Otho

Marcus Salvius Otho (28 tháng 4 năm 32[1]16 tháng 4 năm 69), còn được gọi là Marcus Salvius Otho Caesar Augustus[2], là Hoàng đế của Đế quốc La Mã, trị vì trong vòng ba tháng: từ ngày 15 tháng 1 cho đến ngày 16 tháng 4 năm 69. Ông là vị Hoàng đế thứ hai trong thời kỳ bốn hoàng đế của nền văn minh La Mã cổ đại. Ông mở đầu triều đại mình với vụ ám sát Hoàng đế Galba, nhưng ngay sau đó, ông hay tin các quân đoàn Đức làm loạn và tôn viên chỉ huy của họ là Vitellius làm Hoàng đế của La Mã. Ông thân chinh xuất quân đánh dẹp, rồi bị đánh bại trong trận Bedriacum lần thứ nhất và tự sát.[3]

Otho
Hoàng đế của Đế quốc La Mã
Oth001
Tượng bán thân của Hoàng đế Otho.
Thời kỳ bốn hoàng đế
Trị vì15 tháng 1 năm 6916 tháng 4 năm 69
Tiền nhiệmGalba Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệmVitellius Vua hoặc hoàng đế
Thông tin chung
Vợ
Tên đầy đủ
Marcus Salvius Otho
(từ khi sinh ra đến khi chính vị hiệu); Marcus Salvius Otho Caesar Augustus (làm Hoàng đề,
thỉnh thoảng cũng gọi là Marcus Salvius Otho Nero Caesar Augustus)
Hoàng tộcKhông có
Thân phụLucius Otho
Thân mẫuTerentia Albia
Sinh28 tháng 4 năm 32
Ferentium
Mất16 tháng 4 năm 69 (36 tuổi)
Rô-ma, La Mã cổ đại

Tiểu sử

Ra đời và dòng dõi

Hoàng đế Otho là hậu duệ của một gia đình quý tộc người Etruria cổ xưa, hậu duệ của các Vương hầu người Etruria và định cư tại Ferentinum (Ferento hiện đại, gần Viterbo) ở Etruria. Ông cố nội Marcus Otho Salvius của ông, có cha là một Hiệp sĩ La Mã nhưng có mẹ xuất thân từ tầng lớp thấp kém, có lẽ là con hoang, lớn lên trong gia đình Livia và hoa hồng được lấy làm gia huy của dòng họ. Dẫu vậy ông không lên được chức pháp quan. Cha ông là Lucius Otho.

Thời niên thiếu

Marcus Salvius Otho sinh ngày 28/4 năm 32 sau CN tại Ferentium, miền nam Etruria. Gia đình Otho không thuộc tầng lớp quý tộc cũ, nhưng giành được quyền lực chính trị nhờ vào sự thân tín với các Hoàng đế. Ông nội Otho, nhờ vào Augustus, từ một người lính kỵ binh trở thành thành viên của Viện Nguyên lão. Trong khi đó, bố của ông nhận được tước hiệu quý tộc từ Claudius.

Vị hoàng đế tương lại xuất hiện lần đầu như là một trong số những quý tộc trẻ ngạo mạn và liều lĩnh, những kẻ vây xung quanh Hoàng đế Nero.[4] Tình bạn này đi đến hồi kết vào năm 58 TCN chỉ vì phu nhân của Otho là bà quý tộc Poppea Sabina. Ông giới thiệu người vợ xinh đẹp của mình với Hoàng đế Nero, và nhà vua khăng khăng đòi gặp cô - tình yêu giữa Hoàng đế và Poppea Sabina sẽ dẫn đến cái chết sớm sửa của bà. Sau khi trở thành người tình của Hoàng đế Nero, bà ly dị Otho và để hoàng đế đày ông đi xa tới tận tỉnh Lusitania (Bồ Đào NhaExtremadura hiện nay).

Vươn tới quyền lực

Otho vẫn ở lại tỉnh Lusitania trong mười năm tới. Vào năm 68, khi người láng giềng của ông,[4] Hoàng đế tương lai Galba, quan Tổng trấn của Hispania Tarraconensis, dấy lên một cuộc nổi loạn chống lại Nero, ông đi cùng Galba đến kinh thành Rô-ma. Có lẽ vì căm ghét Hoàng đế Nero nên ông đã đồng hành với Galba, nhưng cũng vì tham vọng cá nhân vốn có của mình mà ông thực hiện điều này. Otho chiếm được cảm tình rất lớn của các binh sĩ trong quân đội nhờ đồng cam cộng khổ trong hành trình trở về Rome, và sau đó nổi tiếng khắp Rome vì những cử chỉ hào hiệp với đám vệ sĩ của Hoàng đế.

Đã nhiều năm, tân Hoàng đế Galba không có một mụn con nối dõi, và Otho, khích lệ bởi những tiên đoán của nhà chiêm tinh, mong muốn trở thành người kế thừa ngai vàng. Ông đã đến một thỏa thuận bí mật với một sủng thần củ vua Galba, Titus Vinius, theo đó, ông đồng ý kết hôn với con gái của Vinius để đổi lấy sự hỗ trợ của Vinius. Tất nhiên khi ấy Otho được coi là người sẽ kế vị Galba. Otho hoàn toàn tin tưởng, bởi thực tế ông là người góp công lớn nhất đưa Galba lên ngôi Hoàng đế. Tuy nhiên, trong tháng 1 năm 69, hy vọng của ông bị tiêu tan bởi Hoàng đế chính thức nhận Lucius Calpurnius Piso Licinianus làm con nuôi: vốn từ lâu vua Galba đã nghĩ đến việc truyền ngôi vua cho Piso. Vì thế, Otho vô cùng tức giận khi người được Galba chọn thừa kế lại là Piso Licinianus. Otho ngay lập tức thực hiện kế hoạch giành lấy vương miện. Và thật chẳng khó khăn gì cho Otho, không chỉ vì ông có uy tín lớn trong quân đội, mà bởi thực tế quân đội đã vô cùng căm ghét Galba.

Với một lực lượng hùng mạnh ông trở về quảng trường La Mã, và ở chân đồi Capitoline gặp Galba, người đã được báo động bởi những tin đồn khá mơ hồ về sự phản bội, đã tìm đường thông qua một đám đông dày đặc vây quanh để tới doanh trại của đội cận vệ. Quân đoàn đang làm nhiệm vụ ở Palatine, mà đã đi cùng với hoàng đế, lập tức bỏ rơi ông ta. Galba, và người con con trai nuôi của ông Piso cùng những người khác đã bị sát hại dã man bởi những người lính vệ binh hoàng gia. Sau một cuộc giao tranh ngắn ngủi, Otho trở về doanh trại trong chiến thắng, và cùng ngày đã được trao quyền hợp pháp bởi nguyên lão với tên là Augustus, một quan bảo dân quyền lực và quan chức cấp cao. Otho có được thành công cho bản thân mình nhờ cảm nhận được sự bất mãn của lực lượng cận vệ hoàng gia và phần còn lại của quân đội vì Galba từ chối trả số vàng hứa hẹn để họ hỗ trợ ông ta lên ngôi. Dân số của thành phố cũng không hài lòng với Galba. Hành động đầu tiên của Otho khi là hoàng đế đã cho thấy rằng ông không hoàn toàn biết về những sự kiện này.

Trước tình thế đó, Viện Nguyên lão không còn cách nào khác là công nhận tước vị Hoàng đế cho Otho. Mặc dù vậy, các thành viên của Viện Nguyên lão vẫn nhìn Otho với con mắt nghi ngờ bởi cách mà ông nắm lấy quyền lực, và đặc biệt bởi Otho là bạn cũ của Nero. Tuy thế, họ vẫn trao cho Otho đủ quyền lực như các vị Hoàng đế trước đây.[5] Tất cả các vùng đều ủng hộ Otho. Trên các phiến đá trong đền thờ ở Ai Cập mô tả Otho như là một vị Pharaon.

Trị vì

Vào lúc này, để lôi kéo sự ủng hộ của những người trung thành với Nero còn sót lại, Otho đã cho dựng lại tượng Nero. Otho thậm chí còn phục hồi lại chức tước cho một số người. Dù có quyền hành của một Hoàng đế, Otho hoàn toàn không muốn sự nổi danh của mình đi xa hơn vị trí mà trước đây ông đã đạt được ?" một thống đốc. Bởi vậy, triều đại Otho được biết đến như là một triều đại kỳ lạ trong lịch sử La mã. Sử gia Tacitus ghi lại trái ngược với suy nghĩ của mọi người, Otho không đắm chìm trong cuộc sống xa hoa và quyền lực giành được. Ông từ chối mọi sự xa hoa, tránh phung phí, và quyết tâm dành toàn bộ cuộc đời để thực thi nhiệm vụ của một Hoàng đế.? Otho là một người đàn ông nhỏ bé, chân vòng kiềng, và có hai bàn chân bành ra hai bên. Ông thường xuyên đội tóc giả để che đi cái đầu hói của mình, và mái tóc giả tỏ ra hiệu quả đến nỗi chẳng mấy ai nghi ngờ.

Nhưng trong quá trình tranh giành vương miện, Otho đã phạm phải một sai lầm nghiêm trọng: Dù nổi danh trong đám cận vệ và được sự ủng hộ của một số tướng lĩnh đã cùng ông chiến đấu trên con đường trở về Rome, ông có quá ít mối liên hệ với quân đội. Khi còn là Thống đốc Lusitania, Otho ít nhất cũng có trong tay 1 quân đoàn. Bởi vậy, Otho là vị Hoàng đế có ít sự ủng hộ nhất của quân đội so với những người tiền nhiệm.

Điều này khiến Otho hầu như không thể kiểm soát được mức độ trung thành của quân đội. Otho chỉ nhận thấy sai lầm này khi Vitellius, thống đốc Germania, nổi lên chống lại mình. Các xứ Gaul và Tây Ban Nha ngay lập tức tuyên bố ủng hộ Vitellius.

Otho muốn tránh một cuộc nội chiến bằng cách đề nghị chia sẻ quyền lực với Vitellius và kết làm đồng minh. Otho thậm chí còn cầu hôn con gái của Vitellius. Vitellius không chấp thuận cả hai đề nghị của Otho và vào tháng 3, các quân đoàn của Vitellius lên đường tiến về Rome.

Trước hành động của Vitellius, Otho đã chọn một chiến thuật đơn giản: lui về phía Bắc Ý để làm chậm bước tiến của Vitellius. Các quân đoàn Danube tuyên bố ủng hộ Otho và ưu thế về mặt quân sự nghiêng về phe Hoàng đế. Tuy vậy, các quân đoàn Danube ở quá xa và Otho muốn họ tiến về Rome. Otho hiểu rằng với một đội quân đến từ xa như của Vitellius, làm chậm bước tiến của họ đồng nghĩa với chiến thắng.

Hai tướng của Vitellius là Valens và Caecina hiểu ngay rằng thời gian đang ủng hộ Otho. Họ quyết định phải mở cuộc tấn công trực diện vào quân đội của Otho trước khi các quân đoàn Danube kịp can thiệp. Quân đội của Vitellius dựng một cây cầu vượt qua sông Po vào đất Italy. Otho đứng trước hai lựa chọn: hoặc lùi sâu về đất Ý, tuy tránh được cuộc tấn công trước mắt của Vitellius nhưng lại càng cách xa các quân đoàn Danube; hoặc chiến đấu với Vitellius và chờ tiếp viện. Otho lựa chọn chiến đấu. Và đội quân của ông thất bại hoàn toàn tại Cremona ngày 14 tháng 4 năm 69.

Khi tin thất trận đến với Otho một ngày sau đó, Otho hiểu rằng mình đã thất bại. Ông khuyên gia đình và bạn bè tìm đường thoát thân, còn mình thì tự vẫn một ngày sau đó, 16 tháng 4 năm 69. Cái chết của Otho khiến cho La Mã tránh được một cuộc nội chiến. Mặc dù có nhiều tranh cãi về cách Otho nắm quyền lực, nhưng rất nhiều người La Mã cảm phục cái chết của ông. Họ tin rằng Otho đã chọn cho mình một kết thúc nhẹ nhàng, không gây đổ máu cho Đế chế La Mã. Nhiều binh lính của Otho nhảy vào giàn hỏa thiêu để chết cùng vị Hoàng đế của họ.

Otho chỉ tại vị có 3 tháng nhưng đã tỏ rõ sự sáng suốt và tài giỏi mà ít ai ngờ được.

Chú thích

  1. ^ Suetonius, Otho 3.2
  2. ^ Rives, Otho Note 4, The Twelve Caesars translated by Robert Graves, revised and notes by James B. Rives
  3. ^ Matthew Bunson, Encyclopedia of the Roman empire, trang 73
  4. ^ a ă Suetonius. The Twelve Caesars. Penguin. tr. 255–262. ISBN 9780140455168.
  5. ^ Chapter 7

Liên kết ngoài

Tài liệu sơ cấp

Tài liệu thứ cấp

Chức vụ
Tiền nhiệm:
Galba
Hoàng đế của La Mã
69
Kế nhiệm:
Vitellius
Tiểu sử 12 hoàng đế, hoặc De vita Caesarum của Suetonius
Julius Caesar  •  Augustus  •  Tiberius  •  Caligula  •  Claudius  •  Nero  •  Galba •  Otho •  Vitellius  •  Vespasian  •  Titus  •  Domitian
15 tháng 4

Ngày 15 tháng 4 là ngày thứ 105 trong mỗi năm thường (ngày thứ 106 trong mỗi năm nhuận ). Còn 260 ngày nữa trong năm.

Basiliscus

Basiliscus (tiếng Latinh: Flavius Basiliscus Augustus; tiếng Hy Lạp: Βασιλίσκος) (không rõ năm sinh, mất năm 476/477) là Hoàng đế Đông La Mã (Byzantine) từ năm 475 đến 476. Ông là một thành viên xuất thân từ Dòng họ Leo, bắt đầu nắm quyền hành khi tiến hành cuộc nổi dậy buộc Hoàng đế Zeno phải trốn khỏi Constantinopolis.

Basiliscus là em trai Hoàng hậu Aelia Verina, vợ của Hoàng đế Leo I (457-474). Mối quan hệ của ông với Hoàng đế cho phép ông theo đuổi binh nghiệp, sau khi đạt được những thành công nhỏ ban đầu, thì trong cuộc xâm chiếm lãnh thổ rợ Vandal ở châu Phi của người La Mã dưới quyền chỉ huy của ông đã thất bại thảm hại vào năm 468, được coi là một trong những chiến dịch quân sự lớn nhất cuối thời cổ đại.

Basiliscus đã thành công trong việc chiếm đoạt quyền lực vào năm 475, lợi dụng sự bất mãn của dân chúng với Hoàng đế Zeno vốn có gốc gác "mọi rợ" kế thừa tiên đế Leo và kết quả là khiến cho phe cánh Thái hậu Verina tiến hành đảo chính đã buộc ông phải trốn khỏi Constantinopolis. Tuy nhiên khi đã yên vị, trong suốt triều đại ngắn ngủi của mình, Basiliscus đã để mất sự ủng hộ của Giáo hội và dân chúng Constantinopolis, chỉ vì lý do đề bạt và cất nhắc những vị trí thần học cho phái Miaphysite mà ông là tín đồ đối lập với đức tin của phái Chalcedonian. Ngoài ra, chính sách của ông chỉ để bảo vệ quyền lực của mình thông qua việc bổ nhiệm những kẻ thân tín giữ những chức vụ trọng yếu gây ra sự chống đối với nhiều nhân vật quan trọng trong triều đình bao gồm cả người chị Verina. Vì vậy, khi Zeno cố gắng đoạt lại Đế quốc về tay ông thì hầu như các phe phái trong triều đều ra sức ủng hộ và khi mang quân ca khúc khải hoàn tiến vào Constantinopolis, ngay lập tức Zeno sai người tới bắt giữ và bí mật thủ tiêu Basiliscus cùng gia quyến của ông.

Cuộc đấu tranh giữa Basiliscus và Zeno đã ngăn cản Đế quốc Đông La Mã có thể can thiệp nhằm tránh sự diệt vong của Đế quốc Tây La Mã như đã xảy ra vào đầu tháng 9 năm 476. Khi viên chúa rợ Heruli là Odoacer đã phế truất vị Hoàng đế Tây La Mã Romulus Augustus và gửi ấn tín đến Constantinopolis, vì Zeno vừa mới khôi phục ngôi vị Hoàng đế nên ông đành ngậm ngùi cho qua mà phong Odoacer được toàn quyền cai trị nước Ý, do đó mà Đế quốc Tây La Mã chính thức cáo chung kể từ đấy.

Claudius

Tiberius Claudius Caesar Augustus Germanicus (Latin: Tiberius Claudius Caesar Augustus Germanicus;1 tháng 8 năm 10 TCN – 13 tháng 10 năm 54) (Tiberius Claudius Drusus Nero Germanicus trước khi lên ngôi) là hoàng đế La Mã của triều đại Julio-Claudia, ông trị vì từ ngày 24 tháng 1 năm 41 cho đến khi băng hà năm 54. Ông sinh ra ở Lugdunum tại Gaule (ngày nay là Lyon, Pháp), trong gia đình cha là Drusus và mẹ là Antonia nhỏ, ông là vị hoàng đế La Mã đầu tiên sinh bên ngoài Đế quốc La Mã.

Dù thiếu kinh nghiệm chính trị, Claudius tỏ ra là một vị hoàng đế tài ba và là một nhà xây dựng các công trình công công cộng vĩ đại. Thời đại trị vì của ông chứng kiến sự bành trướng của đế chế, bao gồm việc chiếm đảo Anh. Bản thân ông quan tâm đến pháp luật, và ông đã làm chủ tọa các cuộc xét xử công cộng và ban hành lên đến 20 chỉ dụ mỗi ngày; tuy nhiên, ông bị cho là dễ bị nguy hại trong suốt thời gian trị vì, đặc biệt là bởi tính quý phái của ông. Claudius đã liên tục bị buộc phải củng cố vị trí của mình, điều này dẫn đến cái chết của nhiều nguyên lão. Claudius cũng phải chịu nhiều sự thất bại cá nhân thảm hại, một trong những sự thất bại đó đã dẫn đến ông bị sát hại. Những sự kiện này đã gây hại danh tiếng của ông đối với những nhà văn cổ đại. Các nhà sử học gần đây đã chỉnh sửa lại ý kiến này.

Domitianus

Titus Flavius Domitianus (tiếng Latinh: Titus Flavius Caesar Domitianus Augustus;24 tháng 10 năm 51 – 18 tháng 9 năm 96), còn được gọi bằng cái tên Anh hoá là Domitian, là một hoàng đế La Mã trị vì từ ngày 14 tháng 9 năm 81 cho đến khi qua đời. Ông là thành viên thứ 3 và là hoàng đế cuối cùng của triều đại Flavius - Vương triều trị vì Đế quốc La Mã từ năm 69 tới năm 96 qua các thời kỳ Vespasianus (69-79), Titus (79-81) và bản thân ông (81-96).

Tuổi trẻ của Domitianus và sự khởi nghiệp của ông thì đều nằm trong bóng tối phía sau anh trai là Titus, người đã nổi lên như cồn trong chiến tranh Do Thái-La Mã lần thứ nhất. Tình hình này tiếp tục dưới thời Vespasianus, người đã lên ngôi Hoàng đế vào ngày 21 tháng 12 năm 69 sau cuộc nội chiến được gọi là Năm của bốn Hoàng đế. Trong khi Titus nắm quyền đồng trị vì với cha mình, Domitianus đã không được giao bất cứ chức vụ gì. Vespasianus mất ngày 23 tháng 6 năm 79 và được thừa kế bởi Titus, nhưng Hoàng đế này lâm bệnh và đột ngột mất vào ngày 13 tháng 9 năm 81. Ngày hôm sau Domitianus được đội Cận vệ của Hoàng đế La Mã (Praetoriani) tấn phong Hoàng đế, bắt đầu một triều đại kéo dài mười lăm năm, dài hơn bất kỳ vị Hoàng đế nào của La Mã kể từ thời Tiberius.Khi làm hoàng đế, Domitianus đã củng cố nền kinh tế bằng việc đúc thêm tiền, mở rộng biên giới phòng thủ của Đế quốc và bắt đầu một chương trình xây dựng lớn để khôi phục lại thành phố Roma bị hư hại. Đáng chú ý là những cuộc chiến tranh nổ ra ở Anh, nơi Gnaeus Julius Agricola mở rộng Đế chế La Mã xa tới tận Scotland ngày nay. Và ở Dacia, nơi Domitianus không thể đạt được một chiến thắng quyết định với vua Decebalus. Chính quyền của Domitianus là một thể chế độc tài. Khi làm hoàng đế, ông tự coi mình là một Augustus mới, người nắm quyền chuyên chế được giác ngộ để dẫn dắt Đế quốc La Mã bước vào một kỷ nguyên mới của nền phục hưng Flavius. Tôn giáo, quân sự, và sự truyền bá văn hóa được khuyến khích như là sự thờ cúng ca nhân, và bằng sự kiểm soát vĩnh viễn của ông. Ông đã tìm cách kiểm soát đạo đức công cộng và của cá nhân. Kết quả là Domitian đã được phổ biến với người dân và quân đội nhưng bị khinh thường bởi viện nguyên lão như một bạo chúa.

Triều đại của Domitianus chấm dứt vào ngày 18 tháng 9 năm 96 khi ông bị ám sát bởi các quan lại của triều đình.Cùng ngày, ông đã được kế vị bởi người bạn và là cố vấn Nerva,người sáng lập triều đại Nerva-Antonius.Sau khi ông qua đời, những gì về ông bị phá bỏ và quên lãng bởi viện nguyên lão La Mã, trong khi những tác giả là nghị viên như Tacitus, Pliny Trẻ và Suetonius hoàn thành lịch sử của mình đã miêu tả ông như một kẻ bạo chúa tàn ác và hoang tưởng. Lịch sử hiện đại đã bác bỏ những quan điểm này.

Elagabalus

Elagabalus (Marcus Aurelius Antoninus Augustus, khoảng 203 – 11 tháng 3 năm 222), còn gọi là Heliogabalus, là Hoàng đế La Mã gốc Syria từ năm 218 đến 222. Là một thành viên của nhà Severus, ông vốn là con thứ hai của Julia Soaemias và Sextus Varius Marcellus. Từ thuở thiếu thời ông từng giữ chức tư tế vốn là cha truyền con nối thờ phụng thần Elagabal (trong tiếng Latinh là Elagabalus) ở quê mẹ tại Emesa. Vốn một công dân ẩn dật, ban đầu ông được gia đình đặt tên là Sextus Varius Avitus Bassianus. Sau khi trở thành hoàng đế thì lấy tên mới là Marcus Aurelius Antoninus Augustus. Cái tên Elagabalus chỉ được gọi sau khi hoàng đế qua đời.

Năm 217, Hoàng đế Caracalla bị ám sát và được thay thế bởi viên Pháp quan thái thú Marcus Opellius Macrinus. Người cô bên ngoại của Caracalla là Julia Maesa đã thành công trong việc phát động Binh đoàn Lê dương thứ ba nổi loạn nhằm ủng hộ cho đứa cháu trai trưởng của bà (và là em họ của Caracalla), Elagabalus lên ngôi hoàng đế ở tư dinh của mình. Macrinus đã bị quân của Elagabalus đánh bại trong trận Antioch vào ngày 8 tháng 6 năm 218. Elagabalus lúc đó chỉ mới mười bốn tuổi và đã trở thành hoàng đế, bắt đầu một triều đại được biết đến chủ yếu là nhờ các vụ bê bối tình dục và tranh cãi tôn giáo.Các nhà sử học sau này đều đưa ra giả thuyết rằng Elagabalus đã cho thấy sự coi thường truyền thống tôn giáo La Mã và những điều cấm kỵ tình dục của ông. Ông đã thay thế người đứng đầu truyền thống của đền Pantheon là thần Jupiter với vị thần Elagabal mà ông là giáo chủ. Elagabalus còn buộc các thành viên cao cấp của chính quyền La Mã phải tham gia vào nghi lễ tôn giáo kỷ niệm vị thần này do đích thân mình chủ trì. Elagabalus đã kết hôn tới năm lần, thiên vị quá nhiều cho các triều thần cùng giới mà thiên hạ đồn là một trong những tình nhân của ông, sử dụng nguyên mẫu cái lót nệm vui nhộn tại các bữa tiệc tối, có những tư liệu còn cho rằng hoàng đế đã tự mình bán dâm trong hoàng cung. Lối sống đồi trụy xa hoa của ông ngày càng xa lánh Cấm vệ quân Praetoriani, Viện Nguyên lão và nhân dân La Mã. Giữa sự phản đối ngày càng tăng thì Elagabalus đã bị ám sát lúc mới 18 tuổi và được thay thế bằng người anh em họ của ông Alexander Severus vào ngày 11 tháng 3 năm 222, trong một âm mưu thay đổi ngôi vị của bà ngoại mình Julia Maesa và được thực hiện bởi các thành viên bất mãn của Đội Cận vệ Praetoriani.Elagabalus khá nổi tiếng đương thời vì tính rất lập dị, suy đồi và cuồng tín. Truyền thống này đã kéo dài, và trong số nhà văn đầu thời hiện đại thì ông bị mắc tiếng xấu là một trong những vị hoàng đế tồi tệ nhất. Sử gia người Anh Edward Gibbon, trong một ví dụ đã viết rằng Elagabalus "bỏ mặc bản thân mình vào những lạc thú thô tục và ham mê vô độ". Theo B.G. Niebuhr, "Cái tên Elagabalus là một thương hiệu trong lịch sử đứng trên tất cả những người khác" bởi vì "cuộc đời ghê tởm khôn tả" của ông.

Galba

Servius Sulpicius Galba (tiếng Latinh: Servius Sulpicius Galba Augustus; 24 tháng 12, năm 3 TCN - 15 tháng 1, năm 69) cũng gọi là Servius Sulpicius Galba Caesar Augustus là Hoàng đế La Mã từ năm 68 đến năm 69. Galba là vị Hoàng đế đầu tiên của thời kì Thời tứ đế. Ông được đưa lên ngôi sau khi Hoàng đế Nero tự sát. Ông bị Vệ binh hoàng gia do Otho mua chuộc giết hại năm 69, khi ông mới cai trị được 1 năm. Ông qua đời vào độ tuổi 72. Sau khi giết Galba, Otho lên ngôi hoàng đế La Mã.

Julius Caesar

Gāius Iūlius Caesār (phát âm trong tiếng Latin: [ɡaː.i.ʊs ˈjuː.li.ʊs ˈkae̯.sar]; cách phiên âm "Xê-da" bắt nguồn từ tiếng Pháp César) (12 tháng 7 hoặc 13 tháng 7 năm 100 TCN – 15 tháng 3 năm 44 TCN) là một lãnh tụ quân sự và chính trị, và tác gia văn xuôi Latin lớn của La Mã cổ đại. Ông đóng một vai trò then chốt trong sự chuyển đổi Cộng hòa La Mã thành Đế chế La Mã.

Sinh ra trong nhà Julia, một trong những dòng dõi quý tộc lớn ở Rome, Caesar được tiếp xúc và bắt đầu tham gia đời sống chính trị từ rất sớm. Năm 60 TCN, ông cùng với Crassus và Pompeirus (Pompey). thành lập tam đầu chế thứ nhất, một liên minh chính trị có tính thống lãnh Rôma trong suốt nhiều năm. Phương cách xây dựng quyền lực dựa trên các phương thức dân túy đã đụng chạm và dẫn tới sự chống đối của giai cấp quý tộc lãnh đạo ở Rôma, mà đứng đầu là Cato Trẻ với sự ủng hộ thường xuyên của Cicero.

Những cuộc chinh chiến thành công tại xứ Gallia của Caesar mở cho La Mã con đường tiếp cận Đại Tây Dương. Julius Caesar được ghi nhận là vị tướng La Mã đầu tiên xây dựng thành công cầu sông Rhein năm 55 TCN, và trở thành tướng La Mã đầu tiên vượt qua eo biển Manche và tiến hành cuộc xâm lăng vào xứ Britannia.

Các thành công quân sự lớn lao của Caesar đã mang lại cho Caesar quyền lực quân sự tối thượng; đe dọa đến chỗ đứng của Pompey, người đã ngả lại về phe của Viện Nguyên lão sau khi Crassus chết trong trận Carrhae năm 53 TCN. Sau khi chiến cuộc xứ Gaule đến hồi kết, Caesar được lệnh phải từ bỏ quyền chỉ huy quân sự và trở về Roma. Caesar bất tuân lệnh này và thay vào đó ông rời khỏi khu vực tài phán của mình, vượt sông Rubicon tiến vào Roma với một binh đoàn La Mã vào năm 49 TCN. Kết quả là nội chiến nổ ra ở La Mã, với chiến thắng sau cùng thuộc về Caesar.

Sau khi lên nắm quyền ở Rôma, Caesar bắt đầu tiến hành một loạt chương trình cải cách xã hội lẫn chính quyền, bao gồm cả việc tạo ra và áp dụng lịch Julia. Bên cạnh đó, ông có tiến hành tập trung quyền lực cho chính quyền Cộng hòa và trở thành một Dictator perpetuo (Độc tài trọn đời) với nhiều quyền lực chưa từng có. Tuy nhiên những mâu thuẫn chính trị vẫn chưa được giải quyết, và vào ngày Idus Martiae (15 tháng 3) năm 44 TCN, một nhóm Nguyên lão nổi loạn do Marcus Junius Brutus lãnh đạo mưu sát thành công Caesar. Việc này khiến cho một loạt cuộc nội chiến nổi ra liên tiếp sau đó ở La Mã, kết thúc với việc chính quyền theo thể chế Cộng hòa không bao giờ được khôi phục và Gaius Octavius Octavianus, cháu trai và cũng là người thừa kế được chỉ định của Caesar, lên nắm quyền lực tuyệt đối với danh hiệu Augustus sau khi đánh bại tất cả các đối thủ khác. Việc Augustus củng cố quyền lực này đã đánh dấu sự bắt đầu Đế chế La Mã.

Những chiến dịch quân sự của Caesar được biết đến một cách chi tiết qua những bài viết Commentarii (bài tường thuật) của ông, và nhiều chi tiết khác về cuộc đời của ông được ghi nhận lại bởi những sử gia như Appian, Suetonius, Plutarch, Cassius Dio và Strabo. Những thông tin khác được thu thập từ những nguồn thông tin xuất hiện đương thời như là những bức thư và bài diễn văn của Cicero, những bài thơ của Catullus, và những bài viết của sử gia Sallus. Caesar được nhiều sử gia xem là một trong những nhà quân sự và chính trị gia lỗi lạc nhất trong lịch sử thế giới.

Leucanopsis otho

Leucanopsis otho là một loài bướm đêm thuộc phân họ Arctiinae, họ Erebidae.

Maximianus

Maximianus hay Maximian (tiếng Latin: Marcus Aurelius Valerius Maximianus Herculius Augustus; sinh k. 250 - mất k. tháng 7 năm 310) là Hoàng đế La Mã từ năm 286 đến năm 305. Ông mang tước hiệu Caesar từ năm 285 tới 286, rồi sau đó trở thành Augustus từ 286 đến 305. Ông đã cùng chia sẻ tước hiệu Augustus với vị đồng hoàng đế và cũng là thượng cấp của ông, Diocletianus, người vốn có đầu óc chính trị bổ khuyết cho người hữu dũng như Maximianus. Maximianus đã thiết lập triều đình của mình tại Trier nhưng lại dành phần lớn thời gian cai trị của ông cho những chiến dịch quân sự. Vào cuối mùa hè năm 285, ông đã đàn áp phong trào khởi nghĩa có tên là Bagaudae ở Gallia. Từ năm 285 đến năm 288, ông cầm quân chống lại các bộ tộc người German dọc theo biên giới sông Rhine. Cùng với Diocletianus, ông đã tiến hành một chiến dịch tiêu thổ tiến sâu vào lãnh thổ của người Alamanni vào năm 288, qua đó tạm thời làm giảm bớt mối đe dọa từ người German trên lưu vực sông Rhine.

Ông còn giao cho Carausius trọng trách bảo vệ eo biển Manche nhưng ông ta lại nổi loạn rồi tiếm vị xưng đế vào năm 286 gây ra cuộc ly khai ở Anh và tây bắc xứ Gallia. Maximianus đã thất bại trong cuộc viễn chinh bình định Carausius, và hạm đội xâm lược của ông đã bị một cơn bão phá hủy trong năm 289 hoặc năm 290. Sau đó, một cận thần của Maximianus là Constantius đã tiến hành chiến dịch chống lại người nối nghiệp Carausius là Allectus, trong khi Maximianus đang nắm giữ khu vực biên giới sông Rhine. Sau khi Allectus cùng đám phiến quân bị tiêu diệt năm 296, Maximianus đưa quân về phía nam để đối phó với hải tặc ở gần Hispania (Tây Ban Nha ngày nay) và những cuộc tấn công của người Berber ở Mauretania (Maroc ngày nay). Khi những chiến dịch này kết thúc năm 298, ông đã quay về Ý, tại đây ông sống trong xa hoa cho đến năm 305. Theo mệnh lệnh của Diocletianus, Maximianus thoái vị vào ngày 1 tháng 5 năm 305, giao lại tước hiệu Augustus cho Constantius và thoái ẩn tới miền nam Ý.

Cuối năm 306, Maximianus một lần nữa tự xưng là Augustus và hỗ trợ cho người con trai của ông là Maxentius nổi loạn ở Ý. Tháng 4 năm 307, sau khi thất bại trong việc lật đổ người con trai của mình, ông đã buộc phải chạy đến nương nhờ tại triều đình của người kế vị Constantius là Constantinus I (người vừa là cháu dượng và cũng là con rể của ông) ở Trier. Tại Hội đồng Carnuntum diễn ra vào tháng 11 năm 308, Diocletianus và người kế vị ông ta, Galerius, đã ép Maximianus phải từ bỏ tham vọng nắm giữ ngai vàng của mình một lần nữa. Đầu năm 310, Maximianus đã cố gắng để chiếm đoạt ngôi vương của Constantinus khi vị hoàng đế này đang tham gia chiến dịch trên sông Rhine. Do chỉ được một vài người ủng hộ, Maximianus nhanh chóng bị Constantinus bắt được ở Marseille. Sau đó, Maximianus bị buộc phải tự tử vào mùa hè năm 310 theo mệnh lệnh của Constantinus. Dù trong cuộc chiến tranh diễn ra giữa Constantinus với Maxentius, hình tượng của Maximianus đã bị thanh trừ khỏi tất cả các địa điểm công cộng, nhưng sau khi Maxentius bị Constantinus lật đổ và sát hại, hình tượng của Maximianus lại được khôi phục và ông đã được phong thần.

Nero

Nero Claudius Caesar Augustus Germanicus (15 tháng 12 năm 37 – 9 tháng 6 năm 68), tên khai sinh là Lucius Domitius Ahenobarbus, còn được gọi là Nero Claudius Caesar Germanicus, là vị Hoàng đế thứ và cũng là cuối cùng của triều đại Julius-Claudius, trị vì từ năm 54 tới 68 AD. Nero được chú ông, hoàng đế Claudius nhận làm con nuôi và được thừa kế ngai vàng. Ông lên ngôi với hiệu Nero Claudius Caesar, ngày 13 tháng 10 năm 54, sau khi Claudius qua đời.

Nero tập trung phần lớn vào tình hình ngoại giao, thương mại và phát triển văn hóa cho đế quốc La Mã. Ông cho xây dựng nhiều nhà hát và khuyến khích phát triển thể thao. Trong khi trị vì, vị tướng của ông Corbulo đã đánh thắng và sau đó là đàm phán thành công hòa ước với Đế quốc Parthia. Một vị tướng khác của ông Suetonius Paulinus đã dập tắt cuộc nổi dậy của thổ dân tại Anh do nữ hoàng Boudicca lãnh đạo. Nero còn sáp nhập vương quốc Bosporan vào đế quốc và khai mào cho trận chiến Roman với Do Thái đầu tiên.

Vào năm 64 AD, phần lớn Rome bị phá hủy trong cuộc Đại hỏa hoạn thành Roma. Nhiều người dân tin rằng Nero là người gây ra trận hỏa hoạn đó với mục đích tạo ra chỗ trống để xây cung điện hoành tráng Domus Aurea. Vào năm 68, với cuộc nổi loạn của Vindex ở Gaul và sự tự xưng vương của Galba tại Hispania đã lật đổ đế chế Nero. Khi được tin giả là Nero bị coi như là kẻ thù của nhân dân và sẽ bị xử tử, Nero tự tử vào ngày 9 tháng 6 năm 68 (vị hoàng đế La Mã đầu tiên làm điều này). Cái chết của Nero đã chấm dứt triều đại Julio-Claudian và gây nên nội chiến trong một thời gian ngắn, giai đoạn đó gọi là Năm tứ đế. Triều đại của Nero thường bị người ta liên tưởng đến sự bạo chúa và xa xỉ. Ông bị cho là đã ra lệnh xử tử nhiều người, trong đó có cả mẹ ruột của mình và hạ độc người anh họ mình, Britannicus.Ông là một người tai tiếng, bị người đời nói rằng là một hoàng đế "nghịch phá trong khi thành Rome bốc cháy". Còn có tin đồn là ông bắt tín đồ Công giáo và nhúng họ xuống dầu rồi lấy người họ làm đèn vào bữa tối. Những quan điểm này dựa chủ yếu vào các nguồn tư liệu chính còn lại về thời kỳ Nero cầm quyền của các sử gia Tacitus, Suetonius và Cassius Dio viết nhưng một số ít nguồn tư liệu khác miêu tả Nero một cách tốt hơn. Những nguồn đó cho biết ông là một hoàng đế được lòng dân chúng La Mã, đặc biệt với dân cư vùng phía Đông đế chế. Các nhà sử học thời hiện đại đã đặt ra nghi vấn về độ đáng tin cậy của các nguồn cổ đại về sự bạo chúa của Nero.

Nerva

Marcus Cocceius Nerva (8 tháng 11 năm 30 – 27 tháng 1 năm 98) là hoàng đế La Mã từ năm 96 đến khi ông qua đời năm 98. Ông là hoàng đế đầu tiên của nhà Nerva-Traiani và là một trong Ngũ hiền đế. Nerva lên ngôi khi ông đã 65 tuổi, sau khi hoàng đế Domitian bị giết; trước đó ông làm quan thời Nero và các hoàng đế nhà Flavia Vespasian, Titus và Domitian. Dưới thời Nero, ông giữ vai trò quan trọng trong đoàn tùy tùng hoàng gia và đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tiết lộ âm mưu của Pisonian năm 65. Sau đó, như là một người trung thành với hoàng đế Flavia, ông đã giữ chức chấp chính quan trong năm 71 và 90.

Ngày 18 tháng 9 năm 96, một số vệ binh pháp quan cấu kết với nô lệ được thả mưu sát Domitianus. Cùng ngày, Nerva được viện nguyên lão La Mã phong làm hoàng đế. Khi mới lên ngôi, ông tuyên bố sẽ phục hồi quyền dân chủ bị hoàng đế độc đoán Domitianus bãi bỏ. Tuy nhiên, triều đại ngắn ngủi của Nerva gặp nhiều khó khăn về mặt tài chính, và ông không có tài cầm quân. Tháng 10 năm 97, Lực lượng Vệ binh pháp quan nổi dậy, buộc ông phải chấp nhận Marcus Ulpius Traianus (Trajan), một người tài đức, là người kế vị. Sau 15 tháng cầm quyền, ông đột ngột qua đời ngày 27 tháng 1 năm 98. Trajan trở thành hoàng đế mới của La Mã.

Năm tứ đế

Năm bốn Hoàng đế hay Năm tứ đế (tiếng Latin: Annus quattuor imperatorum) là một năm trong lịch sử của đế quốc La Mã, khi vào năm 69, Bốn vị hoàng đế thay nhau cai trị đế quốc La Mã. Những vị hoàng đế này là Galba, Otho, Vitellius và Vespasianus.Vụ tự sát của hoàng đế Nero vào năm 68 đã châm ngòi cho một cuộc nội chiến trong giai đoạn ngắn, cuộc nội chiến La Mã đầu tiên kể từ cái chết của Marcus Antonius năm 30 TCN. Từ tháng 6 năm 68 cho đến tháng 12 năm 69, ngai vàng La Mã đã thay chủ 4 lần. Sự nỗi dậy và sụp đổ lần lượt của Galba, Otho và Vitellius cho đến lúc Vespasianus, người sáng lập ra triều đại Flavia, lên ngôi vào tháng 7 năm 69. Giai đoạn này của cuộc nội chiến đã trở thành biểu tượng của sự rối loạn chính trị theo chu kỳ trong lịch sử đế chế La Mã. Tình trạng hỗn loạn quân sự và chính trị được tạo ra bởi cuộc nội chiến này đã ảnh hưởng nghiêm trọng, chẳng hạn như sự bùng nổ của cuộc nổi loạn Batavi. (trong khi Cuộc nổi dậy của người Do Thái đang được tiến hành.)

Otho, Iowa

Otho là một thành phố thuộc quận Webster, tiểu bang Iowa, Hoa Kỳ. Năm 2010, dân số của thành phố này là 542 người.

Vespasianus

Titus Flavius Vespasianus, thường được gọi là Vespasian (tiếng Latinh: Titus Flavius Caesar Vespasianus Augustus; ngày 17 tháng 11,năm 9 - 23 tháng 6,năm 79), là một hoàng đế La Mã trị vì từ năm 69 cho đến khi ông mất năm 79 SCN. Vespasianus là người sáng lập của Triều đại ngắn ngủi Flavius, mà cai trị Đế quốc La Mã từ năm 69 tới năm 96 SCN. Ông được kế vị bởi 2 người con trai là Titus (79-81) và Domitianus (81-96).

Vespasianus hậu duệ của một gia đình kị sĩ mà đã trở thành một thành viên của viện nguyên lão dưới Triều đại Julius-Claudius. Mặc dù ông có đủ những tố chất để trở thành một quan chức của chính quyền như chấp chính quan năm 51, Vespasianus có được uy tín nhờ là sự thành công trong vai trò làm tướng lĩnh quân đội,ông đã tham gia trong cuộc xâm lược của người La Mã tại Anh năm 43, và chinh phục tỉnh Judaea trong cuộc khởi nghĩa của người Do Thái năm 66. Trong khi Vespasianus đang chuẩn bị cho cuộc vây hãm thành phố Jerusalem trong chiến dịch cuối cùng, hoàng đế Nero đã tự sát, khiến cho đế chế La Mã lâm vào tình trạng nội chiến của năm bốn hoàng đế. Sau khi Galba và Otho mất sau một thời gian ngắn kế vị,Vitellius trở thành hoàng đế giữa năm 69. Đáp lại, quân đội tại Ai Cập và Judaea tự tuyên bố Vespasianus làm hoàng đế vào ngày mùng 1 tháng 7. Trên con đường trở thành hoàng đế, Vespasianus đã có sự tham gia của Gaius Licinius Mucianus, thống đốc của Syria, người đã lãnh đạo quân đội của phe Flavius chống lại Vitellius trong khi Vespasianus nắm quyền kiểm soát Ai cập. Ngày 20 Tháng 12, Vitellius bị đánh bại, và ngày hôm sau, Vespasianus được tuyên bố là hoàng đế bởi viện nguyên lão La Mã.

Ít thông tin thực tế về sự tồn tại của triều đình Vespasianus trong mười năm ông làm hoàng đế. Triều đại của ông được biết đến với những cải cách tài chính sau sự sụp đổ của Triều đại Julius-Claudius, các chiến dịch thành công chống lại Judaea, và dự án xây dựng nhiều tham vọng như Đấu trường La Mã. Sau khi ông qua đời ngày 23 tháng sáu, năm 79, ông đã được thừa kế bởi con trai cả của ông Titus.

Vitellius

Aulus Vitellius Germanicus, tên khai sinh là Aulus Vitellius và thường được gọi là Vitellius (tiếng Latinh: Aulus Vitellius Germanicus Augustus; ngày 24 tháng 12 năm 15-22 tháng 12 năm 69), là một hoàng đế La Mã trị vì từ ngày 16 tháng 4 năm 69-22 tháng 12 cùng năm. Vitellius trở thành hoàng đế sau các triều đại ngắn ngủi của Otho và Galba trong một năm của các cuộc nội chiến được gọi là năm của bốn hoàng đế. Vitellius là vị hoàng đế đầu tiên thêm tên riêng Germanicus của mình vào tên hiệu của hoàng đế thay vì tên hiệu Ceasar khi kế vị.

Tuyên bố lên ngôi của ông đã sớm bị thách thức bởi những quân đoàn đồn trú tại các tỉnh miền Đông, họ đã tuyên bố ủng hộ chỉ huy của mình là Vespasianus trở thành hoàng đế tại nơi ông ta đóng quân. Chiến tranh xảy ra sau đó, dẫn đến một thất bại tan nát cho Vitellius trong trận Bedriacum lần thứ hai. Khi ông nhận ra mình thiếu sự ủng hộ, Vitellius đã chuẩn bị thoái vị để ủng hộ Vespasianus làm hoàng đế, nhưng đã bị hành quyết tại Rome bởi lực lượng của phe Flavius vào ngày 22 tháng 12 năm 69.

Wallengrenia otho

Wallengrenia otho là một loài bướm ngày thuộc họ Hesperiidae. Nó được tìm thấy ở miền đông Texas và tây nam Hoa Kỳ, phía nam through the West Indies và Trung Mỹ to Argentina. Strays can be found as far phía bắc as central Missouri, miền bắc Kentucky và Delaware.

Sải cánh dài 24–35 mm. Con trưởng thành bay từ tháng 4 đến tháng 10 làm hai đợt (đôi khi một phần lứa thứ 3) in hầu hết North America. Tại Florida bán đảo và Nam Texas, adults are on wing quanh năm.

Ấu trùng ăn Paspalum species và Stenotaphrum secundatum. Con trưởng thành ăn mật hoa cây Pickerelweed, Selfheal và Sweet pepperbush.

Xã Otho, Quận Webster, Iowa

Xã Otho (tiếng Anh: Otho Township) là một xã thuộc quận Webster, tiểu bang Iowa, Hoa Kỳ. Năm 2010, dân số của xã này là 901 người.

Zeno (hoàng đế)

Zeno hay Zenon (; tiếng Latinh: Flavius Zeno Augustus; tiếng Hy Lạp: Ζήνων) (425 – 491), tên thật là Tarasis(), là Hoàng đế Đông La Mã từ năm 474 tới 475 và một lần nữa từ 476 tới 491. Các cuộc nổi loạn trong nước và vấn đề chia rẽ tôn giáo đã xảy ra dưới thời ông trị vì, dù vẫn đạt được thành công chừng mực trong các vấn đề đối ngoại. Triều đại của Zeno đã chứng kiến sự cáo chung của Đế quốc Tây La Mã dưới thời Hoàng đế Julius Nepos, nhưng ông đã có công lớn góp phần ổn định Đế quốc Đông La Mã trong thời kỳ đầy biến động này.

Trong lịch sử Giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã, Zeno có liên quan đến sự kiện ban hành Henotikon hoặc "Chỉ dụ Hợp nhất" do chính ông ban bố và được tất cả các Giám mục Giáo hội phương Đông ký vào, nhằm mục đích giải quyết những bất đồng xoay quanh thuyết Nhất Tính luận.

Đế quốc Đông La Mã

Đế quốc Đông La Mã (tiếng Hy Lạp cổ đại: Βασιλεία Ῥωμαίων, phiên âm: Basileia Rhōmaiōn, tiếng Latinh: Imperium Romanum tạm dịch là "Đế quốc La Mã") còn được gọi Đế quốc Byzantium, Đế quốc Byzantine, Đế quốc Byzance hay Đế quốc Hy Lạp là một đế quốc tồn tại từ năm 330 đến năm 1453, đóng đô ở Constantinopolis. Trước khi thành lập, phạm vi của Đế quốc Đông La Mã trước đây nằm trong lãnh thổ của Đế quốc La Mã. Năm 330, khi Constantinus I, con của hoàng đế Constantius, nắm quyền trị vì và dời đô từ thành La Mã về Constantinopolis, được xem là thời điểm thành lập đế quốc Đông La Mã. Khi ông qua đời, đế quốc bị các con trai ông phân chia thành Đông và Tây. Sau khi vị hoàng đế cuối cùng của đế quốc phía tây là Romulus Augustus bị một thủ lĩnh người Giéc-man hạ bệ, đế quốc Tây La Mã sụp đổ. Nhưng đế quốc phía đông vẫn tiếp tục phát triển, trở thành một cường quốc có vai trò quan trọng ở châu Âu và được xem là một trong những trung tâm đạo Ki-tô lúc bấy giờ.

Không thấy một tư liệu chính xác nào về sự khởi đầu của đế quốc Đông La Mã. Một vài ý kiến cho rằng đế quốc này được thành lập dưới thời cai trị của Hoàng đế Diocletianus (284–305), người đã chia đế quốc La Mã thành hai nửa đông và tây. Một vài người lại nói rằng đế quốc bắt đầu vào thời của Constantinus I, vị hoàng đế đầu tiên đóng đô tại Constantinopolis. Những ý kiến khẳng định vào thời trị vì của Hoàng đế Theodosius I (379–395) hoặc theo sau cái chết của ông vào năm 395. Một vài người cho vào thời điểm xa hơn vào năm 476 khi đế quốc phía tây sụp đổ. Nhưng hiện nay tư liệu khá chính xác là vào năm 330, khi Constantinus I thành lập tân đô Constantinopolis dưới sự phát triển vượt bậc của văn hóa Ki-tô giáo và thời kỳ văn hóa chịu ảnh hưởng Hy Lạp (quá trình Hy Lạp hóa văn hóa). Đế quốc Đông La Mã đã tồn tại hơn một ngàn năm, từ thế kỷ thứ IV cho đến năm 1453. Trong thời gian tồn tại của nó, Đông La Mã vẫn là một trong những cường quốc kinh tế, văn hóa, và quân sự lớn mạnh nhất ở châu Âu, bất chấp những thất bại và mất mát lãnh thổ, đặc biệt là trong cuộc Chiến tranh La Mã-Ba Tư và Chiến tranh Ả Rập-Đông La Mã. Đế quốc sau đó đã phục hưng dưới triều đại Macedonia, một lần nữa Đông La Mã vươn lên thành liệt cường hàng đầu của vùng Đông Địa Trung Hải vào cuối thế kỷ thứ X, đối địch với Nhà Fatima của người Hồi giáo.Tuy nhiên, sau năm 1071, nhiều lãnh đổ ở Tiểu Á - trung tâm của đế quốc, bị người Thổ Nhĩ Kỳ Seljuk chiếm đoạt. Mặc dù Vương triều nhà Komnenos đã giành lại một số đất đai và hưng thịnh lại Đế quốc trong một thời gian ngắn trong thế kỷ thứ XII, sau khi Hoàng đế Andronikos I Komnenos qua đời và Vương triều Komnennos cáo chung ở cuối thế kỷ thứ XII, một lần nữa Đế quốc lâm vào suy vong. Đế quốc Đông La Mã bị cuộc Thập tự chinh lần thứ tư giáng một đòn chí mạng vào năm 1204, khiến Đế quốc bị giải thể và các lãnh thổ La Tinh và Hy Lạp thuộc Đông La Mã bị chia cắt.

Vào năm 1261, kinh đô Constantinopolis được giải phóng và Đế quốc Đông La Mã trung hưng, thế nhưng dưới triều các hoàng đế nhà Palaiologos, Đông La Mã chỉ còn là một trong nhiều quốc gia nhỏ đối địch nhau ở khu vực, trong suốt 200 năm tồn tại cuối cùng của nó. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, nền văn hóa của Đế quốc sinh sôi nảy nở. Các cuộc biến loạn cung đình xảy ra liên tiếp trong thế kỷ XIV tiếp tục hủy hoại sự thịnh vượng của Đế quốc Đông La Mã, trong khi các lãnh thổ còn lại của Đông La Mã lần lượt bị lấy mất trong cuộc Chiến tranh Đông La Mã-Ottoman, mà đỉnh điểm là sự thất thủ của Constantinopolis và các vùng lãnh thổ còn lại bị Đế quốc Ottoman chinh phục vào thế kỷ thứ XV.

Vợ
Poppea Sabina (bị Hoàng đế Nero buộc phải ly dị Otho)
Các tác phẩm của Plutarchus
Các tác phẩm
Các nhân vật trong
Tiểu sử song đôi
Người dịch
các tác phẩm của Plutarch
Danh sách hoàng đế La MãĐông La Mã
Thời kỳ Principatus
27 tr. CN – 235 CN
Thời kỳ khủng hoảng
235–284
Thời kỳ Dominus
284–395
Đế quốc Tây La Mã
395–480
Đế quốc Đông La Mã
395–1204
Đế quốc Nicaea
1204–1261
Đế quốc Đông La Mã
1261–1453

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.