Phó Đô đốc

Phó Đô đốc (Vice Admiral) là một cấp bậc tướng hải quân, tương đương với cấp bậc trung tướng. Phó Đô đốc là cấp trên của Chuẩn Đô đốc và là cấp dưới của Đô đốc.

Hải quân Nhân dân Việt Nam

Trong lực lượng Hải quân Nhân dân Việt Nam, quân hàm Phó Đô đốc tương đương Trung tướng (2 sao), ở trên Chuẩn Đô đốc (1 sao) và dưới Đô đốc (3 sao). Theo Luật sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam (2004) thì Đô đốc là bậc quân hàm cao nhất của quân nhân giữ chức vụ Tư lệnh Quân chủng Hải quân.

Một số quân nhân thụ phong hàm này như:

Quân hàm Phó Đô đốc Hải quân Nhân dân Việt Nam

Hải quân Việt Nam Cộng hòa

Cấp bậc Phó Đô đốc trong Hải quân Việt Nam Cộng hòatrung tướng hải quân 3 sao.

Phó Đô đốc tiêu biểu:

TrungtuongHQLVNCH1963

Quân hàm Phó đô đốc trước 1964

TrungtuongHQLVNCH

Quân hàm Phó đô đốc sau 1964

Úc

Trong Hải quân Hoàng gia Úc, cấp bậc Phó Đô đốc là Tư lệnh Hải quân Úc (Chief of Navy). Các sĩ quan sau đây cũng có cấp bậc này nếu họ là các sĩ quan Hải quân: Phó Tư lệnh Lực lượng Quốc phòng (Vice Chief of the Defence Force), Tư lệnh Chiến dịch Phối hợp (Chief of Joint Operations). Phó Đô đốc của Úc tương đương với cấp bậc Tư lệnh Không quân Hoàng gia Úc và tương đương với trung tướng trong Lục quân Úc.

Canada

Trong Hải quân Canada, cấp bậc Phó Đô đốc tương đương trung tướng Lục quân Canada hay Không quân Canada.

Pháp

Tại Pháp, cấp bậc Phó Đô đốc là Vice-amiral là cấp bậc tướng hải quân ba sao, tương đương thiếu tướng. Cấp bậc cao hơn là Phó Đô đốc Hạm đội (Vice-amiral d'escadre, mang bốn sao, tương đương (trung tướng) và Đô đốc (Amiral, mang năm sao, tương đương đại tướng).

Marque VA

Cờ hiệu Phó Đô đốc Pháp.

Grade-Vice-Amiral

Quân hàm Phó Đô đốc Pháp trên cầu vai áo

Ý

Tại Ý, tương đương cấp bậc Phó Đô đốc là Ammiraglio di Squadra.

Hoa Kỳ

Trong Hải quân Hoa Kỳ, các Phó Đô đốc thường thường là các tư lệnh của các hạm đội mang số của Hoa Kỳ quanh khắp thế giới mà hình thành các bộ phận hải quân của từng vùng tư lệnh thống nhất. Trong số năm hạm đội mang số của Hoa Kỳ, bốn hạm đội có tàu chỉ huy hoạt động như soái hạm của Phó Đô đốc. Các Phó Đô đốc Mỹ cho bay một cờ màu xanh biển với ba ngôi sao trắng như là lệnh kỳ.

US Navy O9 insignia

Quân hàm Phó Đô đốc Hoa Kỳ.

Chú thích

  1. ^ Bổ nhiệm, thăng quân hàm, cấp bậc một số cán bộ của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an, Báo điện tử Quân đội nhân dân, ngày 1 tháng 1 năm 2008
Chiến dịch Guadalcanal

Chiến dịch Guadalcanal, còn gọi là Trận Guadalcanal, và tên mã của Đồng Minh là Chiến dịch Watchtower, diễn ra từ ngày 7 tháng 8 năm 1942 đến ngày 9 tháng 2 năm 1943 trên đảo Guadalcanal và khu vực phụ cận tại quần đảo Solomon của Mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Việc tranh chấp diễn ra ác liệt cả trên bộ, trên biển và trên không; chiến dịch này là cuộc tấn công lớn đầu tiên của phe Đồng Minh chống lại Đế quốc Nhật Bản sau một thời gian dài phòng thủ.Vào ngày 7 tháng 8 năm 1942, lực lượng Đồng Minh, chủ yếu là Mỹ, thực hiện đổ bộ lên các đảo Guadalcanal, Tulagi, và Florida (Nggela Sule) phía Nam quần đảo Solomon với mục tiêu ngăn chặn quân Nhật sử dụng chúng làm căn cứ đe dọa con đường vận chuyển từ Mỹ đến Australia và New Zealand. Đồng Minh còn định sử dụng Guadalcanal và Tulagi như những căn cứ hỗ trợ cho chiến dịch chiếm đóng hoặc vô hiệu hóa căn cứ chủ lực của Nhật tại Rabaul trên đảo New Britain. Lực lượng Đồng Minh đã áp đảo số lượng quân Nhật phòng thủ nhỏ bé, vốn đã chiếm đóng các đảo này từ tháng 5 năm 1942, chiếm giữ Tulagi và Florida cùng một sân bay (sau này được đặt tên là Henderson) đang được xây dựng trên đảo Guadalcanal.

Bị bất ngờ bởi đòn tấn công của Đồng Minh, phía Nhật Bản từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1942 đã nhiều lần tìm cách chiếm lại sân bay Henderson. Ba trận chiến lớn trên bộ, năm trận hải chiến lớn, và các cuộc không chiến diễn ra liên tục hầu như hàng ngày, mà đỉnh điểm là trận Hải chiến Guadalcanal mang tính quyết định vào đầu tháng 11 năm 1942, trong đó nỗ lực cuối cùng nhằm tăng viện đủ số lượng binh lính để chiếm lại sân bay Henderson bị đánh bại. Sang tháng 12 năm 1942, phía Nhật từ bỏ mọi hy vọng tái chiếm Guadalcanal và triệt thoái các lực lượng còn lại vào ngày 7 tháng 2 năm 1943.

Chiến dịch Guadalcanal đánh dấu một chiến thắng chiến lược đáng kể nhờ phối hợp các binh chủng bởi lực lượng Đồng Minh đối với Nhật Bản tại mặt trận Thái Bình Dương. Quân Nhật đã đạt đến cao trào trong sự xâm chiếm của họ tại Thái Bình Dương, và Guadalcanal đánh dấu sự chuyển mình của Đồng Minh từ các chiến dịch phòng thủ sang tấn công chiến lược tại mặt trận này.

Chuẩn Đô đốc

Chuẩn Đô đốc (tiếng Anh: Rear admiral, tiếng Pháp: Contre-amiral), còn được gọi là Đề đốc, là cấp bậc sĩ quan hải quân cao cấp đầu tiên của bậc Đô đốc, là một cấp bậc tướng hải quân, tương đương với cấp bậc Thiếu tướng, dưới bậc Phó Đô đốc.

Cuộc hành quân Ten-Go

Cuộc hành quân Ten-Go (kyūjitai: 天號作戰, shinjitai: 天号作戦; rōmaji: Ten-gō Sakusen; phiên âm Hán-Việt: Thiên hiệu tác chiến

) là cuộc tổng phản công của Hải quân Đế quốc Nhật Bản nhằm vào lực lượng Đồng Minh tại Okinawa. Đây cũng là trận đụng độ không quân - hải quân cuối cùng giữa hải quân Nhật và Mỹ tại mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Một số tên gọi khác được sử dụng cho chiến dịch này là Chiến dịch Thiên Hiệu, Operation Heaven One (tiếng Anh) hay Ten-ichi-gō (tiếng Nhật), Hải chiến Bonomisakioki.

Tháng 4 năm 1945, Đệ nhị hạm đội thuộc Hạm đội Liên hợp Nhật Bản bao gồm thiết giáp hạm lớn nhất thế giới Yamato, cùng tuần dương hạm hạng nhẹ Yahagi và 8 khu trục hạm đã thực hiện một cuộc tổng phản công của hải quân Nhật ở Okinawa; nhưng nếu lưu ý kỹ càng hơn về văn hóa Nhật Bản và tình thế chiến tranh của Nhật lúc đó, có thể nhận thấy cuộc hành quân này chính là một hành động "Harakiri - tự sát để bảo toàn danh dự" của Hải quân Đế quốc Nhật Bản theo truyền thống võ sĩ đạo. Tuy nhiên, trước khi đến được Okinawa, chỉ trong 2 giờ, những máy bay Mỹ xuất phát từ các hàng không mẫu hạm đã đánh chìm Yamato, Yahagi cùng 4 khu trục hạm khác vào ngày 7 tháng 4 năm 1945. Cùng lúc đó, để phối hợp với cuộc hành quân này, người Nhật đã cho xuất phát nhiều Kamikaze từ phi trường cực nam Kyūshū tấn công hạm đội Mỹ tại Okinawa gây hư hại cho một số tàu chiến Mỹ.

Trận đánh này đã chứng tỏ sức mạnh vượt trội của không, hải quân Mỹ trên Thái Bình Dương cũng như uy lực nổi trội của hàng không mẫu hạm so với thiết giáp hạm không có sự che chở của không lực. Thất bại trong cuộc hành quân này đã đánh dấu chấm hết của Hải quân Nhật cũng như báo hiệu giờ tàn của Đế quốc Nhật Bản trong cuộc chiến.

HMS Indefatigable (1909)

HMS Indefatigable là một tàu chiến-tuần dương của Hải quân Hoàng gia Anh Quốc, là chiếc dẫn đầu của lớp Indefatigable, một phiên bản mở rộng so với lớp Invincible dẫn trước, được cải thiện cách sắp xếp bảo vệ và kéo dài thân tàu để hai tháp pháo giữa tàu có thể bắn được cả hai bên mạn. Indefatigable được đặt lườn vào năm 1909 và đưa ra hoạt động vào năm 1911.

Khi Chiến tranh Thế giới thứ nhất mở màn, Indefatigable phục vụ cùng với Hải đội Tàu chiến-Tuần dương 2 tại Địa Trung Hải, nơi nó săn đuổi không thành công tàu chiến-tuần dương Goeben và tàu tuần dương hạng nhẹ Breslau của Hải quân Đế quốc Đức khi chúng thoát về hướng Đế quốc Ottoman. Con tàu đã bắn phá các pháo đài Thổ Nhĩ Kỳ phòng thủ eo biển Dardanelles vào ngày 3 tháng 11 năm 1914, rồi sau một đợt tái trang bị tại Malta, đã quay trở về Anh vào tháng 2 năm 1915 nơi nó tái gia nhập Hải đội Tàu chiến-Tuần dương 2.

Indefatigable bị đánh chìm vào ngày 31 tháng 5 năm 1916 trong trận Jutland, trận hải chiến lớn nhất của cuộc chiến tranh. Trong thành phần Hạm đội Tàu chiến-Tuần dương dưới quyền chỉ huy của Phó Đô đốc Sir David Beatty, nó bị bắn trúng nhiều phát ngay những phút đầu tiên của đợt "Chạy về phía Nam", giai đoạn mở đầu của trận chiến. Những phát đạn pháo từ tàu chiến-tuần dương Đức Von der Tann đã gây một vụ nổ làm thủng một lỗ lớn trên lườn tàu, và một vụ nổ thứ hai làm tung những mảnh lớn của con tàu lên cao 200 ft (61 m). Chỉ có ba người trong tổng số 1.017 thành viên thủy thủ đoàn sống sót.

HMS Lion (1910)

HMS Lion là một tàu chiến-tuần dương của Hải quân Hoàng gia Anh Quốc, là chiếc dẫn đầu trong lớp của nó, vốn được đặt tên lóng là những "Con mèo Tráng lệ" (Splendid Cats). Chúng được cải tiến đáng kể so với những chiếc trong lớp Indefatigable dẫn trước về tốc độ, vỏ giáp và vũ khí. Lớp Lion nhanh hơn 2 hải lý một giờ (3,7 km/h; 2,3 mph), thay đổi cỡ nòng dàn pháo chính từ 12 inch (305 mm) lên 13,5 inch (343 mm) với cùng số khẩu pháo, và có đai giáp chính dày đến 9 inch (229 mm) thay vì 6 inch (152 mm) như của lớp Indefatigable. Nó là nhằm đối phó với những tàu chiến-tuần dương đầu tiên của Hải quân Đức, lớp Moltke, vốn lớn hơn nhiều và mạnh mẽ hơn những tàu chiến-tuần dương đầu tiên của Anh, lớp Invincible.

Lion đã phục vụ như là soái hạm của lực lượng tàu chiến-tuần dương thuộc Hạm đội Grand Anh Quốc trong suốt Chiến tranh Thế giới thứ nhất, trừ những giai đoạn nó được sửa chữa hay tái trang bị. Nó đã đánh chìm tàu tuần dương hạng nhẹ Đức Köln trong trận Heligoland Bight, và đã hoạt động như là soái hạm của Phó Đô đốc David Beatty trong các trận Dogger Bank và Jutland. Nó bị hư hại nặng trong trận Heligoland Bight đến mức phải được chiếc Indomitable kéo quay trở về cảng; việc sửa chữa đã kéo dài hơn hai tháng. Còn trong trận Jutland, nó chịu đựng một đám cháy thuốc phóng nghiêm trọng đến mức có thể đã phá hủy toàn bộ con tàu, nếu như không có hành động kịp thời của Thiếu tá Francis Harvey, chỉ huy tháp pháo, người được truy tặng huân chương Chữ thập Victoria do đã ra lệnh làm ngập nước hầm đạn. Tuy nhiên, đám cháy đã phá hủy một tháp pháo, buộc phải tháo dỡ và tái cấu trúc khi con tàu được sửa chữa trong nhiều tháng sau đó.

Nó trải qua phần còn lại của cuộc chiến tuần tra tại Bắc Hải mà không gặp sự kiện gì, mặc dù đã hỗ trợ từ xa trong Trận Heligoland Bight thứ hai vào năm 1917. Đến năm 1920 Lion được đưa về lực lượng dự bị, rồi được bán để tháo dỡ vào năm 1924 theo những điều khoản của Hiệp ước Hải quân Washington.

Hạm đội 7 Hoa Kỳ

Hạm đội 7 Hoa Kỳ hay Hạm đội 7 (United States Seventh Fleet) là một đội hình quân sự của hải quân Hoa Kỳ có căn cứ tại Yokosuka, Nhật Bản, với các đơn vị đóng gần Hàn Quốc và Nhật Bản. Nó được đặt dưới quyền chỉ huy của Hạm đội Thái Bình Dương. Hiện tại nó là hạm đội lớn nhất trong các hạm đội triển khai tiền phương của Hoa Kỳ, với 50–60 chiến hạm, 350 máy bay và 60.000 nhân sự hải quân và thủy quân lục chiến. Với sự hỗ trợ của các Tư lệnh Lực lượng Đặc nhiệm, nó có ba việc được giao chính đó là:

Bộ tư lệnh lực lượng đặc nhiệm hỗn hợp trong một thiên tai hoặc các cuộc hành quân hỗn hợp,

Bộ tư lệnh hành quân của tất cả các lực lượng hải quân trong vùng, và

Bảo vệ Bán đảo Triều Tiên.

Hạm đội Liên hợp

Hạm đội Liên hợp (kyūjitai: 聯合艦隊, shinjitai: 連合艦隊; rōmaji: Rengōkantai; phiên âm Hán-Việt: Liên hợp hạm đội

) là một hạm đội của Hải quân Đế quốc Nhật Bản. Đây là hạm đội không thường trực, được thành lập trên cơ sở ít nhất 2 hạm đội thường trực. Hải quân Nhật gọi tắt hạm đội này là GF (từ chữ Grand Fleet trong tiếng Anh) mặc dù 聯合艦隊 trong tiếng Anh lại là Combined Fleet.

Hải chiến Guadalcanal

Trận hải chiến Guadalcanal hay theo như cách gọi của Nhật Bản là Dai Sanji Solomon Kaisen (第三次ソロモン海戦, だいさんじソロモンかいせん; Hải chiến Solomon lần thứ ba), diễn ra từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 11 năm 1942, là một trong nhiều trận hải chiến giữa Nhật Bản và quân Đồng Minh (chủ yếu là Hoa Kỳ) trong chiến dịch Guadalcanal kéo dài nhiều tháng tại quần đảo Solomon trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Trận hải chiến bao gồm nhiều cuộc không kích và đấu pháo giữa các chiến hạm trong suốt bốn ngày, hầu hết ở gần Guadalcanal và đều liên quan đến nỗ lực của Nhật Bản đổ quân lên đảo. Trận đánh này có điểm nổi bật là hai đô đốc Hải quân Hoa Kỳ duy nhất tử trận trong suốt cuộc chiến tranh.

Lực lượng Đồng Minh, chủ yếu là quân Hoa Kỳ, đổ bộ lên Guadalcanal vào ngày 7 tháng 8 năm 1942 để đánh chiếm một sân bay, sau này được đặt tên là sân bay Henderson, mà quân đội Nhật Bản đang xây dựng. Nhiều nỗ lực tiếp theo của Lục quân và Hải quân Đế quốc Nhật Bản sử dụng lực lượng tăng cường bằng tàu lên Guadalcanal để giành lại sân bay đều bị thất bại. Vào đầu tháng 11 năm 1942, quân Nhật đã tập hợp một đoàn tàu vận tải chuyển 7.000 binh lính và quân nhu đến Guadalcanal, một lần nữa cố đánh chiếm lại sân bay. Nhiều tàu chiến Nhật Bản được giao nhiệm vụ bắn phá vào sân bay Henderson nhằm tiêu diệt máy bay Đồng Minh vốn là mối đe dọa cho đoàn tàu vận chuyển. Biết được lực lượng tăng cường của Nhật đang đến, Hoa Kỳ đã tung máy bay và tàu chiến ra nhằm bảo vệ sân bay và ngăn chặn Nhật Bản đổ quân.

Kết quả của trận này là cả hai bên đều bị mất rất nhiều tàu chiến trong hai trận đánh hết sức khốc liệt trong đêm tối. Dầu sao đi chăng nữa, quân Hoa Kỳ đã thành công trong việc đẩy lui được những nỗ lực của quân Nhật Bản trong việc dùng thiết giáp hạm bắn phá sân bay Henderson. Các cuộc không kích của máy bay Đồng Minh cũng đánh chìm được hầu hết tàu vận tải chở quân nhu và ngăn không cho đoàn tàu chở quân tiếp viện của quân Nhật Bản đến được Guadalcanal. Vì vậy, trận này đã đẩy lùi nỗ lực lớn cuối cùng của Nhật Bản trong việc cố gắng đánh bật lực lượng Đồng Minh ra khỏi Guadalcanal và khu vực gần Tulagi. Quân Hoa Kỳ đã giành được thắng lợi chiến lược cho toàn bộ chiến dịch Guadalcanal trong trận hải chiến này và xoay chuyển tình thế theo hướng có lợi cho mình.

Kaiser (lớp thiết giáp hạm)

Lớp thiết giáp hạm Kaiser là một lớp bao gồm năm thiết giáp hạm của Hải quân Đế quốc Đức trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Chúng là lớp thiết giáp hạm dreadnought thứ ba được Đức chế tạo, và là lớp đầu tiên được trang bị động cơ turbine cùng các tháp pháo bắn thượng tầng. Những chiếc trong lớp bao gồm: Kaiser, Friedrich der Grosse, Kaiserin, Prinzregent Luitpold và König Albert. Như thường thấy trên những thiết giáp hạm Đức đương thời, lớp Kaiser trang bị pháo chính có cỡ nòng nhỏ hơn so với các đối thủ Anh: 30,5 cm (12,0 in) so với 34,3 cm (13,5 in) trên lớp Orion Anh Quốc.Cả năm chiếc trong lớp đã hoạt động tại Bắc Hải trong chiến tranh; chúng cùng phục vụ với nhau như là Đội 4 của Hải đội Chiến trận 3. Bốn chiếc đã có mặt trong trận Jutland, König Albert đang ở trong ụ tàu vào lúc đó; trong số bốn chiếc tham gia trận hải chiến, chỉ có Kaiser bị hư hại do trúng hai quả đạn pháo hạng nặng. Các con tàu cũng tham gia Chiến dịch Albion tại biển Baltic; khi chúng được tái tổ chức thành Hải đội Chiến trận 4 dưới quyền chỉ huy của Phó Đô đốc Wilhelm Souchon.Khi chiến tranh kết thúc, cả năm chiếc trong lớp đều bị lưu giữ tại căn cứ Hải quân Anh ở Scapa Flow. Vào ngày 21 tháng 6 năm 1919, chúng bị đánh đắm để tránh không bị Hải quân Hoàng gia Anh chiếm giữ. Sau này các con tàu lần lượt được cho trục vớt và tháo dỡ từ năm 1929 đến năm 1937.

Quận Cảnh bị Ōminato

Quận Cảnh bị Ōminato (大湊警備府, Ōminato Keibifu) là căn cứ hải quân quan trọng của Hải quân Đế quốc Nhật Bản ở miền bắc Honshu trước và trong Thế chiến II. Nằm trong vịnh Mutsu (ngày nay là thành phố Mutsu, tỉnh Aomori) Quận Cảnh bị Ōminato chịu trách nhiệm kiểm soát eo biển Tsugaru chiến lược giữa Honshu và Hokkaidō và tuần tra dọc theo bờ biển Hokkaidō, Karafuto và quần đảo Kurile.

Trung tướng

Trung tướng là quân hàm sĩ quan cao cấp trong quân đội nhiều quốc gia. Trong các lực lượng vũ trang Việt Nam, kể cả Quân đội và Công an, quân hàm này dưới hàm Thượng tướng, trên Thiếu tướng.

Quân hàm Trung tướng của Quân đội Nhân dân Việt Nam mang 2 sao, hiện nay, tương đương quân hàm Lieutenant General (Quân đội tức Lục quân Mỹ, có 3 sao; Quân đội tức Lục quân Hoàng gia Anh), Général de Corps d'Armée (Quân đội tức Lục quân Pháp, có 4 sao), Генерал-лейтенант (Quân đội tức Lục quân Nga), Zhong Jiang 中将 (Quân đội Trung Quốc).

Hàm tương đương trong Hải quân Anh và Mỹ là Vice Admiral (Phó Đô đốc), trong Hải quân Pháp là Vice-amiral d'escadre (Phó Đô đốc Hạm đội, có 4 sao), trong Hải quân Nga là вице-адмирал (Phó Đô đốc). Trung tướng Không quân Anh được gọi là Air Marshal.

Trung tướng trong Quân đội Trung Quốc thường đảm nhiệm chức vụ quân đoàn trưởng, Tư lệnh hoặc Phó Tư lệnh Đại quân khu.

Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam

Trung tướng là một cấp bậc trong Quân đội nhân dân Việt Nam quy định trong bảng cấp bậc từ Thiếu úy đến Đại tướng.

Trận Iwo Jima

Trận Iwo Jima (tiếng Anh: Battle of Iwo Jima, tiếng Nhật: 硫黄島の戦い, diễn ra từ ngày 19 tháng 2 đến ngày 26 tháng 3 năm 1945) là trận đánh thuộc mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai giữa Hoa Kỳ và Đế quốc Nhật Bản tại đảo Iwo Jima. Đây là một trong những trận đánh ác liệt nhất của chiến trường Thái Bình Dương và kết quả sau một tháng giao tranh, quân Mỹ đã chiếm được Iwo Jima với thương vong khủng khiếp của cả hai bên tham chiến. Sau khi chiếm được hòn đảo, người Mỹ đã biến nó thành một căn cứ không quân cho những chiếc khu trục cơ yểm trợ máy bay ném bom hạng nặng B-29 trút bom xuống các trung tâm công nghiệp trọng điểm trên lãnh thổ Nhật Bản và làm bàn đạp tấn công Tokyo

Iwo Jima cũng là trận đánh đầu tiên của quân đội Mỹ trên lãnh thổ Nhật Bản. Do đó, quân Mỹ đã phải đối đầu với một hệ thống phòng ngự dày đặc cùng với các công sự kiên cố, trận địa pháo được ngụy trang, địa đạo dưới mặt đất và sức chống trả ngoan cường của người Nhật dựa vào các hang động tự nhiên và địa hình núi đá hiểm trở. Đỉnh Suribachi, điểm cao nhất trên hòn đảo và cũng là một vị trí phòng thủ quan trọng của quân Nhật, bị lính thủy đánh bộ Mỹ đánh chiếm vào ngày 23 tháng 2 và bức ảnh sáu lính thủy đánh bộ cắm cờ chiến thắng trên đỉnh Suribachi với tên gọi "Raising the Flag on Iwo Jima" đã trở thành biểu tượng cho trận đánh. Tuy nhiên, phải đến ngày 16 tháng 3, hòn đảo mới chính thức được người Mỹ tuyên bố an toàn với con số thương vong phía Mỹ là 6.821 người chết và 19.189 người bị thương, trong khi 21.000 quân Nhật trú phòng trên đảo, chỉ còn duy nhất 216 người sống sót bị bắt làm tù binh. Đây là trận đánh duy nhất của thủy quân lục chiến Hoa Kỳ mà số thương vong tổng cộng của Mỹ lớn hơn của Nhật, dù số quân Nhật tử trận gấp ba lần số quân Mỹ.Trận Iwo Jima cũng đã làm nên tên tuổi của vị tướng Nhật có nhiệm vụ bảo vệ hòn đảo là đại tướng Kuribayashi Tadamichi. Bối cảnh trận đánh đã được dựng thành nhiều bộ phim nổi tiếng, trong đó gần đây là hai bộ phim Flags of Our Fathers (Ngọn cờ cha ông) và Letters from Iwo Jima (Những bức thư từ Iwo Jima) của đạo diễn Clint Eastwood.

Trận Trân Châu Cảng

Trận tấn công Trân Châu Cảng (hay Chiến dịch Hawaii theo cách gọi của Bộ Tổng tư lệnh Đế quốc Nhật Bản) là một đòn tấn công quân sự bất ngờ được Không lực Hải quân Nhật Bản thực hiện nhằm vào căn cứ hải quân của Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng thuộc tiểu bang Hawaii vào sáng Chủ Nhật, ngày 7 tháng 12 năm 1941, dẫn đến việc Hoa Kỳ sau đó quyết định tham gia vào hoạt động quân sự trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Trận đánh này được trù tính sẽ ngăn ngừa và giữ chân Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ không can thiệp đến cuộc chiến mà Nhật Bản đang hoạch định nhằm xâm chiếm Đông Nam Á, chống lại Anh Quốc, Hà Lan và Hoa Kỳ. Cuộc tấn công bao gồm hai đợt không kích với tổng cộng 353 máy bay xuất phát từ 6 tàu sân bay Nhật Bản. Trận tấn công đã đánh chìm 4 thiết giáp hạm Hoa Kỳ (2 chiếc trong số đó sau này được vớt lên và đưa trở lại hoạt động), và gây hư hỏng cho 4 chiếc khác. Quân Nhật còn đánh chìm hoặc phá hoại 3 tàu tuần dương, 3 tàu khu trục và 1 tàu thả mìn, phá hủy 188 máy bay, gây tổn thất về nhân mạng là 2.402 người tử trận và 1.282 người khác bị thương. Các trạm phát điện, xưởng tàu, xưởng sửa chữa và các kho chứa nhiên liệu và ngư lôi, cùng các bến tàu dành cho tàu ngầm và tòa nhà sở chỉ huy (cũng là nơi đặt bộ phận tình báo) đã không bị đánh trúng. Nhật Bản thiệt hại ít nhất, chỉ mất 29 máy bay và 4 tàu ngầm mini, với 65 người thương vong.

Cuộc tấn công là một sự kiện lớn trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Nó đã diễn ra trước khi có bất cứ một lời tuyên chiến chính thức nào được đưa ra, cả trước khi phần cuối cùng trong một thông điệp gồm 14 phần được chuyển hoàn tất đến Bộ Ngoại giao ở Washington, D.C. Tòa Đại sứ Nhật Bản ở Washington đã được chỉ thị phải chuyển giao thông điệp này ngay trước thời điểm trù định cho cuộc tấn công ở Hawaii. Cuộc tấn công, và đặc biệt là bản chất "bất ngờ" của nó, là hai nhân tố khiến cho công chúng Hoa Kỳ thay đổi quan điểm từ những người theo chủ nghĩa biệt lập (Isolationism) như vào những năm giữa thập niên 1930 sang ủng hộ việc Hoa Kỳ tham chiến. Nhật Bản đã không đưa ra một lời tuyên chiến chính thức nào trước khi thình lình tấn công Trân Châu Cảng, trong khi hai quốc gia Hoa Kỳ và Nhật Bản vẫn còn đang trong giai đoạn đàm phán hoà bình, vì thế cuộc tấn công bất ngờ này bị dư luận quốc tế xem là đánh lén (sneak attack), và Tổng thống Franklin D. Roosevelt tuyên bố rằng ngày 7 tháng 12 năm 1941 "sẽ sống mãi trong sự ô nhục" ("A date which will live in infamy").

Tiếp theo Hoa Kỳ, Anh và các thuộc địa của Anh, chính phủ Hà Lan và một loạt các quốc gia Mỹ Latinh cũng tuyên chiến với Nhật. Về phía phe Trục, ngày 11 tháng 12, Đức Quốc xã và Ý cũng tuyên chiến với Hoa Kỳ lấy cớ là Hoa Kỳ đã phá vỡ "sự trung lập". Theo đó, România, Hungary, Bulgaria và Slovakia cũng tuyên chiến với Hoa Kỳ. Việc Đức nhanh chóng tuyên chiến với Hoa Kỳ mà không bị thúc ép bởi bất kỳ cam kết nào với Nhật Bản đã lập tức khiến Hoa Kỳ can dự vào Mặt trận châu Âu.

Trận chiến Đông Solomon

Trận chiến Đông Solomon (hay còn gọi là Trận chiến quần đảo Stewart và theo tài liệu của Nhật là Trận chiến biển Solomon lần thứ hai - 第二次ソロモン海戦), diễn ra từ ngày 24 tháng 8 đến ngày 25 tháng 8 năm 1942, là trận hải chiến hàng không mẫu hạm thứ ba trên mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai (hai trận trước là Trận biển Coral và Trận Midway), trận hải chiến lớn thứ hai giữa Hải quân Hoa Kỳ và Hải quân Đế quốc Nhật Bản về mặt thời gian trong chiến dịch Guadalcanal (trận hải chiến lớn đầu tiên trong chiến dịch này là Trận đảo Savo). Giống như trong các trận chiến tại biển San hô và Midway, các chiến hạm của cả hai bên đã không nhìn thấy nhau và các đợt tấn công của cả hai bên đều được tiến hành bằng các máy bay xuất phát từ hàng không mẫu hạm hay các căn cứ trên đất liền.

Với mục tiêu tái chiếm sân bay Henderson và đẩy lùi quân Đồng Minh khỏi Guadalcanal, Lục quân Đế quốc Nhật Bản đã quyết định đưa thêm quân đổ bộ lên Guadalcanal. Để yểm trợ cho cuộc đổ bộ này cũng như để tiêu diệt Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ, đô đốc Isoroku Yamamoto đã quyết định gửi đến vùng quần đảo Solomon một lực lượng lớn thuộc Hạm đội Liên hợp bao gồm ba hàng không mẫu hạm và nhiều chiến hạm khác do phó đô đốc Nagumo Chūichi chỉ huy. Cùng lúc đó, nhận được tin hạm đội Nhật tiến về phía quần đảo Solomon, ba Lực lượng đặc nhiệm hàng không mẫu hạm Mỹ của Đô đốc Frank Jack Fletcher cũng tiến đến Guadalcanal để đối phó các nỗ lực tấn công của quân Nhật.

Kết thúc trận đánh, cả hai hạm đội Nhật và Hoa Kỳ đều lần lượt rút lui sau khi chịu một số thiệt hại mặc dù cả hai đều không đạt được một thắng lợi rõ ràng. Tuy nhiên, Hoa Kỳ và các đồng minh của mình đã giành được một lợi thế lớn hơn cả về chiến thuật lẫn chiến lược trong trận đánh này vì phía Đồng Minh tổn thất ít hơn phía Nhật, đặc biệt là việc hải quân Nhật đã mất một số lượng đáng kể các máy bay và phi hành đoàn có kinh nghiệm. Ngoài ra người Nhật còn phải đình chỉ việc tăng quân cho Guadalcanal và từ đó trở đi buộc phải dùng các khu trục hạm thay thế các chuyển vận hạm vào nhiệm vụ chở quân, giúp cho Đồng Minh có thêm thời gian chuẩn bị chống lại các cuộc phản công của lục quân Nhật và ngăn chặn người Nhật đổ bộ được pháo hạng nặng, cung cấp đạn dược và hàng tiếp liệu cho lính Nhật đang chiến đấu ở trên đảo.

USS Missouri (BB-63)

USS Missouri (BB-63) (tên lóng "Mighty Mo" hay "Big Mo") là một thiết giáp hạm thuộc lớp Iowa của Hải quân Hoa Kỳ và là chiếc tàu chiến thứ tư của Hải quân Mỹ mang cái tên này nhằm tôn vinh tiểu bang Missouri. Missouri là chiếc thiết giáp hạm cuối cùng mà Hoa Kỳ chế tạo, và là địa điểm ký kết văn kiện đầu hàng vô điều kiện của Đế quốc Nhật Bản, chấm dứt Chiến tranh thế giới thứ hai.

Missouri được đặt hàng vào năm 1940 và được đưa vào hoạt động vào tháng 6 năm 1944. Tại Mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nó tham gia các trận đánh Iwo Jima và Okinawa cũng như nả đạn pháo xuống các hòn đảo chính quốc Nhật Bản. Sau Thế Chiến, Missouri tham gia chiến tranh Triều Tiên từ năm 1950 đến năm 1953. Nó được cho ngừng hoạt động vào năm 1955 và được đưa về hạm đội dự bị Hải quân Mỹ, nhưng sau đó được đưa trở lại hoạt động và được hiện đại hóa vào năm 1984 như một phần của kế hoạch 600 tàu chiến Hải quân thời Tổng thống Ronald Reagan, và đã tham gia chiến đấu năm 1991 trong cuộc chiến tranh Vùng Vịnh.

Missouri nhận được tổng cộng mười một ngôi sao chiến đấu cho các hoạt động trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh Vùng Vịnh, và cuối cùng được cho ngừng hoạt động vào ngày 31 tháng 3 năm 1992, nhưng vẫn được giữ lại trong Đăng bạ Hải quân cho đến khi tên nó được gạch bỏ vào tháng 1 năm 1995. Đến năm 1998 nó được trao tặng cho hiệp hội "USS Missouri Memorial Association" và trở thành một tàu bảo tàng tại Trân Châu Cảng, Hawaii.

Vùng Hải quân Yokosuka

Vùng Hải quân Yokosuka (横須賀鎮守府, Yokosuka chinjufu) là cơ sở đầu tiên trong bốn quận hành chính chính của Hải quân Đế quốc Nhật Bản trước chiến tranh. Lãnh thổ của nó bao gồm vịnh Tokyo và bờ biển giáp Thái Bình Dương của miền trung và miền bắc Honshū từ bán đảo Kii đến bán đảo Shimokita. Trụ sở chính của nó, cùng với hầu hết các cơ sở của nó, bao gồm cả Quân xưởng Hải quân Yokosuka, được đặt tại thành phố Yokosuka, với tất cả cơ sở đó thuộc Căn cứ Hải quân Yokosuka.

Vùng hải quân Kure

Vùng Hải quân Kure (呉鎮守府, Kure chinjufu) là khu vực thứ hai trong số bốn khu vực hành chính chủ lực của Hải quân Đế quốc Nhật Bản trước chiến tranh thế giới thứ hai. Phân vùng của nó bao gồm vùng biển nội địa của Nhật Bản và bờ biển Thái Bình Dương của miền nam Honshū từ Wakayama đến tỉnh Yamaguchi, phía đông và phía bắc Kyūshū và Shikoku.

Khu vực của Vùng Hải quân Kure bao gồm Khu neo thuyền Hashirajima nằm ở phía nam của Vịnh Hiroshima, cách Kure 30–40 km về phía tây nam. Khi không cần sửa chữa, tàu thường neo trong khu vực này để giải phóng không gian bến tàu tại Kure. Hashirajima cũng là một khu vực dàn dựng lớn cho các hoạt động của hạm đội.

Cảng Tokuyama, cũng là một phần của Vùng Hải quân Kure, và là kho nhiên liệu lớn nhất của Hải quân Nhật Bản.

Đô đốc

Danh xưng Đô đốc (Chữ Hán:都督)trong tiếng Việt ngày nay được hiểu theo nghĩa hẹp là bậc quân hàm sĩ quan cao cấp trong lực lượng Hải quân các quốc gia, tương đương cấp bậc Admiral trong tiếng Anh; hoặc theo nghĩa rộng là các tướng lĩnh hải quân, bao gồm cả các cấp bậc Phó đô đốc và Chuẩn đô đốc. Theo nghĩa hẹp, cấp bậc Đô đốc hải quân được xem là cấp bậc cao cấp nhất mà một sĩ quan hải quân có thể đạt được ở nhiều quốc gia. Một số quốc gia còn hình thành quân hàm Đô đốc Hạm đội hoặc Thủy sư đô đốc (Fleet Admiral ở Mỹ, Admiral of the Fleet ở Anh) trên cả cấp bậc Đô đốc. là quân hàm cao nhất trong hải quân, tương đương hàm Thống tướng, Thống chế hay Nguyên soái. Tuy nhiên, trong nhiều quốc gia, quân hàm Đô đốc là quân hàm cao nhất của lực lượng hải quân, tương đương Đại tướng (4 sao).

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.