Nga thuộc châu Âu

Nga thuộc châu Âu (hay miền Tây Nga hoặc Trung Nga, đôi khi còn gọi là Nga Âu châu) là cách nói để ám chỉ những khu vực nằm phía tây của nước Nga mà nó thuộc châu Âu, khu vực này có diện tích gần 3.960.000 km² (1.528.560 mi²), lớn hơn cả Ấn Độ, và chiếm 40% lãnh thổ châu Âu. Ranh giới phía đông của nó là dãy núi Ural và phía nam là ranh giới với Kazakhstan. Khu vực này cũng bao gồm hai thành phố lớn nhất Nga là MoskvaSankt-Peterburg.

Khu vực này chiếm gần 78% dân số toàn nước Nga (khoảng 110.000.000 người trên tổng số 141.000.000 người), mật độ trung bình 27 người/km² (69.9người/mi²).[1]:6[1]:10 Mặc dù 75% lãnh thổ Nga nằm trên châu Á, nhưng phần châu Á chỉ có 22% dân số Nga với mật độ 2,5 người/km² (6,5/mi²).[1]:6

Russia-Subdivisions
Nga thuộc châu Âu và châu Á
TransAsia
  châu Âu
  châu Á
Russia ethnic
Bản đồ các dân tộc của Đế quốc Nga thuộc châu Âu trước chiến tranh thế giới thứ I.

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ a ă â Vishnevsky, Anatoly (15 tháng 8 năm 2000). “Replacement Migration: Is it a solution for Russia?” (PDF). EXPERT GROUP MEETING ON POLICY RESPONSES TO POPULATION AGEING AND POPULATION DECLINE /UN/POP/PRA/2000/14. United Nations Population Division, Department of Economic and Social Affairs. tr. 6,10. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2008.
Boloria thore

Boloria thore hay Clossiana thore là một loài bướm thuộc họ Nymphalidae. Nó phân bố ở các vùng ẩm ướt ở Anpơ, Fennoscandia, phía nam khu vực Nga thuộc châu Âu, Urals, Xibia và Đông Á.Sải cánh dài 28–34 mm. Loài này sinh hai năm một lứa.Ấu trùng ăn các loài Viola.

Chuvashia

Cộng hòa Chuvash (tiếng Nga: Чува́шская Респу́блика — Чува́шия, Chuvashskaya Respublika — Chuvashiya; tiếng Chuvash: Чăваш Республики, Čăvaš Respubliki), hay Chuvashia (tiếng Nga: Чува́шия Chuvashiya; tiếng Chuvash: Чăваш Ен, Čăvaš Jen), là một chủ thể liên bang của Nga (một nước cộng hòa). Đây là nơi sinh sống của người Chuvash, một dân tộc Turk. Thủ đô là thành phố Cheboksary. Dân số là 1.251.619 (thống kê 2010).

Các dân tộc tại Nga

Nga là một quốc gia đa sắc tộc với hơn 185 nhóm dân tộc; dân số của các nhóm này khác nhau rất lớn, từ hàng triệu (Ví dụ người Nga và người Tatar) đến dưới 10.000 (ví dụ người Sami và người Ket).

Trong 85 chủ thể tạo thành Nga, có 21 vùng dân tộc thiểu số, 5 khu tự trị okrugs (thường chủ yếu là dân tộc thiểu số) và 1 vùng tự trị.

Dị thường từ tính Kursk

Dị thường từ tính Kursk (tiếng Nga: Курская магнитная аномалия) là một lãnh thổ giàu quặng sắt nằm trong các khu vực Kursk, Belgorod và Voronezh ở Nga, và là một phần quan trọng của Vùng Trung tâm Chernozyom. Dị thường từ tính Kursk được công nhận là dị thường từ tính lớn nhất trên Trái đất.Dị thường từ tính Kursk (KMA) lần đầu tiên được phát hiện năm 1773 bởi nhà thiên văn học Nga và học tập Pyotr Inokhodtsev trong khi chuẩn bị các bản đồ của Khảo Sát Đất chung (tiếng Nga: Генеральное межевание) theo lệnh của chính phủ Nga. Nó không được điều tra lại cho đến năm 1874 khi IN Smirnov thực hiện cuộc khảo sát địa từ đầu tiên của Nga châu Âu. Năm 1883, ND Pilchikov, một giáo sư trợ lý tại Đại học Kharkov, đã thực hiện một loạt 71 quan sát về dị thường từ tính Kursk. Những điều này cho thấy một mức độ lớn hơn nhiều so với trước đây được đo và lần đầu tiên quy cho sự bất thường của sự hiện diện của quặng sắt. Năm 1884, trên cơ sở khám phá này, Pilchikov đã được trao huy chương bạc của Hiệp hội Địa lý Nga.

Cuộc điều tra nghiêm túc về tiềm năng kinh tế của dị thường xảy ra dưới sự lãnh đạo của Ivan Gubkin trong những năm 1920-1925, ban đầu dựa trên khả năng của dầu mỏ. Quặng giàu được phát hiện ở vùng dị thường vào khoảng năm 1931. Quặng được trải rộng trên diện tích ước tính 120.000 km² và là thạch anh từ tính được phổ biến khắp các loại đá biến chất và granitoid tiền Cambri. Dự trữ quặng khảo sát của đá thạch anh sắt hiện được ước tính là hơn 25 tỷ tấn 32-37% Fe và hơn 30 tỷ tấn 52-66% Fe. Phương pháp khai thác lộ thiên được sử dụng để khai thác quặng này tại các mỏ Stoylenskoye, Lebedinskoye và Mikhailovskoye. Phương pháp khai thác ngầm được sử dụng cho trầm tích Korobkovskoye.

Fritillaria montana

Fritillaria montana là một loài thực vật có hoa trong họ Liliaceae. Loài này được Hoppe ex W.D.J.Koch miêu tả khoa học đầu tiên năm 1832.

Đây là loài bản địa nam và đông châu Âu: Pháp, Italia, Hy Lạp, Áo, Hungary, Nam Tư (tất cả bảy vùng), Albania, Bulgaria, Romania, Ukraine, Nga thuộc châu Âu.

Hynobiidae

Kỳ giông châu Á (họ Hynobiidae) là các loài kỳ giông nguyên thủy được tìm thấy rộng khắp ở châu Á, và ở phần lãnh thổ Nga thuộc châu Âu. Chúng có mối quan hệ họ hàng gần với kỳ giông khổng lồ (họ Cryptobranchidae), và cùng nhau chúng hình thành nên phân bộ Cryptobranchoidea. Khoảng một nửa số loài họ Hynobiidae là loài độc nhất ở Nhật Bản.

Kỳ giông châu Á thụ tinh ngoài, con đực tưới tinh dịch lên trứng, và không giống như các họ kỳ giông khác sinh sản trong, con đực tập trung vào các túi trứng chứ không phải là con cái trong mùa sinh sản. Con cái đẻ hai túi trứng cùng một thời điểm, mỗi túi chứa đến 70 trứng. Kỳ giông cha mẹ chăm sóc con là phổ biến.

Một số loài có phổi tiêu giảm mạnh hoặc không có phổi. Nòng nọc đôi khi có thể có mang ngoài tiêu giảm mạnh nếu chúng sống trong nước lạnh và rất giàu oxy.

Kalmykia

Cộng hòa Kalmykia (tiếng Nga: Респу́блика Калмы́кия, chuyển tự. Respublika Kalmykiya, IPA [rʲɪsˈpublʲɪkə kɐlˈmɨkʲɪjə]; tiếng Kalmyk: Хальмг Таңһч, Xaľmg Tañhç) là một chủ thể liên bang của Nga (một nước cộng hòa). Dân số là 289,481 (thống kê 2010).Đây là vùng duy nhất tại châu Âu nơi đa phần người dân theo Phật giáo. Nước này còn được biết tới vì là một trung tâm cờ vua của thế giới. Cựu tổng thống Kalmykia, Kirsan Ilyumzhinov, hiện là chủ tịch Liên đoàn Cờ vua Quốc tế (FIDE). Olympiad Cờ vua thứ 38 được tổ chức tại Elista, thủ đô Kalmykia.

Kiến tạo sơn Ural

Kiến tạo sơn Ural là thuật ngữ để chỉ một chuỗi dài các sự kiện địa chất đã làm nổi lên dãy núi Ural, bắt đầu từ Hậu Than đá và Permi của đại Cổ sinh, khoảng 318-299 và 299-251 triệu năm trước (Ma), và kết thúc với các chuỗi cuối cùng của va chạm lục địa trong kỷ Trias tới đầu kỷ Jura. Trong giới hạn của kiến tạo địa tầng và trôi dạt lục địa, kiến tạo sơn Ural được tạo ra từ chuyển động theo hướng tây nam của mảng Siberi, bắt kịp vùng đất nhỏ hơn là Kazakhstania, giữa nó và siêu lục địa gần như gắn kết toàn bộ là Pangaea. Các dãy núi ở Đông Âu, trên một lục địa cổ mà các nhà địa chất gọi là Laurussia, và các dãy núi ở miền tây Siberi đều nâng lên do rìa của Kazakhstania trèo lên trên mảng châu Âu. Sự kiện này là giai đoạn cuối cùng trong việc ráp lại Pangaea.

Napoléon Bonaparte

Napoléon Bonaparte (phiên âm: Na-pô-lê-ông Bôn-na-pác; tiếng Pháp: Napoléon Bonaparte [napoleɔ̃ bɔnɑpaʁt], tiếng Ý: Napoleone Buonaparte; một số sách Việt còn ghi tên ông là Nã Phá Luân (拿破侖); 15 tháng 8 năm 1769 – 5 tháng 5 năm 1821) là một nhà quân sự và nhà chính trị tiêu biểu của Pháp trong và sau cuộc cách mạng Pháp cũng như các cuộc chiến tranh liên quan ở châu Âu.

Với đế hiệu Napoléon I, ông là Hoàng đế của người Pháp từ năm 1804 đến năm 1815. Cuộc cải cách pháp luật của ông, Bộ luật Napoléon, đã có những ảnh hưởng lớn lên nhiều bộ luật dân sự trên toàn thế giới, nhưng ông được nhớ đến nhất bởi vai trò của mình trong các cuộc chiến tranh mà Pháp phải đương đầu với hàng loạt liên minh, được gọi là các cuộc chiến tranh Napoléon. Ông đã thiết lập quyền bá chủ trên phần lớn lục địa châu Âu và tìm cách truyền bá những lý tưởng của cách mạng Pháp, đồng thời củng cố nền đế chế làm phục hồi những nét của chế độ cũ Pháp (Ancien Régime). Nhờ thắng lợi trong những cuộc chiến này, thường là chống lại đối phương có ưu thế về quân số, ông được coi là một trong những nhà chỉ huy quân sự tài ba nhất mọi thời đại, và các chiến dịch của Napoléon

được nghiên cứu tại các học viện quân sự trên khắp thế giới.

Napoléon được sinh ra ở Ajaccio thuộc Corse, trong một gia đình thuộc dòng dõi quý tộc Genova (Ý). Ông được đào tạo thành một sĩ quan pháo binh ở Pháp. Bonaparte trở nên nổi tiếng dưới thời Đệ Nhất Cộng hòa Pháp khi chỉ huy thành công nhiều chiến dịch chống lại Liên minh thứ nhất và thứ hai chống Pháp. Ông cũng tiến hành cuộc chinh phạt bán đảo Ý.

Năm 1799, ông đã tổ chức một cuộc đảo chính và tự đưa mình trở thành vị Tổng tài thứ nhất; năm năm sau đó Thượng viện Pháp tuyên xưng ông là Hoàng đế Pháp. Trong thập niên đầu tiên của thế kỷ XIX, Đệ Nhất Đế chế Pháp dưới quyền Napoléon đã tham gia vào một loạt xung đột — những cuộc chiến tranh Napoléon — lôi kéo mọi cường quốc chính ở châu Âu tham gia. Sau một loạt thắng lợi, Pháp đạt được vị trí thống trị ở lục địa châu Âu, và Napoléon duy trì phạm vi ảnh hưởng của Pháp thông qua việc thành lập của những mối đồng minh rộng lớn và bổ nhiệm bạn bè và người thân cai trị các quốc gia châu Âu khác như những chư hầu của Pháp.

Cuộc chiến kéo dài ở bán đảo Iberia và cuộc xâm lược nước Nga năm 1812 đánh dấu bước ngoặt trong cơ đồ của Napoléon. Quân đội chủ lực của Pháp, Grande Armée, bị tổn thất nặng nề trong chiến dịch và không bao giờ có thể khôi phục lại hoàn toàn. Năm 1813, Liên minh thứ sáu đã đánh bại quân đội của ông tại Leipzig, năm sau đó Liên minh xâm lược Pháp, buộc Napoléon phải thoái vị và đày ông đến đảo Elba. Chưa đầy một năm sau, ông thoát khỏi Elba và trở lại nắm quyền, nhưng đã bị đánh bại trong trận Waterloo vào tháng 6 năm 1815. Napoléon trải qua sáu năm cuối cùng của cuộc đời trong sự giam cầm của người Anh trên đảo Saint Helena. Cái chết của ông gây ra nhiều tranh cãi về sau, chẳng hạn một số học giả cho rằng ông là nạn nhân của một vụ đầu độc bằng arsen.

Ảnh hưởng của Napoléon đối với thế giới hiện đại là đã mang lại những cải cách tự do cho nhiều vùng lãnh thổ mà ông đã chinh phục và kiểm soát, chẳng hạn như Hà Lan, Thụy Sĩ và một phần lớn của nước Ý và Đức hiện đại. Ông đã thực hiện các chính sách tự do cơ bản ở Pháp và khắp Tây Âu. Bộ luật Napoleon của ông đã ảnh hưởng đến hệ thống pháp luật của hơn 70 quốc gia trên thế giới. Nhà sử học Anh, Andrew Roberts bình luận: "Những ý tưởng củng cố thế giới hiện đại của chúng ta — công lý, chế độ nhân tài (chính quyền do những người thực sự có tài năng nắm giữ), bình đẳng trước pháp luật, quyền sở hữu, sự khoan dung tôn giáo, giáo dục thế tục hiện đại, tài chính ổn định, và nhiều thứ khác... — đã được bảo vệ, củng cố, chỉnh lý và mở rộng về mặt địa lý bởi Napoleon. Ông còn bổ sung theo đó là một chính quyền địa phương hợp lý và có năng lực, chấm dứt nạn cướp bóc ở nông thôn, khuyến khích khoa học và nghệ thuật, việc bãi bỏ chế độ phong kiến và sự lập pháp lớn nhất kể từ khi Đế quốc La Mã sụp đổ".

Nhóm ngôn ngữ Samoyed

Nhóm ngôn ngữ Samoyed hay ngữ chi Samoyed là nhóm ngôn ngữ được nói ở cả hai bên dãy núi Ural, tại vùng cực bắc của lục địa Á Âu. Có 25.000 người sử dụng nhóm ngôn ngữ này như tiếng mẹ đẻ.

Nhóm ngôn ngữ Samoyed bắt nguồn từ một ngôn ngữ tổ tiên chung được gọi là ngôn ngữ Samoyed nguyên thủy. Đây là một nhánh của Hệ ngôn ngữ Ural. Nhóm ngôn ngữ này không có nhiều ngôn ngữ, và có lẽ bắt đầu phân tách từ thế kỷ 1 trước Công nguyên.

Sagittaria latifolia

Sagittaria latifolia là một loài thực vật có hoa trong họ Alismataceae. Loài này được Willd. miêu tả khoa học đầu tiên năm 1805.

Tên trong tiếng Anh gồm có broadleaf arrowhead (đầu mũi tên lá rộng), duck-potato (khoai tây vịt), Indian potato (Khoai tây Anh Điêng), hay wapato. Loại cây này có phần thân củ ăn được được người Mỹ bản địa dùng làm thực phẩm phổ biến.Thân của có thể ăn sống hoặc nấu chính từ 15-20 phút. Vị của củ giống như khoai tây và hạt dẻ và có thể chế biến dưới dạng nướng, chiên, luộc...Củ có thể phơi khô nghiền thành bột.Sagittaria latifolia là loài bản địa nam Canada và phần lớn Hoa Kỳ lục địa cũng như Mexico, Trung Mỹ, Colombia, Venezuela, Ecuador, và Cuba. Loài này cũng được trồng ở Hawaii, Puerto Rico, Bhutan, Australia and much of Europe (Pháp, Tây Ban Nha, Italy, Romania, Đức, Thụy Sĩ, Cộng hòa Séc, và Nga thuộc châu Âu. Nó bị xem là một cỏ dại xâm lấn ở những nơi này. Tại Mexico, loài này được ghi nhận ở Campeche, Nayarit, Tabasco, Tamaulipas, Puebla, Jalisco, Durango, Tlaxcala, Estado de México, Veracruz và Michoacán.

Sviyazhsk

Sviyazhsk (tiếng Nga: Свия́жск) là một làng nông thôn ở Nga, nằm gần hợp lưu của sông Volga và Sviyaga, thuộc cộng hòa Tatarstan. Nó được gọi là hòn đảo kể từ khi xây dựng hồ chứa Kuybyshev ở Tolyatti, hạ lưu sông Volga từ năm 1955, nhưng trên thực tế ngôi làng được nối với đất liền bằng một con đường. Nhà thờ chính tòa Lễ thăng thiên của Đức Mẹ Đồng Trinh và Tu viện của đảo được UNESCO công nhận là Di sản thế giới từ năm 2017.Sviyazhsk được thành lập năm 1551 như một pháo đài, được xây dựng trong vòng bốn tuần từ với nguyên vật liệu được lấy từ thị trấn Uglich không xa và vận chuyển theo sông Volga. Nó trở thành căn cứ quân sự của quân đội Nga trong cuộc vây hãm Kazan (1552). Kể từ thế kỷ 15, Sviyazhsk từng là trung tâm của một phân khu hành chính (Uyezd) dưới thời Đại công quốc Moskva. Năm 1920-1927, nó là một trung tâm của tổng Sviyazhsky. Từ 1927–1931, nó là trung tâm hành chính của huyện Sviyazhsky. Đến năm 1932, nó hạ xuống chỉ còn là một làng nông thôn. Sviyazhsk có một trường học, một câu lạc bộ và một tu viện gắn liền với tên tuổi Macarius của Unzha, một vị thánh Chính thống Nga.

Ga đường sắt Sviyazhsk cách hòn đảo 6 km về phía tây, được nối với hòn đảo bằng một con đường cao tốc chạy dọc theo đê sông.

Tetrao urogallus

Tetrao urogallus là một loài chim trong họ Phasianidae.

Triết bụng trắng

Triết bụng trắng hay triết nâu (danh pháp: Mustela nivalis) là loài nhỏ nhất trong họ Chồn (cũng là loài nhỏ nhất trong bộ Ăn thịt), bản địa của lục địa Á Âu, Bắc Mỹ và Bắc Phi, sau đó đã di thực khắp thế giới.

Văn hóa Abashevo

Văn hóa Abashevo là một văn hóa khảo cổ thuộc thời đại đồ đồng ở khoảng nửa sau thiên niên kỷ 2 TCN trên vùng lãnh thổ Nga thuộc châu Âu, từ tỉnh Kaluga tới miền nam cộng hòa Bashkiria. Văn hóa này có tên gọi từ tên làng Abashevo (cộng hòa Chuvashiya), nơi vào năm 1925 lần đầu tiên một đoàn các nhà khảo cổ dưới sự chỉ đạo của V. F. Smolin đã tìm thấy các gò mộ của nó. Trong thập niên 1950-1960 K. V. Salnikov đã phân chia ra các biến thể Trung Volga, Sterlitamaksk (Bashkiriya), Magnitogorsk (Ngoại Ural), Trung sông Đông và Hạ sông Đông của văn hóa Abashevo, còn A. D. Pryakhin (1976, 1977) lại cho rằng văn hóa Abashevo có điểm chung về mặt lịch sử, trong đó chứa các văn hóa khảo cổ Đông-Volga, Trung sông Đông và Ural (Balanbash).

Văn hóa Nga

Văn hóa Nga có truyền thống cổ tức lâu đời về nhiều mặt của nghệ thuật, đặc biệt khi nói đến văn học, múa dân gian, triết học, âm nhạc cổ điển, nhạc dân gian truyền thống, múa ba lê, kiến trúc, hội họa, điện ảnh, hoạt hình và chính trị, tất cả đều có ảnh hưởng đáng kể đến văn hóa thế giới. Đất nước này cũng có một nền văn hóa vật chất đầy hương vị và một truyền thống về công nghệ.

Văn hóa Nga phát triển từ Đông Slav, với niềm tin ngoại giáo và lối sống cụ thể của họ trong các khu vực rừng cây, thảo nguyên và thảo nguyên rừng ở Đông Âu hoặc Âu Á. Đầu Nga văn hóa và con người bị ảnh hưởng nhiều bởi Scandinavian bộ lạc, bởi Finno-Ugric bộ lạc, bởi Tatar dân, do du mục bộ lạc của Á-Âu Steppe chủ yếu của Kipchak - Turk, nguồn gốc Iran và vào cuối thiên niên kỷ 1 TCN bởi Người Viking (được cho là Người Viking Scandinavia). Các bộ lạc Slav đầu tiên ở Nga thuộc châu Âu đã được định hình nhiều bởi sự hợp nhất của các nền văn hóa Bắc Âu-Âu và Đông Á đã hình thành bản sắc Nga ở khu vực Volga và bang Kievan Rus '. Các nhà truyền giáo Kitô giáo Chính thống bắt đầu đến từ Đế chế Đông La Mã vào thế kỷ thứ 9, và Kievan Rus ' chuyển đổi sang Cơ đốc giáo Chính thống vào năm 988. Điều này phần lớn định nghĩa văn hóa Nga của thiên niên kỷ tiếp theo là sự tổng hợp của các nền văn hóa Slav và Đế quốc Đông La Mã. Rus 'được thể hiện trong sự tự khẳng định văn hóa Á-Âu của riêng mình. Sau sự sụp đổ của Constantinoplevào năm 1453, Nga vẫn là quốc gia Chính thống giáo lớn nhất thế giới và tuyên bố kế thừa di sản Đế quốc Đông La Mã dưới hình thức ý tưởng Rome thứ ba. Tại những thời điểm khác nhau trong lịch sử, đất nước này cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa Tây Âu. Kể từ những cải cách của Peter Đại đế, trong hai thế kỷ văn hóa Nga chủ yếu phát triển trong bối cảnh chung của văn hóa châu Âu thay vì theo đuổi những cách độc đáo của riêng mình. Tình hình đã thay đổi vào thế kỷ 20, khi hệ tư tưởng Cộng sản trở thành nhân tố chính trong văn hóa của Liên Xô, nơi Nga, dưới hình thức Nga Xô viết, là phần lớn nhất và hàng đầu.

Ngày nay, di sản văn hóa Nga được xếp hạng thứ bảy trong Chỉ số thương hiệu quốc gia, dựa trên các cuộc phỏng vấn của khoảng 20.000 người chủ yếu đến từ các nước phương Tây và Viễn Đông. Do sự tham gia tương đối muộn của Nga vào toàn cầu hóa hiện đại và du lịch quốc tế, nhiều khía cạnh của văn hóa Nga, như truyện cười Nga và nghệ thuật Nga, phần lớn vẫn chưa được người nước ngoài biết đến.

Vết nứt Dnieper-Donets

Vết nứt Dnieper-Donets hoặc Vết nứt Pripyat-Dnieper-Donets (còn được gọi là "paleorift" và " aulacogen ") là một vết nứt chạy về phía đông trong Sarmatian Craton được phát triển và hoạt động mạnh nhất trong thời kỳ Đại Cổ sinh. Sự rạn nứt kéo dài từ cuộc suy thoái Caspian ở Nga đến miền bắc Ukraine đi qua khu vực Donbass. Vết nứt này ngăn cách Voronezh Massif ở phía bắc với Ukraine Shiled ở phía nam.Các Paleorift Dnepr-Donets là địa điểm ở thời kỳ Devon mà các hoạt động magma bắt đầu ở tầng Frasnian và đạt đỉnh điểm vào các tầng famenne gây ra bởi một chùm manti. Kiến tạo mở rộng cũng tích cực nhất trong thời kỳ Famennian.Đã có những gợi ý rằng Paleorift của Dnepr-Donets có liên quan đến tỉnh Kola Alkaline.

Xe trượt tuyết

Xe trượt tuyết là loại xe di chuyển bằng hình thức trượt trên bề mặt tuyết hoặc băng. Xe này có mặt dưới trơn nhẵn hoặc gắn liền với một bộ phận rời, hẹp, cũng có bề mặt trơn nhẵn, tương tự về mặt nguyên lý với giày trượt tuyết. Điều này là nhằm giảm lực ma sát, giúp chuyên chở hàng hóa nặng.

Một số loại xe trượt tuyết được dùng chuyên chở hành khách hoặc hàng hóa trên bề mặt tương đối bằng phẳng. Một số loại khác có thiết kế đặc biệt cho thú vui trượt dốc, dành cho trẻ em đùa nghịch hoặc trong thi đấu thể thao.

Xe trượt tuyết rất hữu ích trong mùa đông, ngoài ra thì còn dùng để đi qua những cánh đồng ẩm ướt, đường bùn lầy hoặc thậm chí là để đi trên mặt đất cứng nếu trước đó đường đã được bôi dầu hoặc đổ nước làm ướt.

Xe trượt có thể dựa vào sức người hoặc sức của các động vật như tuần lộc, ngựa, la, bò hoặc chó để kéo.

Xibia

Xibia (tiếng Nga: Сиби́рь, chuyển tự. Sibírj IPA: [sʲɪˈbʲirʲ] ( nghe)) phiên âm tiếng Việt: xi-bi-ri, phiên âm Hán Việt: Tây Bá Lợi Á), Siberia, Xi-be-ri-a, Sibirk hay Sebea, Seberia là vùng đất rộng lớn gần như nằm trọn trong nước Nga, chiếm gần toàn bộ phần Bắc Á và bao gồm phần lớn thảo nguyên Á-Âu. Xibia trong lịch sử là một phần của nước Nga hiện đại kể từ thế kỷ 17.

Vùng đất này bắt đầu từ phía đông dãy núi Uran trải dài đến Thái Bình Dương; phía bắc là Bắc Băng Dương xuống phía nam là các ngọn đồi miền bắc Kazakhstan và có biên giới với Mông Cổ và Trung Quốc. Trừ phần tây-nam không nằm trong lãnh thổ Nga, các vùng khác nhau của Xibia chiếm tới 77% diện tích nước này, trong khi đó chỉ chiếm có 27% dân số toàn Nga. Điều này tương đương với mật độ dân số trung bình khoảng 3 người trên mỗi km vuông (7,8/dặm vuông) (gần bằng với Úc), khiến Xibia trở thành một trong những khu vực dân cư thưa thớt nhất trên Trái Đất. Nếu Xibia là một quốc gia, nó vẫn là quốc gia lớn nhất hành tinh, nhưng về dân số, nó sẽ chỉ đứng thứ 35 thế giới và thứ 14 của châu Á.

Trên thế giới, Xibia nổi tiếng chủ yếu với mùa đông dài và khắc nghiệt, với nhiệt độ trung bình tháng 1 là −25 ° C (−13 ° F), và cũng là nơi sử dụng của chính phủ Nga và Liên Xô để xây các nhà tù, trại cải tạo, và để lưu đày những tù nhân chính trị trong lịch sử.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.