Ngứa


Ngứa (tiếng Anh: itch hay pruritus) là một cảm giác khiến cho cơ thể phản xạ lại bằng việc gãi. Khoa học đã chứng minh ngứa có nhiều điểm chung về mặt sinh lý với sự đau đớn, cả hai đều được coi là những hiện tượng gây khó chịu cho giác quan.[1][2]

Ngứa
Itch

Itch
Minh họa một người đang gãi lưng vì ngứa
KhoaKhoa da liễu
 Phủ nhận y khoa 

Tổng quan

Có nhiều nguyên nhân gây ra ngứa. Ở người và các loại động vật, ngứa là kết quả của phản ứng với môi trường xung quanh. Các yếu tố như thời tiết, vi khuẩn, bệnh tật đều có thể gây ra ngứa. Ví dụ, ta có thể bị ngứa khi tiếp xúc với lông thú (chó, mèo), phấn hoa; khi sử dụng xà phòng và các chất tẩy hoặc thậm chí khi cọ xát nhiều với các đồ kim loại, đồ trang sức.[3]

Tham khảo

  1. ^ Andersen HH, Elberling J, Arendt-Nielsen L (2015). “Human surrogate models of histaminergic and non-histaminergic itch” (PDF). Acta Dermato-Venereologica 95 (7): 771–7. PMID 26015312. doi:10.2340/00015555-2146.
  2. ^ Ikoma A, Steinhoff M, Ständer S, Yosipovitch G, Schmelz M (2006). “The neurobiology of itch”. Nat. Rev. Neurosci. 7 (7): 535–47. PMID 16791143. doi:10.1038/nrn1950.
  3. ^ “Tại sao chúng ta ngứa?”. vnexpress.net/.

Đọc thêm

Liên kết ngoài

Liên kết ngoài
Bướm đêm

Bướm đêm hay ngài là một loài côn trùng có mối quan hệ chặt chẽ đến loài bướm, cả hai đều thuộc Bộ Cánh vẩy. Bướm đêm chiếm phần lớn số chủng loại loài trong bộ này, người ta cho rằng có khoảng 150.000 đến 250.000 loài bướm đêm khác nhau (khoảng gấp mười lần so với số lượng các loài bướm ngày), với hàng ngàn loài chưa được mô tả Hầu hết các loài sâu bướm hoạt động về đêm., nhưng có loài lại lúc hoàng hôn và hoạt động vào ban ngày. Hầu như các loại ngài ăn lá cây. Có một số loại ăn lá dâu,lá sắn.vv...

Bệnh ghẻ

Bệnh ghẻ (tiếng Latinh: scabere còn được gọi là ghẻ Na Uy) là bệnh truyền nhiễm, do loài ký sinh trùng bắt buộc là cái ghẻ ( Sarcoptes scabiei, giống Hominis) xâm nhập ở lớp thượng bì gây ra. Chúng thường đào hang rãnh trên da làm ngứa ngáy khó chịu và nhiễm trùng.Sarcoptes scabiei được tìm thấy từ thế kỷ thứ 16, nhưng mãi đến đầu thế kỷ 18 mới xác định được nó là nguyên nhân gây bệnh ghẻ ở người .

Bệnh nấm da

Hắc lào, còn gọi là bệnh lác đồng tiền, là bệnh do vi nấm thuộc nhóm dermatophytes gây nên, hay gặp nhất là ba loại microsporum, trychophyton và epidermophyton.

Dấu hiệu nổi bật nhất của bệnh là ngứa, nổi mẩn đỏ, có mụn nước, vùng có nấm thường tròn như đồng tiền. Cảm giác ngứa ngáy rất khó chịu ở vùng da bị tổn thương, cả ngày lẫn đêm, ngứa nhiều hơn khi về đêm, đổ mồ hôi, thời tiết nóng bức... Nổi mẩn đỏ một vùng có giới hạn rõ, trên bề mặt xuất hiện những mụn nước, tập trung ở phần rìa vùng nổi mẩn. Bệnh có thể gặp ở bẹn, chân tay, mặt, bụng, ngực...

Nếu không điều trị kịp thời bệnh sẽ lây sang những vị trí khác của cơ thể, tăng mức độ tổn thương trên da, chàm hóa hoặc dễ dàng lây sang người khác do tiếp xúc trực tiếp hoặc lây qua quần áo.

Bệnh phong

Bệnh phong thường là để gọi bệnh phong cùi nhưng cũng có thể chỉ những chứng bệnh khác như:

Bệnh phong thấp

Bệnh phong ngứa

Phong đòn gánh

Bệnh rận mu

Bệnh rận mu là một căn bệnh do loài rận mu (Pthirus pubis) gây ra. Đây một loài côn trùng ký sinh phổ biến ở vùng lông mu của con người, thậm chí chúng có thể sống trên các khu vực có lông khác, bao gồm cả lông mi, gây ra bệnh rận mu. Người nhiễm bệnh thường bị ngứa nhiều ở khu vực lông mu nhất là những vùng nhạy cảm của con người. Bệnh này ảnh hưởng đến khoảng 2% dân số toàn thế giới. Bệnh rận mu tuy do loài rận ký sinh nhưng được xếp vào nhóm các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

Chàm (bệnh)

Chàm (eczema) là tình trạng viêm da sẩn mụn nước do phản ứng với các tác nhân nội và ngoại sinh.

Bệnh Eczema, lấy từ gốc tiếng Hy Lạp: Eczeo – chỉ những tổn thương là mụn nước, bệnh được biết từ thế kỷ thứ 2 trước công nguyên với sự hiểu biết là do rối loạn một số yếu tố ở ngay trong cơ thể. Dân gian thường gọi là chàm tổ đỉa, vì tổn thương tái diễn lâu ngày da sần sủi kèm theo các lỗ hút sâu rỉ nước vàng như mồm con đỉa.

Eczema là một trạng thái viêm lớp nông của da cấp tính hay mạn tính, tiến triển từng đợt hay tái phát, lâm sàng biểu hiện bằng đám mảng đỏ da, mụn nước và ngứa. Nguyên nhân gây bệnh rất phức tạp, do: nội giới, ngoại giới như­ng bao giờ cũng có vai trò thể địa dị ứng. Về mô học có hiện tư­ợng xốp bào (Spongiosis). Eczema là bệnh ngoài da phổ biến, là bệnh da ngứa điển hình, mạn tính hay tái phát, điều trị còn khó khăn

Chấy

Chấy hay chí (phương ngữ miền nam Việt Nam) (danh pháp ba phần: Pediculus humanus capitis) là loài côn trùng ký sinh cư trú ở trên da và tóc của đầu người. Chấy sinh sống bằng cách hút máu vật chủ người cũng như thú vật. Chấy ký sinh gây ra ngứa ngáy, khó chịu cho con người, nguyên nhân thường do lối sống mất vệ sinh.

Dị ứng

Dị ứng là một rối loạn quá mẫn của hệ miễn dịch. Phản ứng dị ứng xảy ra để chống lại các chất vô hại trong môi trường được gọi là chất gây dị ứng, các phản ứng này xảy ra nhanh chóng và có thể dự đoán được.

Thực tế, dị ứng là một trong bốn hình thức của chứng quá mẫn cảm và được gọi là quá mẫn loại I (xảy ra tức thì). Nó kích hoạt quá mức các tế bào bạch cầu lympho B và một loại kháng thể được gọi là IgE, dẫn đến một phản ứng viêm nặng thông thường bao gồm chàm, phát ban, sốt, lên cơn hen suyễn, ngộ độc thức ăn,dị ứng xi măng và phản ứng với nọc độc của côn trùng chích như ong, muỗi, kiến...

Dị ứng nhẹ rất phổ biến, gây ra các triệu chứng như viêm kết mạc dị ứng, ngứa và chảy nước mũi. Ở một số người, dị ứng nặng với các chất gây dị ứng trong môi trường và thức ăn hoặc một số loại thuốc y dược có thể gây phản ứng phản vệ (sốc phản vệ) đe dọa đến tính mạng.

Để chẩn đoán chứng dị ứng, người ta phải thực hiện các thử nghiệm trên da để xem mức độ phản ứng với các chất gây dị ứng hoặc phân tích máu kiểm sự hiện diện và nồng độ của kháng thể IgE. Điều trị dị ứng bao gồm tránh tiếp xúc với các tác nhân gây dị ứng, sử dụng các thuốc chống dị ứng, steroid (thuốc kháng viêm) hoặc các loại thuốc khác.

Giun kim

Giun kim (Danh pháp khoa học: Enterobius vermicularis) là một loại giun ký sinh. Ở người, chúng là loại ký sinh trùng dễ mắc phải, gây ngứa vùng hậu môn.

Mai dương

Mai dương hay còn gọi trinh nam, mắt mèo, trinh nữ nâu, trinh nữ đầm lầy (danh pháp hai phần: Mimosa pigra) là một loài thực vật thuộc chi chi Trinh nữ, phân họ Trinh nữ của họ Đậu. Loài này có nguồn gốc vùng nhiệt đới Nam Mỹ, có họ hàng với cây trinh nữ mọc rất nhiều ở Việt Nam.

Phong ngứa

Bệnh phong ngứa là từ dân gian thường dùng để gọi hiện tượng dị ứng làm ngứa, sưng, đỏ, mẩn da. Nhiều người gọi chứng này là nổi mề đay vì da ẩn sưng lên những vết tròn như huy chương (tiếng Pháp: Médaille). Bệnh được phân biệt giữa phong ngứa cấp tính và mãn tính. 90% trường hợp là cấp tính (kéo dài < 6 Wochen), thường biến mất sau 2 tới 3 tuần. Bệnh nhân mà bị mãn tính (kéo dài > 6 Wochen), thường phải chịu đựng triệu chứng trung bình khoảng 5 năm.

Biểu hiện lâm sàng: nổi mẫn đỏ ở tay, chân, bẹn, lưng, bụng, ngực... Có thể là mẫn đỏ giống như vết muỗi đốt hoặc từng về màu đỏ hoặc trắng lồi lên trên bề mặt da, rất ngứa. Càng gãi sẽ càng ngứa ngáy khó chịu

Trong Đông y, dị ứng thuộc phạm vi chứng phong sang. Nguyên nhân chính là do xâm nhập của các chất lạ vào trong cơ thể và do nhiễm ngoại tà hoặc thời khí ôn dịch làm cho cơ thể bị phong nhiệt, phong hàn, phong thấp, phong thấp nhiệt... mà gây ra uất kết ở da, bắp thịt. Mặt khác, do quá trình chuyển hóa, hoạt động của các tạng phủ thiếu điều độ, chẳng hạn can, phế, vị nhiệt, tỳ thấp quá thịnh, âm huyết bất túc, huyết hư, huyết trệ mà sinh phong ngứa.

Theo Tây y, dị ứng là do rối loạn của hệ miễn nhiễm, sản xuất quá nhiều kháng thể chống lại những chất thường là vô hại trong môi trường.

Tại châu Âu, mỗi năm có trên dưới 10 triệu người mắc phải bệnh này.

Phản vệ

Phản vệ hay chứng quá mẫn là một phản ứng dị ứng trầm trọng khởi phát nhanh chóng và có thể gây tử vong.

Nó thường gây ra nhiều hơn một trong những điều sau đây: ngứa, cổ họng hoặc lưỡi sưng, thở nhanh, nôn mửa, và huyết áp thấp. Các triệu chứng này thường xuất hiện trong vài phút đến vài giờ.Nguyên nhân thường gặp bao gồm bị cắn (rắn) và chích bởi côn trùng, thực phẩm (tôm cua sò hến, quả hạch, trứng, lòng trắng trứng), và thuốc men (ví dụ penicillin) . Các nguyên nhân khác bao gồm tiếp xúc với latex và tập thể dục. Ngoài ra các trường hợp có thể xảy ra mà không có một lý do rõ ràng. Cơ chế bao gồm việc giải phóng các chất trung gian từ một số loại tế bào bạch cầu nhất định gây ra bởi các cơ chế miễn dịch hoặc không miễn dịch. Chẩn đoán dựa trên các triệu chứng và dấu hiệu hiện tại sau khi phơi nhiễm với một chất có tiềm năng gây dị ứng .

Cách điều trị chủ yếu cho sốc phản vệ là tiêm epinephrine vào cơ, dịch truyền tĩnh mạch, và định vị người đó bằng phẳng. Có thể cần thêm liều epinephrine. Các biện pháp khác, như thuốc kháng histamine và steroid, được bổ sung. Mang theo một dụng cụ tự động tiêm epinephrine và nhận dạng liên quan đến tình trạng này được khuyến cáo ở những người có tiền sử quá mẫn.

Trên toàn thế giới, có khoảng 0,05-2% dân số bị sốc phản vệ ở một thời điểm nào đó trong cuộc đời. Tỷ lê người bị dường như tăng lên. Nó xảy ra thường xuyên nhất ở thanh thiếu niên và phụ nữ Trong số những người đến bệnh viện với sốc phản vệ ở Hoa Kỳ khoảng 0.3% chết.Thuật ngữ này đến từ tiếng Hy Lạp cổ: ἀνά, chuyển tự ana, nguyên văn 'against', and the tiếng Hy Lạp cổ: φύλαξις, chuyển tự phylaxis, nguyên văn 'protection'.

Scabiosa

Scabiosa là một chi thực vật có hoa nằm trong họ Kim ngân. Nhiều loài trong chi này được gọi chung với một cái tên trong tiếng Anh là scabious, có nghĩa là "ghẻ lở". Nhiều người cho rằng, các loài trong chi này có thể trị được các bệnh ghẻ lở gây cảm giác ngứa nghiêm trọng. Tuy nhiên các loài có tên nói trên hiện được phân vào các chi liên quan như Knautia và Succisa, cũng thuộc họ Kim ngân; một trong số chúng trước đây thuộc chi Scabiosa này. Một tên gọi khác cho các thành viên của chi Scabiosa là hoa gối kim.

Sứa

Sứa (danh pháp: Scyphozoa) hay sưa sứa (phuơng ngữ Nam bộ) là 1 lớp nhuyễn thể, thân mềm, sống ở môi trường nước, thuộc giới động vật, ngành Thích ty bào (Cnidaria). Sứa và thủy tức có cấu tạo chung giống nhau, nhưng sứa thích nghi với đời sống di chuyển ở biển. Khi di chuyển, sứa co bóp dù, đẩy nước qua lỗ miệng và tiến về phía ngược lại. Tua miệng một số loài sứa gây ngứa, có khi gây bỏng da. Sứa là một loài không có não, tim và xương.

Thuốc giảm đau nhóm opioid

Thuốc giảm đau nhóm opioid là nhóm các chất tự nhiên và tổng hợp, có các tính chất như morphine tác động lên các thụ thể opioid.

Opioid bao gồm các loại thuốc phiện (opiat), các loại thuốc có nguồn gốc từ thuốc phiện, bao gồm cả morphin . Các opioid khác là các loại thuốc bán tổng hợp và tổng hợp như hydrocodone, oxycodone và fentanyl; thuốc đối kháng như naloxone và peptide nội sinh như endorphins.Các loại thuốc nhóm opioid chủ yếu được sử dụng để giảm đau, bao gồm cả gây mê, chúng cũng được sử dụng để giảm ho, chống tiêu chảyCác tác dụng phụ của thuốc phiện có thể bao gồm ngứa, buồn ngủ, buồn nôn, suy hô hấp, táo bón, và hưng phấn. Khi sử dụng liên tục sẽ bị phụ thuộc, đòi hỏi phải tăng liều và dẫn đến một hội chứng cai nghiện khi ngưng đột ngột. Cảm giác hưng phấn thu hút sử dụng thuốc để giải trí, và việc sử dụng thường xuyên opioid trong giải trí dẫn đến nghiện ngập. Tai nạn vì dùng quá liều hoặc sử dụng đồng thời với các thuốc giảm đau khác thường gây tử vong do suy hô hấp.

Thuốc kháng histamin

Thuốc kháng histamin là một loại dược phẩm đối kháng lại hoạt động của các thụ thể histamin trong cơ thể. Đây là loại thuốc được sử dụng khá phổ biến trong điều trị dị ứng hiện nay. Ngoài ra có vai trò làm giảm triệu chứng cảm lạnh thông thường.

Histamin - chất dẫn truyền thần kinh có thể ảnh hưởng đến đường hô hấp làm sưng niêm mạc mũi, co thắt phế quản; gây ngứa da, phản ứng xung huyết phồng rộp, ở tiêu hóa đường ruột gây đau bụng, kích thích sự tiết dịch vị; hệ tim mạch làm giãn rộng của các mao mạch mạch máu, tăng tính thấm thành mạch, hạ huyết áp, rối loạn nhịp tim.

Hiện nay, có ba nhóm thuốc hay sử dụng gồm:

Thuốc kháng receptor H1 - được sử dụng trong điều trị các bệnh dị ứng.

Thuốc kháng receptor H2 - được sử dụng trong điều trị các bệnh về dạ dày (giúp giảm tiết acid dạ dày). Mặc dù sau này ngày càng ít được sử dụng để điều trị loét dạ dày tá tràng và được thay thế bằng các thuốc ức chế bơm proton (omeprazole và các thuốc tương tự).

Thuốc kháng receptor H3 - được sử dụng trong điều trị các bệnh về thần kinh.

Thuốc nhỏ mắt

Thuốc nhỏ mắt là các giọt chứa nước muối sinh lý để đưa thuốc vào mắt. Tùy thuộc vào tình trạng đang được điều trị, chúng có thể chứa steroid, thuốc kháng histamin, thần kinh giao cảm, thuốc chẹn thụ thể beta, parasympathomimetics, parasympatholytics, prostaglandin, thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs), thuốc kháng sinh, kháng nấm, hoặc gây mê tại chỗ. Thuốc nhỏ mắt đôi khi không có thuốc trong đó và chỉ là giải pháp bôi trơn và thay thế nước mắt.

Thuốc nhỏ mắt có ít rủi ro tác dụng phụ hơn so với dùng thuốc uống và nguy cơ này có thể được giảm thiểu bằng cách làm tắc nghẽn lỗ lệ, (tức là ấn vào góc trong của mắt) trong một thời gian ngắn sau khi nhỏ thuốc. Thuốc nhỏ mắt cũng được sử dụng để ngăn chặn ngứa và đỏ mắt.

Virus

Virus, thường được viết là vi-rút (bắt nguồn từ tiếng Pháp virus /viʁys/), cũng còn được gọi là siêu vi, siêu vi khuẩn hay siêu vi trùng, là một tác nhân truyền nhiễm chỉ nhân lên được khi ở bên trong tế bào sống của một sinh vật khác. Virus có thể xâm nhiễm vào tất cả các dạng sinh vật, từ động vật, thực vật cho tới vi khuẩn và vi khuẩn cổ. Kể từ bài viết đầu tiên của D. I. Ivanovskiy năm 1892, mô tả về một dạng mầm bệnh không thuộc vi khuẩn mà lây nhiễm vào cây thuốc lá, và sự khám phá ra virus khảm thuốc lá của Martinus Beijerinck năm 1898, cho đến nay có khoảng 5.000 loại virus đã được miêu tả chi tiết, mặc dù vẫn còn có tới hàng triệu dạng virus khác nhau. Virus được tìm thấy ở hầu hết mọi hệ sinh thái trên Trái Đất và là dạng có số lượng nhiều nhất trong tất cả các thực thể sinh học. Khoa học nghiên cứu virus được biết với tên virus học (virology), một chuyên ngành phụ của vi sinh vật học.

Các phần tử (hay hạt) virus (được gọi là virion) được tạo thành từ hai hoặc ba bộ phận: i) phần vật chất di truyền được tạo nên từ DNA hoặc RNA, là những phân tử dài có mang thông tin di truyền; ii) một lớp vỏ protein - được gọi với tên capsid - có chức năng bảo vệ hệ gene; và trong một số trường hợp còn có iii) một lớp vỏ bọc bên ngoài làm từ lipid mà bao bọc bên ngoài lớp vỏ protein khi virus ở ngoài tế bào. Hình dạng của virus có sự khác nhau, từ dạng xoắn ốc hay khối hai mươi mặt đều đơn giản cho tới những cấu trúc phức tạp hơn. Một virus có kích thước trung bình vào khoảng 1/100 kích cỡ trung bình của một vi khuẩn. Hầu hết virus đều quá nhỏ nên không thể quan sát trực tiếp dưới kính hiển vi quang học.

Nguồn gốc của virus trong lịch sử tiến hóa của sự sống không rõ ràng: một số có thể đã tiến hóa từ những plasmid – những đoạn DNA ngắn có khả năng di chuyển giữa các tế bào – trong khi số khác có thể đã tiến hóa từ vi khuẩn. Trong tiến hóa, virus là một phương tiện chuyển gene ngang quan trọng, góp phần gia tăng sự đa dạng di truyền. Virus được công nhận là một dạng sống bởi một số nhà khoa học, do chúng có mang vật chất di truyền, có thể sinh sản và tiến hóa thông qua quá trình chọn lọc tự nhiên. Tuy nhiên mặt khác chúng lại thiếu những đặc tính thiết yếu (như cấu trúc tế bào) - những điều được công nhận rộng rãi là cần thiết để được coi như sinh vật sống. Bởi vì chỉ có một số chứ không tất cả các phẩm chất cần thiết, nên virus được mô tả như "những sinh vật ở bên lề của sự sống". Tuy nhiên, virus chỉ có thể xâm nhập qua một số tế bào nhất định nhờ có giác bám (gai glycoprotein) của virus bám đặc hiệu lên thụ thể của tế bào chủ.Virus lây lan theo nhiều cách; virus thực vật thường được truyền từ cây này sang cây khác qua những loài côn trùng hút nhựa cây như rệp vừng; trong khi virus động vật lại có thể được truyền đi nhờ những côn trùng hút máu. Những sinh vật mang mầm bệnh như vậy được gọi là những vector. Virus cúm lan truyền thông qua ho và hắt hơi. Norovirus và rotavirus, nguyên nhân chính của bệnh viêm dạ dày-ruột siêu vi, lây lan qua đường phân-miệng và truyền từ người này sang người khác thông qua tiếp xúc, cũng như xâm nhập vào cơ thể qua thức ăn hay nước uống. HIV là một trong vài loại virus lây nhiễm thông qua quan hệ tình dục và tiếp xúc với máu bị nhiễm bệnh. Mỗi virus chỉ có thể xâm nhiễm vào một số dạng tế bào vật chủ nhất định, gọi là "biên độ vật chủ" (host range); biên độ này có thể rất hẹp hoặc rất rộng, tùy vào số lượng những sinh vật khác nhau mà virus có khả năng lây nhiễm.Sự xâm nhập của virus trong động vật đã kích hoạt một phản ứng miễn dịch nhằm loại bỏ virus xâm nhiễm. Những phản ứng miễn dịch cũng có thể được tạo ra bởi vắc-xin, giúp tạo ra miễn dịch thu được nhân tạo đối với một virus xâm nhiễm nhất định. Tuy nhiên, một số virus, bao gồm những loại gây ra AIDS và viêm gan siêu vi, lại có thể trốn tránh những phản ứng trên và gây ra sự nhiễm bệnh mãn tính. Đa phần các chất kháng sinh không có hiệu quả đối với virus, dù vậy cũng đã có những loại thuốc kháng virus được phát triển.

Đậu mèo rừng

Móc mèo hay mắc mèo, đậu mèo rừng, dây sắn, đậu ngứa, ma niêu, đậu mèo lông bạc (danh pháp: Mucuna pruriens) là loài thực vật có hoa trong họ Đậu được tìm thấy ở Ấn Độ, châu Phi và vùng Caribe. Loài này được (L.) DC. miêu tả khoa học đầu tiên.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.