Nubia

Nubia là một vùng dọc theo sông Nile, nằm ở bắc Sudan và nam Ai Cập.Từng có nhiều vương quốc Nubia lớn trong suốt thời hậu cổ điển, vương triều cuối cùng sụp đổ năm 1504, khi đó Nubia bị chia ra tách giữa Ai Cập và Sennar sultanate tạo ra sự Ả Rập hóa của phần lớn dân cư Nubia. Nubia sau đó bị sáp nhập vào Ottoman Ai Cập trong thế kỷ 19 và vào Sudan Ai Cập thuộc Anh từ 1899 đến 1956.

Tên gọi Nubia có nguồn gốc từ người Noba, những người du mục đã định cư khu vực này vào thế kỷ thứ 4, sau sự sụp đổ của vương quốc Meroe. Người Noba sử dụng ngôn ngữ Nilo-Saharan, tổ tiên của Old Nubian. Old Nubian đã được sử dụng chủ yếu trong các văn bản tôn giáo có niên đại từ thế kỷ 8 và 15 AD. Trước thế kỷ thứ 4, và trong suốt Thời kỳ cổ đại, Nubia được biết đến như Kush, bao gồm dưới cái tên Ethiopia (Aithiopia).

Trong lịch sử, người dân Nubia nói ít nhất hai loại nhóm Ngôn ngữ Nubian, một phân họ trong đó bao gồm Nobiin (hậu duệ của Old Nubian), Kenuzi-Dongola, Midob và một số loại có liên quan ở phần phía bắc của Dãy núi Nuba ở Nam Kordofan. Ngôn ngữ Birgid được nói (ít nhất là cho đến năm 1970) về phía bắc Nyala ở Darfur nhưng nay đã tuyệt chủng.

Nubia today
Vùng Nubia ngày nay
Ai Cập cổ đại

Ai Cập cổ đại là một nền văn minh cổ đại nằm ở Đông Bắc châu Phi, tập trung dọc theo hạ lưu của sông Nile thuộc khu vực ngày nay là đất nước Ai Cập. Đây là một trong sáu nền văn minh phát sinh một cách độc lập trên thế giới. Nền văn minh Ai Cập được thống nhất lại vào năm 3150 TCN (theo trình tự thời gian của bảng niên đại Ai Cập) với sự thống nhất chính trị của Thượng và Hạ Ai Cập dưới thời vị pharaon đầu tiên (Narmer, thường được gọi là Menes). Lịch sử của Ai Cập cổ đại đã trải qua một loạt các thời kỳ vương quốc ổn định, và các giai đoạn hỗn loạn giữa chúng được gọi là các giai đoạn chuyển tiếp: Cổ Vương quốc thời kỳ Sơ kỳ Đồ đồng, Trung Vương quốc tương ứng giai đoạn Trung kỳ Đồ Đồng và Tân Vương quốc ứng với Hậu kỳ Đồ đồng.

Ai Cập đạt đến đỉnh cao của quyền lực vào giai đoạn Tân Vương quốc, trong thời kỳ Ramesside, vào thời điểm đó nó sánh ngang với đế quốc Hittite, đế quốc Assyria và đế chế Mitanni, trước khi bước vào giai đoạn dần suy yếu. Ai Cập đã bị xâm chiếm hoặc chinh phục bởi một loạt các cường quốc nước ngoài, chẳng hạn như người Canaan/Hyksos, Lybia, người Nubia, Assyria, Babylon, Ba Tư dưới triều đại Achaemenid, và người Macedonia trong Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Ba và cuối thời kỳ Ai Cập cổ đại. Sau khi Alexander Đại Đế qua đời, một trong những tướng lĩnh của ông, Ptolemy I Soter, đã tuyên bố ông là vị vua mới của Ai Cập. Triều đại Ptolemy gốc Hy Lạp này đã cai trị Ai Cập cho đến năm 30 TCN khi nó rơi vào tay đế quốc La Mã và trở thành một tỉnh La Mã.Sự thành công của nền văn minh Ai Cập cổ đại một phần đến từ khả năng thích ứng của nó với các điều kiện của thung lũng sông Nile cho sản xuất nông nghiệp. Từ việc có thể dự đoán trước lũ lụt và việc điều tiết thủy lợi ở khu vực thung lũng màu mỡ đã tạo ra nhiều nông sản dư thừa, giúp nuôi dưỡng một lượng dân số đông hơn, tạo điều kiện phát triển xã hội và văn hóa. Với việc có nhiều nguồn lực dư thừa, nhà nước đã tập trung vào việc khai thác khoáng sản ở các thung lũng và các khu vực sa mạc xung quanh, cũng như việc sớm phát triển một hệ thống chữ viết độc lập, tổ chức xây dựng tập thể và các dự án nông nghiệp, thương mại với khu vực xung quanh, và xây dựng một đội quân nhằm mục đích đánh bại kẻ thù nước ngoài và khẳng định sự thống trị của Ai Cập. Thúc đẩy và tổ chức những hoạt động này là một bộ máy quan lại gồm các ký lục ưu tú, những nhà lãnh đạo tôn giáo, và các quan lại dưới sự kiểm soát của một pharaon, người đảm bảo sự hợp tác và đoàn kết của toàn thể người dân Ai Cập dưới một hệ thống tín điều tôn giáo tinh vi.Những thành tựu của người Ai Cập cổ đại bao gồm khai thác đá, khảo sát và kỹ thuật xây dựng hỗ trợ cho việc xây dựng các công trình kim tự tháp, đền thờ, và cột tháp tưởng niệm; một hệ thống toán học, một hệ thống thực hành y học hiệu quả, hệ thống thủy lợi và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, những tàu thủy đầu tiên được biết đến trên thế giới, công nghệ gốm sứ và thủy tinh của Ai Cập, những thể loại văn học mới, và các hiệp ước hòa bình được biết đến sớm nhất, được ký kết với người Hittite. Ai Cập đã để lại một di sản lâu dài. Nghệ thuật và kiến ​​trúc của nó đã được sao chép rộng rãi, và các cổ vật của nó còn được đưa tới khắp mọi nơi trên thế giới. Những tàn tích hùng vĩ của nó đã truyền cảm hứng cho trí tưởng tượng của du khách và nhà văn trong nhiều thế kỷ. Sự quan tâm mới hình thành dành cho những cổ vật và các cuộc khai quật trong thời kỳ cận đại ở châu Âu và Ai Cập dẫn đến việc khai sinh ra ngành Ai Cập học để nghiên cứu nền văn minh Ai Cập và một sự đánh giá đúng đắn hơn đối với di sản văn hóa của nó.

Amenemhat II

Nubkhaure Amenemhat II hay Amenemhet II là vị pharaon thứ ba của Vương triều thứ 12, Ai Cập cổ đại (cai trị từ 1929-1895 TCN). Ông là con của Senusret I và Nefru III. Người ta còn chưa biết nhiều điều về Amenemhat II, người ta biết sau khi ông băng hà, con trai là Senusret II lên ngôi. Ông là chủ nhân của Kim tự tháp Trắng ở Dahshur. Vương hiệu của ông,Nubkaure, có nghĩa "Hoàng kim là linh hồn của Re."Những ghi chép quan trọng nhất về vương triều của ông đến từ những mảnh vỡ của một cột đá hàng năm từ Memphis (sau này được sử dụng lại vào thời Tân Vương quốc). Đó là biên niên sử năm đầu của ông, trong đó có ghi lại sự ban tặng của ông cho nhiều ngôi đền khác nhau, còn có người Nubia từ Kush đến cống nạp, một chiến dịch tới Syria và cướp phá hai thành phố. Amenemhat II đã thiết lập sự đồng nhiếp chính với người con trai, Senusret II, vào năm thứ 33 dưới vương triều của ông, nhằm đảm bảo tính liên tục của việc kế vị hoàng gia.

Một số phụ nữ thuộc hoàng gia đã được an táng bên cạnh kim tự tháp của ông tại Dahshur, cùng một số đồ trang sức bằng vàng. Bốn ngôi mộ còn lại (ba thuộc hoàng gia) vẫn còn nguyên vẹn cho khi chúng được Jacques de Morgan tìm thấy vào năm 1894/5.Triều đình của Amenemhat ít được biết đến. Senusret và Ameny là những vị tể tướng vào thời kì đầu vương triều của ông. Hai quan coi quốc khố: Merykau và Zaaset. Viên quan đốc công giữ cửa Khentykhetywer được biết đến từ một tấm bia đá ghi lại cuộc viễn chinh đến đất Punt.

Amenemhat III

Amenemhat III, cũng còn được viết là Amenemhet III là một pharaon thuộc Vương triều thứ Mười hai của Ai Cập. Ông trị vì từ khoảng năm 1860 TCN tới khoảng năm 1814 TCN, niên đại dài nhất của ông được biết đến trên một cuộn giấy cói là Năm cai trị thứ 46, I Akhet ngày 22..vương triều của ông được coi là thời kỳ hoàng kim của Trung Vương quốc. Ông có thể đã có một thời kì đồng trị vì dài (20 năm) với cha mình, Senusret III.

Vào giai đoạn cuối vương triều mình, ông đã cùng trị vì với Amenemhat IV, như được ghi lại trên một bản văn khắc đá bị hư hỏng ở Konosso thuộc Nubia, trong đó năm 1 của Amenemhat IV tương đương với năm 46, 47 hoặc 48 thuộc vương triều của ông.. Con gái ông, Sobekneferu, sau này đã kế vị Amenemhat IV, trở người cai trị cuối cùng của vương triều thứ 12. Vương hiệu của Amenemhat III, Nimaatre, có nghĩa là "Thuộc về Công lý của Re."

Chó rừng lông vàng

Chó rừng hay chó rừng lông vàng (danh pháp khoa học Canis aureus) là một loài chó kích thước trung bình sống ở vùng Bắc và Đông Bắc châu Phi, Đông Nam và Trung Âu (phía trên Áo và Hungary), Tiểu Á, Trung Đông và Đông Nam Á. Được phân loại bởi IUCN là loài ít quan tâm.

Iyibkhentre

Iyibkhentre là một vị vua người Ai Cập cổ đại hoặc Nubia, ông dường như đã cai trị vào giai đoạn cuối của vương triều thứ 11 và đầu vương triều thứ 12.

Kamose

Kamose là vị pharaon cuối cùng của Vương triều thứ 17 của Ai Cập cổ đại thuộc thành Thebes (Ai Cập) vào thời kì chiến tranh với người Hyksos, lúc đó là Vương triều thứ 15 ở vùng Hạ Ai Cập.

Kamose có thể là con của pharaoh Seqenenre Tao và nữ hoàng Ahhotep I. Nếu như vậy thì ông là anh em ruột với pharaoh Ahmose I. Vợ ông được cho là hoàng hậu Ahhotep II và con gái của 2 người là Ahmose-Sitkamose. Sitkamose lấy Ahmose I, người được xem là chú/bác ruột hay anh em họ của công chúa. Bà cũng nhận danh hiệu "Người vợ hoàng gia vĩ đại", sau Chính thất hoàng hậu Ahmose-Nefertari.

Ông lên ngôi (trị vì: khoảng 1554-1549 TCN) sau khi vua cha ngã xuống trong trận chiến với người Hyksos. Cũng như vua cha, Kamose chiến thắng nhiều trận nhưng bị quân Hyksos giết tại trận. Sau khi ông mất, em trai ông, Ahmose I, đã giành được độc lập cho Ai Cập thoát khỏi tay người Hyksos.

Menkauhor Kaiu

Menkauhor Kaiu (còn được gọi là Ikauhor, tiếng Hy Lạp cổ là Mencherês, Μεγχερῆς) là một vị pharaon của Ai Cập cổ đại thuộc thời kỳ Cổ vương quốc. Ông là vị vua thứ bảy của Vương triều thứ Năm, triều đại của ông tồn tại vào khoảng cuối thế kỷ 25 hoặc đầu thế kỷ 24 TCN.

Menkauhor có thể đã trị vì tám hoặc chín năm, ông đã kế vị vua Nyuserre Ini, và sau này được Djedkare Isesi kế vị. Mặc dù Menkauhor đã được chứng thực thông qua các ghi chép lịch sử, chỉ còn sót lại rất ít các hiện vật có niên đại thuộc về vương triều của ông cho đến ngày nay. Bởi vậy, mối quan hệ huyết thống của ông với vị vua tiền nhiệm và vị vua kế nhiệm hiện vẫn chưa rõ ràng, và cũng chưa có bất cứ người con nào của ông được biết đến. Khentkaus III có thể là thân mẫu của Menkauhor, theo như những bằng chứng được phát hiện trong ngôi mộ của bà vào năm 2015.

Ngoài việc xây dựng các công trình kiến trúc, chúng ta chỉ biết được duy nhất một hoạt động đã diễn ra dưới vương triều của Menkauhor đó là một cuộc viễn chinh đến các mỏ đồng và ngọc lam ở Sinai. Menkauhor đã ra lệnh xây dựng một ngôi đền mặt trời, được gọi là "Akhet-Ra" nghĩa là "Chân Trời của Ra". Đây là ngôi đền mặt trời cuối cùng được xây dựng, tuy nhiên ngôi đền này chỉ được nhắc đến thông qua các dòng chữ khắc được tìm thấy trong những ngôi mộ thuộc về các vị tư tế của nó, vị trí của nó cũng chưa được xác định. Menkauhor đã được chôn cất trong một kim tự tháp nhỏ ở Saqqara, nó được người Ai Cập cổ đại gọi tên là Netjer-Ipet Menkauhor, "Ngôi nhà thiêng liêng của Menkauhor". Ngày nay, nó được biết đến với tên gọi là Kim tự tháp không đầu, tàn tích của nó đã bị cát vùi lấp cho đến khi được phát hiện lại vào năm 2008.

Menkauhor còn là hình tượng trung tâm của một sự thờ cúng tang lễ tồn tại lâu dài cho đến tận giai đoạn cuối thời kỳ Cổ vương quốc, với ít nhất bảy điền trang nông nghiệp sản xuất các hàng hoá cho các nghi lễ hiến tế cần thiết. Menkauhor được thờ cúng như một vị thần, được biết đến với danh hiệu "Vị Thần hùng mạnh của Hai vùng đất, Menkauhor Công Bằng" đã lặp lại trong suốt thời kỳ Tân Vương quốc (khoảng 1550 - 1077 TCN), và kéo dài ít nhất là cho đến vương triều thứ Mười Chín (khoảng năm 1292 - khoảng năm 1077 TCN), khoảng 1200 năm sau khi ông qua đời.

Nehesy

Nehesy Aasehre (Nehesi) là một vị vua của Hạ Ai Cập trong Thời kỳ chuyển tiếp Thứ Hai. Hầu hết các học giả xác định ông là một vị vua thuộc về giai đoạn đầu Vương triều thứ 14, như là vị pharaoh thứ hai hoặc thứ sáu của vương triều này. Do đó ông được cho là đã trị vì trong một khoảng thời gian ngắn vào khoảng năm 1705 TCN và sẽ trị vì toàn bộ khu vực miền đông châu thổ sông Nile từ Avaris. Bằng chứng gần đây cho thấy rằng có thể có một người khác cùng tên, một người con trai của một vị vua Hyksos, sống trong một khoảng thời gian ngắn sau đó vào giai đoạn cuối Vương triều thứ 15 khoảng năm 1580 TCN. Có khả năng rằng hầu hết các hiện vật được quy cho vị vua Nehesy mà được nhắc đến trong cuộn giấy cói Turin, thực tế lại thuộc về vị hoàng tử Hyksos này.

Qakare Ini

Qakare Ini (còn là Intef) là một vị vua Ai Cập cổ đại hoặc Nubia, ông dường như đã cai trị Hạ Nubia vào giai đoạn cuối của vương triều thứ 11 và giai đoạn đầu của vương triều thứ 12. Mặc dù ông là vị vua Nubia được chứng thực tốt nhất ở giai đoạn này, không có hoạt động nào của ông được biết đến.

Ramesses XI

Ramesses XI (còn được viết là Ramses và Rameses) trị vì từ năm 1107 TCN đến 1078 TCN hay năm 1077 TCN, ông là vị vua thứ mười cũng là pharaon cuối cùng của Vương triều thứ hai mươi của Ai Cập. Ông cai trị Ai Cập trong vòng ít nhất 29 năm mặc dù một số nhà Ai Cập học nghĩ rằng ông có thể đã cai trị tới 30 năm. Con số thứ hai sẽ hoặc là kéo dài thêm 2 năm dựa trên niên đại dài nhất được biết đến của nhà vua này là vào năm thứ 10 của thời đại WHM Mswt hoặc là vào năm thứ 28 vương triều mà ông cai trị. Một học giả, Ad Thijs, thậm chí còn gợi ý rằng Ramesses XI đã cai trị dài tới 33 năm- do sự không chắc chắn xung quanh giai đoạn kết thúc vương triều lâu dài của ông.Người ta tin rằng Ramesses vẫn còn cai trị vào năm thứ 29 vì một hình vẽ trên tường ghi lại rằng vị Đại Tư Tế của Amun Piankh đã quay trờ về Thebes từ Nubia vào mùa III Shemu ngày thứ 23 hoặc chỉ 3 ngày trước khi khởi đầu năm thứ 29 dưới vương triều Ramesses XI. Piankh được biết là đã tiến hành chiến dịch ở Nubia vào năm thứ 28 dưới vương triều của Ramesses XI (hoặc năm 10 của WHM Mswt) và sẽ trở về quê nhà Ai Cập trong năm sau.

Rắn hổ mang phun nọc Nubia

Naja nubiae là một loài rắn trong họ Rắn hổ. Loài này được Wüster & Broadley mô tả khoa học đầu tiên năm 2003.

Segerseni

Segerseni là một thủ lĩnh người Ai Cập cổ đại hoặc Nubia của Nubia, có thể đã trị vì cùng thời với thời kỳ cuối của vương triều thứ 11 và thời kỳ đầu của vương triều thứ 12 trong giai đoạn đầu của thời kỳ Trung Vương quốc.

Seti II

Seti II (hay Sethi II, Sethos II), là nhà cai trị thứ năm thuộc Vương triều thứ 19 của Ai Cập cổ đại. Niên đại của ông kéo dài khoảng từ 1200/1199 đến 1194/1193 TCN.

Trong thời gian trị vì của mình, ông phải đối phó với nhiều mưu đồ của pharaon Amenmesse, có khả năng là em ông, người nắm quyền khắp Thebes (Ai Cập) và Nubia.

Sheshi

Maaibre Sheshi (cũng là Sheshy) là một vị vua của các vùng đất thuộc Ai Cập trong thời kỳ Chuyển tiếp thứ Hai. Vương triều, vị trí trong biên niên sử, khoảng thời gian và phạm vi triều đại của ông lại không chắc chắn và là chủ đề đang được tranh được tranh luận. Sự khó khăn của việc đồng nhất được phản ánh thông qua các vấn đề trong việc xác định những sự kiện từ sự kết thúc của thời kỳ Trung Vương quốc cho tới khi người Hyksos có mặt ở Ai Cập. Dù sao, khi xét về phương diện số lượng các hiện vật được quy cho là thuộc về ông, Sheshi là vị vua được chứng thực tốt nhất của giai đoạn kéo dài từ lúc thời kỳ Trung Vương quốc kết thúc cho tới thời kỳ Chuyển tiếp thứ Hai; xấp xỉ từ khoảng năm 1800 TCN cho tới năm 1550 TCN. Hàng trăm con dấu hình bọ hung có mang tên của ông đã được tìm thấy ở khắp Canaan, Ai Cập, Nubia, và xa tới tận Carthage, tại đó một số con dấu vẫn còn được sử dụng khoảng 1500 năm sau khi ông qua đời.

Ba giả thuyết cạnh tranh đã được đưa ra đối với vương triều mà Sheshi thuộc về. Các nhà Ai Cập học như là Nicolas Grimal, William C. Hayes, và Donald B. Redford cho rằng ông nên được đồng nhất với Salitis, ông ta là người sáng lập nên vương triều thứ 15 theo như các ghi chép lịch sử và là vua của người Hyksos trong cuộc xâm lăng Ai Cập của họ. Salitis được ghi nhận là có một triều đại kéo dài 19 năm và sẽ sống trong khoảng thời gian giữa khoảng năm 1720 TCN và năm 1650 TCN. Nhà Ai Cập học William Ayres Ward và nhà khảo cổ học Daphna Ben-Tor đề xuất rằng Sheshi là một vị vua người Hyksos và thuộc về giai đoạn nửa sau của vương triều thứ 15, ông đã cai trị giữa Khyan và Apophis. Ngoài ra, Manfred Bietak đã đề xuất rằng Sheshi là một chư hầu của người Hyksos, ông đã trị vì một vài vùng đất của Ai Cập hoặc Canaan. Sự tồn tại thực sự của các chư hầu như vậy đang được tranh luận. Cuối cùng, Sheshi có thể là một vị vua thuộc giai đoạn đầu vương triều thứ 14, một dòng dõi các vị vua có nguồn gốc Canaan đã cai trị toàn bộ khu vực phía đông đồng bằng châu thổ sông Nile ngay trước khi người Hyksos đặt chân tới. Những người đề xuất giả thuyết này, như là Kim Ryholt và Darrell Baker, đã cho rằng Sheshi có một triều đại kéo dài trong 40 năm bắt đầu vào khoảng năm 1745 TCN.

Ryholt đề xuất rằng Sheshi đã liên minh vương quốc của mình với người Kush ở Nubia thông qua một cuộc hôn nhân giữa hai vương triều với công chúa Nubia tên là Tati. Ryholt hơn nữa còn khẳng định rằng người con trai của Sheshi với Tati là Nehesy, tên của ông ta có nghĩa là "Người Nubia", và tin rằng ông ta chính là vị pharaon Nehesy Aasehre đã kế vị Sheshi.

Sân bay La Nubia

Sân bay La Nubia (IATA: MZL, ICAO: SKMZ) là một sân bay ở Manizales, Colombia. Sân bay có cự ly 8 km về phía đông nam trung tâm thành phố. Sân bay này chỉ có thể phục vụ máy bay nhỏ như Fokker 50, Dornier 328, De Havilland Dash 8 và ATR 42.

Sơn dương Nubia

Capra nubiana là một loài động vật có vú trong họ Bovidae, bộ Artiodactyla. Loài này được F. Cuvier mô tả năm 1825.

Thutmosis I

Thutmosis I (thỉnh thoảng còn gọi là Thothmes, Thutmosis hay Tuthmosis, có nghĩa là "thần Thoth sinh ra") là pharaon thứ ba của Vương triều thứ 18 nước Ai Cập. Ông lên ngôi sau khi vua Amenhotep I qua đời. Trong thời gian trị vì của mình, ông đã mở chiến dịch xâm lược vùng Cận đông và Nubia, mở mang biên giới Ai Cập tới đỉnh cao của nó. Ông cũng cho xây nhiều đền thờ các vị thần Ai Cập và cho xây lăng mộ đầu tiên trong Thung lũng các vị vua.

Ông sau đó được kế vị bởi người con trai, Thutmosis II, người sau đó lại được kế vị bởi em gái, Hatshepsut, và cũng là vợ của Thutmosis II. Thời gian cai trị của ông thường được xem là từ năm 1506 tới 1493 TCN, nhưng một số ít học giả- những người nghĩ rằng việc quan sát thiên văn được sử dụng để tính toán thời gian trong các ghi chép Ai Cập cổ đại được tiến hành từ thành phố Memphis chứ không phải từ Thebes- và do đó vương triều của ông phải là từ 1526-1513 TCN.

Vương quốc Kush

Vương quốc Kush hoặc Kush() là một vương quốc cổ đại ở châu Phi nằm trên khu vực hợp lưu của sông Nile Xanh, Nile Trắng và sông Atbara, ngày nay là cộng hòa Sudan.

Được thành lập vào giai đoạn cuối thời kỳ đồ đồng cùng với thời điểm Tân Vương Quốc suy tàn ở Ai Cập, kinh đô của nó đặt tại Napata trong giai đoạn đầu. Sau khi vua Kashta ("người Kush") xâm chiếm Ai Cập vào thế kỷ thứ 8 trước Công nguyên, các vị vua người Kush đã cai trị như là pharaoh của triều đại thứ 25 của Ai Cập suốt một thế kỷ, cho đến khi họ bị Psamtik I đánh đuổi vào năm 656 TCN.

Trong thời đại cổ điển, kinh đô của Kush nằm tại Meroe. Trong những tác phẩm địa lý Hy Lạp thời kỳ đầu, vương quốc Meroe được biết đến với tên gọi Ethiopia. Vương quốc Kush với kinh đô là Meroe đã tồn tại cho đến tận thế kỷ thứ 4 CN, khi mà nó bị suy yếu và tan rã do các cuộc nội chiến. Sau cùng, kinh đô của người Kush đã bị vương quốc Axum đánh chiếm và thiêu trụi hoàn toàn.

Vương triều thứ Hai Mươi Lăm của Ai Cập

Vương triều thứ Hai mươi lăm của Ai Cập cổ đại được biết đến như là vương triều Nubian hoặc Đế chế Kush là vương triều cuối cùng của Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Ba của Ai Cập cổ đại.

Gia đình hoàng gia của Vương triều 25 là một dòng tộc có nguồn gốc từ nhà cầm quyền ở Nubian, Vương quốc Kush – ngày nay là Bắc Sudan và miền nam Ai Cập và hầu hết cho rằng Napata là quê hương của họ. Họ đã trị vì trong một phần hoặc toàn bộ lãnh thổ của Ai Cập cổ đại, từ năm 760 trước Công nguyên đến 656 trước Công nguyên. vương triều bắt đầu với cuộc xâm lược Kashta ở Thượng Ai Cập và lên đến đỉnh cao trong nhiều năm cả thành công lẫn không thành công trong chiến tranh với người Lưỡng Hà và Đế chế Assyria. Triều 25 cũng thống trị Hạ Ai Cập, Thượng Ai Cập, và Đế chế Kush (của người Nubia) tạo được một vương quốc Ai cập có lãnh thổ rộng nhất kể từ thời kỳ Tân Vương Quốc. Họ đồng hóa vào xã hội do chính phủ Ai Cập cổ đại, họ theo tôn giáo truyền thống, xây dựng các ngôi đền, và các hình thức nghệ thuật, trong khi đó, họ cũng du nhập một số điểm độc đáo của văn hóa Kush. Suốt thời kỳ của Vương triều 25 thì vùng thung lũng sông Nilelần đầu tiên có thể nhìn thấy được các kim tự tháp kể từ thời Trung Vương quốc. Sau thời Assyria vua Sargon II và Sennacherib đánh bại những nỗ lực của vua người Nubian để đạt giữ được một vùng đất ở Cận Đông của họ, những người kế nhiệm Esarhaddon và Ashurbanipal xâm chiếm Ai Cập, đánh bại và rời khỏi Nubia. Chiến tranh với Assyria dẫn đến sự kết thúc của Vương quốc Kush ở phía Bắc Ai Cập và sự chinh phục của Ai Cập vào Assyria.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.