Người Slav

Người Slav (Xla-vơ) là một nhóm chủng tộc tại khu vực Ấn Âu với ngôn ngữ cùng thuộc nhóm ngôn ngữ gốc Slav. Đây là một nhánh của các dân tộc Ấn-Âu và sống chủ yếu tại khu vực châu Âu, chiếm khoảng một phần ba dân số khu vực này. Vào thế kỉ 6, người Slav tại phía đông châu Âu đã di cư đến nhiều khu vực khác nhau của châu lục, bao gồm Đông Âu, Trung ÂuBalkan. Một số lượng đáng kể người Slav cũng đến định cư tại SiberiaTrung Á, bên cạnh đó cũng có những nhóm người Slav di cư sinh sống trên khắp thế giới.

Người Slav là nhóm ngữ tộc lớn nhất Châu Âu. Dân tộc Slav hiện nay được phân loại theo sau: Nhóm Slav Miền Đông (chủ yếu là người Belarus, người Nga, người Rusyn và người Ukraina), nhóm Slav Miền Tây (chủ yếu là người Séc, người Kashubia, người Moravia, người Ba Lan, người Silesia, người Slovakia và người Sorb) và nhóm Slav Miền Nam (chủ yếu là người Bosnia, người Bulgaria, người Croatia, người Macedonia, người Serbia và người Slovenia).

Người Slav hiện nay là sự hòa trộn tương đối đồng nhất giữa tổ tiên Slav di cư từ xa xưa với người dân bản địa nơi họ di cư đến. Các nhóm dân tộc Slav khá đa dạng song đều có sự liên hệ ít nhiều về mặt ngôn ngữ với nhau.

Người Slav có thể được nhóm lại theo tôn giáo. Chính thống giáo Đông phương được thực hành bởi số đông người Slav. Chính thống giáo Đông phương Slavic bao gồm giống dân người Belarus, Bulgaria, Cộng hoà Macedonia, Montenegro, Liên bang Nga, SerbiaUkraina theo định nghĩa của phong tục của Chính thống giáo Đông phương và hệ thống chữ viết Kirin cùng với liên kết văn hoá với Đế quốc Đông La Mã (người Serbia cũng có thể sử dụng hệ thống chữ viết Latinh của Serbia trên cùng cơ sở). Tôn giáo phát triển thứ hai của người Slav là đạo Công giáo Rôma. Những người Slav theo đạo Công giáo gồm có người Croatia, Công hoà Séc, Kashubia, Moravia, Ba Lan, Silesia, Slovakia, Slovenia và Sorb được định nghĩa bởi ảnh hưởng của văn hoá và ngôn ngữ Latinh và sự liên kết với Tây Âu. Cũng có một số lượng thiểu số đáng kể theo đạo Tin LànhLuther, đặc biệt là những người Slav khu vực miền Tây, chẳng hạn như những người theo phong trào Hussite ở vùng đất lịch sử Bohemia (Cộng hoà Séc).

Người Slav trên thế giới tập trung chủ yếu tại nửa phía đông châu Âu. Họ được chia thành ba nhóm chính:

Slavic World updated
Bản đồ phân bố nhóm chủng tộc Slav:
  Chủng tộc Slav chiếm đa số
  Chủng tộc Slav là dân tộc thiểu số (10%+)
16 tháng 10

Ngày 16 tháng 10 là ngày thứ 289 (290 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 76 ngày trong năm.

Beograd

Beograd (tiếng Serbia: Београд / Beograd, "thành phố trắng" (beo ("trắng") + grad ("thành phố")), phát âm tiếng Serbia: [beǒɡrad] ()) là thủ đô và thành phố lớn nhất của Serbia; tọa lạc cạnh nơi hợp lưu của sông Sava và Danube, nơi đồng bằng Pannonia tiếp giáp với Balkan. Đô thị Grad Beograd (Thành phố Beograd) có dân số 1,23 triệu người. Tổng cộng có 1,68 triệu người sống trong vùng biên giới hành chính của thành phố.Một trong những nền văn hóa thời tiền sử nổi bật nhất châu Âu, nền văn hóa Vinča, đã phát triển trong khu vực Beograd vào thiên niên kỷ 6 TCN. Thời cổ, người Thracia-Dacia sinh sống trong vùng, năm 279 TCN người Celt đánh chiếm thành phố, đặt nó cái tên Singidūn. Nó bị người La Mã chinh phục dưới triều Augustus, và được trao quyền thành phố vào giữa thế kỷ 2. Người Slav đến đây vào những năm 520, và từ đó, thành phố rơi vào sự kiểm soát của nhiều thế lực khác nhau, gồm Đế quốc Byzantine, Đế quốc Frank, Đế quốc Bulgaria và Vương quốc Hungary, trước khi nó trở thành kinh đô Vương quốc Serbia vào đời vua Stephen Dragutin (1282–1316). Năm 1521, Beograd bị Đế quốc Ottoman chiếm và trở thành thủ phủ của Sanjak Smederevo. Beograd một lần nữa trở thành thủ đô của Serbia năm 1841. Bắc Belgrad vẫn là thành lũy cực nam của Habsburg cho tới năm 1918, khi thành phố thống nhất. Do vị trí chiến lược của mình, thành phố đã chứng kiến 115 cuộc chiến tranh và bị phá hủy 44 lần. Beograd là thủ đô của Nam Tư kể từ khi thực thể này hình thành năm 1918.

Beograd có địa vị hành chính đặc biệt trong Serbia và là một trong năm vùng thống kê của nước này. Nó được phân loại là một Beta-.Beograd từng là thủ đô của Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Nam Tư và Liên bang Nam Tư cho đến năm 2004. Sau khi Liên Bang Nam Tư cũ và mới giải thể. Beograd trở thành thủ đô của nước Cộng hòa Serbia và Montenegro.

Bắc Macedonia

Bắc Macedonia (phiên âm: Bắc Mác-xê-đô-nia hay Bắc Mác-kê-đô-nia; tiếng Macedonia: Северна Македонија, chuyển tự: Severna Makedonija, IPA: [sɛvɛrna makɛˈdɔnija]), tên chính thức là Cộng hòa Bắc Macedonia (tiếng Macedonia: Република Северна Македонија, chuyển tự: Republika Severna Makedonija) là một quốc gia thuộc khu vực đông nam châu Âu. Nước Cộng hòa Bắc Macedonia giáp với Serbia và vùng lãnh thổ Kosovo về phía bắc, giáp với Albania về phía tây, giáp với Hy Lạp về phía nam và giáp với Bulgaria về phía đông. Dân số của nước này khoảng 2 triệu người.

Nước Cộng hòa này có những tranh cãi với Hy Lạp về tên gọi của nước này do Macedonia lại là một vùng đất lịch sử nằm trên lãnh thổ nhiều quốc gia khác nhau và có lịch sử/văn hóa gắn liền Hy Lạp. Vì vậy vào năm 1991, quốc gia này tách ra khỏi Liên bang Nam Tư và đã gia nhập Liên Hiệp Quốc với tên gọi Cựu Cộng hòa Nam Tư Macedonia, tuy nhiên tên gọi là Cộng hòa Macedonia cũng được sử dụng rộng rãi để chỉ nước này. Vào ngày 12 tháng 6 năm 2018, hai chính phủ Macedonia và Hy Lạp đã đạt được một thỏa thuận sơ bộ chấm dứt tranh chấp kéo dài 27 năm, trong đó có việc tên nước Macedonia được đổi thành Cộng hòa Bắc Macedonia (Република Северна Македонија). Ngày 12 tháng 2 năm 2019, hai quốc gia tuyên bố rằng thỏa thuận đổi tên chính thức của Cộng hòa Macedonia thành Cộng hòa Bắc Macedonia bắt đầu có hiệu lực.

Bắc Macedonia là thành viên của Liên Hiệp Quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới. Hiện nước này đang là một trong những ứng cử viên tiếp theo sẽ gia nhập Liên minh châu Âu và NATO.

Cộng hòa Séc

Séc (tiếng Séc: Česko), tên chính thức là Cộng hòa Séc (tiếng Séc: Česká republika, phát âm ), là một quốc gia thuộc khu vực Trung Âu và là nước không giáp biển. Cộng hòa Séc giáp Ba Lan về phía bắc, giáp Đức về phía tây, giáp Áo về phía nam và giáp Slovakia về phía đông. Thủ đô và thành phố lớn nhất của quốc gia là Praha, với hơn 1,3 triệu dân cư ngụ tại đây. Cộng hòa Séc là một quốc gia đa đảng theo chế độ cộng hòa đại nghị. Tổng thống là người đứng đầu nhà nước, còn thủ tướng là người đứng đầu chính phủ. Quốc hội có hai viện gồm thượng viện và hạ viện. Cộng hòa Séc đã gia nhập NATO vào năm 1999 và trở thành thành viên của Liên minh châu Âu từ năm 2004. Ngày 21 tháng 12 năm 2007, Cộng hòa Séc đã thông qua Hiệp ước Schengen, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại và du lịch vào nước này. Ngoài ra, Cộng hòa Séc hiện nay cũng là thành viên của các tổ chức OECD, OSCE, Ủy hội châu Âu và Nhóm Visegrád.

Lãnh thổ Cộng hòa Séc, ngày nay bao gồm các vùng đất đã từng tồn tại trong lịch sử là Bohemia, Morava và một phần Silesia. Séc trở thành một bộ phận của Đế quốc Áo và Đế quốc Áo-Hung trong nhiều thế kỉ cho đến năm 1918, khi Séc cùng với Slovakia tuyên bố thành lập nước Tiệp Khắc. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Tiệp Khắc bị phát xít Đức chiếm đóng. Sau đó, nước này trở thành một quốc gia xã hội chủ nghĩa cho đến năm 1989 khi cuộc Cách mạng Nhung yên bình diễn ra, đưa đất nước trở về tiến trình dân chủ. Ngày 1 tháng 1 năm 1993, một cuộc ly khai ôn hòa đã diễn ra, Tiệp Khắc lại tách thành hai quốc gia độc lập là Séc và Slovakia.

Hy Lạp

Hy Lạp (tiếng Hy Lạp: Ελλάδα, chuyển tự Ellada hay Ελλάς, chuyển tự Ellas), tên chính thức là Cộng hòa Hy Lạp (tiếng Hy Lạp: Ελληνική Δημοκρατία, chuyển tự Elliniki Dimokratia), là một quốc gia thuộc khu vực châu Âu, nằm phía nam bán đảo Balkan. Hy Lạp giáp với các nước Albania, Cộng hòa Macedonia và Bulgaria về phía bắc, giáp với Thổ Nhĩ Kỳ về phía đông. Biển Aegea bao bọc phía đông và phía nam Hy Lạp, còn biển Ionia nằm ở phía tây. Phần lớn địa hình của đất nước này là núi non hiểm trở. Hy Lạp có rất nhiều những hòn đảo lớn nhỏ thuộc khu vực Địa Trung Hải. Dân số Hy Lạp năm 2015 xấp xỉ 10,955 triệu người.

Hy Lạp là một trong những nền văn minh rực rỡ nhất thời cổ đại, có ảnh hưởng sâu rộng đến nền văn minh quanh khu vực Địa Trung Hải. Đây là nơi ra đời của nền dân chủ, triết học phương Tây và Thế vận hội Olympic. Đến thời trung cổ, Hy Lạp trở thành một bộ phận của Đế chế Byzantine, rồi sau đó lại nằm trong Đế chế Ottoman trong gần bốn thế kỉ. Năm 1821, nhân dân Hy Lạp đã nổi dậy khởi nghĩa và giành lại độc lập cho dân tộc.

Đất nước Hy Lạp ngày nay là một quốc gia phát triển. Hy Lạp là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc, NATO, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD, Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO. Năm 1981, Hy Lạp trở thành một thành viên của Liên minh châu Âu.

Kiev

Kiev, hay Kyiv, (tiếng Ukraina: Київ Kyyiv; tiếng Nga: Ки́ев Kiyev) là thủ đô và là thành phố lớn nhất của Ukraina. Thành phố tọa lạc tại Bắc Trung bộ của quốc gia này, dọc hai bên bờ sông Dnepr.

Với dân số 2.847.200 (7/2013), Kiev trải rộng trên diện tích 839 km². Nếu tính cả số dân đăng ký không chính thức thì dân số của Kiev là 3 triệu ngườiKiev là thành phố trực thuộc trung ương, không thuộc trong khu vực hành chính tỉnh Kiev. Kiev là một trung tâm công nghiệp, khoa học và văn hóa của Đông Âu. Nơi đây có nhiều viện nghiên cứu, trường đại học và nhiều di tích lịch sử nổi tiếng trên thế giới. Giao thông thành phố phát triển cao, nhất là giao thông công cộng như xe buýt, tàu điện ngầm.

Tên của thành phố bắt nguồn từ tên của Kyi, là một trong 4 người sáng lập thành phố. Thành phố Kiev một trong những thành phố lâu đời nhất Đông Âu đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm và những biến cố lịch sử. Thành phố là 1 trung tâm thương mại vào đầu thế kỷ thứ 5. Là một khu định cư của người Slav ở trên con đường thương mại giữa Scandinavia và Constantinopolis, Kiev là một nhánh của Khazars, cho đến khi bị những người Varangia (Vikings) chiếm giữ vào thế kỷ 9. Dưới thời cai trị của Varangia, thành phố đã trở thành thủ phủ của Rus', quốc gia Đông Slav đầu tiên.

Hoàn toàn bị phá hủy trong thời kỳ xâm lược của người Mông Cổ vào năm 1240, thành phố mất hết ảnh hưởng của mình trong hàng thế kỷ sau đó.

Lãnh thổ của nó bị kiểm soát bởi các cường quốc hùng mạnh; ban đầu là Đại Công quốc Litva, sau đó là bởi Ba Lan và Đế quốc Nga.Thành phố thịnh vượng một lần nữa trong thời kỳ cách mạng công nghiệp của Đế quốc Nga cuối thế kỷ 19. Năm 1917, sau khi Cộng hòa Dân tộc Ukraina tuyên bố độc lập khỏi Đế quốc Nga, Kiev trở thành thủ đô. Từ năm 1921 trở về sau, Kiev là một thành phố quan trọng của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết Ukraina và từ 1934 là thủ đô nước cộng hòa này. Trong thế chiến II, thành phố lại bị hư hại nhưng nhanh chóng hồi phục trong những năm sau chiến tranh, là thành phố lớn thứ 3 ở Liên Xô. Sau sự sụp đổ của Liên Xô, Ukraina giành độc lập, Kiev là thủ đô của Ukraina.

Sau sự sụp đổ của Liên Xô và người Ukraina giành được độc lập vào năm 1991, Kiev vẫn là thủ đô của Ukraina và tiếp nhận đều đặn làn sóng người di cư từ các vùng khác của đất nước. Trong quá trình chuyển đổi đất nước sang nền kinh tế thị trường và dân chủ, Kiev vẫn tiếp tục là lớn nhất và giàu có nhất thành phố của Ukraina. Sản lượng công nghiệp về trang bị vũ khí quân sự giảm mạnh khi Liên Xô sụp đổ, nhưng nó cũng là động lực để nền kinh tế phát triển sang lĩnh vực mới như các dịch vụ tài chính và tiếp tục tạo tăng trưởng cho Kiev. Là hành lang kết nối Đông và Tây châu Âu Kiev nhận được sự đầu tư lớn và liên tục vào nhà ở và cơ sở hạ tầng đô thị, là nơi chịu ảnh hưởng đan xen của lực lượng ủng hộ xích gần với phương Tây và lực lượng muốn giữ quan hệ với Nga trong không gian thuộc Liên Xô cũ.

Lịch sử Séc

Con người đã di cư đến vùng đất nay là Cộng hòa Séc vào khoảng thế kỉ 3 trước công nguyên. Trong thời kỳ Trung Cổ, Séc là nơi tồn tại nhiều vương triều hùng mạnh và kinh đô Praha là một trong những trung tâm học vấn hàng đầu chầu Âu. Đất nước này bị sáp nhập vào Đế chế Áo năm 1536 rồi sau đó tiếp tục trở thành một bộ phận của Đế chế Áo-Hung. Vào năm 1918, Séc cùng với Slovakia thành lập nước Tiệp Khắc. Đến năm 1989, hai quốc gia này tách ra và Cộng hòa Séc lại trở thành một quốc gia độc lập.

Mauricius

­Mauricius (tiếng Latinh: Flavius Mauricius Tiberius Augustus; tiếng Hy Lạp: Φλάβιος Μαυρίκιος Τιβέριος Αὔγουστος) (539 – 27 tháng 11, 602) là Hoàng đế Đông La Mã từ năm 582 đến 602.

Morava

Moravia hay Morava (tiếng Séc: Morava; tiếng Đức: Mähren ; tiếng Ba Lan: Morawy; tiếng Latinh: Moravia) là một vùng lịch sử thuộc nước Cộng hòa Séc. Moravia chiếm khoảng một phần ba diện tích của Cộng hòa Séc ngày nay và nằm ở phía đông nam nước này. Morava tiếp giáp với Ba Lan và Silesia thuộc Séc về phía bắc, giáp với Slovakia về phía đông, giáp với bang Niederösterreich của Áo về phía nam và giáp với xứ Čechy về phía tây. Čechy, Morava và Silesia thuộc Séc là 3 phần làm nên một vùng đất mang tên là Vùng đất của người Séc (České země).

Cái tên "Morava" bắt nguồn từ con sông Morava trên lãnh thổ vùng này. Vào thế kỉ 8, Công quốc Morava đã được người Slav thành lập. Vào năm 833, Morava đã xâm chiếm Công quốc Nitra (bây giờ là Slovakia) và nhanh chóng trở thành một nước hùng mạnh tại châu Âu. Lãnh thổ nước này mở rộng nhất dưới thời vua Svatopluk I (871-894). Tuy nhiên những thế kỉ sau đó, Morava ngày càng lệ thuộc vào Čechy. Cả hai quốc gia này cũng rơi vào Đế chế Áo và sau đó nữa là Đế chế Áo-Hung vào thế kỉ 16. Vào năm 1758, trong cuộc Chiến tranh Bảy năm, vua Friedrich II Đại Đế thân chinh kéo quân Phổ đi đánh xứ Morava, để ngăn chặn liên quân Áo - Nga liên kết với nhau. Song, quân Phổ phải rút quân. Năm 1918, Morava trở thành một phần trong Liên bang Tiệp Khắc. Đến năm 1993, khi Tiệp Khắc tách ra thì Morava trở thành một vùng của nước Cộng hòa Séc ngày nay.

Trong Cộng hòa Séc, Morava vẫn giữ những bản sắc văn hóa riêng của mình. Những thành phố lớn nhất xứ này là Brno, Olomouc, Zlín và Ostrava.

Người Bulgaria

Người Bulgaria (tiếng Bulgaria: българи, Bǎlgari, IPA: ['bɤɫɡɐri]) là một sắc tộc thuộc người Slav, thuộc nhóm Nam Slav, thường liên quan đến Bulgaria và tiếng Bulgaria. Có những người thiểu số Bulgaria và cộng đồng người nhập cư ở một số quốc gia khác.

Người Hy Lạp

Người Hy Lạp là dân tộc bản địa ở Hy Lạp, Síp, là dân tộc đa số ở Hy Lạp, Nam Síp, và là dân tộc thiểu số ở nhiều quốc gia khác.

Theo số liệu tháng 7 năm 2007, dân số của Hy Lạp là 10.706.290 người. Con người đã đến vùng đất ngày nay là Hy Lạp từ Thời kỳ Đồ đá cũ vào khoảng 3000 năm trước công nguyên. Sau đó, tổ tiên của người Hy Lạp đã đến đây vào khoảng thiên niên kỷ thứ hai trước Công nguyên và xây dựng những nền văn minh rực rỡ. Vào khoảng thế kỉ thứ 5 trước Công nguyên, có 3 triệu dân sinh sống trên bán đảo Hy Lạp và 6 triệu người Hy Lạp định cư tại nhiều vùng khác nhau quanh khu vực Địa Trung Hải. Trong thời kỳ Đế chế Byzantine, nhiều dòng người khác nhau, chủ yếu là người Slav và người Do Thái đã nhập cư vào Hy Lạp. Đến khi bán đảo Hy Lạp bị thống trị bởi Đế chế Ottoman, nhiều người Hy Lạp đã rời bỏ đất nước để sang Tây Âu. Trong khoảng thời gian từ cuối thế kỉ 19 cho đến khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, một dòng người Hy Lạp rất lớn cũng di cư sang Mỹ, Canada và Úc để thoát khỏi tình trạng bất ổn trong nước. Hiện nay, một bộ phận người dân Hy Lạp cũng có xu hướng nhập cư sang các nước phát triển khác trong Liên minh châu Âu như Đức và Bỉ để kiếm việc làm.

Tốc độ gia tăng dân số của Hy Lạp hiện nay là 0,16%. Nhiều khả năng Hy Lạp sẽ phải đối mặt với tình trạng giảm dân số trong tương lai khi mà tỉ lệ tử tại nước này đã vượt quá tỉ lệ sinh. Dân cư Hy Lạp tăng lên chủ yếu do nhập cư.

Người Slav sơ kỳ trung cổ

Slav sơ kỳ trung cổ là một nhóm xã hội bộ tộc đa dạng sống trong thời kỳ di cư và thời Trung cổ (khoảng thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ thứ 10) ở Đông Âu và thành lập nền móng cho các quốc gia Slavia thông qua các quốc gia Slav thời Trung Cổ. Slav Cách viết đầu tiên của tên "Slavs" có niên đại từ thế kỷ thứ 6, khi các bộ lạc Slav sinh sống ở một phần lớn Trung và Đông Âu. Vào thế kỷ đó, các nhóm dân tộc bản địa của Iran (người Scythia, người Sarmatia và người Alans)) đã bị hấp thụ bởi dân số Slav của khu vực. Slav Slav Slav Slav Trong hai thế kỷ tiếp theo, các Slav mở rộng về phía tây nam về phía Balkans và dãy Alps và phía đông bắc về phía sông Volga. Slav

Bắt đầu từ thế kỷ thứ 9, những người Slav dần dần cải đạo thành Cơ đốc giáo (cả Chính thống giáo Byzantine và Công giáo La Mã). Vào thế kỷ thứ 12, họ là dân số cốt lõi của một số bang thời Trung cổ Cơ đốc giáo: East Slav ở Rus Rus, South Slav ở Đế chế Bulgaria, Vương quốc Croatia, Banate of Bosnia và Công quốc Grand Serbia và Tây Slavs ở Great Moravia, Vương quốc Ba Lan, Công tước Bohemia và Công quốc Nitra.

Otto I của đế quốc La Mã Thần thánh

Otto I Đại đế (23 tháng 11 năm 912 – 7 tháng 5 năm 973), thuộc dòng dõi nhà Liudolfinger, con trai của Heinrich der Finkler và Matilda của Ringelheim, là Công tước Sachsen, vua của đế quốc Đông Frank từ năm 936, vua của Ý năm 951 và là người đầu tiên được tấn phong ngôi vị Hoàng đế La Mã Thần thánh năm 962.Sau khi vua Charlemagne qua đời năm 814, đế quốc của ông bị phân tán thành những vương quốc nhỏ. Mạn trung và phía tây châu Âu, luôn bị người Viking tấn công và trở thành mục tiêu cho những người Magyar từ Hungary và România kéo đến xâm lược. Người dân ở đây gần như không thể chống cự nổi. Khi Otto Đại đế lên ngôi vua Đông Frank, cha ông, Heinrich, bỏ phong tục chia lãnh thổ cho các người con trai, chủ trương vương quốc là không thể chia ra được. Otto đã thành công đánh bại lại những cuộc nổi dậy chống lại chủ trương này từ chính những người trong gia đình mình, như em trai ông Heinrich và con trai ông ta, Brun, mà đòi chia quyền cai trị.

Năm 955 ông đánh bại được quân Magyar gần sông Lech mạn nam Đức việc này đã làm kết thúc mối đe dọa của Magyar trên mạn tây châu Âu. Cùng năm ông lại chiến thắng người Slav. Những chiến thắng này đã giúp ông được danh tiếng là đã cứu vãn đạo Kitô. Kết quả là một thời văn hóa hoàng kim, được biết đến như là thời phục hưng Otto.

961 ông chinh phục được Vương quốc Ý, và mở rộng đế chế của mình ở phía bắc, phía đông và phía nam của Ý, gây ra mâu thuẫn với Đế quốc Đông La Mã. Bắt chước ý tưởng hoàng đế Charlemagne, 962 ông để Giáo hoàng John XII ở Roma phong làm hoàng đế, và cuối cùng ông đã thành công đạt được một thỏa hiệp với hoàng đế Byzantine và dàn xếp cuộc hôn nhân của con trai ông, Otto II, với cháu gái Theophano của ông ta.

Năm 968 ông thành lập một tổng giám mục ở Magdeburg, thành phố mà vẫn chịu ảnh hưởng của ông nhiều nhất sau khi ông chết. Giáo phận này có địa vị quan trọng đối với Otto trong việc thiên Chúa hóa người Slav.

Sau khi qua đời, ông được chôn cất ở nhà thờ Magdeburg cùng vợ ông Edith của Wessex.

Thuyết đa thần

Thuyết đa thần là niềm tin hoặc việc cúng bái, tín ngưỡng nhiều thần thánh. Thuyết được xây dựng từ những thần thánh cùng truyền thuyết và nghi lễ về họ. Nhiều tôn giáo, kể cả các tôn giáo trong lịch sử cũng như hiện thời có niềm tin đa thần, như Thần đạo của Nhật Bản, tôn giáo đa thần Ai Cập cổ, đạo đa thần Hy Lạp cổ, đạo đa thần La Mã, đạo đa thần của người German, thuyết đa thần của người Slav, tôn giáo cổ Trung Quốc, đạo đa thần của người Anglo-Saxon.

Tiếng Slav Giáo hội cổ

Tiếng Slav Giáo hội cổ (còn được rút gọn thành OCS, từ tên tiếng Anh Old Church Slavonic, trong tiếng Slav Giáo hội cổ: словѣ́ньскъ ѩꙁꙑ́къ, slověnĭskŭ językŭ), là ngôn ngữ Slav đầu tiên có nền văn học. Các thánh Kyrillô và Mêthôđiô (những nhà truyền giáo thể kỷ 9) của Byzantine được xem là những người đầu tiên chuẩn hóa tiếng Slav Giáo hội cổ và đã dịch Kinh Thánh, cũng như các văn bản tiếng tiếng Hy Lạp cổ, ra ngôn ngữ này, như một phần của quá trình Kitô giáo hóa người Slav. Nó có lẽ chủ yếu dựa trên phương ngữ của người Slav Byzantine sống tại Thessalonica (nay là Hy Lạp). Tiếng Slav Giáo hội cổ có vai trò quan trọng trong lịch sử ngôn ngữ Slav, và là cơ sở và kiểu mẫu cho tiếng Slav Giáo hội mà một vài nhà thờ Chính thống giáo Đông phương và Công giáo Đông phương vẫn dùng như một ngôn ngữ nghi thức cho tới ngày nay. Vì là ngôn ngữ Slav cổ nhất được ghi nhận, tiếng Slav Giáo hội cổ cho thấy những đặc điểm quan trọng của ngôn ngữ Slav nguyên thủy, tổ tiên chung của tất cả ngôn ngữ Slav.

Triều đại Piast

Triều đại Piast (960 - 1370) là triều đại đầu tiên của vương quốc Ba Lan, được mở đầu bằng việc vua Mieszko I lên ngôi (960) và kết thúc sau cái chết của Casimir III Vĩ đại. Piast được xem là triều đại kế tục các đời công tước xứ Masovia và công tước xứ Silesia, thông qua các cuộc hôn nhân với lân bang và đã lớn mạnh, sánh ngang với Đế quốc La Mã thần thánh. "Piast" nguyên gốc là tên của một vị hiệp sĩ (hay "kiếm sĩ") huyền thoại của Ba Lan vào thế kỷ IX (được ghi nhận trong quyển "Cronicae et gesta ducum sive principum Polonorum" của Gallus Anonymus - 1113), được hậu duệ của ông là Mieszko kế thừa và sử dụng làm tên triều đại đầu tiên. Trong triều đại này, tên "Ba Lan" chính thức xuất hiện vào năm 1015, nguyên gốc là tên của bộ lạc người Slav Polani (tiếng Slav nghĩa là "cư dân vùng đồng bằng"). Thời cực thịnh, nhà Piast thống trị cả một vùng rộng lớn, từ Pomerania, Bohemia và Lusatias, vùng Ruthenia và pháo đài Spis thuộc vương quốc Hungaria (nay là Slovakia); đồng thời triều đại này có quan hệ mật thiết với Pháp, Hungaria, nước Rus Kiev (Nga cổ), các hiệp sĩ Teuton và các công tước xứ Lithuania.

Trung Cổ

Thời kỳ Trung Cổ (hay Trung Đại) là giai đoạn trong lịch sử châu Âu bắt đầu từ sự sụp đổ của Đế quốc Tây Rôma vào thế kỷ 5, kéo dài tới thế kỉ 15, hòa vào thời Phục hưng và Thời đại khám phá. Thời Trung Cổ (Trung đại) là thời đại thứ hai trong ba thời đại lịch sử theo cách phân kỳ truyền thống của lịch sử phương Tây, cùng với Cổ đại và Hiện đại. Thời kỳ Trung Cổ tự nó chia làm ba giai đoạn, Sơ kỳ Trung Cổ, Trung kỳ Trung Cổ và Hậu kỳ Trung Cổ.

Suy giảm dân số, sự đảo ngược đô thị hóa, xâm lược, và di dân, bắt đầu từ Hậu kỳ Cổ đại, tiếp diễn trong thời Sơ kỳ Trung Cổ. Những man tộc xâm lược, bao gồm các dân tộc German, lập nên những vương quốc mới trên tàn tích của Đế quốc Tây Rôma. Bắc Phi, Trung Đông và bán đảo Iberia rơi vào tay người Hồi giáo, tuy Đế quốc Đông Rôma (tức Byzantine) vẫn duy trì vai trò một cường quốc quan trọng ở phương Đông. Quá trình Kitô hóa vẫn tiếp tục, chế độ tu viện được thành lập. Người Frank, dưới triều đại Nhà Carolingien, đã thiết lập nên một đế chế ngắn ngủi bao phủ phần lớn Tây Âu, trước khi tàn lụi dưới áp lực của nội chiến cộng với ngoại xâm.

Trong thời Trung kỳ Trung Cổ, bắt đầu từ thế kỉ 11, dân số châu Âu tăng nhanh khi các tiến bộ kĩ thuật và thời tiết thuận lợi giúp sản xuất phát triển và theo đó là thương mại phát đạt. Chế độ trang viên và chế độ phong kiến xác lập nên cấu trúc kinh tế-chính trị của xã hội thời Trung kỳ Trung Cổ. Giáo hội Công giáo củng cố sức ảnh hưởng trong khi những cuộc thập tự chinh được kêu gọi để tái chiếm Đất Thánh từ tay người Hồi giáo. Các nhà quân chủ ở nhiều quốc gia củng cố nhà nước trung ương tập quyền, giảm bớt tình trạng cát cứ. Đời sống trí thức ghi nhận sự thống trị của chủ nghĩa kinh viện và sự thành lập những trường đại học, trong khi nghệ thuật chứng kiến phong cách Gothic lên đến đỉnh cao.

Thời Hậu kỳ Trung Cổ đánh dấu một loạt những khó khăn và tai họa bao gồm nạn đói, dịch hạch, và chiến tranh, gây suy giảm nghiêm trọng dân số Tây Âu; chỉ riêng Cái chết Đen đã hủy diệt một phần ba dân số châu Âu. Tranh cãi giáo lý, dị giáo và ly giáo bên trong Giáo hội song hành với chiến tranh quy mô giữa các cường quốc, nội chiến, khởi nghĩa nông dân nổ ra trong khắp châu lục. Trong khi đó, những phát triển và văn hóa biến đổi xã hội châu Âu, khép lại thời Trung Cổ và bắt đầu thời kỳ Cận đại.

Trận Yarmouk

Trận Yarmouk (tiếng Ả Rập: معركة اليرموك‎, còn được viết là Yarmuk, Yarmuq, hay trong tiếng Hy Lạp là Hieromyax, Ἱερομύαξ, hoặc Iermouchas, Ιερμουχάς) là một trận đánh lớn giữa quân đội Hồi giáo của quốc vương Ả Rập Hồi giáo Rashidun với quân đội của Đế quốc Đông La Mã. Trận chiến bao gồm một loạt các cuộc đụng độ kéo dài sáu ngày trong tháng 8 năm 636 ở gần sông Yarmouk, đây là biên giới ngày nay giữa Syria và Jordan, phía đông nam của biển Galilee. Kết quả của trận đánh là một chiến thắng hoàn toàn của người Hồi giáo và chấm dứt vĩnh viễn sự cai trị của Đế quốc Đông La Mã ở phía nam vùng Anatolia. Trận Yarmouk được coi là một trong những trận đánh quyết định nhất trong lịch sử quân sự và nó đánh dấu làn sóng đầu tiên của cuộc chinh phục của người Hồi giáo sau cái chết của nhà tiên tri Muhammad, nó cũng báo hiệu những bước tiến nhanh chóng của người Hồi giáo vào quốc gia vùng cận đông theo Kitô giáo.

Với mục đích chặn đứng bước tiến của người Hồi giáo và thu hồi các vùng lãnh thổ đã bị mất, Hoàng đế Heraclius đã gửi một đoàn quân chinh phạt lớn đến vùng Cận đông vào tháng 5 năm 636. Khi quân đội La Mã đến gần, người Hồi giáo rút lui khỏi Syria và tập hợp lại tất cả các lực lượng của họ ở vùng đồng bằng sông Yarmouk, sau khi được tăng cường quân tiếp viện họ đã đánh bại quân đội có ưu thế hơn của người La Mã. Cuộc chiến cũng được coi là một trong những chiến thắng quân sự lớn nhất của Khalid ibn al-Walid. Nó củng cố uy tín của ông ta như là một trong những nhà chiến thuật và chỉ huy kỵ binh tài tình nhất trong lịch sử

Đế quốc Đông La Mã

Đế quốc Đông La Mã (tiếng Hy Lạp cổ đại: Βασιλεία Ῥωμαίων, phiên âm: Basileia Rhōmaiōn, tiếng Latinh: Imperium Romanum tạm dịch là "Đế quốc La Mã") còn được gọi Đế quốc Byzantium, Đế quốc Byzantine, Đế quốc Byzance hay Đế quốc Hy Lạp là một đế quốc tồn tại từ năm 330 đến năm 1453, đóng đô ở Constantinopolis. Trước khi thành lập, phạm vi của Đế quốc Đông La Mã trước đây nằm trong lãnh thổ của Đế quốc La Mã. Năm 330, khi Constantinus I, con của hoàng đế Constantius, nắm quyền trị vì và dời đô từ thành La Mã về Constantinopolis, được xem là thời điểm thành lập đế quốc Đông La Mã. Khi ông qua đời, đế quốc bị các con trai ông phân chia thành Đông và Tây. Sau khi vị hoàng đế cuối cùng của đế quốc phía tây là Romulus Augustus bị một thủ lĩnh người Giéc-man hạ bệ, đế quốc Tây La Mã sụp đổ. Nhưng đế quốc phía đông vẫn tiếp tục phát triển, trở thành một cường quốc có vai trò quan trọng ở châu Âu và được xem là một trong những trung tâm đạo Ki-tô lúc bấy giờ.

Không thấy một tư liệu chính xác nào về sự khởi đầu của đế quốc Đông La Mã. Một vài ý kiến cho rằng đế quốc này được thành lập dưới thời cai trị của Hoàng đế Diocletianus (284–305), người đã chia đế quốc La Mã thành hai nửa đông và tây. Một vài người lại nói rằng đế quốc bắt đầu vào thời của Constantinus I, vị hoàng đế đầu tiên đóng đô tại Constantinopolis. Những ý kiến khẳng định vào thời trị vì của Hoàng đế Theodosius I (379–395) hoặc theo sau cái chết của ông vào năm 395. Một vài người cho vào thời điểm xa hơn vào năm 476 khi đế quốc phía tây sụp đổ. Nhưng hiện nay tư liệu khá chính xác là vào năm 330, khi Constantinus I thành lập tân đô Constantinopolis dưới sự phát triển vượt bậc của văn hóa Ki-tô giáo và thời kỳ văn hóa chịu ảnh hưởng Hy Lạp (quá trình Hy Lạp hóa văn hóa). Đế quốc Đông La Mã đã tồn tại hơn một ngàn năm, từ thế kỷ thứ IV cho đến năm 1453. Trong thời gian tồn tại của nó, Đông La Mã vẫn là một trong những cường quốc kinh tế, văn hóa, và quân sự lớn mạnh nhất ở châu Âu, bất chấp những thất bại và mất mát lãnh thổ, đặc biệt là trong cuộc Chiến tranh La Mã-Ba Tư và Chiến tranh Ả Rập-Đông La Mã. Đế quốc sau đó đã phục hưng dưới triều đại Macedonia, một lần nữa Đông La Mã vươn lên thành liệt cường hàng đầu của vùng Đông Địa Trung Hải vào cuối thế kỷ thứ X, đối địch với Nhà Fatima của người Hồi giáo.Tuy nhiên, sau năm 1071, nhiều lãnh đổ ở Tiểu Á - trung tâm của đế quốc, bị người Thổ Nhĩ Kỳ Seljuk chiếm đoạt. Mặc dù Vương triều nhà Komnenos đã giành lại một số đất đai và hưng thịnh lại Đế quốc trong một thời gian ngắn trong thế kỷ thứ XII, sau khi Hoàng đế Andronikos I Komnenos qua đời và Vương triều Komnennos cáo chung ở cuối thế kỷ thứ XII, một lần nữa Đế quốc lâm vào suy vong. Đế quốc Đông La Mã bị cuộc Thập tự chinh lần thứ tư giáng một đòn chí mạng vào năm 1204, khiến Đế quốc bị giải thể và các lãnh thổ La Tinh và Hy Lạp thuộc Đông La Mã bị chia cắt.

Vào năm 1261, kinh đô Constantinopolis được giải phóng và Đế quốc Đông La Mã trung hưng, thế nhưng dưới triều các hoàng đế nhà Palaiologos, Đông La Mã chỉ còn là một trong nhiều quốc gia nhỏ đối địch nhau ở khu vực, trong suốt 200 năm tồn tại cuối cùng của nó. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, nền văn hóa của Đế quốc sinh sôi nảy nở. Các cuộc biến loạn cung đình xảy ra liên tiếp trong thế kỷ XIV tiếp tục hủy hoại sự thịnh vượng của Đế quốc Đông La Mã, trong khi các lãnh thổ còn lại của Đông La Mã lần lượt bị lấy mất trong cuộc Chiến tranh Đông La Mã-Ottoman, mà đỉnh điểm là sự thất thủ của Constantinopolis và các vùng lãnh thổ còn lại bị Đế quốc Ottoman chinh phục vào thế kỷ thứ XV.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.