Patagonia

Patagonia là một khu vực địa lý bao gồm phần cực nam của Nam Mỹ. Khu vực này nằm ở ArgentinaChile, bao gồm phần phía nam của dãy núi Andes chạy dọc phía tây nam tới Thái Bình Dương và chạy dọc phía đông nam qua sông Corolado tới Carmen de Patagones ra Đại Tây Dương. Về phía tây, nó bao gồm lãnh thổ Valdivia thông qua quần đảo Tierra del Fuego.[1]

Tên Patagonia bắt nguồn từ tên patagón,[2] cái tên được Ferdinand Magellan mô tả những người bản xứ mà đoàn viễn chinh của ông tưởng nhầm là những người khổng lồ. Ngày nay người ta tin rằng Patagon thực ra là tộc người Tehuelches với chiều cao trung bình 180 cm (~5′11″) so với chiều cao 155 cm (~5′1″) của người Tây Ban Nha thời đó.[3]

Phần Argentina thuộc Patagonia bao gồm các tỉnh Neuquén, Río Negro, ChubutSanta Cruz, phần phía đông quần đảo Tierra del Fuego.

Phần Chile thuộc Patagonia bao gồm phần phía nam của Valdivia, Los Lagos ở hồ Llanquihue, Chiloé, Puerto Montt, khu vực khảo cổ của Monte Verde, các vịnh nhỏ và quần đảo phía nam của Aisén và Magallanes, bao gồm phần phía tây của Tierra del FuegoCape Horn.[4]

Glaciar Perito Moreno (Argentina)

Pẻito Moẻno

Base del Cerro Catedral en Bariloche. (Patagonia Argentina) 01

Bảiloche

Ballenas en Península Valdès

Valdes

Ushuaia6a (js)

Ushuaia

Pat map
Patagonia

Liên kết

Chú thích

  1. ^ Patagonia: Natural History, Prehistory and Ethnography at the Uttermost End of the Earth, C. McEwan, L.A. and A. Prieto (eds), Princeton University Press with British Museum Press, 1997. ISBN 0-691-05849-0
  2. ^ Antonio Pigafetta, Relazione del primo viaggio intorno al mondo, 1524: "Il capitano generale nominò questi popoli Patagoni." The original word would probably be in Magellan's native Portuguese (patagão) or the Spanish of his men (patagón). It has been interpreted later as "big foot" but the etymology refers to a literary character in a Spanish novel of the early XVI century (Xem trong bài).
  3. ^ Fondebrider, Jorge (2003). “chapter 1 (Ámbitos y voces)”. Versiones de la Patagonia (bằng tiếng Tây Ban Nha) (ấn bản 1). Buenos Aires, Argentina: Emecé Editores S.A. tr. 29. ISBN 950-04-2498-3.
  4. ^ ISBN 978-956-310-774-6 Patagonia Chilena
Aerotitan

Aerotitan là một chi thuộc họ dực long thời phấn trắng muộn của Patagonia, Argentina..

Aerotitan sudamericanus được định danh năm 2012 và mô tả bởi Fernando Novas, Martin Kundrat, Federico Agnolína, Martin Ezcurra, Per Erik Ahlberg, Marcelo Isasi, Alberto Arriagada và Pablo Chafrat. Tên chi Tên chung có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp ἀήρ, aer, "không khí" và Titan liên quan đến thực tế các loài đại diện cho một loài bò sát bay lớn. Tên cụ thể đề cập đến nguồn gốc từ Nam Mỹ.Mẫu gốc, MPCN-PV 0054, đã được thu thập gần khu vực Bajo de Arriagada, ở Patagonia, từ một lớp của hệ tầng Allen phía trên. Nó bao gồm một phần mỏ với chiều dài được bảo tồn là 264 mm. Mõm này được kéo dài và bị nén ngang. Hàm răng không răng. Sải cánh được ước tính ít nhất là 5 mét.Aerotitan đã được đưa vào họ Azhdarchidae. Nếu đúng, điều này sẽ làm cho nó trở thành azhdarchid rõ ràng đầu tiên từ Nam Mỹ. Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây đã thu hồi nó như là một thalassodromid.

Buteo ventralis

Buteo ventralis là một loài chim trong họ Accipitridae.

Chồn hôi mũi lợn Humboldt

Chồn hôi mũi heo Humboldt, còn được gọi là Chồn hôi mũi heo Patagonia (Conepatus humboldtii) là một loài Chồn hôi mũi heo bản địa của các khu vực cây cỏ mở trong vùng Patagonia của Argentina và Chile.

Eudromia elegans

Eudromia elegans là một loài chim trong họ Tinamidae.

Mara Patagonia

Dolichotis là một chi động vật có vú trong họ Caviidae, bộ Gặm nhấm. Chi này được Desmarest miêu tả năm 1820. Loài điển hình của chi này là Cavia patachonica Shaw, 1801 (= Cavia patagonum Zimmerman, 1780).

Merganetta armata

Merganetta armata là một loài chim trong họ Vịt.

Mòng biển tảo bẹ

Larus dominicanus là một loài chim trong họ Laridae.

Quần đảo Falkland

Quần đảo Falkland (tiếng Anh: Falkland Islands ) hay Quần đảo Malvinas (tiếng Tây Ban Nha: Islas Malvinas [malˈβinas]) nằm tại Nam Đại Tây Dương. Các đảo chính của quần đảo này nằm cách 500 km về phía đông của bờ biển nam bộ Patagonia trên lục địa Nam Mỹ. Quần đảo có diện tích 12.200 km², gồm có đảo Đông Falkland, Tây Falkland và 776 đảo nhỏ hơn. Quần đảo là một lãnh thổ hải ngoại của Anh Quốc, chịu trách nhiệm tự quản nội bộ, còn Anh Quốc chịu trách nhiệm về các sự vụ quốc phòng và đối ngoại. Thủ phủ của quần đảo là Stanley trên đảo Đông Falkland.

Có tranh luận về vấn đề người châu Âu phát hiện và tiếp đến là thuộc địa hóa Quần đảo Falkland. Trong những thời điểm khác nhau, quần đảo có các khu định cư của Pháp, Anh Quốc, Tây Ban Nha, và Argentina. Anh Quốc tái xác nhận quyền thống trị của họ vào năm 1833, song Argentina duy trì tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo. Năm 1982, sau khi Argentina xâm chiếm quần đảo, Chiến tranh Falkland bùng phát với kết quả là lực lượng Argentina đầu hàng, quần đảo lại nằm dưới sự cai trị của Anh Quốc.

Dân số (2.932 cư dân năm 2012) chủ yếu gồm có người Quần đảo Falkland bản địa, phần lớn họ có huyết thống Anh Quốc. Các dân tộc khác gồm có người Pháp, người Gibraltar và người Scandinavia. Nhập cư từ Anh Quốc, đảo Saint Helena, và Chile giúp đảo ngược hiện tượng suy giảm dân số. Ngôn ngữ chiếm ưu thế (và chính thức) là tiếng Anh. Theo một đạo luật được Quốc hội Anh thông qua vào năm 1983, người Quần đảo Falkland là công dân Anh Quốc trên phương diện pháp luật.

Cả hai đảo lớn của quần đảo đều có các dãy núi đạt độ cao 2.300 foot (700 m). Quần đảo là nơi sinh sống của các quần thể chim lớn, song nhiều quần thể không còn sinh sản trên các đảo chính do sự cạnh tranh của những loài du nhập. Các hoạt động kinh tế chính tại quần đảo gồm có ngư nghiệp, du lịch, và chăn nuôi cừu, với trọng điểm là xuất khẩu len chất lượng cao. Hoạt động thăm dò dầu mỏ được Chính phủ Quần đảo Falkland cấp phép, song vẫn là vấn đề gây tranh luận do tranh chấp hàng hải với Argentina.

Triết Patagonia

Lyncodon patagonicus là một loài động vật có vú trong họ Chồn, bộ Ăn thịt. Loài này được de Blainville mô tả năm 1842.

Tượng Nữ thần Tự do

Tượng Nữ thần Tự do (tên đầy đủ là Nữ thần Tự do soi sáng thế giới; tiếng Anh: Liberty Enlightening the World; tiếng Pháp: La Liberté éclairant le monde) là một tác phẩm điêu khắc bằng đồng theo phong cách tân cổ điển với kích thước lớn, đặt trên Đảo Liberty tại cảng New York. Tác phẩm này do kiến trúc sư người Pháp Frédéric Bartholdi thiết kế và được khánh thành vào ngày 28 tháng 10 năm 1886. Đây là tặng vật của nhân dân Pháp gửi nước Mỹ.

Tượng Nữ thần Tự do có hình dáng một người phụ nữ mặc áo choàng, tiêu biểu cho Libertas, nữ thần tự do của La Mã, tay phải cầm ngọn đuốc còn tay kia một tấm đá phiến có khắc ngày tháng độc lập của Hoa Kỳ. Bức tượng này là biểu tượng mẫu mực của lý tưởng tự do cũng như của chính Hoa Kỳ.

Kiến trúc sư Bartholdi lấy cảm hứng từ một lời nói của chính trị gia kiêm giáo sư luật học người Pháp, Édouard René de Laboulaye vào năm 1865 rằng bất cứ tượng đài nào dựng lên để đánh dấu ngày độc lập của Hoa Kỳ thì cũng đáng là một dự án chung của cả hai dân tộc Pháp và Mỹ. Vì tình hình chính trị xáo trộn tại Pháp, công trình bị hoãn cho đến đầu thập niên 1870. Năm 1875, Laboulaye đề nghị rằng Pháp sẽ tài trợ việc đúc tượng còn Mỹ sẽ xây phần bệ và tìm vị trí đặt tượng. Bartholdi hoàn thành phần đầu tượng và cánh tay cầm đuốc trước khi bức tượng được thiết kế toàn bộ. Các bộ phận của tượng được trưng bày triển lãm cho công chúng xem trong nhiều đợt triển lãm quốc tế. Riêng cánh tay phải cầm ngọn đuốc được trưng bày tại Công viên Quảng trường Madison của Thành phố New York từ năm 1876 đến năm 1882. Công việc xúc tiến gây quỹ gặp nhiều khó khăn, đặc biệt về phía người Mỹ. Năm 1885 công việc xây dựng bệ tượng bị đe dọa đình chỉ vì thiếu ngân sách. Joseph Pulitzer, chủ bút của nhật báo New York World, phải khởi động cuộc vận động quyên góp để hoàn thành dự án. Chiến dịch vận động của ông đã thu hút trên 120.000 người ủng hộ. Trong số người góp tiền, đa số góp dưới một đô la mỗi người.

Bức tượng được xây dựng tại Pháp, xếp trong các thùng lớn và vận chuyển bằng tàu biển, rồi sau đó được ráp vào bệ tượng nằm trên hòn đảo vốn xưa kia có tên là Đảo Bedloe (nay là Đảo Liberty). Để đánh dấu việc hoàn thành bức tượng, một cuộc diễn hành lớn diễn ra tại Thành phố New York. Đó cũng là lần đầu tiên công chúng chứng kiến hoa giấy tung xuống đường phố như tuyết rơi. Buổi lễ khánh thành do Tổng thống Grover Cleveland làm chủ tọa.

Tượng Nữ thần Tự do được công nhận là Tượng đài Quốc gia và ghi trong Sổ bộ Địa danh Lịch sử Quốc gia Hoa Kỳ là Tượng Nữ thần Tự do, Đảo Ellis và Đảo Liberty, lúc đầu do Ban đặc trách Hải đăng Hoa Kỳ quản lý cho đến năm 1901 và rồi sau đó là Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ; kể từ năm 1933 thì do Cục Công viên Quốc gia Hoa Kỳ quản lý.

Bức tượng phải đóng cửa để tu sửa lớn vào năm 1938. Vào đầu thập niên 1980, vì có dấu hiệu hư hại, tượng lại trải qua một đợt đại trùng tu nữa. Trong thời gian tu sửa từ năm 1984 đến 1986, ngọn đuốc và phần lớn cấu trúc bên trong cũng được thay thế. Sau vụ tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001, Tượng Nữ thần Tự do bị đóng cửa vì lý do an ninh; bệ tượng mở cửa lại vào năm 2004 và toàn phần tượng lại đón khách vào xem kể từ năm 2009 nhưng với số lượng hạn chế được phép đi lên đến phần mũ miện. Nhà chức trách dự trù đóng cửa khoảng một năm, bắt đầu từ cuối năm 2011 để trang bị thêm một cầu thang phụ. Lối vào ban công bao quanh ngọn đuốc bị ngăn lại vì lý do an toàn kể từ năm 1916.

Vườn quốc gia Hồ San Rafael

Vườn quốc gia Hồ San Rafael (phát âm tiếng Tây Ban Nha: [laˈɣuna san rafaˈel]) là một vườn quốc gia nằm trên bờ biển Thái Bình Dương, phía nam Chile. Nó được đặt tên theo đặt tên của Hồ San Rafael hình thành bởi sự rút lui của sông băng San Rafael. Thành lập vào năm 1959, nó có diện tích 17.420 km2 (6.726 sq mi) và bao gồm Dải băng lớn Bắc Patagonia, là một phần của dải băng lớn Patagonia. Vườn quốc gia đã được chỉ định là một Khu dự trữ sinh quyển thế giới của UNESCO vào năm 1979.Đây la nơi trú ẩn của một số loài chim bao gồm hải âu mày đen, chim lặn lớn, thiên nga cổ đen và chim cốc biển. Động vật hoang dã trong khu vực này cũng bao gồm cá heo Chile, sư tử biển, rái cá biển và hải cẩu voi.

Vườn quốc gia Laguna Blanca

Vườn quốc gia Laguna Blanca là một vườn quốc gia nằm ở phía tây của tỉnh Neuquén, Argentina, gần thị trấn Zapala.

Được thành lập vào năm 1940 với diện tích 112,5 km², nó bảo vệ khu vực tự nhiên của vùng đầm phá và xung quanh đầm phá Blanca, đặc biệt là số lượng lớn của những con Thiên nga cổ đen (Cygnus melancoryphus) cư trú tại đây. Các đầm phá nằm ở thảo nguyên Patagonia, bao quanh bởi đồi núi và hẻm núi.

Đây là khu vực quan trọng trong việc bảo tồn số lượng lớn của một số loài chim ở Argentina và đã được công nhận là khu Ramsar về vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế. Gần đầm phá là các hang động Salamanca, là một khu vực lịch sử, nơi sinh sống của con người tiền sử và người Mapuche, với nơi những bức tranh đá điển hình của miền bắc Patagonia.

Vườn quốc gia Los Alerces

Vườn quốc gia Los Alerces (tiếng Tây Ban Nha: Parque Nacional Los Alerces) là một vườn quốc gia nằm ở tỉnh Chubut, Argentina, cách thị trấn Esquel khoảng 50 km (30 dặm) về phía tây. Nó có diện tích 2.630 km vuông, nằm dọc theo biên giới với Chile, là nơi nổi tiếng với các cây Fitzroya cupressoides (bách Patagonia), trong ngôn ngữ bản địa được gọi là alerce (hay lahuán), và nó cũng chính là tên của vườn quốc gia. Ngày 7 tháng 7 năm 2017, trong phiên họp thường niên của Ủy ban Di sản thế giới, vườn quốc gia đã được công nhận là Di sản thế giới nhờ vào cảnh quan ngoạn mục (sông băng, núi, hồ nước), cùng với đó là thảm thực vật ôn đới dày đặc, các đồng cỏ núi cao hoang sơ. Vườn quốc gia là nhà của một số loài động thực vật có nguy cơ tuyệt chủng, đặc biệt là những khu rừng bách Patagonia cuối cùng.

Vườn quốc gia Los Arrayanes

Vườn quốc gia Los Arrayanes (tiếng Tây Ban Nha: Parque Nacional Los Arrayanes) là một vườn quốc gia nằm ở tỉnh Neuquén, Argentina. Nó có diện tích 17,53 km vuông, bao gồm bán đảo Quetrihué trên bờ hồ Nahuel Huapi, cách làng Villa La Angostura khoảng 3 km.

Được thành lập vào năm 1971, sau khi được tách ra khỏi Vườn quốc gia Nahuel Huapi, Los Arrayanes bảo vệ một rừng cây Arrayán (Luma apiculata) quý hiếm thuộc vùng sinh thái rừng Patagonia Andes của Argentina. Chúng có thể dễ dàng được thấy ở hai bên đường từ đầu cho tới phía cuối của bán đảo. Trong đó bao gồm một khu vực rừng Arrayán cổ có tuổi thọ 300 năm có diện tích 0,2 km² ở cuối phía Nam, trong đó có những cây đạt tới 600 năm. Du khách có thể đến khu vực này trên một co thuyền từ nhiều nơi của hồ Nahuel Huapi, hoặc di chuyển trên một quãng đường dài 12 km từ đầu của vườn quốc gia tại tại cảng Villa La Angostura. Có một con đường bằng gỗ vừa để bảo vệ nền đất của những cây Arrayán, vừa tạo cho du khách dễ dàng thưởng ngoạn quang cảnh của khu rừng.

Năm 2007, vườn quốc gia đã trở thành một phần của Khu dự trữ sinh quyển Bắc Patagonia Andes.

Vườn quốc gia Torres del Paine

Vườn quốc gia Torres del Paine (tiếng Tây Ban Nha: Parque Nacional Torres del Paine) là một vườn quốc gia bao gồm các đỉnh núi, sông băng, hồ, sông ở Patagonia nam Chile. Nó bị chi phối bởi dãy Cordillera del Paine. Nằm trong một khu vực chuyển tiếp giữa hai vùng sinh thái rừng cận cực Magellan và thảo nguyên Patagonia, nó nằm cách 112 km (70 dặm) về phía bắc của thành phố Puerto Natales và 312 km (194 dặm) về phía bắc của Punta Arenas. Vườn quốc gia này tiếp giáp Vườn quốc gia Bernardo O'Higgins về phía tây và Los Glaciares ở phía bắc, trong lãnh thổ của Argentina.

Đây là một trong số những vườn quốc gia được ghé thăm nhiều nhất tại Chile, với khoảng trên dưới 150.000 du khách mỗi năm, trong đó 60% là khách nước ngoài từ khắp nơi trên thế giới. Nó cũng là một trong số 11 khu bảo tồn của vùng Magellan và Địa Cực Chile (cùng với 4 vườn quốc gia, 3 khu dự trữ quốc gia và 3 di tích quốc gia khác) tạo thành khu vực bảo vệ chiếm khoảng 51% diện tích đất của vùng (6.728.744 ha).

Torres del Paine là ngọn núi bao gồm 3 đỉnh granit đặc biệt của dãy núi Paine. Nó nằm ở độ cao 2.850 mét so với mực nước biển, và gần với Cuernos del Paine. Khu vực này cũng tự hào với cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp của các thung lũng, sông hồ, và sông băng. Những hồ nổi tiếng bao gồm Grey, Pehoé, Nordenskjöld và Sarmiento. Các sông băng có Grey, Pingo và Tyndall, là một phần của Dải băng lớn Nam Patagonia.

Vườn quốc gia biển Nam Patagonia

Vườn quốc gia biển và bờ biển Nam Patagonia là một khu bảo tồn biển nằm ở phía bắc vịnh San Jorge, giữa mũi Dos Bahías và đảo Quintano, trong tỉnh Chubut, Argentina.

Được thành lập vào ngày 3 tháng 12 năm 2008 sau khi Quốc hội phê duyệt Luật số 26.446. Vườn quốc gia này bảo tồn, quản lý và sử dụng hợp lý tài nguyên biển và môi trường sống trên cạn của một số loài. Nó được chia thành hai khu vực quản lý, một là thuộc trách nhiệm của Cục Quản lý Vườn quốc gia, và phần còn lại là trách nhiệm của chính quyền tỉnh Chubut, bao gồm cả Khu dự trữ động vật hoang dã tỉnh Mũi Dos Bahías. Với diện tích 132.124 ha, nó trải dài trên khu vực bờ biển dài 180 km, bao gồm các bãi biển, bãi đá ngầm và 42 hòn đảo, đảo đá.

Vườn quốc gia là nhà của 16 loài chim biển như Hải âu Olrog, Vịt guồng Chubut, Chim cánh cụt Magellan, Cốc hoàng đế, Mòng biển Olrog, Cốc Magellan, Hải âu lớn phương nam..cùng một số loài động vật có vú biển là sư tử biển, hải cẩu lông thú Nam Mỹ, cá voi, cá heo và cá hổ kình

Vườn quốc gia rừng hóa đá Jaramillo

Vườn quốc gia Rừng hóa đá Jaramillo là một rừng hóa đá được bảo vệ nằm ở phía đông bắc tỉnh Santa Cruz ở Patagonia, Argentina. Trước đây nó là một di tích tự nhiên Rừng hóa đá được thành lập vào năm 1954 để bảo vệ sự toàn vẹn của quá trình hóa đá trên hệ sinh thái Patagonia. Tháng 12 năm 2012, nó đã được phân loại như là một vườn quốc gia. Tên của vườn quốc gia này được đặt theo tên của thị trấn Jaramillo ở phía bắc.

Y Wladfa

Y Wladfa (phát âm tiếng Wales: [ə ˈwladva], Thuộc địa), còn gọi là Y Wladychfa Gymreig, là những cộng đồng người Wales tại Argentina, xuất hiện từ năm 1865 và nằm chủ yếu ở vùng duyên hải tỉnh Chubut tại nam Patagonia.

Vào thế kỷ 19-20, chính phủ Argentina khuyến khích việc người nhập cư từ châu Âu đến để cư trú tại vùng ngoài Buenos Aires; từ năm 1856 đến 1875, 34 điểm dân cư của người nhập cư từ nhiều quốc gia được thiết lập ở Santa Fe và Entre Ríos. Ngoài điểm dân cư tại Chubut, một cộng đồng nhỏ được lập ra tại Santa Fe bởi 44 người Wales, và một nhóm khác định cư tại Coronel Suárez ở nam tỉnh Buenos Aires. Ngày nay, có hơn 50.000 người Patagonia khai nhận có gốc gác Wales.Cộng đồng người Argentina gốc Wales tập trung tại Gaiman, Trelew và Trevelin. Chubut ước tính số người nói tiếng Wales Patagonia là 1.500, số khác đặt con số ước tính ở 5.000.

Đất Lửa

Đất Lửa hay Tierra del Fuego (tiếng Tây Ban Nha: [ˈtjera ðel ˈfweɣo]) là một quần đảo nằm ở cực nam của Nam Mỹ, dọc theo eo biển Magellan. Quần đảo này gồm một đảo chính, Isla Grande de Tierra del Fuego, với diện tích 48.100 km2 (18.572 sq mi), và nhiều nhóm đảo khác, như Cape Horn và Diego Ramírez. Tierra del Fuego được phân chia giữa Chile và Argentina; Argentina kiểm soát phần mạn đông, còn Chile có nửa tây cùng những hòn đảo nằm ở phía nam eo biển Beagle. Điểm cực nam của quần đảo năm ở khoảng vĩ độ 55 N.

Con người đã đến Tierra del Fuego từ khoảng 8.000 TCN. Còn người Châu Âu lần đầu khai phá nơi đây trong chuyến viễn chinh của Ferdinand Magellan năm 1520; Tierra del Fuego (Đất Lửa) và những cái tên tương tự được đặt ra, xuất phát từ những đám lửa mà thổ dân đốt. Việc người châu Âu đến đây sống cùng sự di tán người bản địa chỉ bắt đầu từ nửa cuối thế kỷ 19, và đã đạt đỉnh cao trong cuộc bùng nổ chăn cừu Patagonia và cơn sốt vàng Tierra del Fuego. Ngày nay, khai thác đầu mỏ đóng vai trò chính yếu trong hoạt động kinh tế ở bắc Tierra del Fuego, còn du lịch, chế biến, và logictic lại quan trọng ở miền nam.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.