chiếm đóng trở thành Đông Berlin (thủ đô của Cộng hòa Dân chủ Đức). Sau khi nước Đức tái thống nhất ngày 3 tháng 10 năm 1990, Berlin trở thành thủ đô của toàn liên bang Đức, lưu trữ 147 đại sứ quán nước ngoài. Sau Quyết nghị Thủ đô của Quốc hội Liên bang Đức (Deutsche Bundestag) vào năm 1991 thành phố cũng thực thi chức năng của mình là trụ sở của chính phủ và quốc hội từ năm 1999.Berlin là một trung tâm chính trị, văn hóa, khoa học quan trọng của châu Âu. Đô thị lớn này là một điểm nút giao thông và một trong những thành phố thu hút được nhiều khách du lịch nhất của lục địa già này. Nhiều trường đại học, viện nghiên cứu, nhà hát và viện bảo tàng tại Berlin có danh tiếng quốc tế.

Bohemia

Bohemia hay Čechy (tiếng Séc: Čechy; tiếng Đức: Böhmen, tiếng Ba Lan: Czechy) là một khu vực lịch sử nằm tại Trung Âu, chiếm hai phần ba diện tích của nước Cộng hòa Séc ngày nay. Nó có diện tích 52.750 km², chiếm khoảng 6,25 triệu trong tổng số 10,3 triệu dân của Cộng hòa Séc. Cái tên "Bohemia" bắt nguồn từ những cư dân đầu tiên di cư vào vùng này, bộ tộc Boii thuộc tộc người Xentơ. Còn cái tên "Čechy" ám chỉ người Séc, dân tộc định cư trong khu vực này cho đến ngày nay. Nó từng là một quốc gia hùng mạnh thời Trung Cổ với triều đại Přemyslid. Sau đó, vùng đất này được cai trị bởi vương triều Luxembourg. Cuộc chiến tranh tôn giáo Hussite vào thế kỉ 15 đã tàn phá nặng nề Bohemia, rồi sau đó, Sultan Suleiman I xua quân Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman đè bẹp và tiêu diệt quân Tiệp - Hung trong Trận Mohacs vào năm 1526; cuối cùng Bohemia rơi vào sự cai trị của Đế quốc Áo-Hung.

Theo một sứ thần người Thổ Nhĩ Kỳ, xứ Bohemia "thực sự là niềm kiêu hãnh và hạt nhân của nước Áo hùng cường". Dưới triều đại Nữ hoàng Maria Theresia (trị vì: 1740 - 1780), nhân dân Čechy luôn luôn nhiệt huyết sẵn sàng tham chiến trong pháo binh Áo. Trong cuộc chiến tranh Silesia lần thứ nhất (1740 - 1742), vua nước Phổ là Friedrich II Đại Đế (trị vì: 1740 - 1786) đè bẹp quân Áo trong trận đánh tại Chotusitz (Bohemia) vào năm 1742. Trong cuộc Chiến tranh Bảy năm (1756 - 1763), Čechy đã bị nhà vua Friedrich II Đại Đế tiến đánh vào năm 1757. Ông đánh tan tác quân Áo trong trận đánh tại thành Praha vào ngày 6 tháng 6 năm ấy, nhưng chịu tổn thất hết sức nặng nề. Nhưng, ông đại bại trong trận đánh tại Kolín vào ngày 18 tháng 4, và khỏi rút khỏi thành Praha vào ngày 20 tháng 6 năm 1757.Thế kỉ 20, sau đệ nhị thế chiến vào năm 1918, Bohemia trở thành một phần của Tiệp Khắc rồi đến khi Tiệp Khắc diễn ra cuộc "chia li trong hòa bình" vào năm 1993, Bohemia trở thành một phần của nước Cộng hòa Séc ngày nay. Bohemia là một phần quan trọng của Cộng hòa Séc đồng thời đóng một vai trò đáng kể trong kinh tế, văn hóa, xã hội của Séc. Thủ đô Praha của Cộng hòa Séc là trung tâm kinh tế lớn nhất Bohemia.

Chiến dịch Barbarossa

Barbarossa (tiếng Đức: Unternehmen Barbarossa) là mật danh của chiến dịch xâm lược Liên bang Xô viết do Quân đội Đức Quốc xã tiến hành trong chiến tranh thế giới thứ hai. Với tên ban đầu là kế hoạch Otto và được đích thân Hitler đổi thành "Barbarossa" theo biệt hiệu của vị Hoàng đế La Mã Thần thánh Friedrich I ở thế kỷ XII vào ngày 18 tháng 12 năm 1940, chiến dịch có mục tiêu nhanh chóng chiếm đóng phần lãnh thổ phía Tây đường ranh giới nối liền giữa hai thành phố Arkhangelsk và Astrakhan (thường gọi là tuyến A-A) của Liên Xô, được mở màn vào sáng ngày 22 tháng 6 năm 1941 trên toàn bộ tuyến biên giới phía Tây của Liên Xô và thực tế kết thúc vào đầu tháng 2 năm 1942 trước cửa ngõ Moskva.

Trong toàn chiến dịch, mặc dù Quân đội Đức Quốc xã đã giành được một số chiến thắng vang dội ở cấp độ chiến thuật, chiếm được phân nửa lãnh thổ thuộc châu Âu của Liên Xô trong đó có một số vùng kinh tế quan trọng, nhưng không hoàn thành mục tiêu mà kế hoạch đề ra. Kể từ sau khi đợt tấn công Moskva bị bẻ gãy vào cuối tháng 1 năm 1942, Quân đội Đức Quốc xã không còn đủ sức tổ chức một đợt tổng tấn công nào khác trên toàn bộ mặt trận, khiến chiến lược đánh nhanh thắng nhanh trước mùa đông 1941-1942 của Hitler hoàn toàn phá sản.

Thất bại về mặt chiến lược của chiến dịch Barbarossa là một bước ngoặt quan trọng, buộc Hitler phải tham gia vào một cuộc chiến tranh tổng lực mà nước Đức Quốc xã và đồng minh phe Trục kém thế tương quan về năng lực sản xuất công nghiệp và khả năng tổng động viên so với Liên Xô và phe Đồng minh, dẫn tới sự suy yếu rồi thất bại hoàn toàn trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

Về mặt lịch sử, thì chiến dịch Barbarossa được ghi nhận là chiến dịch quân sự có quy mô lớn nhất về quân số tham chiến và cũng là chiến dịch đẫm máu nhất với con số thương vong lớn chưa từng có trong lịch sử thế giới.

Chiến dịch Praha

Chiến dịch Praha là chiến dịch lớn cuối cùng của Quân đội Liên Xô và các đồng minh tại châu Âu trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Diễn ra từ ngày 5 đến ngày 12 tháng 5 năm 1945, đây là một trong số ít các chiến dịch tấn công chiến lược có thời gian ngắn nhất trên mặt trận Xô-Đức. Tham gia chiến dịch có ba Phương diện quân Liên Xô cùng với hai tập đoàn quân Romania, một tập đoàn quân Ba Lan và một quân đoàn Tiệp Khắc với 180 sư đoàn có tổng quân số lên đến gần 2.100.000 người. Đối diện với khối quân khổng lồ này là hơn 900.000 quân Đức và các đơn vị Quân giải phóng Nga (ROA) từ các hướng bị thua trận rút về Tiệp Khắc.Sau bốn ngày tấn công liên tục, Phương diện quân Ukraina 1 đã giải phóng thủ đô Praha của Tiệp Khắc, phối hợp với Phương diện quân Ukraina 2 và Phương diện quân Ukraina 4 vây chặt Cụm tập đoàn quân Trung tâm (Đức) tại phía Đông Praha. Sau ba ngày giao chiến, Cụm tập đoàn quân này hạ vũ khí đầu hàng quân đội Liên Xô. Trên biên giới Áo-Tiệp Khắc, Cụm tập đoàn quân Áo (Đức) cũng hạ vũ khí đầu hàng Tập đoàn quân 3 (Hoa Kỳ). Thắng lợi nhanh chóng của quân đội Liên Xô trong Chiến dịch Praha cũng đặt dấu chấm hết cho các đạo quân Nga chiến đấu dưới cờ của quân đội Đức Quốc xã, bao gồm Quân đoàn Vlasov, các sư đoàn ROA và các đơn vị SS người Cossack.Trong thời gian diễn ra chiến dịch, những người Tiệp Khắc yêu nước, chống phát xít đã nổi dậy khởi nghĩa tại Praha, làm phá sản kế hoạch biến Praha thành một Berlin thứ hai của Bộ Tổng tư lệnh tối cao lục quân Đức và chính phủ của đô đốc Karl Dönitz, bảo toàn tương đối nguyên vẹn một số công trình kiến trúc có giá trị lịch sử của thủ đô Praha cổ kính.

Kết thúc chiến dịch, quân đội Liên Xô và quân đội Hoa Kỳ đã gặp nhau trên tuyến phân giới České Budějovice - Plzeň - Karlovy Vary. Đây là tuyến giới hạn tấn công được I. V. Stalin, Franklin D. Roosevelt và Winston Churchill thỏa thuận tại Hội nghị Yalta từ ngày 4 đến 11 tháng 2 năm 1945.

Cộng hòa Séc

Séc (tiếng Séc: Česko), tên chính thức là Cộng hòa Séc (tiếng Séc: Česká republika, phát âm ), là một quốc gia thuộc khu vực Trung Âu và là nước không giáp biển. Cộng hòa Séc giáp Ba Lan về phía bắc, giáp Đức về phía tây, giáp Áo về phía nam và giáp Slovakia về phía đông. Thủ đô và thành phố lớn nhất của quốc gia là Praha, với hơn 1,3 triệu dân cư ngụ tại đây. Cộng hòa Séc là một quốc gia đa đảng theo chế độ cộng hòa đại nghị. Tổng thống là người đứng đầu nhà nước, còn thủ tướng là người đứng đầu chính phủ. Quốc hội có hai viện gồm thượng viện và hạ viện. Cộng hòa Séc đã gia nhập NATO vào năm 1999 và trở thành thành viên của Liên minh châu Âu từ năm 2004. Ngày 21 tháng 12 năm 2007, Cộng hòa Séc đã thông qua Hiệp ước Schengen, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại và du lịch vào nước này. Ngoài ra, Cộng hòa Séc hiện nay cũng là thành viên của các tổ chức OECD, OSCE, Ủy hội châu Âu và Nhóm Visegrád.

Lãnh thổ Cộng hòa Séc, ngày nay bao gồm các vùng đất đã từng tồn tại trong lịch sử là Bohemia, Morava và một phần Silesia. Séc trở thành một bộ phận của Đế quốc Áo và Đế quốc Áo-Hung trong nhiều thế kỉ cho đến năm 1918, khi Séc cùng với Slovakia tuyên bố thành lập nước Tiệp Khắc. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Tiệp Khắc bị phát xít Đức chiếm đóng. Sau đó, nước này trở thành một quốc gia xã hội chủ nghĩa cho đến năm 1989 khi cuộc Cách mạng Nhung yên bình diễn ra, đưa đất nước trở về tiến trình dân chủ. Ngày 1 tháng 1 năm 1993, một cuộc ly khai ôn hòa đã diễn ra, Tiệp Khắc lại tách thành hai quốc gia độc lập là Séc và Slovakia.

Franz Kafka

Franz Kafka (3 tháng 7 năm 1883 – 3 tháng 6 năm 1924) là một nhà văn lớn viết truyện ngắn và tiểu thuyết bằng tiếng Đức, được giới phê bình xem như một trong những tác giả có ảnh hưởng nhất thế kỉ 20. Kafka là một nhà hiện đại chủ nghĩa và chịu ảnh hưởng mạnh bởi những thể loại khác, bao gồm chủ nghĩa hiện sinh. Các tác phẩm của ông, như "Hóa thân" (Die Verwandlung), "Vụ án" (Der Prozess), và "Lâu đài" (Das Schloss) sử dụng những chủ đề và nguyên mẫu về sự ghẻ lạnh, sự tàn bạo về thể xác và tinh thần, mâu thuẫn cha-con, những nhân vật trong những cuộc truy tìm đáng sợ, và những sự biến đổi kỳ bí.

Kafka sinh ra trong một gia đình Do Thái nói tiếng Đức trung lưu ở Praha, khi ấy là một phần của Đế quốc Áo-Hung, và được đào tạo để trở thành một luật sư. Sau khi tốt nghiệp ngành luật ở đại học, ông đi làm ở một công ty bảo hiểm. Kafka bắt đầu viết những truyện ngắn trong những lúc rảnh rỗi, và trong suốt phần đời còn lại ông luôn phàn nàn về khoảng thời gian ít ỏi có thể cống hiến cho việc viết văn – mà ông dần xem là thiên hướng của mình; trong khi lấy làm hối tiếc đã dành nhiều sự quan tâm cho "công việc hàng ngày" (Brotberuf, tức công việc kiếm sống). Ông ưa liên lạc bằng thư từ và đã viết hàng trăm lá thư cho gia đình và những người bạn gái thân thiết, trong đó có thư gửi cho cha, hôn thê Felice Bauer và em gái Ottla. Mối quan hệ phức tạp và khó khăn với người cha có tầm ảnh hưởng quan trọng lên tác phẩm của ông, và dù ông xung đột với tính Do Thái của mình và cho rằng nó không tác động gì tới ông, tuy nhiên nó đã có dấu ấn đậm nét trên văn chương Kafka.

Chỉ có một vài tác phẩm của Kafka được xuất bản khi ông còn sống: các tập truyện Trầm tư (Betrachtung) và Một thầy thuốc nông thôn (Ein Landazrt), và các truyện ngắn lẻ (như Hóa thân) trong các tạp chí văn học. Ông đã soạn tập truyện Nghệ sĩ nhịn đói (Ein Hungerkünstler) để in, nhưng nó không được xuất bản cho đến sau khi ông mất. Các tác phẩm chưa hoàn thành của ông, bao gồm các tiểu thuyết Vụ án, Lâu đài và Nước Mỹ (Amerika, còn được gọi là Der Verschollene tức Người mất tích) được xuất bản như những di cảo, phần lớn bởi bạn ông là Max Brod, người đã từ chối di nguyện của Kafka là tiêu hủy tất cả bản thảo. Albert Camus và Jean-Paul Sartre là hai trong số những nhà văn chịu ảnh hưởng bởi tác phẩm của Kafka; tính từ "kiểu Kafka" (tiếng Anh: kafkaesque) đi vào nhiều ngôn ngữ Âu châu để mô tả những hoàn cảnh siêu thực như trong truyện của ông.

Istanbul

Istanbul ( hoặc ; tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: İstanbul [isˈtanbuɫ] ( nghe)), là thành phố lớn nhất, đồng thời là trung tâm kinh tế, văn hóa và lịch sử của Thổ Nhĩ Kỳ. Với dân số hơn 14 triệu người (2014), Istanbul là một trong số các vùng đô thị lớn nhất châu Âu và xếp vào một trong những thành phố đông dân nhất thế giới xét về dân cư trong địa phận thành phố.

Istanbul là một thành phố liên lục địa, bắc ngang qua eo biển Bosphorus - một trong những tuyến đường biển nhộn nhịp nhất thế giới - ở tây bắc Thổ Nhĩ Kỳ, nối biển Marmara và biển Đen. Trung tâm lịch sử và thương mại của Istanbul nằm ở phần thuộc châu Âu, và chỉ có 1/3 dân số cư trú ở phần thuộc châu Á.

Kiến tạo trên mũi đất Sarayburnu khoảng năm 660 trước Công nguyên với tên gọi Byzantium, thành phố mà nay được gọi là Istanbul đã phát triển trở thành một trong những đô thành huy hoàng nhất trong lịch sử. Trong gần mười sáu thế kỉ sau sự tái thiết thành Constantinopolis năm 330 Công nguyên, nó từng là kinh đô của bốn đế quốc: Đế quốc La Mã (330-395); Đế quốc Byzantine (395-1204 và 1261-1453), Đế quốc Latin (1204-1261) và Đế quốc Ottoman (1453-1922). Thành phố đã đóng vai trò quan trọng trong sự lớn mạnh của Cơ đốc giáo dưới các thời đại La Mã và Byzantine, trước khi người Ottoman chinh phục vào năm 1453 và biến nó thành một pháo đài Hồi giáo, nơi trị vì của triều đại khalip cuối cùng. Mặc dù Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ đã chọn Ankara làm thủ đô của mình, ngày nay những cung điện và thánh đường vẫn ngự trên các ngọn đồi của Istanbul như để nhắc nhở về vai trò trung tâm trước đây của thành phố.

Vị trí chiến lược của Istanbul nằm trên Con đường tơ lụa, các mạng lưới đường sắt tới châu Âu và Trung Đông, và tuyến hải lộ duy nhất giữa biển Đen và Địa Trung Hải đã giúp phát triển lượng dân số hỗn tạp , mặc dầu ít nhiều suy giảm kể từ khi nền Cộng hòa thiết lập năm 1923. Mặc dù bị coi nhẹ do không còn là thủ đô trong thời kì giữa hai cuộc Thế chiến, song về sau thành phố đã dần lấy lại phần lớn vị thế của nó. Dân số thành phố đã tăng mười lần kể từ những năm 1950, phần lớn do dòng người nhập cư vượt qua miền Anatolia tập trung lại siêu đô thị này và quy mô thành phố mở rộng ra để dành cho họ. Các lễ hội nghệ thuật được hình thành vào cuối thế kỷ XX, trong khi sự cải thiện cơ sở hạ tầng tạo nên một mạng lưới giao thông dày đặc.

12.56 triệu du khách nước ngoài đến Istanbul năm 2015, 5 năm sau khi thành phố nhận danh hiệu Thủ đô Văn hóa châu Âu, đưa thành phố này trở thành điểm đến du lịch thu hút khách nhiều thứ năm trên thế giới . Sức hút lớn nhất của thành phố nằm ở khu phố lịch sử, đượcUNESCO xếp hạng là Di sản thế giới, tuy nhiên trung tâm văn hóa và giải trí của nó nằm vắt qua cảng tự nhiên của thành phố, cảng Sừng Vàng ở quận Beyoğlu. Được xem là một thành phố toàn cầu, Istanbul là nơi đóng trụ sở của rất nhiều công ty cũng như cơ quan truyền thông Thổ Nhĩ Kỳ, và chiếm hơn một phần tư tổng sản phẩm nội địa của đất nước này. Hy vọng tận dụng sự hồi sinh và phát triển nhanh chóng của mình, Istanbul cũng đã tích cực chạy đua giành quyền đăng cai Thế vận hội Mùa hè 2020, nhưng thất bại trước Tokyo.

Johannes Kepler

Johannes Kepler (tiếng Đức: [joˈhanəs ˈkɛplɐ, -nɛs -]; 27 tháng 12, 1571 – 15 tháng 11 năm 1630), là một nhà toán học, thiên văn học và chiêm tinh học người Đức. Là một trong những đại diện của cuộc cách mạng khoa học thế kỷ 17, Kepler được biết đến nhiều nhất bởi các định luật về chuyển động thiên thể mang tên ông do các nhà thiên văn thiết lập dựa trên những công trình của ông như Astronomia nova, Harmonice Mundi và cuốn Thiên văn học Copernicus giản lược.

Khởi đầu sự nghiệp, Kepler từng là một giáo viên toán ở chủng viện Graz, trước khi đảm nhiệm vai trò trợ tá cho nhà thiên văn Tycho Brahe, và cuối cùng trở thành nhà thiên văn học triều đình cho Hoàng đế La Mã Thần thánh Rudolf II và sau đó là các hoàng đế kế vị Matthias và Ferdinand II. Trong những năm biến động cuối đời, ông dạy toán ở Linz (Áo) và là cố vấn cho Albrecht von Wallenstein. Ngày nay được biết đến chủ yếu vì những nghiên cứu thiên văn học, ông còn có những công trình quan trọng trong lĩnh vực quang học, phát minh ra một mẫu kính viễn vọng phản xạ (Kính viễn vọng Kepler), và thảo luận về những khám phá bằng kính viễn vọng của một nhà khoa học sống cùng thời, Galileo Galilei.

Kepler sống trong một thời đại mà giữa thiên văn và chiêm tinh không có sự phân biệt rõ ràng, nhưng có sự chia tách giữa thiên văn (như một nhánh của toán học) và vật lý (một nhánh của triết học tự nhiên). Kepler cũng kết hợp lý lẽ và lập luận tôn giáo vào công trình của mình, được thúc đẩy bởi đức tin rằng Chúa đã tạo ra thế giới theo một kế hoạch khả tri mà con người có thể lĩnh hội qua ánh sáng của lý trí. Kepler mô tả nền thiên văn học mới của ông là "vật lý học thiên thể", như "một cuộc dạo chơi vào siêu hình học của Aristotle", và "một sự bổ sung cho tiểu luận Về bầu trời của Aristotle", biến đổi truyền thống cổ đại về vũ trụ học vật lý với việc xem thiên văn là một phần của một vật lý học toán học phổ quát.

Menkauhor Kaiu

Menkauhor Kaiu (còn được gọi là Ikauhor, tiếng Hy Lạp cổ là Mencherês, Μεγχερῆς) là một vị pharaon của Ai Cập cổ đại thuộc thời kỳ Cổ vương quốc. Ông là vị vua thứ bảy của Vương triều thứ Năm, triều đại của ông tồn tại vào khoảng cuối thế kỷ 25 hoặc đầu thế kỷ 24 TCN.

Menkauhor có thể đã trị vì tám hoặc chín năm, ông đã kế vị vua Nyuserre Ini, và sau này được Djedkare Isesi kế vị. Mặc dù Menkauhor đã được chứng thực thông qua các ghi chép lịch sử, chỉ còn sót lại rất ít các hiện vật có niên đại thuộc về vương triều của ông cho đến ngày nay. Bởi vậy, mối quan hệ huyết thống của ông với vị vua tiền nhiệm và vị vua kế nhiệm hiện vẫn chưa rõ ràng, và cũng chưa có bất cứ người con nào của ông được biết đến. Khentkaus III có thể là thân mẫu của Menkauhor, theo như những bằng chứng được phát hiện trong ngôi mộ của bà vào năm 2015.

Ngoài việc xây dựng các công trình kiến trúc, chúng ta chỉ biết được duy nhất một hoạt động đã diễn ra dưới vương triều của Menkauhor đó là một cuộc viễn chinh đến các mỏ đồng và ngọc lam ở Sinai. Menkauhor đã ra lệnh xây dựng một ngôi đền mặt trời, được gọi là "Akhet-Ra" nghĩa là "Chân Trời của Ra". Đây là ngôi đền mặt trời cuối cùng được xây dựng, tuy nhiên ngôi đền này chỉ được nhắc đến thông qua các dòng chữ khắc được tìm thấy trong những ngôi mộ thuộc về các vị tư tế của nó, vị trí của nó cũng chưa được xác định. Menkauhor đã được chôn cất trong một kim tự tháp nhỏ ở Saqqara, nó được người Ai Cập cổ đại gọi tên là Netjer-Ipet Menkauhor, "Ngôi nhà thiêng liêng của Menkauhor". Ngày nay, nó được biết đến với tên gọi là Kim tự tháp không đầu, tàn tích của nó đã bị cát vùi lấp cho đến khi được phát hiện lại vào năm 2008.

Menkauhor còn là hình tượng trung tâm của một sự thờ cúng tang lễ tồn tại lâu dài cho đến tận giai đoạn cuối thời kỳ Cổ vương quốc, với ít nhất bảy điền trang nông nghiệp sản xuất các hàng hoá cho các nghi lễ hiến tế cần thiết. Menkauhor được thờ cúng như một vị thần, được biết đến với danh hiệu "Vị Thần hùng mạnh của Hai vùng đất, Menkauhor Công Bằng" đã lặp lại trong suốt thời kỳ Tân Vương quốc (khoảng 1550 - 1077 TCN), và kéo dài ít nhất là cho đến vương triều thứ Mười Chín (khoảng năm 1292 - khoảng năm 1077 TCN), khoảng 1200 năm sau khi ông qua đời.

Mùa xuân Praha

Mùa xuân Praha (tiếng Séc: Pražské jaro, tiếng Slovak: Pražská jar) là một giai đoạn phi Xô Viết (tự do hóa) nền chính trị tại Tiệp Khắc trong thời kỳ nước này chịu ảnh hưởng từ Liên bang Xô viết sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Nó bắt đầu ngày 5 tháng 1 năm 1968, khi nhà cải cách người Slovak Alexander Dubček lên nắm quyền lực, và kéo dài tới ngày 21 tháng 8 khi Liên Xô và các thành viên Khối hiệp ước Warszawa đồng minh tấn công nước này để ngăn cản các cuộc cải cách.

Các cuộc cải cách Mùa xuân Praha là một nỗ lực của Dubček nhằm trao thêm quyền cho các công dân trong một hành động nhằm phi tập trung đảng phái nền kinh tế và dân chủ hoá. Các quyền tự do được trao gồm nới lỏng các hạn chế với truyền thông, ngôn luận và đi lại. Dubček cũng liên bang hoá đất nước thành hai nhà nước cộng hoà riêng biệt; đây là thay đổi duy nhất còn tồn tại sau khi phong trào Mùa xuân Praha chấm dứt.

Những cuộc cải cách, không được những người Xô viết tiếp nhận, và sau những cuộc đàm phán không thành công, Liên Xô đã gửi hàng nghìn quân của Khối Hiệp ước Warszawa tấn công Tiệp Khắc bằng nhiều xe tăng. Một làn sóng di cư lớn xảy ra trên cả nước. Trong khi nhiều cuộc tuần hành phi bạo lực diễn ra trong nước, gồm cả vụ tự sát để phản đối của một sinh viên, không hề có sự kháng cự quân sự và Tiệp Khắc tiếp tục bị chiếm đóng cho tới năm 1990.

Sau cuộc xâm lược, Tiệp Khắc bước vào một giai đoạn "bình thường hoá": những nhà lãnh đạo sau đó đã tìm cách tái lập các giá trị chính trị và kinh tế từng có trước kia, trước khi Dubček giành được quyền kiểm soát Đảng Cộng sản Tiệp Khắc (KSČ). Gustáv Husák, người thay thế Dubček và cũng trở thành Chủ tịch nước, đã đảo ngược hầu hết các biện pháp cải cách của Dubček. Mùa xuân Praha đã trở nên bất tử trong âm nhạc và văn học như trong tác phẩm của Václav Havel, Karel Husa, Karel Kryl và Milan Kundera với cuốn tiểu thuyết Đời nhẹ khôn kham.

Paris

Paris là thủ đô của nước Pháp, cũng là một trong ba thành phố phát triển kinh tế nhanh nhất thế giới cùng Luân Đôn và New York và cũng là một trung tâm hành chính của vùng Île-de-France. Nằm ở phía bắc nước Pháp, khu vực trung tâm của châu Âu, Paris được xây dựng hai bên bờ sông Seine với tâm là đảo Île de la Cité. Đây cũng là nơi hợp lưu của sông Seine và sông Marne.

Paris nằm ở điểm gặp nhau của các hành trình thương mại đường bộ và đường sông, và là trung tâm của một vùng nông nghiệp giàu có. Vào thế kỷ 10, Paris đã là một trong những thành phố chính của Pháp cùng các cung điện hoàng gia, các tu viện và nhà thờ. Từ thế kỷ 12, Paris trở thành một trong những trung tâm của châu Âu về giáo dục và nghệ thuật. Thế kỷ 14, Paris là thành phố quan trọng bậc nhất của Cơ Đốc giáo và trong các thế kỷ 16, 17, đây là nơi diễn ra Cách mạng Pháp cùng nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của Pháp và châu Âu. Đến thế kỷ 19 và 20, thành phố trở thành một trong những trung tâm văn hóa của thế giới, thủ đô của nghệ thuật và giải trí.

Năm 2018, nội ô Paris có dân số là 2.206.488 người, mật độ 21.000 người/km², thuộc hàng cao nhất trong các thủ đô châu Âu. Nếu tính toàn bộ vùng đô thị Paris, vào năm 2013, dân số Paris là 12,405,426 người. Là thành phố thủ đô, Paris tập trung các hoạt động văn hóa, tài chính, thương mại... của toàn nước Pháp. Năm 2016, GDP của Paris cùng với toàn vùng Île-de-France đạt 681 tỷ euro, tương đương với nước Hà Lan.

Nổi tiếng với tên gọi Kinh đô ánh sáng, Paris là một trung tâm văn hóa lớn của thế giới và cũng là một trong những thành phố du lịch thu hút nhất. Sự nhộn nhịp, các công trình kiến trúc và không khí nghệ sĩ đã giúp Paris mỗi năm có đến 30 triệu khách nước ngoài. Thành phố còn được xem như kinh đô của thời trang cao cấp với nhiều khu phố xa xỉ cùng các trung tâm thương mại lớn. Là nơi đặt trụ sở chính của các tổ chức quốc tế như OECD, UNESCO... cộng với những hoạt động đa dạng về tài chính, kinh doanh, chính trị và du lịch đã khiến Paris trở thành một trong những trung tâm trung chuyển lớn nhất trên thế giới và được coi như một trong bốn "thành phố toàn cầu" cùng với New York, Luân Đôn và Tokyo.

Paul McCartney

Sir James Paul McCartney, MBE (sinh ngày 18 tháng 6 năm 1942 tại thành phố Liverpool) là nhạc sĩ, ca sĩ người Anh, cựu thành viên nổi tiếng của The Beatles (1960–1970) và Wings (1971–1981). Sách Kỷ lục Guinness công nhận McCartney là "nghệ sĩ thành công nhất lịch sử âm nhạc đương đại" với 60 đĩa Vàng và hơn 100 triệu đĩa đơn đã được bán ra chỉ riêng ở Anh.

Cùng với John Lennon, George Harrison và Ringo Starr, McCartney đã tạo nên bộ tứ quái The Beatles kiệt xuất của lịch sử âm nhạc thế giới. Paul và Lennon trở thành bộ đôi viết nhạc xuất sắc nhất mọi thời đại. Sau thời kỳ The Beatles, McCartney tiếp tục thành công với ban nhạc Wings cùng vợ, Linda Eastman, và Denny Laine.

Trang BBC Online gọi McCartney là "nghệ sĩ vĩ đại nhất của thiên niên kỷ". Cũng theo BBC, ca khúc bất tử của Paul, "Yesterday", được hát lại bởi hơn 2200 nghệ sĩ, nhiều hơn bất kể ca khúc nào khác. Kể từ khi phát hành vào năm 1965, nó cũng được phát tới 7 triệu lần trên truyền hình và phát thanh Mỹ. Đĩa đơn "Mull of Kintyre" của Wings là ca khúc đầu tiên cán mốc 2 triệu bản ở Anh và vẫn giữ vị trí quán quân trong danh sách đĩa đơn bán chạy nhất mọi thời đại tại Anh. Với tổng cộng 93 tuần đứng đầu tại bảng xếp hạng, trong đó có 24 đĩa đơn quán quân, McCartney là nhạc sĩ xuất sắc nhất trong lịch sử âm nhạc đại chúng Anh. Ở Mỹ, ông cũng có 31 đĩa đơn tại Billboard Hot 100 và được RIAA ghi nhận bán được ít nhất 15,5 triệu đĩa đơn tại Mỹ.

McCartney cũng từng viết nhạc phim, viết nhạc cổ điển, biểu diễn trong vai trò nghệ sĩ solo và tham gia các hoạt động từ thiện. Ông ăn chay vì là thành viên của hội bảo vệ động vật. Ông cũng là một người hâm mộ bóng đá, ủng hộ cả hai đội bóng đối nghịch là Everton F.C. và Liverpool F.C.. Công ty của ông, MPL Communications sở hữu tới 25.000 ca khúc, trong đó có nhiều ca khúc vô cùng giá trị. McCartney là một trong những người giàu nhất nước Anh, với giá trị tài sản ước tính khoảng 450 triệu bảng vào năm 2010.

Paul McCartney được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll vào năm 1999. Một tiểu hành tinh 4148 McCartney phát hiện năm 1983 được đặt theo tên của Paul. Ông cũng nằm trong danh sách "100 ca sĩ vĩ đại nhất" của tạp chí Rolling Stone ở vị trí số 11, cùng với đó là vị trí số 3 trong danh sách "10 tay bass vĩ đại nhất" bình chọn bởi độc giả tạp chí trên.

Pavel Nedvěd

Pavel Nedvěd (sinh ngày 30 tháng 8 năm 1972) là một cựu cầu thủ bóng đá người Séc. Nedvěd từng là tiền vệ của đội bóng Juventus và Đội tuyển quốc gia Séc. Trước khi gia nhập Juventus, Nedvěd chơi cho Dukla Praha (1991-92), Sparta Praha (1992-96), và S.S. Lazio (1996-2001). Anh đã có được một scudetto (chức vô địch Ý) với Lazio và hai với Juventus (ngoài ra còn có 2 chức vô địch các năm 2005 và 2006 bị tước do câu lạc bộ dính vào scandal). Năm 2009, kết thúc mùa giải 2008-2009, Nedvěd tuyên bố giải nghệ. Ông từng giành được Quả Bóng Vàng năm 2003.

Praha Tây (huyện)

Huyện Praha Tây (tiếng Séc: Okres Praha-západ) là một huyện (okres) nằm trong vùng Trung Bohemia của Cộng hòa Séc. Huyện Praha-západ Tây có diện tích 586 km2, dân số năm 2002 là 86777 người. Trung tâm hành chính huyện là Praha. Huyện này có 80 khu tự quản..

Praha Đông (huyện)

Huyện Praha Đông hay Praha-východ (tiếng Séc: Okres Praha-východ) là một huyện (okres) nằm trong vùng Trung Bohemia của Cộng hòa Séc. Huyện Praha-východ Đông có diện tích 584 km2, dân số năm 2002 là 98453 người. Trung tâm hành chính huyện đóng ở Praha. Huyện này có 91 khu tự quản..

Thierry Henry

Thierry Daniel Henry (phát âm tiếng Pháp: [tjɛʁi ɑ̃ʁi]), sinh ngày 17 tháng 8 năm 1977, là một cựu cầu thủ và huấn luyện viên bóng đá chuyên nghiệp người Pháp. Vai trò gần đây nhất của anh là huấn luyện viên của câu lạc bộ bóng đá AS Monaco. Khi còn là cầu thủ, anh có biệt danh "Con trai thần gió".

Anh đã thi đấu cho các câu lạc bộ Monaco, Juventus, Barcelona, New York Red Bulls và dành 8 năm tại Arsenal nơi anh trở thành cầu thủ ghi bàn xuất sắc nhất mọi thời đại cấp câu lạc bộ. Ở cấp độ đội tuyển, anh thi đấu cho đội tuyển quốc gia Pháp và cũng là một trong số những chân sút vĩ đại nhất trong màu áo lam.

Henry sinh ra tại Les Ulis, Essonne, ngoại ô thủ đô Paris, anh đã chơi cho đội bóng địa phương trong khoảng thời gian từ năm 1983-1989, trước khi anh được phát hiện và ký hợp đồng với AS Monaco vào năm 1990. Anh bắt đầu sự nghiệp bóng đá chuyên nghiệp năm 1994 và chơi ở Monaco đến năm 1998. Phong độ tốt khi chơi bóng tại đây đã giúp anh được gọi vào đội tuyển quốc gia. Sau đó, Henry chuyển tới chơi cho nhà đương kim vô địch Serie A lúc bấy giờ là Juventus, nhưng sau một mùa giải thất vọng chơi ở vị trí tiền vệ cánh, anh gia nhập câu lạc bộ Anh Arsenal với giá chuyển nhượng 11 triệu Bảng Anh năm 1999.Tại Arsenal, anh nổi lên là một cầu thủ đẳng cấp thế giới, giúp anh tạo dựng được tên tuổi cũng như thương hiệu của mình. Cho dù ban đầu gặp khó khăn khi thích nghi với Premier League, anh là chân sút số một của đội bóng trong gần như mọi mùa giải. Dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Arsène Wenger, Henry trở thành một tiền đạo sát thủ và là chân sút xuất sắc nhất mọi thời đại với 228 bàn thắng trên mọi đấu trường. Cầu thủ người Pháp giành hai chức vô địch quốc gia và ba cúp FA với Arsenal F.C., hai lần về nhì trong cuộc đua danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA, hai lần giành danh hiệu Cầu thủ của năm của Hiệp hội cầu thủ nhà nghề Anh và ba lần giành danh hiệu Cầu thủ của năm của Hiệp hội các nhà báo bóng đá Anh. Henry trải qua hai mùa giải cuối cùng tại Arsenal với tư cách đội trưởng và đưa đội bóng vào đến chung kết UEFA Champions League 2006.

Tháng 6 năm 2007, sau 8 năm tại Arsenal, anh chuyển đến chơi cho Barcelona với mức phí 24 triệu euro. Năm 2009, Henry góp phần quan trọng giúp câu lạc bộ đạt được cú ăn ba lịch sử khi họ giành chức vô địch La Liga, Cúp Nhà vua Tây Ban Nha và UEFA Champions League. Tiếp đó anh còn cùng câu lạc bộ giành cú ăn sáu vĩ đại khi thắng Siêu Cúp Tây Ban Nha, Siêu Cúp châu Âu và Giải vô địch thế giới các câu lạc bộ. Henry năm lần được góp mặt trong Đội hình xuất sắc năm của UEFA. Năm 2010, anh gia nhập New York Red Bulls tại giải Bóng đá nhà nghề Mỹ và giành một danh hiệu ngay năm đó. Năm 2012, anh trở lại Arsenal hai tháng theo dạng cho mượn. Năm 2013, Henry cùng New York Red Bulls giành thêm một danh hiệu nữa với thành tích cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải. Cuối năm 2014, anh chính thức tuyên bố giải nghệ.

Henry có một sự nghiệp thành công trong màu áo đội tuyển quốc gia, giành chức vô địch World Cup 1998, EURO 2000 và cúp Liên đoàn các châu lục 2003. Tháng 10 năm 2007, anh vượt qua kỷ lục của Michel Platini để trở thành chân sút vĩ đại nhất lịch sử tuyển Pháp. Anh giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tế sau World Cup 2010.

Ngoài đời, anh ủng hộ mạnh mẽ phong trào chống phân biệt chủng tộc trong bóng đá, một phần bởi trải nghiệm của chính mình. Anh kết hôn với người mẫu người Anh Nicole Merry năm 2003 và có một con gái, nhưng đã ly hôn vào năm 2007. Năm 2006, Henry từng đứng thứ 9 trong danh sách những cầu thủ kiếm tiền nhiều nhất thế giới.

Trung Bohemia (vùng)

Trung Bohemia (tiếng Séc: Středočeský kraj) là một vùng của Cộng hòa Séc, nằm ở trung bộ vùng lịch sử Čechy (Bohemia). Vùng này có dân số là 1.284.629 người (thời điểm tháng 3 năm 2011), diện tích là 11.014 km2. Thủ phủ vùng đóng tại thành phố thủ đô quốc gia Praha.

Điểm cao nhất trong vùng cao 865 mét (2.838 ft).

Trận chiến nước Pháp

Trận chiến nước Pháp (tiếng Pháp: Bataille de France), hay Chiến dịch phía tây (tiếng Đức:Westfeldzug) theo cách gọi của người Đức, là một chiến dịch tấn công chiến lược của Quân đội Đức Quốc xã vào Pháp, Hà Lan, Bỉ, Luxembourg trong Chiến tranh thế giới thứ hai, bắt đầu ngày 10 tháng 5 năm 1940, đánh dấu kết thúc Cuộc chiến tranh kỳ quặc và chiến sự chính thức bùng nổ tại Tây Âu.

Cuộc chiến này bao gồm hai diễn biến chính. Đầu tiên, theo Kế Hoạch Vàng (Fall Gelb), với một chiến lược táo bạo, mũi tấn công mồi của Quân đội Đức Quốc xã vào Vùng Đất Thấp thu hút chủ lực Đồng Minh, tạo bất ngờ cho mũi tấn công chính băng qua khu rừng Ardennes. Được tổ chức theo phương thức Blitzkrieg, ngay sau khi đột phá phòng tuyến sông Meuse của Quân đội Pháp ở Sedan, lực lượng thiết giáp Đức đã thọc sâu tốc độ cao về eo biển Manche, cô lập chủ lực Đồng Minh ở phía bắc. Thắng lợi ở Dunkirk, tuy không hoàn toàn vì để Lực lượng Viễn chinh Anh kịp sơ tán trong Chiến dịch Dynamo, nhưng cũng đủ mang tính quyết định, tạo điều kiện để đánh quỵ hoàn toàn Quân đội Pháp trong các hoạt động quân sự tiếp theo. Trong giai đoạn Kế Hoạch Đỏ (Fall Rot), quân Đức bọc đánh phòng tuyến Maginot, tiến sâu xuống phía nam, kéo theo Ý nhảy vào tuyên chiến với Pháp ngày 10 tháng 6, cũng trong ngày này Chính phủ Pháp tháo chạy về Bordeaux. Paris thất thủ ngày 14 tháng 6 và từ đó dẫn tới sự khủng hoảng trong chính phủ Pháp. Ngày 17 tháng 6, Thống chế Philippe Pétain thành lập chính phủ mới và tuyên bố Pháp đề nghị đình chiến. Đến ngày 22 tháng 6 năm 1940, 6 tuần lễ sau khi chiến dịch bắt đầu, hiệp định đình chiến giữa Pháp và Đức được ký kết tại Compiègne, và có hiệu lực từ ngày 25 tháng 6, đánh dấu sự đầu hàng của nước Pháp.

Chiến dịch này là một trong những thắng lợi ngoạn mục nhất trong toàn cuộc chiến của phe Trục. Về cơ bản Đức đã đánh quỵ được nước Pháp, đối thủ chính của mình trong giai đoạn này. Chiến thắng nhanh chóng ở Pháp đã đem lại cho Đức ưu thế chiến lược to lớn, một mặt có được bàn đạp cho hoạt động trên không và trên biển chống lại Anh, một mặt khác rảnh tay chuẩn bị cho mặt trận phía đông chống Liên Xô.

Nước Pháp bị chia cắt thành khu vực chiếm đóng của Đức ở miền Bắc và Tây, một khu vực chiếm đóng nhỏ của Ý ở Đông Nam và một vùng tự do ở phía nam do Chính phủ bù nhìn Vichy quản lý. Đến tháng 11 năm 1942, cả vùng tự do cũng bị chiếm đóng và toàn bộ nước Pháp nằm dưới sự thống trị của phe phát xít cho đến khi Đồng Minh đổ bộ lên Normandie năm 1944.

Dữ liệu khí hậu của Praha (1961–1990)
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 12.1 18.1 24.1 29.7 33.0 33.2 36.3 35.2 32.6 25.1 19.0 17.8 36,3
Trung bình cao °C (°F) 0.4 2.7 7.7 13.2 18.3 21.4 23.3 23.0 19.0 13.1 6.0 1.9 12,5
Trung bình ngày, °C (°F) −2 −0.6 3.1 7.6 12.5 15.6 17.1 16.6 13.2 8.3 3.0 −0.2 7,9
Trung bình thấp, °C (°F) −5.3 −4.2 −1.3 2.4 7.1 10.4 11.8 11.5 8.6 4.0 −0.2 −3.4 3,4
Thấp kỉ lục, °C (°F) −25.5 −22.5 −19 −7.1 −2.4 −0.6 5.0 3.4 −0.5 −5.5 −12.4 −23.4 −25,5
Giáng thủy mm (inch) 23.6
(0.929)
22.6
(0.89)
28.1
(1.106)
38.2
(1.504)
77.2
(3.039)
72.7
(2.862)
66.2
(2.606)
69.6
(2.74)
40.4
(1.591)
30.5
(1.201)
31.9
(1.256)
25.3
(0.996)
526,3
(20,72)
Lượng tuyết rơi cm (inch) 17.9
(7.05)
15.9
(6.26)
10.3
(4.06)
2.9
(1.14)
0.0
(0)
0.0
(0)
0.0
(0)
0.0
(0)
0.0
(0)
0.1
(0.04)
8.4
(3.31)
45.9
(18.07)
101,4
(39,92)
độ ẩm 85 82 76 70 70 71 70 72 77 81 85 85 77
Số ngày giáng thủy TB (≥ 1.0 mm) 7.1 5.9 6.6 7.7 10.0 10.4 9.4 9.0 7.3 5.6 7.4 7.2 93,6
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 50.0 72.4 124.7 167.6 214.0 218.3 226.2 212.3 161.0 120.8 53.9 46.7 1.667,9
Nguồn: NOAA[7]
Di sản thế giới tại Cộng hòa Séc
Các vùng của Cộng hòa Séc Cộng hòa Séc
Bắc Âu
Đông Âu
Nam Âu
Tây Âu

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.