New Zealand

New Zealand (phiên âm tiếng Việt: Niu Di-lân; phát âm tiếng Anh: /nj ˈzlənd/; tiếng Māori: Aotearoa) hay Tân Tây Lan[7][8][9][10][11] là một đảo quốc tại khu vực tây nam của Thái Bình Dương. Trên phương diện địa lý, New Zealand bao gồm hai đại lục chính là đảo Bắcđảo Nam, cùng khoảng 600 đảo nhỏ. New Zealand nằm cách khoảng 2000 km về phía đông của Úc qua biển Tasman và cách khoảng 1.000 km về phía nam của Nouvelle-Calédonie, Fiji, và Tonga. Vì vị trí cách biệt, New Zealand nằm trong số những vùng đất cuối cùng có con người đến định cư. Trong thời gian cô lập kéo dài này, New Zealand duy trì một nền sinh thái đa dạng với nhiều loài đặc hữu của các nhóm động vật, nấm, thực vật. Địa hình đa dạng của đất nước và các đỉnh núi sắc bén như dãy núi Alps ở phía Nam được hình thành từ quá trình tạo núi và các vụ phun trào núi lửa.Thủ đô của New Zealand là Wellington, còn thành phố đông cư dân nhất là Auckland.

Người Polynesia định cư tại New Zealand vào năm 1250–1300 và phát triển văn hóa Maori đặc trưng. Năm 1642, nhà thám hiểm Abel Tasman là người châu Âu đầu tiên tìm thấy New Zealand.[12] Đến năm 1840, người đại diện cho Hoàng gia Vương quốc Anh và Maori ký kết Hiệp định Waitangi, tuyên bố chủ quyền của Đế quốc Anh trên đảo. New Zealand trở thành một thuộc địa của Đế quốc Anh vào năm 1841 và một Cộng đồng tự trị trong Đế quốc Anh vào năm 1907. New Zealand dành độc lập vào năm 1947, nhưng nguyên thủ quốc gia vẫn sẽ là Quốc vương Anh (Nữ hoàng Elizabeth II). Ngày nay, phần lớn dân số 4,8 triệu của New Zealand có huyết thống châu Âu; người Maori bản địa là dân tộc thiểu số đông dân cư nhất, tiếp đến là người châu Á và người các đảo Thái Bình Dương. Do vậy, văn hóa New Zealand chủ yếu bắt nguồn từ người Maori và những người định cư Vương quốc Anh thời đầu, và gần đây được mở rộng do sự gia tăng của dân nhập cư. Các ngôn ngữ chính thức là tiếng Anh, tiếng Maori và ngôn ngữ ký hiệu New Zealand, trong đó tiếng Anh chiếm ưu thế. Ngành xuất khẩu len từng chi phối kinh tế New Zealand, song hiện nay xuất khẩu các sản phẩm bơ sữa, thịt, và rượu vang, cùng với du lịch gia tăng tầm quan trọng.

Trên phương diện một quốc gia phát triển, New Zealand xếp hạng cao so với những nước khác về hiệu suất quốc gia, như chất lượng cuộc sống, y tế, giáo dục, tự do dân sự và tự do kinh tế. Nền kinh tế của New Zealand đã trải qua những thay đổi lớn trong những năm 1980, đã chuyển đổi từ chủ nghĩa bảo hộ sang một nền kinh tế thương mại tự do. Khu vực dịch vụ thống trị nền kinh tế quốc gia, tiếp theo là khu vực công nghiệp và nông nghiệp; du lịch quốc tế là một nguồn thu đáng kể. quyền lập pháp được trao cho một Nghị viện đơn viện được bầu cử, trong khi quyền chính trị hành pháp do Nội các thi hành, đứng đầu là Thủ tướng. Nữ vương Elizabeth II là nguyên thủ quốc gia, đại diện cho bà là một Toàn quyền. Ngoài ra, New Zealand được tổ chức thành 11 hội đồng khu vực và 67 cơ quan lãnh thổ nhằm phục vụ mục đích cai quản địa phương. Vương quốc New Zealand còn bao gồm Tokelau (một lãnh thổ phụ thuộc); quần đảo CookNiue (các quốc gia tự trị có liên kết tự do với New Zealand); và Lãnh thổ phụ thuộc Ross mà New Zealand tuyên bố chủ quyền tại khu vực Nam Cực. New Zealand là một thành viên của Liên Hiệp Quốc, Thịnh vượng chung các Quốc gia, ANZUS, OECD, Diễn đàn Quần đảo Thái Bình DươngAPEC.

Thịnh vượng chung
New Zealand

Flag of New Zealand Coat of arms of New Zealand
Quốc kỳ Huy hiệu
Bản đồ
Vị trí của New Zealand
Vị trí New Zealand trên thế giới (xanh đậm), bao gồm các đảo và lãnh thổ phụ thuộc Ross
Vị trí của New Zealand
Quốc ca
God Defend New Zealand

Hành chính
Chính phủQuân chủ lập hiến nghị viện
Quân chủElizabeth II
Toàn quyềnPatsy Reddy
Thủ tướngJacinda Ardern
Thủ đôWellington
41°17′N 174°27′Đ / 41,283°N 174,45°Đ
Thành phố lớn nhấtAuckland
Địa lý
Diện tích268.021 km² (hạng 75)
Diện tích nước1,6 %
Múi giờNZST (UTC+12); mùa hè: NZDT (UTC+13)
Lịch sử
17 tháng 1 năm 1853Tự quản
26 tháng 9 năm 1907Quốc gia tự trị
25 tháng 11 năm 1947Phê chuẩn Pháp án Westminster
13 tháng 12 năm 1986Hiến pháp hiện tại
Ngôn ngữ chính thứcTiếng Anh
Tiếng Maori
Ngôn ngữ ký hiệu NZ
Sắc tộcNăm 2013:
  • 74,0% người gốc Âu
  • 14,9% người Māori
  • 11,8% người gốc Á
  • 7,4% các dân tộc
    Thái Bình Dương
  • 1,2% Trung Đông
    /Mỹ Latinh/châu Phi
  • 1,7% khác[1]
Dân số ước lượng (2017)5.050.820[2] người (hạng 123)
Dân số (2013)4.242.048[3] người
Mật độ16,5 người/km² (hạng 205)
Kinh tế
GDP (PPP) (2016)Tổng số: 173,2 tỉ USD[4]
GDP (danh nghĩa) (2016)Tổng số: 169,9 tỉ USD[4]
Bình quân đầu người: 36.254 USD[4]
HDI (2015)0,915[5]> rất cao (hạng 13)
Hệ số Gini (2015)33,0[6] trung bình
Đơn vị tiền tệĐô la New Zealand (NZD)
Thông tin khác
Tên miền Internet.nz
Mã điện thoại+64
Lái xe bêntrái

Từ nguyên

Detail of 1657 map Polus Antarcticus by Jan Janssonius, showing Nova Zeelandia
Bản đồ vào năm 1657 cho thấy bờ biển phía tây của "Nova Zeelandia"

Nhà thám hiểm người Hà Lan Abel Tasman trông thấy New Zealand vào năm 1642 và gọi nơi đây là Staten Landt, cho rằng nó liên thông với một đại lục cùng tên tại mũi phía nam của Nam Mỹ.[13] Năm 1645, một nhà vẽ bản đồ người Hà Lan đổi tên lãnh thổ là Nova Zeelandia theo tên tỉnh Zeeland của Hà Lan.[14][15] Nhà thám hiểm người Anh Quốc James Cook sau đó Anh hóa danh xưng thành New Zealand.[n 1]

Aotearoa (thường được dịch thành "miền đất của đám mây trắng dài")[16] hiện là danh xưng của New Zealand trong tiếng Maori. Không rõ người Maori có một danh xưng cho toàn bộ quốc gia trước khi người châu Âu đến hay không, do Aotearoa nguyên bản chỉ ám chỉ đảo Bắc.[17] người Maori có một số tên truyền thống cho hai đảo chính, trong đó có Te Ika-a-Māui (con cá của Māui) cho đảo Bắc và Te Waipounamu (nguồn nước của Pounamu) hoặc Te Waka o Aoraki (xuồng của Aoraki) cho đảo Nam.[18] Những bản đồ ban đầu của người châu Âu thể hiện các đảo Bắc (đảo Bắc), Trung (đảo Nam) và Nam (Stewart).[19] Năm 1830, các bản đồ bắt đầu sử dụng Bắc và Nam nhằm phân biệt hai đảo lớn nhất và đến năm 1907 thì điều này trở thành tiêu chuẩn được công nhận.[20] Năm 2009, Ủy ban Địa lý New Zealand phát hiện rằng các danh xưng đảo Bắc và đảo Nam chưa từng được chính thức hóa, và các danh xưng cùng danh xưng thay thế được chính thức hóa vào năm 2013, chúng lần lượt được định danh là North Island hoặc Te Ika-a-Māui, và South Island hoặc Te Waipounamu.[21]

Tên tiếng Trung của quốc gia là 新西蘭 , bính âm: Xīnxīlán , phiên âm Hán Việt là Tân Tây Lan.

Lịch sử

Polynesian Migration
Lộ trình của người Maori đến New Zealand. Theo thuyết hiện thời thì rất có thể họ là hậu duệ của nhóm thổ dân nguyên thủy di cư từ Đài Loan sang Melanesia và dần chuyển về phía đông đến quần đảo Société. Sau một thời gian tạm ngưng kéo dài 70-265 năm, một làn sóng thám hiểm mới khám phá ra New Zealand rồi thiên di đến đó.[22]

New Zealand là một trong các đại lục cuối cùng có người đến định cư. Theo phương pháp carbon phóng xạ, bằng chứng về phá rừng[23] và ADN ti thể biến thiên trong cư dân Maori[24] cho thấy nhóm người đầu tiên định cư tại New Zealand là người Đông Polynesia trong khoảng 1250-1300,[18][25] kết thúc một loạt hành trình kéo dài qua các đảo tại Nam Thái Bình Dương.[26] Trong các thế kỷ sau, những người định cư này phát triển một nền văn hóa riêng biệt mà nay gọi là Maori. Cư dân được chia thành iwi (bộ tộc) và hapū (thị tộc), các bộ tộc và thị tộc đôi khi hợp tác, đôi khi lại cạnh tranh hoặc chiến đấu với nhau. Trong một thời điểm, một nhóm người Maori di cư đến quần đảo Chatham rồi phát triển một văn hóa Moriori riêng biệt tại đó.[27][28]

Người châu Âu đầu tiên được ghi nhận đã tiếp cận New Zealand là nhà thám hiểm người Hà Lan Abel Tasman cùng thủy thủ đoàn của ông vào năm 1642.[29] Trong một đối đầu thù địch, bốn thành viên trong thủy thủ đoàn bị hạ sát và có ít nhất một người Maori bị trúng đạn.[30] Người châu Âu không đến lại New Zealand cho đến năm 1769, khi nhà thám hiểm người Anh Quốc James Cook lập bản đồ hầu như toàn bộ đường bờ biển.[29] Sau James Cook, một số tàu săn cá voi, săn hải cẩu, và giao dịch của người châu Âu và Bắc Mỹ đến New Zealand. Họ giao dịch thực phẩm, công cụ bằng kim loại, vũ khí và các hàng hóa khác để đổi lấy gỗ, thực phẩm, đồ tạo tác và nước.[31] Việc du nhập khoai tây và súng hỏa mai đã cải biến nông nghiệp và chiến tranh của người Maori. Khoai tây giúp đảm bảo dư thừa lương thực, tạo điều kiện cho các chiến dịch quân sự kéo dài và liên tục hơn.[32] Kết quả là các cuộc chiến tranh bằng súng hỏa mai giữa các bộ tộc, với trên 600 trận chiến từ năm 1801 đến 1840, làm thiệt mạng 30.000-40.000 người Maori.[33] Kể từ đầu thế kỷ XIX, các nhà truyền giáo Cơ Đốc bắt đầu hoạt động tại New Zealand, cuối cùng cải biến tôn giáo của hầu hết cư dân Maori.[34] Trong thế kỷ XIX, cư dân Maori suy giảm đến khoảng 40% so với mức trước khi có tiếp xúc với người châu Âu; các dịch bệnh đến cùng với người châu Âu là yếu tố chủ yếu.[35]

Treatyofwaitangi
Văn bản của Hiệp định Waitangi.

Năm 1788, Arthur Phillip đảm nhiệm chức vụ Thống đốc New South Wales của Anh và yêu sách New Zealand là bộ phận của New South Wales. Năm 1832, Chính phủ Anh Quốc bổ nhiệm James Busby là Công sứ Anh Quốc đầu tiên tại New Zealand[36] và đến năm 1835, sau một tuyên bố của Charles de Thierry về dự kiến người Pháp định cư, Liên hiệp các bộ tộc New Zealand gửi một Tuyên ngôn độc lập đến Quốc vương William IV của Anh Quốc để yêu cầu bảo hộ.[36] Náo động không ngừng và tình trạng pháp lý mơ hồ của Tuyên ngôn độc lập thúc đẩy Bộ Thuộc địa Anh Quốc phái William Hobson đi tuyên bố chủ quyền của Anh Quốc và đàm phán một hiệp định với người Maori.[37] Hiệp định Waitangi được ký kết lần đầu tiên tại Bay of Islands vào ngày 6 tháng 2 năm 1840.[38] Nhằm phản ứng trước cuộc đua thương mại khi Công ty New Zealand nỗ lực thiết lập một khu định cư độc lập tại Wellington[39] và những người Pháp định cư "mua" lãnh thổ tại Akaroa,[40] Hobson tuyên bố chủ quyền của Anh Quốc đối với toàn bộ New Zealand vào ngày 21 tháng 5 năm 1840.[41] Với việc ký kết Hiệp định Waitangi và tuyên bố chủ quyền, số người nhập cư bắt đầu gia tăng, đặc biệt là từ Anh Quốc.[42]

New Zealand nguyên là bộ phận của thuộc địa New South Wales, song trở thành một thuộc địa riêng vào ngày 1 tháng 7 năm 1841.[43] Thuộc địa có chính phủ đại diện vào năm 1852 và Nghị viện New Zealand khóa 1 họp vào năm 1854.[44] Năm 1856, thuộc địa được tự quản một cách hữu hiệu, được chịu trách nhiệm đối với toàn bộ các vấn đề nội bộ trừ chính sách thổ dân. (Quyền kiểm soát chính sách thổ dân được cấp vào giữa thập niên 1860.)[44] Sau những lo ngại rằng đảo Nam có thể tạo thành một thuộc địa riêng biệt, Thủ tướng Alfred Domett đề nghị một giải pháp là dời đô từ Auckland đến một địa phương nằm gần eo biển Cook.[45] Wellington được lựa chọn do nơi này có cảng và vị trí trung tâm, nghị viện chính thức họp lần đầu tại đây vào năm 1865. Do số lượng người nhập cư gia tăng, xung đột về lãnh địa dẫn đến các cuộc chiến tranh New Zealand trong thập niên 1860 và 1870, kết quả là người Maori bị tổn thất và sung công nhiều vùng đất.[46] Năm 1893, New Zealand trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới trao quyền bầu cử cho toàn bộ nữ giới[47]

Năm 1907, theo thỉnh cầu của Nghị viện New Zealand, Quốc vương Edward VII tuyên bố New Zealand là một quốc gia tự trị trong Đế quốc Anh, phản ánh tình trạng tự quản tại đây.[48][49] Năm 1947, New Zealand phê chuẩn Đạo luật Westminster, xác nhận rằng Quốc hội Anh Quốc không còn có thể ban hành luật cho New Zealand nếu không được New Zealand tán thành.[44] New Zealand tham dự các vấn đề quốc tế, chiến đấu cho Đế quốc Anh trong Thế Chiến thứ nhấtthứ hai[50] và chịu tổn thất trong Đại khủng hoảng.[51] Sự đình trệ khiến cử tri bầu ra một chính phủ Lao động đầu tiên, và thiết lập một quốc gia phúc lợi toàn diện và một nền kinh tế bảo hộ.[52] New Zealand trải qua phát triển thịnh vượng sau Chiến tranh thế giới thứ hai[53] và người Maori bắt đầu rời bỏ sinh hoạt nông thôn truyền thống của họ để chuyển đến các thành thị nhằm tìm công việc.[54] Hình thành một phong trào phản kháng của người Maori, trong đó chỉ trích chủ nghĩa châu Âu trung tâm và hoạt động nhằm giành công nhận lớn hơn cho văn hóa Maori và Hiệp định Waitangi.[55] Năm 1975, một Tòa án Waitangi được thiết lập nhằm điều tra những cáo buộc về việc vi phạm Hiệp định, và tòa án này được cho phép điều tra các bất bình trong lịch sử.[38]

Chính trị

Chính phủ

Elizabeth II, Nữ vương New Zealand từ năm 1952
Thủ tướng Jacinda Ardern

New Zealand là một quốc gia quân chủ lập hiến dân chủ đại nghị,[56] song hiến pháp đảo quốc là bất thành văn.[57] Elizabeth II là Nữ vương của New Zealand và là nguyên thủ quốc gia.[58] Đại diện cho Nữ vương là Toàn quyền, bà bổ nhiệm toàn quyền theo khuyến nghị của thủ tướng.[59][60] Toàn quyền có thể thi hành các quyền lực đặc quyền của quân chủ, như tái xét các vụ tố tụng bất công và tiến hành bộ nhiệm các bộ trưởng, đại sứ và các công chức quan trọng khác,[61] và trong những tình huống hiếm hoi là quyền dự bị (như quyền giải tán Nghị viện hay từ chối ngự chuẩn một đạo luật thành luật).[62] Quyền lực của Nữ vương và Toàn quyền bị hạn chế theo những ràng buộc hiến pháp và họ không thể thi hành một cách thông thường khi không có khuyến nghị của Nội các.[62][63]

Nghị viện New Zealand nắm quyền lập pháp và gồm Nữ vương và Chúng nghị viện.[63] Nghị viện từng có một thượng viện mang tên là Hội đồng Lập pháp, song cơ cấu này bị bãi bỏ vào năm 1950.[63] Quyền lực tối cao của Nghị viện đối với Vương quốc và các cơ quan chính phủ khác được thiết lập tại Anh theo Đạo luật Quyền lợi 1689 và được phê chuẩn thành luật tại New Zealand.[63] Chúng nghị viện được tuyển cử theo hình thức dân chủ và một chính phủ được tạo thành từ đảng hoặc liên minh chiếm đa số ghế.[63] Nếu không thể thành lập chính phủ đa số, một chính phủ thiểu số có thể được lập nên nếu nhận được đủ số phiếu ủng hộ. Toàn quyền bổ nhiệm các bộ trưởng theo khuyến nghị của thủ tướng, thủ tướng theo tục lệ là thủ lĩnh nghị viện của đảng hoặc liên minh nắm quyền.[64] Nội các gồm các bộ trưởng và do thủ tướng lãnh đạo, đây là cơ quan quyết định chính sách cao nhất trong chính phủ và chịu trách nhiệm quyết định các hành động quan trọng của chính phủ.[65] Theo quy ước, các thành viên trong nội các bị ràng buộc với trách nhiệm tập thể đối với các quyết định của nội các.[66]

Seddon Statue in Parliament Grounds
Tòa nhà "Tổ ong" của Chính phủ New Zealand và Tòa nhà Nghị viện (phải) tại Wellington

Các thẩm phán và quan chức tư pháp được bổ nhiệm một cách phi chính trị và theo các quy định nghiêm ngặt về nhiệm kỳ nhằm giúp duy trì độc lập hiến pháp với chính phủ.[57] Về mặt lý thuyết, điều này cho phép bộ máy tư pháp giải thích luật chỉ dựa theo pháp luật do Nghị viện ban hành mà không có các ảnh hưởng khác đối với quyết định của họ.[67] Xu mật viện tại Luân Đôn là tòa thượng tố tối cao của quốc gia cho đến năm 2004, kể từ đó nó bị thay thế bằng Tòa Tối cao New Zealand được lập mới. Bộ máy tư pháp do Chánh án đứng đầu,[68] gồm tòa án thượng tố, tòa cao đẳng, và các tòa cấp dưới.[57]

Hầu như toàn bộ các tổng tuyển cử nghị viện tại New Zealand từ năm 1853 đến 1993 được tổ chức theo hệ thống đa số chế.[69] Các cuộc bầu cử từ năm 1930 bị chi phối bởi hai chính đảng là Quốc gia và Công đảng.[69] Kể từ tổng tuyển cử năm 1996, một hình thức đại diện tỷ lệ gọi là tỷ lệ thành viên hỗn hợp (MMP) được sử dụng.[57] Theo hệ thống MMP, mỗi cử tri bỏ hai phiếu; một phiếu cho ghế tại khu tuyển cử (gồm một số khu dành cho người Maori),[70] và phiếu còn lại bầu cho một đảng. Kể từ tổng tuyển cử năm 2014, có 71 khu vực bầu cử (gồm 8 khu vực bầu cử cho người Maori), và 49 ghế còn lại còn lại được phân dựa theo tỷ lệ phiếu của các đảng, song một đảng giành được một ghế khu tuyển cử hoặc 5% tổng số phiếu cho đảng mới có tư cách có những ghế này.[71] Từ tháng 3 năm 2005 đến tháng 8 năm 2006, New Zealand trở thành quốc gia duy nhất trên thế giới có nữ giới nắm giữ toàn bộ các chức vụ cao nhất (nguyên thủ quốc gia, toàn quyền, thủ tướng, chủ tịch nghị viện, và chánh án).[72]

Quan hệ đối ngoại và quân sự

ANZAC Day service at the National War Memorial - Flickr - NZ Defence Force (20)
Kỷ niệm ngày ANZAC tại Đài tưởng niệm quốc gia

Thời kỳ đầu thuộc địa, New Zealand cho phép Chính phủ Anh Quốc quyết định về ngoại thương và chịu trách nhiệm về chính sách đối ngoại.[73] Các hội nghị đế quốc năm 1923 và 1926 quyết định rằng New Zealand nên được phép đàm phán các hiệp ước chính trị của mình, và hiệp định thương mại đầu tiên được phê chuẩn vào năm 1928 với Nhật Bản. Ngày 3 tháng 9 năm 1939, New Zealand liên minh với Anh Quốc và tuyên chiến với Đức, Thủ tướng Michael Savage tuyên bố rằng: "Nơi nào họ đi, chúng ta đi; Nơi nào họ dừng chân, chúng ta dừng chân."[74]

Năm 1951, Anh Quốc bắt đầu gia tăng tập trung vào các lợi ích của họ tại châu Âu,[75] trong khi New Zealand cùng với Úc và Hoa Kỳ tham gia hiệp định an ninh ANZUS.[76] Ảnh hưởng của Hoa Kỳ đối với New Zealand bị suy yếu sau các kháng nghị về Chiến tranh Việt Nam,[77] việc Hoa Kỳ từ chối cảnh cáo Pháp sau vụ chìm tàu Rainbow Warrior,[78] và bất đồng về các vấn đề môi trường và giao dịch nông nghiệp cùng chính sách phi hạt nhân của New Zealand.[79][80] Mặc dù Hoa Kỳ đình chỉ các bổn phận ANZUS song hiệp định vẫn có hiệu lực giữa New Zealand và Úc- là quốc gia có xu hướng chính sách đối ngoại tương đồng trong lịch sử.[81] Hai quốc gia có tiếp xúc chính trị mật thiết, với các hiệp định mậu dịch tự do và hiệp định vãng lai tự do, theo đó cho phép các công dân đến, sinh sống, và làm việc tại hai quốc gia mà không bị hạn chế.[82] Năm 2013, có khoảng 650.000 công dân New Zealand sống tại Úc, tức tương đương khoảng 15% dân số của New Zealand.[83]

New Zealand hiện diện mạnh mẽ tại các đảo quốc Thái Bình Dương. Một phần lớn viện trợ của New Zealand đến với các quốc gia này và nhiều người các đảo quốc Thái Bình Dương nhập cư đến New Zealand để tìm công việc.[84] Di cư thường trú được quy định theo Kế hoạch hạn ngạch Samoa 1970 và Hạng mục Tiếp nhận Thái Bình Dương 2002, theo đó cho phép 1.100 công dân Samoa và 750 công dân các đảo quốc Thái Bình Dương khác trở thành thường trú nhân tại New Zealand mỗi năm. Một kế hoạch lao động thời vụ dành cho di cư tạm thời được thi hành vào năm 2007, và trong năm 2009 có khoảng 8.000 công dân các đảo quốc Thái Bình Dương được thuê theo kế hoạch này.[85] New Zealand tham gia Diễn đàn Quần đảo Thái Bình Dương, APEC và Diễn đàn khu vực ASEAN (gồm cả Hội nghị cấp cao Đông Á).[82] New Zealand cũng là một thành viên của Liên Hiệp Quốc,[86] Thịnh vượng chung các Quốc gia,[87] OECD[88]

Lực lượng Phòng vệ New Zealand có ba nhánh: Hải quân Hoàng gia New Zealand, Lục quân New Zealand và Không quân Hoàng gia New Zealand.[89] Nhu cầu quốc phòng của New Zealand ở mức khiêm tốn do ít có khả năng chịu tấn công trực tiếp,[90]. New Zealand tham gia chiến đấu trong hai Thế Chiến, với các chiến dịch nổi bật là Gallipoli, Crete,[91] El Alamein[92] và Cassino.[93] Chiến dịch Gallipoli đóng một phần quan trọng trong việc bồi dưỡng bản sắc quốc gia của New Zealand[94][95] và củng cố truyền thống ANZAC với Úc.[96]

Ngoài Chiến tranh Việt Nam và hai Thế Chiến, New Zealand còn tham gia chiến đấu trong Chiến tranh Triều Tiên, Chiến tranh Boer thứ hai,[97] Tình trạng khẩn cấp Malaya,[98] Chiến tranh Vùng VịnhChiến tranh Afghanistan. Đảo quốc đóng góp quân cho một số sứ mệnh duy trì hòa bình khu vực và toàn cầu, như tại Síp, Somalia, Bosnia và Herzegovina, Sinai, Angola, Campuchia, biên giới Iran–Iraq, Bougainville, Đông Timor, và Quần đảo Solomon.[99]

Chính phủ địa phương và lãnh thổ ngoại vi

Những người châu Âu định cư ban đầu phân chia New Zealand thành các tỉnh với mức độ tự trị nhất định.[100] Do áp lực tài chính và mong muốn hợp nhất đường sắt, giáo dục, bán đất và các chính sách khác, chính phủ thi hành tập trung hóa và các tỉnh bị bãi bỏ vào năm 1876.[101] Các tỉnh được ghi nhớ trong các ngày lễ công cộng cấp khu vực[102] và thi đấu thể thao.[103]

Kể từ năm 1876, các hội đồng khác nhau quản lý các khu vực địa phương theo luật định của chính phủ trung ương.[100][104] Năm 1989, chính phủ tái tổ chức chính quyền địa phương thành cấu trúc hai tầng hiện tại với các hội đồng khu vực và cơ quan lãnh thổ.[105] 249 khu tự quản[105] tồn tại vào năm 1975 nay được hợp nhất thành 67 cơ quan lãnh thổ và 11 hội đồng khu vực.[106] Vai trò của các hội đồng khu vực là nhằm chỉnh đốn "môi trường tự nhiên với tầm quan trọng đặc biệt là quản lý tài nguyên",[105] trong khi các cơ quan lãnh thổ chịu trách nhiệm về xử lý nước thải, cung cấp nước, đường sắt địa phương, cấp phép xây dựng và các sự vụ địa phương khác.[107] Năm trong số các hội đồng lãnh thổ là cơ quan nhất thể và cũng đóng vai trò hội đồng khu vực.[108] Các cơ quan lãnh thổ gồm 13 hội đồng thành phố, 53 hội đồng huyện, và hội đồng Quần đảo Chatham. Về mặt chính thức, hội đồng Quần đảo Chatham không phải là một cơ quan nhất thể, song nó thực hiện nhiều chức năng của một hội đồng khu vực.[109]

New Zealand là một trong 16 vương quốc trong Thịnh vượng chung.[110][111] Vương quốc New Zealand là lãnh thổ bao gồm các khu vực mà Nữ vương New Zealand có chủ quyền và gồm có New Zealand, Tokelau, Lãnh thổ phụ thuộc Ross, Quần đảo CookNiue.[111] Quần đảo Cook và Niue là những quốc gia tự quản có liên kết tự do với New Zealand.[112][113] Nghị viện New Zealand không thể thông qua pháp luật cho các quốc gia này, mà chỉ có thể hành động nhân danh họ trong các vấn đề đối ngoại và quốc phòng với sự tán thành của họ. Tokelau là một lãnh thổ phi tự quản, sử dụng quốc kỳ và quốc huy của New Zealand, song được quản lý bởi một hội đồng gồm ba nguyên lão (đến từ mỗi rạn san hô vòng).[114][115] Lãnh thổ phụ thuộc Ross là lãnh thổ mà New Zealand tuyên bố yêu sách tại châu Nam Cực, New Zealand vận hành trạm nghiên cứu Căn cứ Scott tại đây.[116] Luật Công dân New Zealand đối đãi bình đẳng với toàn bộ vương quốc, do đó hầu hết người sinh tại New Zealand, Quần đảo Cook, Niue, Tokelau và Lãnh thổ phụ thuộc Ross trước năm 2006 là các công dân New Zealand. Có thêm các điều kiện áp dụng cho những người sinh từ năm 2006 trở đi.[117]

Nhân khẩu

New Zealand population over time - small
Dân số lịch sử của New Zealand (đen) và các dự kiến tăng trưởng (đỏ).
Circle frame.svg

Tôn giáo tại New Zealand (2013)[118]

  Công giáo Roma (12.61%)
  Anh giáo (11.79%)
  Trưởng Nhiệm (8.47%)
  Các hệ phái Kitô khác (15.14%)
  Hindu (2.11%)
  Phật giáo (1.50%)
  Hồi giáo (1.18%)
  Tôn giáo khác (1.53%)
  Không xác định (4.44%)
  Không tôn giáo (41.92%)

Tính đến tháng 6 năm 2016, dân số New Zealand ước tính đạt 4,69 triệu và gia tăng với tốc độ 2,1% mỗi năm.[119] New Zealand là một quốc gia chủ yếu mang tính đô thị, với 72% cư dân sống tại 16 khu vực đô thị chính và 53% cư dân sống tại bốn thành phố lớn nhất: Auckland, Christchurch, Wellington, và Hamilton.[120] Các thành phố của New Zealand thường được xếp hạng cao trong các đánh giá đáng sống quốc tế. Tuổi thọ dự tính của người New Zealand vào năm 2012 là 84 năm đối với nữ giới, và 80,2 năm đối với nam giới.[121] Tuổi thọ dự tính khi sinh được dự báo tăng từ 80 năm đến 85 năm vào 2050 và tỷ suất tử vong trẻ sơ sinh được dự kiến giảm.[122] Tỷ suất sinh của New Zealand là 2,1, tương đối cao so với một quốc gia phát triển, và sinh sản tự nhiên đóng góp một phần đáng kể vào tăng trưởng dân số. Do đó, New Zealand có cơ cấu dân số trẻ so với hầu hết các quốc gia công nghiệp hóa, với 20% cư dân New Zealand 14 tuổi hoặc trẻ hơn.[123] Đến năm 2050, dân số được dự báo tăng đến 5,3 triệu, tuổi trung bình tăng từ 36 lên 43 và tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên tăng từ 18% lên 29%.[122]

Picturesque New Zealand - Maori Wahine
Một nữ giới người Maori mặc áo lông chim kiwi, năm 1913

Trong điều tra nhân khẩu năm 2013, 74,0% cư dân New Zealand được xác định là dân tộc Âu, và 14,9% là người Maori. Các dân tộc chính khác gồm người châu Á (11,8%) và người Thái Bình Dương (7,4%).[124][n 2] Cư dân trở nên đa dạng hơn trong các thập niên gần đây: Điều tra nhân khẩu năm 1961 cho thấy rằng dân cư New Zealand gồm 92% là người châu Âu và 7% là người Maori, còn các dân tộc thiểu số châu Á và Thái Bình Dương chia sẻ 1% còn lại.[125]

Công dân New Zealand thường được gọi không chính thức là "Kiwi" trong cả tầm quốc tế[126] và địa phương.[127] Từ mượn Pākehā từ tiếng Maori được sử dụng để chỉ những người New Zealand có huyết thống châu Âu, song những người khác bác bỏ tên gọi này.[128][129] Ngày nay, từ Pākehā ngày càng được sử dụng nhiều để chỉ toàn bộ người New Zealand không có huyết thống Polynesia.[130]

Người Maori là dân tộc đầu tiên đến New Zealand, tiếp theo họ là những người châu Âu định cư ban đầu. Sau khi thuộc địa hóa, những người nhập cư chủ yếu đến từ Anh Quốc, Ireland và Úc do các chính sách hạn chế tương tự như chính sách Úc da trắng.[131] Cũng có một lượng đáng kể người Hà Lan, Dalmatia,[132] ÝĐức, cùng với những người châu Âu nhập cư gián tiếp từ Úc, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, và Nam Phi.[133] Sau Đại khủng hoảng, các chính sách được nới lỏng và người nhập cư tăng tính đa dạng. Năm 2009–10, Cơ quan nhập cư New Zealand phê chuẩn mục tiêu chấp thuận hàng năm 45.000–50.000 thường trú nhân, tức mỗi năm có một người nhập cư mới trên 100 người New Zealand.[134] Trên 25% cư dân New Zealand sinh tại hải ngoại, với đa số (52%) sống tại khu vực Auckland. Vào cuối thập niên 2000, châu Á vượt qua Anh Quốc và Ireland trong tiêu chí nguồn nhập cư hải ngoại lớn nhất; theo điều tra nhân khẩu năm 2013, 31,6% cư dân New Zealand sinh tại hải ngoại là được sinh tại châu Á (chủ yếu là tại Trung Quốc, Ấn Độ, PhilippinesHàn Quốc), trong khi 26,5% được sinh tại Anh Quốc và Ireland. Úc, các đảo Thái Bình Dương, và Nam Phi cũng là những nguồn nhập cư đáng kể.[135]

Tiếng Anh là ngôn ngữ chiếm ưu thế tại New Zealand, được 96,1% cư dân nói.[136] Tiếng Anh New Zealand tương đồng với tiếng Anh Úc và nhiều người Anh ngữ đến từ Bắc Bán cầu gặp khó khăn với trọng âm.[137] Khác biệt nổi bật nhất giữa tiếng Anh New Zealand và các phương ngôn tiếng Anh khác là các biến đổi trong tiền nguyên âm ngắn: âm "i"- ngắn (như trong "kit") tập trung hướng về âm schwa ("a" trong "comma" và "about"); âm "e" ngắn (như trong "dress") biến đổi hướng đến âm "i"- ngắn; và âm "a"- ngắn (như trong "trap") biến đổi thành âm "e"- ngắn.[138] Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, người Maori gặp trở ngại trong việc nói ngôn ngữ của họ trong các trường học và công sở, và ngôn ngữ này chỉ còn là một ngôn ngữ cộng đồng tại vài khu vực hẻo lánh.[139] Tiến Maori gần đây trải qua một quá trình phục hồi,[140][141] và được tuyên bố là một ngôn ngữ chính thức của New Zealand vào năm 1987,[142] và được khoảng 3,7% cư dân nói vào năm 2013.[136] Cũng theo số liệu điều tra nhân khẩu vào năm 2013,[136] tiếng Samoa là ngôn ngữ phi chính thức được nói nhiều nhất (2,2%), tiếp đến là tiếng Hindi (1,7%), "Bắc Trung Quốc" (bao gồm Quan thoại, 1,3%) và tiếng Pháp (1,2%). 20.235 người (0,5%) cho biết họ có khả năng sử dụng ngôn ngữ ký hiệu New Zealand, nó được công nhận là một trong các ngôn ngữ chính thức của quốc gia vào năm 2006..[143]

Cơ Đốc giáo là tôn giáo chiếm ưu thế tại New Zealand, song xã hội đảo quốc này thuộc hàng thế tục nhất trên thế giới.[144][145] Theo điều tra nhân khẩu năm 2013, 55,0% cư dân xác định tin theo một hoặc nhiều tôn giáo, trong đó có 49,0% tự xác định là tín đồ Cơ Đốc giáo. 41,9% cho biết họ không theo tôn giáo nào (người dân có thể chọn nhiều tôn giáo hoặc không trả lời)[146] Các giáo phái Cơ Đốc chính theo số lượng tín đồ là Công giáo La Mã (12,6%), Anh giáo (11,8%), Trưởng Lão (8,5%) và "tín đồ Cơ Đốc không được phân loại tiếp" (5,5%).[146] Các tôn giáo Ringatū và Rātana (1,4%) có cơ sở trong cộng đồng Maori song có nguồn gốc Cơ Đốc.[147][148] Thay đổi về nhập cư và nhân khẩu trong các thập niên gần đây góp phần vào phát triển của các tôn giáo thiểu số,[149] như Ấn Độ giáo (2,1%), Phật giáo (1,5%), Hồi giáo (1,2%) và Sikh giáo (0,5%).[147] Vùng Auckland thể hiện tính đa dạng tôn giáo lớn nhất trong nước.[147] [150]

Giáo dục

Giáo dục tiểu học và trung học là bắt buộc đối với thiếu niên từ 6 đến 16 tuổi, và đa số nhập học từ 5 tuổi.[152] Có 13 năm học phổ thông và theo học tại trường công được miễn phí đối với các công dân và thường trú nhân New Zealand từ sinh nhật thứ 5 đến khi kết thúc năm sau sinh nhật thứ 19.[153] New Zealand có tỷ lệ người lớn biết chữ đạt 99%,[123] và trên một nửa dân số từ 15 đến 29 tuổi có một trình độ đại học-cao đẳng.[152] Có năm loại học viện bậc đại học-cao đẳng thuộc sở hữu chính phủ: đại học, đại học giáo dục, trường bách nghệ, đại học chuyên nghiệp, và wānanga,[154] cùng với hệ thống giáo dục tư.[155] Trong dân số thành niên, có 14,2% có bằng cử nhân hoặc cao hơn, 30,4% có trình độ cao nhất là một dạng bằng cấp trung học, và 22,4% không có bằng cấp chính thức.[156] Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) của OECD vào năm 2010 xếp hạng hệ thống giáo dục của New Zealand tốt thứ 7 trên thế giới, trong đó học sinh thể hiện đặc biệt tốt năng lực đọc, toán học, và khoa học.[157]

Môi trường

Địa lý

Satellite image of New Zealand in December 2002
Ảnh vệ tinh New Zealand.

New Zealand tọa lạc lân cận trung tâm của thủy bán cầu, gồm hai đảo chính và một số đảo nhỏ hơn. Hai đảo chính là đảo Bắcđảo Nam tách biệt nhau qua eo biển Cook rộng 22 km tại điểm hẹp nhất.[158] Trong số các đảo nhỏ, năm đảo lớn nhất có cư dân là đảo Stewart, Chatham, Great Barrier, d'Urville và Waiheke. Các đảo của New Zealand nằm giữa các vĩ độ 29° và 53°Nam, và các kinh độ 165° và 176°Đông.

New Zealand nằm dọc theo trục bắc-đông bắc dài trên 1600 km, với chiều rộng tối đa là 400 km,[159] với đường bờ biển dài khoảng 15.000 km (9.300 mi)[123] và tổng diện tích đất là 268.000 km²[160] Do có các đảo nằm ở khu vực xa xôi và đường bờ biển dài, New Zealand có tài nguyên hải dương phong phú. Vùng đặc quyền kinh tế của đảo quốc đứng hàng đầu thế giới về diện tích, gấp hơn 15 lần diện tích đất.[161]

Đảo Nam là đại lục lớn nhất của New Zealand và là đảo lớn thứ 12 trên thế giới. Dãy núi Nam Alps chạy dọc chiều dài của đảo.[162] Có 18 đỉnh cao trên 3.000 m, cao nhất trong số này là Aoraki / núi Cook với độ cao 3.754 m.[163] Các núi dốc và vịnh hẹp sâu tại Fiordland là dấu tích của thời kỳ bằng hà kéo dài tại góc tây nam của đảo.[164] Đảo Bắc có diện tích lớn thứ 14 thế giới và có ít núi hơn song có dấu ấn là hiện tượng núi lửa.[165] Vùng núi lửa Taupo hoạt động cao độ đã hình thành một cao nguyên núi lửa lớn, với dấu ấn là đỉnh cao nhất đảo Bắc mang tên núi Ruapehu (2.797 m). Cao nguyên cũng có hồ lớn nhất toàn quốc là hồ Taupo,[166] trên miệng núi lửa của một trong các siêu núi lửa hoạt động nhất trên thế giới.[167]

New Zealand có địa hình đa dạng, nằm trên ranh giới giữa mảng Thái Bình Dươngmảng Ấn-Úc.[168] New Zealand là một bộ phận của Zealandia, một vi lục địa có kích thướng gần bằng một nửa Úc, và dần bị chìm sau khi tách khỏi siêu lục địa Gondwana.[169] Khoảng 25 triệu năm trước, một sự trượt nghiêng của các chuyển động kiến tạo mảng bắt đầu vặn xoắn và bóp khu vực. Sự kiện này này hiện có bằng chứng rõ rệt nhất trên dãy Nam Alps, được hình thành từ ép nén vỏ trái đất bên cạnh đứt gãy Alpine. Ở nơi khác, ranh giới mảng liên quan đến hút chìm của một mảng dưới mảng khác, tạo ra rãnh Puysegur về phía nam, rãnh Hikurangi về phía đông của đảo Bắc, và các rãnh Kermadec và Tonga[170] xe về phía bắc.[168]

New Zealand là bộ phận của Australasia, và cũng tạo thành cực tây nam của Polynesia.[171] Thuật ngữ châu Đại Dương thường được sử dụng để chỉ khu vực bao gồm lục địa Úc, New Zealand và các đảo trên Thái Bình Dương, song không nằm trong mô hình bảy lục địa.[172]

Khí hậu

New Zealand có khí hậu hải dương ôn hòa và ôn đới (Köppen: Cfb), với nhiệt độ trung bình năm dao động từ 10 °C ở phía nam đến 16 °C ở phía bắc.[173] Nhiệt độ cao nhất trong lịch sử là 42,4 °C tại Rangiora, Canterbury và thấp nhất trong lịch sử là -25,6 °C tại Ranfurly, Otago.[174] Điều kiện khác biệt rõ rệt, từ mưa rất nhiều tại West Coast của đảo Nam đến gần như bán khô hạn tại Trung Otago và bồn địa Mackenzie của nội lục Canterbury và bán nhiệt đới tại Northland.[175] Trong số bảy thành thị lớn nhất, Christchurch là nơi khô hạn nhất, trung bình chỉ nhận được 640 mm mưa mỗi năm, còn Auckland là nơi mưa nhiều nhất với lượng mưa gần gấp đôi.[176] Auckland, Wellington và Christchurch mỗi năm đều nhận được trung bình trên 2.000 giờ nắng. Các bộ phận miền nam và tây nam của đảo Nam có khí hậu mát hơn và nhiều mây hơn, với khoảng 1.400-1.600 giờ nắng; các bộ phận miền bắc và đông bắc của đảo Nam là khu vực có nắng nhiều nhất nước với 2.400-2.500 giờ.[177] Mùa tuyết rơi nhìn chung là từ đàu tháng 6 đến đầu tháng 10, song các đợt rét đột ngột có thể xuất hiện ngoài mùa này.[178] Tuyết rơi là điều phổ biến tại phần miền đông và miền nam của đảo Nam và trên các vùng núi khắp đất nước.[179]

Đa dạng sinh học

Sự biệt lập về địa lý của New Zealand trong 80 triệu năm[180] và yếu tố địa sinh học của đảo đã góp phần hình thành các loài động vật, thực vật và nấm đặc trưng của quốc gia này. Chúng hoặc là đã tiến hóa từ sự sống trong thời kỳ Gondwana hoặc một số ít sinh vật đã đến các bờ biển theo bằng cách bay đến, trôi dạt hoặc được mang đi qua biển.[181] Có khoảng 82% thực vật có mạch bản địa của New Zealand là loài đặc hữu, với khoảng 1.944 loài, thuộc 65 chi và bao gồm một họ đặc hữu.[182][183] Theo một ước tính có khoảng 2300 loài nấm gốc địa y ở New Zealand[182] và 40% trong số đó là loài đặc hữu.[184] Hai loại rừng chính gồm rừng chủ yếu là các cây lá rộng nổi bật bởi podocarp, hoặc rừng có đặc trưng là sồi miền nam thuộc khí hậu lạnh hơn.[185] Các loại thực phủ còn lại bao gồm đồng cỏ, phần lớn là bụi.[186]

Trước khi con người đến định cư, ước tính rừng che phủ 80% mặt đất, riêng chỉ có vùng núi cao, ẩm ướt, khu vực cằn cỗi và núi lửa là không có cây.[187] Chặt phá rừng diễn ra mạnh mẽ sau khi con người đến định cư, với khoảng phân nửa lớp phủ thực vật bị mất đi do bị đốt sau khi người Polynesia định cư.[188] Hầu hết rừng còn lại mất đi sau khi người châu Âu đến định cư, chúng bị chặt để làm nơi chăn nuôi gia súc, làm cho độ che phủ rừng chỉ còn 23%.[189]

TeTuatahianui
Kiwi, loài chim không bay được đặc hữu và là biểu tượng của New Zealand.

Trong các khu rừng lúc đó chủ yếu là chim, và thiếu các loài thú săn mồi khiến cho một số loài như kiwi, kakapo và takahē tiến hóa thành không thể bay được.[190] Khi con người đến, các thay đổi liên quan đến môi trường sống, và viẹc du nhập các loài chuột, chồn và các loài động vật có vú khác khiến cho nhiều loài chim bị tuyệt chủng, như moađại bàng Haast.[191][192]

Các loài động vật bản địa khác có mặt ở đây như bò sát (tuatara, thằn lằn bóng và tắc kè),[193] ếch, nhện (katipo), côn trùng (weta) và ốc sên.[194][195] Một số loài như wren và tuatara chỉ có mặt ở đây vì thế chúng được gọi là hóa thạch sống. Ba loài dơi (một đã tuyệt chủng) từng là dấu tích duy nhất về các loài thú trên cạn bản địa của New Zealand cho đến năm 2006 khi phát hiện bộ xương của một loài thú cạn độc nhất có kích thước như chuột với niên đại ít nhất 16 triệu năm.[196][197] Tuy vậy, các loài thú biển cũng khá phong phú, chiếm gần phân nủa các loài cá voi trên thế giới (cá voi, cá heo, và porpoise) và một lượng lớn các loài hải cẩu được ghi nhận trong các vùng biển của New Zealand.[198] Nhiều loài chim biển sinh sản ở New Zealand, 1/3 trong chúng là đặc trưng của quốc gia này.[199] Chim cánh cụt được tìm thấy ở New Zealand nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác.[200]

Kể từ khi con người đến định cư, gần phân nửa các loài động vật có xương sống đã tuyệt chủng, bao gồm ít nhất 51 loài chim, 3 loài ếch, 3 loài kỳ đà, 1 loài cá nước ngọt, và một loài dơi. Các loài khác đang bị đe dọa tuyệt chủng hoặc diện tích phân bố giảm mạnh.[191] Tuy nhiên, các nhà bảo tồn New Zealand đã đi tiên phong khi áp dụng nhiều biện pháp để giúp các loài bị đe dọa tuyệt chủng này hồi phục, bao gồm các khu bảo tồn trên đảo, khống chế loài gây hại, chuyển khu vực sinh sống hoang dã, nuôi dưỡng, và phục hồi hệ sinh thái trên đảo và các khu vực được chọn bảo tồn khác.[201][202][203][204] Theo chỉ số hoạt động môi trường năm 2012, New Zealand được xem là có những động thái mạnh mẽ trong việc bảo vệ môi trường, xếp hạng thứ 14 trên tổng số 132 quốc gia được đánh giá.[205]

Kinh tế

New Zealand có một kinh tế thị trường phát triển hiện đại và thịnh vượng. Đơn vị tiền tệ là dollar New Zealand, được gọi phi chính thức là "dollar Kiwi"; nó cũng được lưu thông tại quần đảo Cook, Niue, Tokelau, và quần đảo Pitcairn.[206] New Zealand xếp hạng 6 theo Chỉ số phát triển con người 2013,[207] xếp thứ tư theo Chỉ số tự do kinh tế 2012 của Quỹ Di sản,[208] và xếp thứ 13 theo Chỉ số sáng tạo toàn cầu 2012 của INSEAD.[209]

MilfordSound
Milford Sound, một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng nhất của New Zealand.[210]

Trong lịch sử, các ngành công nghiệp khai thác tài nguyên đóng góp quan trọng cho kinh tế New Zealand, tùy từng thời điểm khác nhau mà tập trung vào đánh bắt hải cẩu, đánh bắt cá voi, lanh, vàng, gôm kauri, và gỗ bản địa.[211] Cùng với sự phát triển của tàu đông lạnh trong thập niên 1880, các sản phẩm thịt và bơ sữa được xuất khẩu đến Anh Quốc, ngành này đặt cơ sở cho tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ tại New Zealand.[212] Nhu cầu cao về nông sản từ Anh Quốc và Hoa Kỳ giúp người New Zealand đạt được tiêu chuẩn sinh hoạt cao hơn cả Úc và Tây Âu trong các thập niên 1950 và 1960.[213] Năm 1973, thị trường xuất khẩu của New Zealand suy giảm khi Anh Quốc gia nhập Cộng đồng châu Âu[214] và các yếu tố phức hợp khác như khủng hoảng dầu mỏ 1973 và khủng hoảng năng lượng 1979 dẫn đến một cuộc suy thoái kinh tế nghiêm trọng.[215] Tiêu chuẩn sinh hoạt tại New Zealand xuống thấp hơn tại Úc và Tây Âu, và đến năm 1982 thì New Zealand có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất trong toàn bộ các quốc gia phát triển theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới.[216] Từ năm 1984, các chính phủ nối tiếp nhau tiến hành tái cấu trúc kinh tế vĩ mô với quy mô lớn, chuyển biến nhanh chóng New Zealand từ một kinh tế bảo hộ cao độ sang một kinh tế mậu dịch tự do.[217][218]

Tỷ lệ thất nghiệp đạt đỉnh là trên 10% vào năm 1991 và 1992,[219] sau Thứ Hai Đen 1987, song giảm xuống mức 3,4% vào năm 2007.[220] Tuy nhiên, Khủng hoảng tài chính 2007–08 có tác động nghiêm trọng đến New Zealand, GDP giảm trong 5 quý liên tiếp, sự giảm sút kéo dài nhất trong hơn 30 năm,[221][222] và tỷ lệ thất nghiệp tăng lên 7% vào cuối năm 2009.[223] New Zealand trải qua một loạt "chảy máu chất xám" từ thập niên 1970[224] và hiện tượng này vẫn tiếp diễn cho đến nay.[225] Gần một phần tư số người lao động có kỹ năng cao chuyển tới sống tại hải ngoại, hầu hết là tại Úc và Anh Quốc, đây là tỷ lệ cao nhất trong các quốc gia phát triển.[226] Tuy nhiên, trong những năm gần đây, "chảy máu chất xám" lại đưa đến New Zealand những người chuyên nghiệp có giáo dục từ châu Âu và các quốc gia kém phát triển hơn.[227][228]

New Zealand phụ thuộc cao độ vào mậu dịch quốc tế,[229] đặc biệt là nông sản.[230] Xuất khẩu chiếm đến 24% sản xuất,[123] khiến New Zealand dễ bị thiệt hại do giá hàng hóa quốc tế và suy thoái kinh tế toàn cầu. Ngành xuất khẩu chính của đảo quốc là nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, và khai mỏ, chúng chiếm khoảng một nửa kim ngạch xuất khẩu.[231] Các đối tác xuất khẩu chính của New Zealand là Úc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, và Anh Quốc.[123] Dịch vụ là lĩnh vực lớn nhất trong kinh tế New Zealand, tiếp theo là chế tạo và xây dựng, rồi đến trang trại và khai thác nguyên liệu thô.[123] Du lịch đóng một vai trò quan trọng trong kinh tế New Zealand, đóng góp 15,0 tỷ $ cho tổng GDP quốc gia và đóng góp 9,6% tổng lực lượng lao động trong năm 2010.[232]

Romney Ewe and Lamb
Lông cừu từng là một trong các hàng hóa xuất khẩu chính của New Zealand.

Lông cừu là nông sản xuất khẩu chính của New Zealand vào cuối thế kỷ XIX.[211] Thậm chí cho đến tận thập niên 1960, loại hàng hóa này vẫn chiếm hơn 1/3 thu nhập từ xuất khẩu,[211] song kể từ đó giá trị của nó giảm tương đối so với các hàng hóa khác[233] và lông cừu không còn sinh lợi đối với nhiều nông dân.[234] Ngược lại, chăn nuôi bò sữa gia tăng, với số lượng bò sữa tăng gấp đôi từ năm 1990 đến năm 2007,[235] trở thành nguồn xuất khẩu lớn nhất của New Zealand.[236] Từ đầu năm đến tháng 6 năm 2009, các sản phẩm bơ sữa chiếm 21% (9,1 tỷ $) tổng kim ngạch xuất khẩu,[237] và công ty lớn nhất toàn quốc là Fonterra kiểm soát gần 1/3 giao dịch bơ sữa quốc tế.[238] Các nông sản xuất khẩu chính khác trong năm 2009 là thịt, lông cừu, quả và cá. Ngành công nghiệp rượu vang của New Zealand đi theo xu hướng tương tự như bơ sữa, số ruộng nho tăng gấp đôi trong cùng thời kỳ,[239] lần đầu tiên vượt qua xuất khẩu lông cừu vào năm 2007.[240][241]

Năm 2015, năng lượng tái tạo chiếm 40,1% tổng cung cấp năng lượng của New Zealand, chủ yếu là địa nhiệt và thuỷ điện.[242] Riêng năng lượng địa nhiệt đóng góp 22% cung cấp năng lượng của New Zealand vào năm này.[242]

Mạng lưới giao thông tại New Zealand gồm có 94.000 km đường bộ, với 199 km đường cao tốc theo số liệu năm 2017,[243] và 4.128 km đường sắt.[123] Các thành thị chính được liên kết bằng dịch vụ xe buýt, song ô tô cá nhân là phương thức giao thông chủ yếu.[244] Hệ thống đường sắt được tư hữu hóa vào năm 1993, song chính phủ tái quốc hữu hóa chúng theo giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2008. Doanh nghiệp quốc doanh KiwiRail hiện vận hành hệ thống đường sắt, ngoại trừ dịch vụ đường sắt đô thị Auckland do Transdev vận hành.[245] Hệ thống đường sắt chạy dọc chiều dài quốc gia, song hầu hết các tuyến nay chuyên chở hàng thay vì chở khách.[246] Hầu hết du khách quốc tế đến bằng đường hàng không[247] và New Zealand có sáu cảng hàng không quốc tế, song nay chỉ có các sân bay AucklandChristchurch có liên kết trực tiếp với các quốc gia ngoài Úc hay Fiji.[248]

Bưu điện New Zealand được độc quyền trong lĩnh vực viễn thông cho đến năm 1989, tức khi Telecom New Zealand được thành lập, công ty này ban đầu là doanh nghiệp quốc doanh song được tư hữu hóa vào năm 1990.[249] Telecom đổi tên thành Spark New Zealand vào năm 2014, Spark NZ vẫn sở hữu phần lớn hạ tầng viễn thông, song có gia tăng cạnh tranh từ các nhà cung cấp khác.[250] Liên minh Viễn thông Quốc tế xếp hạng New Zealand đứng thứ 18 trong phát triển hạ tầng thông tin và truyền thông vào năm 2016.[251]

Văn hóa

Người Maori ban đầu phỏng theo văn hóa Đông Polynesia nhiệt đới, phù hợp với các thách thức liên quan đến môi trường lớn hơn và đa dạng hơn, cuối cùng phát triển văn hóa đặc trưng của mình. Tổ chức xã hội phần lớn là cộng đồng cùng gia đình (whanau), thị tộc (hapu) và bộ tộc (iwi) do một tù trưởng (rangatira) cai trị và địa vị của nhân vật này do cộng đồng tán thành.[252] Những người nhập cư Anh Quốc và Ireland đem các khía cạnh trong văn hóa của họ đến New Zealand và cũng ảnh hưởng đến văn hóa Maori,[253][254] đặc biệt là du nhập Cơ Đốc giáo.[255] Tuy nhiên, người Maori vẫn nhìn nhận lòng trung thành với các nhóm bộ tộc là một bộ phận quan trọng trong bản sắc của mình, và vai trò của quan hệ họ hàng đối với người Maori cũng tương tự như các dân tộc Polynesia khác.[256] Gần đây, văn hóa Mỹ, Úc, châu Á và các văn hóa châu Âu khác cũng gây ảnh hưởng đến New Zealand. Văn hóa Polynesia phi Maori cũng hiện diện, lễ hội Polynesia lớn nhất thế giới là Pasifika nay là một sự kiện thường niên tại Auckland.[257]

Men at their camp site displaying a catch of rabbits and fish, 1909 (4836053716)
Người định cư châu Âu phát triển một bản sắc chịu ảnh hưởng từ lối sống quê mùa của họ.[258].

Sinh hoạt tại New Zealand chủ yếu mang tính nông thôn trong thời kỳ đầu, khiến người New Zealand bị hình dung là thô kệch, siêng năng.[258] Sự khiêm tốn được mong đợi và được thúc đẩy thông qua hội chứng ghen tị.[259] Từng có thời New Zealand không được nhìn nhận là một quốc gia tri thức.[260] Từ đầu thế kỷ XX cho đến cuối thập niên 1960, văn hóa Maori bị đàn áp do nỗ lực đồng hóa người Maori với người New Zealand gốc Anh Quốc.[139] Trong thập niên 1960, khi trình độ giáo dục được nâng lên và các thành thị được khoách trương[261] văn hóa đô thị bắt đầu chiếm ưu thế.[262] Thậm chí ngay cả khi đa số cư dân hiện sống trong các thành thị, phần lớn tác phẩm mỹ thuật, văn học, phim, hài kịch của New Zealand vẫn có chủ đề nông thôn.

Là một phần trong quá trình hồi sinh văn hóa Maori, các nghề thủ công truyền thống là khắc và dệt nay được tiến hành phổ biến hơn và các nghệ sĩ người Maori gia tăng về số lượng và ảnh hưởng.[263] Hầu hết tác phẩm khắc của người Maori mô tả nhân vật, thường là với ba ngón tay với một cái đầu chi tiết giống với tự nhiên hoặc một cái đầu kỳ cục.[264] Kiến trúc Maori trước khi tiếp xúc với người da trắng gồm các nhà hội họp được chạm khắc (wharenui), những nhà này ban đầu được thiết kế nhằm có thể xây dựng, cải biến lại liên tục nhằm đáp ứng các ý tưởng hoặc nhu cầu khác nhau.[265]

Vị trí cô lập của đảo quốc trì hoãn ảnh hưởng của các xu hướng nghệ thuật châu Âu, cho phép các nghệ sĩ bản địa phát triển phong cách đặc trưng riêng theo chủ nghĩa khu vực.[266] Trong các thập niên 1960 và 1970, nhiều nghệ sĩ kết hợp các kỹ thuật Maori và phương Tây, tạo nên các hình thức nghệ thuật độc nhất.[267]

Áo choàng của người Maori được làm từ sợi lông mịn và được trang trí bằng hoa văn hình tam giác, hình thoi và các dạng hình học khác màu đen, đỏ, và trắng.[268] Người châu Âu đưa nghi thức thời trang Anh đến New Zealand, và cho đến thập niên 1950 thì hầu hết mọi người mặc đồ chỉnh tề trong các dịp lễ hội.[269] Tiêu chuẩn thời trang từ đó được nới lỏng và thời trang New Zealand có tiếng là tự nhiên, thực dụng và mờ nhạt.[270][271] Tuy nhiên, công nghiệp thời trang địa phương phát triển đáng kể từ năm 2000, một số nhãn hiệu được công nhận ở tầm quốc tế.[271]

Người Maori nhanh chóng tiếp nhận chữ viết làm phương tiện chia sẻ ý tưởng, và nhiều câu chuyện và bài thơ truyền khẩu của họ được chuyển sang hình thức văn bản.[272] Hầu hết văn học tiếng Anh ban đầu nhập từ Anh Quốc và phải đến thập niên 1950, khi mà thị trường phát hành địa phương gia tăng thì văn học New Zealand mới bắt đầu được biết đến phổ biến.[273] Mặc dù phần lớn vẫn chịu ảnh hưởng từ các xu hướng và sự kiện toàn cầu, song các nhà văn trong thập niên 1930 bắt đầu phát triển các câu chuyện ngày càng tập trung vào trải nghiệm của họ tại New Zealand. Trong giai đoạn này, văn học biến hóa từ một hoạt động mang tính báo chí sang theo đuổi tính học thuật hơn.[274] Sự kiện tham gia các Thế Chiến khiến một số nhà văn New Zealand có một nhãn quan mới về văn hóa New Zealand và văn học địa phương phát triển mạnh mẽ thời hậu chiến cùng với quá trìnhự mở rộng các đại học.[275]

Truyền thông và giải trí

Ledge Bungy, Queenstown, New Zealand 01
Nhảy Bungee tại thị trấn nghỉ dưỡng Queenstown.

Âm nhạc New Zealand chịu ảnh hưởng từ các thể loại blues, jazz, country, rock and rollhip hop, nhiều thể loại được hiểu một cách độc đáo tại New Zealand.[276] người Maori phát triển các thánh ca và ca khúc truyền thống từ nguồn gốc Đông Nam Á cổ đại của họ, và sau nhiều thế kỷ cô lập đã tạo nên một âm điệu "đơn điệu" và "hiu quạnh" độc đáo.[277] Sáo và kèn được sử dụng làm nhạc cụ[278] hoặc làm công cụ báo hiệu trong chiến tranh hoặc những dịp đặc biệt.[279] Những người định cư ban đầu đem đến âm nhạc dân tộc của họ, với các đội kèn đồng và hợp xướng trở nên phổ biến, các nhạc sĩ bắt đầu lưu diễn tại New Zealand trong thập niên 1860.[280][281] Các đội kèn trống trở nên phổ biến trong đầu thế kỷ XX.[282] Ngành công nghiệp thu âm New Zealand bắt đầu phát triển từ 1940 trở đi và nhiều nhạc sĩ New Zealand thu được thành công tại Anh Quốc và Hoa Kỳ.[276] Một số nghệ sĩ người Maori phát hành các bài hát bằng tiếng Maori và hình thức nghệ thuật dựa trên truyền thống Maori mang tên kapa haka (ca vũ) được hồi sinh.[283] Giải thưởng âm nhạc New Zealand được Recorded Music NZ tổ chức thường niên; giải thưởng được tổ chức lần đầu vào năm 1965.[284]

Phát thanh lần đầu xuất hiện tại New Zealand vào năm 1922 và đối với truyền hình là năm 1960.[285] Số lượng phim New Zealand gia tăng đáng kể trong thập niên 1970.[286] Năm 1978, Ủy ban Điện ảnh New Zealand bắt đầu hỗ trợ các nhà làm phim địa phương và nhiều phim tiếp cận được với khán giả thế giới, một số nhận được công nhận quốc tế. Các phim New Zealand đoạt doanh thu cao nhất gồm[287]: Boy, The World's Fastest Indian, Once Were Warriors, và Whale Rider. Việc bãi bỏ các quy định trong thập niên 1980 khiến số lượng đài phát thanh và truyền hình gia tăng đột biến.[286] Truyền hình New Zealand chủ yếu phát sóng các chương trình của Hoa Kỳ và Anh Quốc, cùng với một số lượng lớn các chương trình của Úc và địa phương. Cảnh quan đa dạng và kích thước nhỏ của đảo quốc, cộng thêm khích lệ của chính phủ,[288] giúp khuyến khích các nhà sản xuất quay các bộ phim có ngân sách lớn tại New Zealand.[289] Ngành công nghiệp truyền thông New Zealand do một số công ty chi phối, hầu hết thuộc sở hữu ngoại quốc, song nhà nước duy trì quyền sở hữu đối với một số đài truyền hình và phát thanh. Từ năm 2003 đến 2008, Phóng viên không biên giới luôn xếp hạng tự do báo chí của New Zealand trong 20 vị trí đầu tiên.[290] Năm 2011, New Zealand xếp hạng 13 toàn cầu về tự do báo chí theo đánh giá của Freedom House, đứng thứ hai tại châu Á-Thái Bình Dương.[291]

Thể thao

Haka 2006
Đội tuyển bóng bầu dục liên hiệp New Zealand trình diễn "haka" trước một trận đấu.

Hầu hết các môn thể thao chủ yếu được chơi tại New Zealand có nguồn gốc Anh Quốc.[292] Bóng bầu dục liên hiệp được nhìn nhận là môn thể thao quốc gia[293] và thu hút hầu hết khán giả.[294] Golf, bóng lưới, quần vợtcricket đạt tỷ lệ người thành niên tham gia cao nhất, trong khi bóng đá là môn thể thao hàng đầu trong giới trẻ.[294] Các trận du đấu bóng bầu dục thắng lợi đến Úc và Anh Quốc vào cuối thập niên 1880 và đầu thập niên 1900 đóng một vai trò ban đầu trong việc thấm nhuần một bản sắc dân tộc.[295] Đua ngựa cũng là một môn thể thao đại chúng và trở thành bộ phận của văn hóa "bầu dục, đua và bia" trong thập niên 1960.[296] Sự tham gia của người Maori trong các môn thể thao châu Âu đặc biệt rõ rệt trong bóng bầu dục và đội tuyển quốc gia trình diễn một hiệu lệnh truyền thống Maori mang tên haka trước các trận dấu quốc tế.[297]

New Zealand có các đội tuyển thi đấu quốc tế trong các môn bóng bầu dục liên hiệp, bóng lưới, cricket, bóng bầu dục liên minh, và bóng mềm, và có truyền thống thi đấu tốt trong ba môn phối hợp, rowing, yachting và đua xe đạp. New Zealand tham dự Thế vận hội Mùa hè vào năm 1908 và 1912 trong một đội tuyển chung với Úc, và lần đầu tham dự độc lập vào năm 1920. Quốc gia này xếp hạng cao theo tỷ lệ huy chương trên dân số trong các kỳ Thế vận hội gần đây.[294][298][299] Đội tuyển bóng bầu dục liên hiệp nam quốc gia New Zealand có thành tích tốt nhất trong lịch sử bóng bầu dục quốc tế[300] New Zealand nổi tiếng với các môn thể thao mạo hiểm, du lịch mạo hiểm[301] và truyền thống leo núi mạnh mẽ.[302] Các môn thể thao ngoài trời khác như đua xe đạp, câu cá, bơi, chạy, đi bộ, chèo xuồng, săn, thể thao trên tuyết, và lướt sóng cũng phổ biến.[303] Môn thể thao truyền thống Polynesia là đua chèo xuồng waka ama ngày càng phổ biến và hiện là một môn thể thao quốc tế với các đội tuyển từ khắp Thái Bình Dương.[304]

Ẩm thực

Ẩm thực New Zealand kết hợp ẩm thực Maori bản địa và các truyền thống nấu nướng đa dạng do những người định cư và nhập cư đưa tới từ châu Âu, Polynesia và châu Á.[305] Sản xuất nông nghiệp sinh lợi từ đất liền đến biển dần được những người định cư châu Âu thời đầu du nhập, hầu hết là trồng trọt và chăn nuôi như ngô, khoai tây và lợn.[306] Các thành phần hoặc món ăn đặc biệt gồm có thịt cừu non, cá hồi, kōura (tôm hùm đất),[307] các loài hàu vét, cá mồi trắng, pāua (bào ngư), trai, điệp, pipis và tuatua (đều là các loài sò ốc của New Zealand),[308] khoai lang (kūmara), quả kiwi, tamarillo và pavlova (được cho là một món ăn quốc gia).[305][309] Hāngi là một phương pháp nấu ăn của người Māori, sử dụng đá được nung nóng được chôn trong một lò ngầm. Sau khi người châu Âu thuộc địa hoá, người Maori bắt đầu nấu ăn với nồi và lò, khiến hāngi được sử dụng ít thường xuyên hơn, song nó vẫn được sử dụng trong các dịp nghi lễ như tangihanga.[310]

Chú thích

  1. ^ Zeeland is được viết là "Zealand" trong tiếng Anh. Danh xưng của New Zealand không bắt nguồn từ đảo Zealand của Đan Mạch.
  2. ^ tổng phẩm trăm hơn 100% do cư dân được lựa chọn hơn 1 dân tộc.
  1. ^ “2013 Census QuickStats about culture and identity – Ethnic groups in New Zealand”. Statistics New Zealand. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2014.
  2. ^ “Population clock”. Statistics New Zealand. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2016. The population estimate shown is automatically calculated daily at 00:00 UTC and is based on data obtained from the population clock on the date shown in the citation.
  3. ^ “Number of Electorates and Electoral Populations: 2013 Census – Media Release”. 2013 Census. Statistics New Zealand. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013.
  4. ^ a ă â “New Zealand”. International Monetary Fund. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2016.
  5. ^ “2016 Human Development Report” (PDF). United Nations Development Programme. 2016. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2017.
  6. ^ “Income inequality”. Statistics New Zealand. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2015.
  7. ^ “Câu chuyện từ Tân Tây Lan”. BBC Vietnamese. 29 tháng 4 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2018.
  8. ^ V.Giang (31 tháng 10 năm 2017). “Tân Tây Lan sắp cấm người ngoại quốc mua nhà”. Người Việt. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2018.
  9. ^ Phương Hoàng (19 tháng 3 năm 2015). “Thủ tướng Việt Nam đến Tân Tây Lan”. SBS Việt Ngữ. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2018.
  10. ^ "Tân+Tây+Lan"&dq="Tân+Tây+Lan"&hl=vi&sa=X&ved=0ahUKEwiB5qb-xO7aAhXLO48KHa_uDSAQ6AEIQzAH Tổng liên đoàn lao động Việt Nam những chạ̌ng đường lịch sử, 1929-2003. Nhà xuất bản Lao động. 2003. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2018.
  11. ^ "Tân+Tây+Lan"&dq="Tân+Tây+Lan"&hl=vi&sa=X&ved=0ahUKEwiSlMODx-7aAhWKuI8KHSz_CiU4FBDoAQhGMAU Nghiên cứu lịch sử, Số phát hành 124. Viện sử học. 1969. tr. 12-14.
  12. ^ History of New Zealand. Newzealand.com.
  13. ^ Wilson, John (tháng 3 năm 2009). “European discovery of New Zealand – Tasman's achievement”. Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2011.
  14. ^ Wilson, John (tháng 9 năm 2007). “Tasman’s achievement”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2008.
  15. ^ Mackay, Duncan (1986). “The Search For The Southern Land”. Trong Fraser, B. The New Zealand Book Of Events. Auckland: Reed Methuen. tr. 52–54.
  16. ^ King 2003, tr. 41.
  17. ^ Hay, Maclagan & Gordon 2008, tr. 72.
  18. ^ a ă Mein Smith 2005, tr. 6.
  19. ^ Brunner, Thomas (1851). The Great Journey: an expedition to explore the interior of the Middle Island, New Zealand, 1846-8. Royal Geographical Society.
  20. ^ McKinnon, Malcolm (tháng 11 năm 2009). “Place names – Naming the country and the main islands”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2011.
  21. ^ Williamson, Maurice (ngày 10 tháng 10 năm 2013). “Names of NZ’s two main islands formalised” (Thông cáo báo chí). New Zealand Government.
  22. ^ doi:10.1073/pnas.1015876108
    Hoàn thành chú thích này
  23. ^ doi:10.1016/S1040-6182(98)00067-6
    Hoàn thành chú thích này
  24. ^ Murray-McIntosh, Rosalind P.; Scrimshaw, Brian J.; Hatfield, Peter J.; Penny, David (1998). “Testing migration patterns and estimating founding population size in Polynesia by using human mtDNA sequences”. Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America 95 (15): 9047–52. Bibcode:1998PNAS...95.9047M. doi:10.1073/pnas.95.15.9047.
  25. ^ doi:10.1073/pnas.0801507105
    Hoàn thành chú thích này
  26. ^ doi:10.1126/science.1166083
    Hoàn thành chú thích này
  27. ^ Clark, Ross (1994). “Moriori and Māori: The Linguistic Evidence”. Trong Sutton, Douglas. The Origins of the First New Zealanders. Auckland: Auckland University Press. tr. 123–135.
  28. ^ Davis, Denise (tháng 9 năm 2007). “The impact of new arrivals”. Te Ara Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2010.
  29. ^ a ă Mein Smith 2005, tr. 23.
  30. ^ Salmond, Anne. Two Worlds: First Meetings Between Maori and Europeans 1642–1772. Auckland: Penguin Books. tr. 82. ISBN 0-670-83298-7.
  31. ^ King 2003, tr. 122.
  32. ^ Fitzpatrick, John (2004). “Food, warfare and the impact of Atlantic capitalism in Aotearo/New Zealand” (PDF). Australasian Political Studies Association Conference: APSA 2004 Conference Papers.
  33. ^ Brailsford, Barry (1972). Arrows of Plague. Wellington: Hick Smith and Sons. tr. 35. ISBN 0-456-01060-2.
  34. ^ Wagstrom, Thor (2005). “Broken Tongues and Foreign Hearts”. Trong Brock, Peggy. Indigenous Peoples and Religious Change. Boston: Brill Academic Publishers. tr. 71 and 73. ISBN 978-90-04-13899-5.
  35. ^ Lange, Raeburn (1999). May the people live: a history of Māori health development 1900–1920. Auckland University Press. tr. 18. ISBN 978-1-86940-214-3.
  36. ^ a ă Rutherford, James (tháng 4 năm 2009) [originally published in 1966]. “Busby, James”. Trong McLintock, Alexander. from An Encyclopaedia of New Zealand. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2011.
  37. ^ McLintock, Alexander biên tập (tháng 4 năm 2009) [originally published in 1966]. “Sir George Gipps”. from An Encyclopaedia of New Zealand. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2011.
  38. ^ a ă Wilson, John (tháng 3 năm 2009). “Government and nation – The origins of nationhood”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2011.
  39. ^ McLintock, Alexander biên tập (tháng 4 năm 2009) [originally published in 1966]. “Settlement from 1840 to 1852”. from An Encyclopaedia of New Zealand. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2011.
  40. ^ Foster, Bernard (tháng 4 năm 2009) [originally published in 1966]. “Akaroa, French Settlement At”. Trong McLintock, Alexander. from An Encyclopaedia of New Zealand. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2011.
  41. ^ Simpson, K (tháng 9 năm 2010). “Hobson, William – Biography”. Trong McLintock, Alexander. from the Dictionary of New Zealand Biography. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2011.
  42. ^ Phillips, Jock (tháng 4 năm 2010). “British immigration and the New Zealand Company”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2011.
  43. ^ “Crown colony era – the Governor-General”. Ministry for Culture and Heritage. Tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2011.
  44. ^ a ă â Wilson, John (tháng 3 năm 2009). “Government and nation – The constitution”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2011.
  45. ^ Temple, Philip (1980). Wellington Yesterday. John McIndoe. ISBN 0-86868-012-5.
  46. ^ “New Zealand's 19th-century wars – overview”. Ministry for Culture and Heritage. Tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2011.
  47. ^ Wilson., John (tháng 3 năm 2009). “History – Liberal to Labour”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2011.
  48. ^ Commonwealth and Colonial Law by Kenneth Roberts-Wray, Luân Đôn, Stevens, 1966. P. 888
  49. ^ Proclamation of ngày 9 tháng 9 năm 1907, S.R.O. Rev. XVI, 867.
  50. ^ “War and Society”. Ministry for Culture and Heritage. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2011.
  51. ^ Easton, Brian (tháng 4 năm 2010). “Economic history – Interwar years and the great depression”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2011.
  52. ^ Derby, Mark (tháng 5 năm 2010). “Strikes and labour disputes – Wars, depression and first Labour government”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2011.
  53. ^ Easton, Brian (tháng 11 năm 2010). “Economic history – Great boom, 1935–1966”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2011.
  54. ^ Keane, Basil (tháng 11 năm 2010). “Te Māori i te ohanga – Māori in the economy – Urbanisation”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2011.
  55. ^ Royal, Te Ahukaramū (tháng 3 năm 2009). “Māori – Urbanisation and renaissance”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2011.
  56. ^ “Queen and New Zealand”. The British Monarchy. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2010.
  57. ^ a ă â b “Factsheet – New Zealand – Political Forces”. The Economist (The Economist Group). Ngày 15 tháng 2 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2009.
  58. ^ “New Zealand Legislation: Royal Titles Act 1974”. New Zealand Government. Tháng 2 năm 1974. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2011.
  59. ^ “The Governor General of New Zealand”. Official website of the Governor General. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2011.
  60. ^ “The Queen's role in New Zealand”. The British Monarchy. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2010.
  61. ^ Harris, Bruce (2009). “Replacement of the Royal Prerogative in New Zealand”. New Zealand Universities Law Review 23: 285–314.
  62. ^ a ă “The Reserve Powers”. Governor General. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2011.
  63. ^ a ă â b c “How Parliament works: What is Parliament?”. New Zealand Parliament. Ngày 28 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2014.
  64. ^ “Evolution of Parliament, Governor-General”. New Zealand Parliament. Tháng 8 năm 2006.
  65. ^ Wilson, John (tháng 11 năm 2010). “Government and nation – System of government”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2011.
  66. ^ “Cabinet Manual: Cabinet”. Department of Prime Minister and Cabinet. 2008. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2011.
  67. ^ “The Judiciary”. Ministry of Justice. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2011.
  68. ^ “The Current Chief Justice”. Courts of New Zealand. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2011.
  69. ^ a ă “First past the post – the road to MMP”. Ministry for Culture and Heritage. Tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2011.
  70. ^ “Reviewing electorate numbers and boundaries”. Electoral Commission. Ngày 8 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2012.
  71. ^ “Sainte-Laguë allocation formula”. Electoral Commission. Ngày 4 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2014.
  72. ^ Collins, Simon (tháng 5 năm 2005). “Women run the country but it doesn't show in pay packets”. The New Zealand Herald.
  73. ^ McLintock, Alexander biên tập (tháng 4 năm 2009) [originally published in 1966]. “External Relations”. from An Encyclopaedia of New Zealand. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2011.
  74. ^ “Michael Joseph Savage”. Ministry for Culture and Heritage. Tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2011.
  75. ^ Patman, Robert (2005). “Globalisation, Sovereignty, and the Transformation of New Zealand Foreign Policy” (PDF). Working Paper 21/05. Centre for Strategic Studies, Victoria University of Wellington. tr. 8. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2007.
  76. ^ “Department Of External Affairs: Security Treaty between Australia, New Zealand and the United States of America”. Australian Government. Tháng 9 năm 1951. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2011.
  77. ^ “The Vietnam War”. Ministry for Culture and Heritage. Tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2011.
  78. ^ “Sinking the Rainbow Warrior – nuclear-free New Zealand”. Ministry for Culture and Heritage. Tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2011.
  79. ^ “Nuclear-free legislation – nuclear-free New Zealand”. New Zealand History Online. Tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2011.
  80. ^ Lange, David (1990). Nuclear Free: The New Zealand Way. New Zealand: Penguin Books. ISBN 0-14-014519-2.
  81. ^ “Australia in brief”. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2011. Đã bỏ qua văn bản “Australian Department of Foreign Affairs and Trade” (trợ giúp)
  82. ^ a ă “New Zealand country brief”. Department of Foreign Affairs and Trade. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2011.
  83. ^ Collett, John (ngày 4 tháng 9 năm 2013). “Kiwis face hurdles in pursuit of lost funds”. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2013.
  84. ^ Bertram, Geoff (tháng 4 năm 2010). “South Pacific economic relations – Aid, remittances and tourism”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2011.
  85. ^ Howes, Stephen (tháng 11 năm 2010). “Making migration work: Lessons from New Zealand”. Development Policy Centre. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2011.
  86. ^ “Member States of the United Nations”. United Nations. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2011.
  87. ^ “The Commonwealth in the Pacific”. Commonwealth of Nations. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2011.
  88. ^ “Members and partners”. Organisation for Economic Co-operation and Development. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2011.
  89. ^ “Welcome to NZDF”. New Zealand Defence Force. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2011.
  90. ^ Ayson, Robert (2007). “New Zealand Defence and Security Policy,1990–2005”. Trong Alley, Roderic. New Zealand In World Affairs, Volume IV: 1990–2005. Wellington: Victoria University Press. tr. 132. ISBN 978-0-86473-548-5.
  91. ^ “The Battle for Crete”. Ministry for Culture and Heritage. Tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2011.
  92. ^ “El Alamein – The North African Campaign”. Ministry for Culture and Heritage. Tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2011.
  93. ^ Holmes, Richard (tháng 9 năm 2010). “World War Two: The Battle of Monte Cassino”. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2011.
  94. ^ “Gallipoli stirred new sense of national identity says Clark”. New Zealand Herald. Tháng 4 năm 2005.
  95. ^ Prideaux, Bruce (2007). Ryan, Chris, biên tập. Battlefield tourism: history, place and interpretation. Elsevier Science. tr. 18. ISBN 978-0-08-045362-0.
  96. ^ Burke, Arthur. “The Spirit of ANZAC”. ANZAC Day Commemoration Committee. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2011.
  97. ^ “South African War 1899–1902”. Ministry for Culture and Heritage. Tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2011.
  98. ^ “NZ and the Malayan Emergency”. Ministry for Culture and Heritage. Tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2011.
  99. ^ “New Zealand Defence Force Overseas Operations”. New Zealand Defence Force. Tháng 1 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2008.
  100. ^ a ă “New Zealand's Nine Provinces (1853–76)” (PDF). Friends of the Hocken Collections. Tháng 3 năm 2000. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2011.
  101. ^ McLintock, Alexander biên tập (tháng 4 năm 2009) [originally published in 1966]. “Provincial Divergencies”. from An Encyclopaedia of New Zealand. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2011.
  102. ^ “Public holidays”. New Zealand Department of Labour. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2011.
  103. ^ “Overview – regional rugby”. Ministry for Culture and Heritage. Tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2011.
  104. ^ Dollery, Brian; Keogh, Ciaran; Crase, Lin (2007). “Alternatives to Amalgamation in Australian Local Government: Lessons from the New Zealand Experience” (PDF). Sustaining Regions 6 (1): 50–69.
  105. ^ a ă â Sancton, Andrew (2000). Merger mania: the assault on local government. McGill-Queen's University Press. tr. 84. ISBN 0-7735-2163-1.
  106. ^ “Subnational population estimates at ngày 30 tháng 6 năm 2010 (boundaries at ngày 1 tháng 11 năm 2010)”. Statistics New Zealand. Ngày 26 tháng 10 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2011.
  107. ^ Smelt, Roselynn; Jui Lin, Yong (2009). New Zealand. Cultures of the World (ấn bản 2). New York: Marshall Cavendish. tr. 33. ISBN 978-0-7614-3415-3.
  108. ^ “Unitary Authority”. Far North District Council. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2011.
  109. ^ “Minutes of the Statutory Meeting of the Chatham Islands Council”. Chatham Islands Council. Tháng 10 năm 2010. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2011.
  110. ^ “What is a Commonwealth Realm?”. Royal Household. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2009.
  111. ^ a ă “New Zealand’s Constitution”. The Governor-General of New Zealand. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2010.
  112. ^ “System of Government”. Government of Niue. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2010.
  113. ^ “Government – Structure, Personnel”. Government of the Cook Islands. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 1010. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  114. ^ “Tourism, Travel, & Information Guide to the New Zealand Territory of Tokelau”. Tokelau.com. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2010.
  115. ^ “Government”. Tokelau Government. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2010.
  116. ^ “Scott Base”. Antarctica New Zealand. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2010.
  117. ^ “Am I a New Zealand Citizen?”. New Zealand Department of Internal Affairs. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2011.
  118. ^ “2013 Census QuickStats about culture and identity – Religious affiliation”. Stats NZ – stats.govt.nz. 15 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2017.
  119. ^ “National Population Estimate: At ngày 30 tháng 6 năm 2016”. Statistics New Zealand. Ngày 12 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2016.
  120. ^ “Subnational population estimates at ngày 30 tháng 6 năm 2009”. Statistics New Zealand. Ngày 30 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2010.
  121. ^ “NZ life expectancy among world's best”. web page. Fairfax NZ. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2014.
  122. ^ a ă Department of Economic and Social Affairs Population Division (2009). “World Population Prospects” (PDF). 2008 revision. United Nations. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2009.
  123. ^ a ă â b c d đ “CIA – The World Factbook”. Cia.gov. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2013.
  124. ^ “Ethnic groups in New Zealand”. 2013 Census QuickStats about culture and identity. Statistics New Zealand. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2014.
  125. ^ Collins, Simon (tháng 10 năm 2010). “Ethnic mix changing rapidly”. New Zealand Herald.
  126. ^ doi:10.1016/0962-6298(93)90012-V
    Hoàn thành chú thích này
  127. ^ Callister, Paul (2004). “Seeking an Ethnic Identity: Is "New Zealander" a Valid Ethnic Category?” (PDF). New Zealand Population Review 30 (1&2): 5–22.
  128. ^ Misa, Tapu (ngày 8 tháng 3 năm 2006). “Ethnic Census status tells the whole truth”. New Zealand Herald. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 4 năm 2012.
  129. ^ “Draft Report of a Review of the Official Ethnicity Statistical Standard: Proposals to Address the ‘New Zealander’ Response Issue” (PDF). Statistics New Zealand. Tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2011.
  130. ^ Ranford, Jodie. 'Pakeha', Its Origin and Meaning”. Māori News. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2008. Originally the Pakeha were the early European settlers, however, today ‘Pakeha’ is used to describe any peoples of non-Maori or non-Polynesian heritage. Pakeha is not an ethnicity but rather a way to differentiate between the historical origins of our settlers, the Polynesians and the Europeans, the Maori and the other
  131. ^ Socidad Peruana de Medicina Intensiva (SOPEMI) (2000). Trends in international migration: continuous reporting system on migration. Organisation for Economic Co-operation and Development. tr. 276–278.
  132. ^ Walrond, Carl (ngày 21 tháng 9 năm 2007). “Dalmatians”. Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2010.
  133. ^ “New Zealand Peoples”. Te Ara - the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2010.
  134. ^ “International Migration Outlook – New Zealand 2009/10” (PDF). New Zealand Department of Labour. 2010. tr. 2. ISSN 1179-5085. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2011.
  135. ^ “Birthplace and people born overseas”. 2013 Census QuickStats about culture and identity. Statistics New Zealand. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2014.
  136. ^ a ă â “2013 Census QuickStats about culture and identity – Languages spoken”. Statistics New Zealand. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2016.
  137. ^ Hay, Maclagan & Gordon 2008, tr. 14.
  138. ^ *Bauer, L.; Warren, P.; Bardsley, D.; Kennedy, M.; Major, G. (2007). “New Zealand English”. Journal of the International Phonetic Association 37 (1): 97–102. doi:10.1017/S0025100306002830.
  139. ^ a ă Phillips, Jock (tháng 3 năm 2009). “The New Zealanders – Bicultural New Zealand”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2011.
  140. ^ “Māori Language Week – Te Wiki o Te Reo Maori”. Ministry for Culture and Heritage. Truy cập tháng 2 năm 2008.
  141. ^ Squires, Nick (tháng 5 năm 2005). “British influence ebbs as New Zealand takes to talking Māori”. The Telegraph (Great Britain).
  142. ^ “Waitangi Tribunal claim – Māori Language Week”. Ministry for Culture and Heritage. Tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2011.
  143. ^ New Zealand Sign Language Act 2006 No 18 (as at ngày 30 tháng 6 năm 2008), Public Act – New Zealand Legislation. Legislation.govt.nz (ngày 30 tháng 6 năm 2008). Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2011.
  144. ^ Zuckerman, Phil (2006). Martin, Michael, biên tập. The Cambridge Companion to Atheism (PDF). Cambridge University Press. tr. 47–66. ISBN 978-0-521-84270-9. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2017.
  145. ^ Walrond, Carl (tháng 5 năm 2012). “Atheism and secularism – Who is secular?”. Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2017.
  146. ^ a ă “2013 Census QuickStats about culture and identity – Religious affiliation”. Statistics New Zealand. Ngày 15 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2015.
  147. ^ a ă â “2013 Census QuickStats about culture and identity – tables”. Statistics New Zealand. Ngày 15 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2015.
  148. ^ Kaa, Hirini (tháng 5 năm 2011). “Māori and Christian denominations”. Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2017.
  149. ^ Morris, Paul (tháng 5 năm 2011). “Diverse religions”. Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2017.
  150. ^ “QuickStats About Culture and Identity: Religious affiliation”. Statistics New Zealand. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011.
  151. ^ “Subnational Population Estimates: At 30 June 2015 (provisional)”. Cơ quan Thống kê New Zealand. 22 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2015. Đối với các khu vực đô thị, “Infoshare; Group: Population Estimates - DPE; Table: Estimated Resident Population for Urban Areas, at 30 June (1996+) (Annual-Jun)”. Cơ quan Thống kê New Zealand. 22 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2015.
  152. ^ a ă Dench, Olivia (tháng 7 năm 2010). “Education Statistics of New Zealand: 2009”. Education Counts. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2011.
  153. ^ “Education Act 1989, Section 3”. New Zealand Government. 1989. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2013.
  154. ^ “Education Act 1989 No 80 (as at 0ngày 1 tháng 2 năm 2011), Public Act. Part 14: Establishment and disestablishment of tertiary institutions, Section 62: Establishment of institutions”. Education Act 1989 No 80. New Zealand Parliamentary Counsel Office/Te Tari Tohutohu Pāremata. Ngày 1 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2011.
  155. ^ “Studying in New Zealand: Tertiary education”. New Zealand Qualifications Authority. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2011.
  156. ^ “Educational attainment of the population” (xls). Education Counts. 2006. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2008.
  157. ^ “What Students Know and Can Do: Student Performance in Reading, Mathematics and Science 2010.” (PDF). OECD.org. Truy cập 21 tháng 7 năm 2012.
  158. ^ McLintock, Alexander biên tập (tháng 4 năm 2009) [originally published in 1966]. “The Sea Floor”. from An Encyclopaedia of New Zealand. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2011.
  159. ^ McKenzie, D. W. (1987). Heinemann New Zealand atlas. Heinemann Publishers. ISBN 0-7900-0187-X.
  160. ^ “Geography”. Statistics New Zealand. 1999. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2009.
  161. ^ Offshore Options: Managing Environmental Effects in New Zealand's Exclusive Economic Zone (PDF). Wellington: Ministry for the Environment. 2005. ISBN 0-478-25916-6.
  162. ^ Coates, Glen (2002). The rise and fall of the Southern Alps. Canterbury University Press. tr. 15. ISBN 0-908812-93-0.
  163. ^ Garden 2005, tr. 52.
  164. ^ Grant, David (tháng 3 năm 2009). “Southland places – Fiordland’s coast”. Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2011.
  165. ^ “Central North Island volcanoes”. Department of Conservation. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2011.
  166. ^ Walrond, Carl (tháng 3 năm 2009). “Natural environment – Geography and geology”. Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2010.
  167. ^ “Taupo”. GNS Science. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2011.
  168. ^ a ă Lewis, Keith; Nodder, Scott; Carter, Lionel (tháng 3 năm 2009). “Sea floor geology – Active plate boundaries”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Keith 2009” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  169. ^ Wallis, G. P.; Trewick, S. A. (2009). “New Zealand phylogeography: evolution on a small continent”. Molecular Ecology 18 (17): 3548–3580. PMID 19674312. doi:10.1111/j.1365-294X.2009.04294.x.
  170. ^ Wright, Dawn; Bloomer, Sherman; MacLeod, Christopher; Taylor, Brian; Goodliffe, Andrew (2000). “Bathymetry of the Tonga Trench and Forearc: A Map Series”. Marine Geophysical Researches 21 (5): 489–512. Bibcode:2000MarGR..21..489W. doi:10.1023/A:1026514914220.
  171. ^ Hobbs, Joseph J. (2016). Fundamentals of World Regional Geography (bằng tiếng Anh). Cengage Learning. tr. 367. ISBN 9781305854956.
  172. ^ Hillstrom, Kevin; Hillstrom, Laurie Collier (2003). Australia, Oceania, and Antarctica: A Continental Overview of Environmental Issues 3. ABC-CLIO. tr. 25. ISBN 9781576076941. …defined here as the continent nation of Australia, New Zealand, and twenty-two other island countries and territories sprinkled over more than 40 million square kilometres of the South Pacific.
  173. ^ Mullan, Brett; Tait, Andrew; Thompson, Craig (tháng 3 năm 2009). “Climate – New Zealand’s climate”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2011.
  174. ^ “Summary of New Zealand climate extremes”. National Institute of Water and Atmospheric Research. 2004. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2010.
  175. ^ Walrond, Carl (tháng 3 năm 2009). “Natural environment – Climate”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2011.
  176. ^ “Mean monthly rainfall”. National Institute of Water and Atmospheric Research. Bản gốc (XLS) lưu trữ ngày 3 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011.
  177. ^ “Mean monthly sunshine hours”. National Institute of Water and Atmospheric Research. Bản gốc (XLS) lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011.
  178. ^ “New Zealand climate and weather”. Tourism New Zealand. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2016.
  179. ^ Mullan, Brett; Tait, Andrew; Thompson, Craig (tháng 3 năm 2009). “Climate – New Zealand’s climate”. Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2011.
  180. ^ doi:10.1016/0169-5347(93)90004-9
    Hoàn thành chú thích này
  181. ^ Lindsey, Terence; Morris, Rod (2000). Collins Field Guide to New Zealand Wildlife. HarperCollins (New Zealand) Limited. tr. 14. ISBN 978-1-86950-300-0.
  182. ^ a ă “Frequently asked questions about New Zealand plants”. New Zealand Plant Conservation Network. Tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2011.
  183. ^ De Lange, Peter James; Sawyer, John William David and Rolfe, Jeremy (2006). New Zealand indigenous vascular plant checklist. New Zealand Plant Conservation Network. ISBN 0-473-11306-6.
  184. ^ Wassilieff, Maggy (tháng 3 năm 2009). “Lichens – Lichens in New Zealand”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2011.
  185. ^ McLintock, Alexander biên tập (tháng 4 năm 2010) [originally published in 1966]. “Mixed Broadleaf Podocarp and Kauri Forest”. from An Encyclopaedia of New Zealand. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2011.
  186. ^ Mark, Alan (tháng 3 năm 2009). “Grasslands – Tussock grasslands”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2010.
  187. ^ “Commentary on Forest Policy in the Asia-Pacific Region (A Review for Indonesia, Malaysia, New Zealand, Papua New Guinea, Philippines, Thailand and Western Samoa)”. Forestry Department. 1997. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011.
  188. ^ McGlone, M.S. (1989). “The Polynesian settlement of New Zealand in relation to environmental and biotic changes” (PDF). New Zealand Journal of Ecology. 12(S): 115–129.
  189. ^ Taylor, R. and Smith, I. (1997). The state of New Zealand’s environment 1997. Ministry for the Environment, Wellington.
  190. ^ “New Zealand ecology: Flightless birds”. TerraNature. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2011.
  191. ^ a ă Holdaway, Richard (tháng 3 năm 2009). “Extinctions – New Zealand extinctions since human arrival”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011.
  192. ^ Kirby, Alex (tháng 1 năm 2005). “Huge eagles 'dominated NZ skies'. BBC News.
  193. ^ “Tuatara: New Zealand reptiles”. Department of Conservation. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2011.
  194. ^ Ryan, Paddy (tháng 3 năm 2009). “Snails and slugs – Flax snails, giant snails and veined slugs”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011.
  195. ^ “Native Animals”. Department of Conservation. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2011.
  196. ^ “Tiny Bones Rewrite Textbooks, first New Zealand land mammal fossil”. University of New South Wales. Ngày 31 tháng 5 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2007.
  197. ^ Worthy, Trevor H.; Tennyson, Alan J. D.; Archer, Michael; Musser, Anne M.; Hand, Suzanne J.; Jones, Craig; Douglas, Barry J.; McNamara, James A.; Beck, Robin M. D. (2006). “Miocene mammal reveals a Mesozoic ghost lineage on insular New Zealand, southwest Pacific”. Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America 103 (51): 19419–23. Bibcode:2006PNAS..10319419W. doi:10.1073/pnas.0605684103.
  198. ^ “Marine Mammals”. Department of Conservation. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2011.
  199. ^ “Sea & shore birds”. New Zealand Department of Conservation. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2011.
  200. ^ “Penguins”. New Zealand Department of Conservation. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2011.
  201. ^ Jones, Carl (2002). “Reptiles and Amphibians”. Trong Perrow, Martin; Davy, Anthony. Handbook of ecological restoration: Principles of Restoration 2. Cambridge University Press. tr. 362. ISBN 0-521-79128-6.
  202. ^ doi:10.1016/0169-5347(93)90009-E
    Hoàn thành chú thích này
  203. ^ Rauzon, Mark (2008). “Island restoration: Exploring the past, anticipating the future” (PDF). Marine Ornithology 35: 97–107.
  204. ^ Diamond, Jared (1990). Towns, D; Daugherty, C; Atkinson, I, biên tập. New Zealand as an archipelago: An international perspective (PDF). Wellington: Conservation Sciences Publication No. 2. Department of Conservation. tr. 3–8.
  205. ^ Environmental Performance Index 2012. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2012.
  206. ^ “Currencies of the territories listed in the BS exchange rate lists”. Bank of Slovenia. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011.
  207. ^ “Human Development Index and components” (PDF). United Nations Development Programme. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2013.
  208. ^ “2011 Index of Economic Freedom”. The Heritage Foundation và Wall Street Journal. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2011.
  209. ^ “The Global Innovation Index 2012”. INSEAD. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012.
  210. ^ “NZ tops Travellers' Choice Awards”. Stuff Travel. Tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2010.
  211. ^ a ă â “Historical evolution and trade patterns”. An Encyclopaedia of New Zealand. 1966. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011.
  212. ^ Stringleman, Hugh; Peden, Robert (tháng 10 năm 2009). “Sheep farming – Growth of the frozen meat trade, 1882–2001”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2010.
  213. ^ Baker, John (tháng 2 năm 2010) [originally published in 1966]. “Some Indicators of Comparative Living Standards”. Trong McLintock, Alexander. from An Encyclopaedia of New Zealand. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 33 tháng 4 năm 2010. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp) Table pdf downloadable from [1]
  214. ^ Wilson, John (tháng 3 năm 2009). “History – The later 20th century”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2011.
  215. ^ Nixon, Chris; Yeabsley, John (tháng 4 năm 2010). “Overseas trade policy – Difficult times – the 1970s and early 1980s”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011.
  216. ^ Evans, N. “Up From Down Under: After a Century of Socialism, Australia and New Zealand are Cutting Back Government and Freeing Their Economies”. National Review 46 (16): 47–51.
  217. ^ Easton, Brian (tháng 11 năm 2010). “Economic history – Government and market liberalisation”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2011.
  218. ^ Hazledine, Tim (1998). Taking New Zealand Seriously: The Economics of Decency (PDF). HarperCollins Publishers. ISBN 1-86950-283-3.
  219. ^ “Unemployment”. 2010 Social report. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011.
  220. ^ Bingham, Eugene (ngày 7 tháng 4 năm 2008). “The miracle of full employment”. The New Zealand Herald. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2008.
  221. ^ “New Zealand Takes a Pause in Cutting Rates”. The New York Times. Ngày 10 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2010.
  222. ^ “New Zealand's slump longest ever”. BBC News. Ngày 26 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2010.
  223. ^ Bascand, Geoff (tháng 2 năm 2011). “Household Labour Force Survey: December 2010 quarter – Media Release”. Statistics New Zealand. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011.
  224. ^ Davenport, Sally (2004). “Panic and panacea: brain drain and science and technology human capital policy”. Research Policy 33 (4): 617–630. doi:10.1016/j.respol.2004.01.006.
  225. ^ O'Hare, Sean (tháng 9 năm 2010). “New Zealand brain-drain worst in world”. The Daily Telegraph (United Kingdom).
  226. ^ Collins, Simon (tháng 3 năm 2005). “Quarter of NZ's brightest are gone”. New Zealand Herald.
  227. ^ Winkelmann, Rainer (2000). “The labour market performance of European immigrants in New Zealand in the 1980s and 1990s”. The International Migration Review (The Center for Migration Studies of New York) 33 (1): 33–58. JSTOR 2676011. doi:10.2307/2676011. Journal subscription required
  228. ^ Bain 2006, tr. 44.
  229. ^ Groser, Tim (tháng 3 năm 2009). “Speech to ASEAN-Australia-New Zealand Free Trade Agreement Seminars”. New Zealand Government. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2011.
  230. ^ “Improving Access to Markets:Agriculture”. New Zealand Ministry of Foreign Affairs and Trade. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011.
  231. ^ “New Zealand Economic and Financial Overview 2010: Industrial Structure and Principal Economic Sectors”. New Zealand Treasury. Tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2011.
  232. ^ “Key Tourism Statistics” (PDF). Ministry of Tourism. Tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2010.
  233. ^ Easton, Brian (tháng 3 năm 2009). “Economy – Agricultural production”. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011.
  234. ^ Stringleman, Hugh; Peden, Robert (tháng 3 năm 2009). “Sheep farming – Changes from the 20th century”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011.
  235. ^ Stringleman, Hugh; Scrimgeour, Frank (tháng 11 năm 2009). “Dairying and dairy products – Dairying in the 2000s”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011.
  236. ^ Stringleman, Hugh; Scrimgeour, Frank (tháng 3 năm 2009). “Dairying and dairy products – Dairy exports”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011.
  237. ^ “Global New Zealand – International Trade, Investment, and Travel Profile: Year ended June 2009 – Key Points”. Statistics New Zealand. Tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011.
  238. ^ Stringleman, Hugh; Scrimgeour, Frank (tháng 3 năm 2009). “Dairying and dairy products – Manufacturing and marketing in the 2000s”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011.
  239. ^ Dalley, Bronwyn (tháng 3 năm 2009). “Wine – The wine boom, 1980s and beyond”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011.
  240. ^ “Wine in New Zealand”. The Economist. Tháng 3 năm 2008.
  241. ^ “Agricultural and forestry exports from New Zealand: Primary sector export values for the year ending June 2010”. New Zealand Ministry of Agriculture and Forestry. Ngày 14 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2011.
  242. ^ a ă Energy in New Zealand 2016 (PDF) (Bản báo cáo). Ministry of Business, Innovation and Employment. Tháng 9 năm 2016. tr. 47. ISSN 2324-5913.
  243. ^ “State highway frequently asked questions”. NZ Transport Agency. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2017.
  244. ^ Humphris, Adrian (tháng 4 năm 2010). “Public transport – Passenger trends”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011.
  245. ^ Atkinson, Neill (tháng 11 năm 2010). “Railways – Rail transformed”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011.
  246. ^ Atkinson, Neill (tháng 4 năm 2010). “Railways – Freight transport”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011.
  247. ^ “International Visitors” (PDF). Ministry of Economic Development. Tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2011.
  248. ^ “10. Airports”. Infrastructure Stocktake: Infrastructure Audit. Ministry of Economic Development. Tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2011.
  249. ^ “Overview of the New Zealand Telecommunications Market 1987–1997”. Ministry of Economic Development. Tháng 11 năm 2005. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2011.
  250. ^ Budde, Paul. “New Zealand – Telecommunications – Major Players”. Budde Comm. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2011.
  251. ^ “2016 Global ICT Development Index” (bằng tiếng Anh). International Telecommunication Union (ITU). 2016. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2017.
  252. ^ Kennedy 2007, tr. 398.
  253. ^ Hearn, Terry (tháng 3 năm 2009). “English – Importance and influence”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2011.
  254. ^ “Conclusions – British and Irish immigration”. Ministry for Culture and Heritage. Tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2011.
  255. ^ Stenhouse, John (tháng 11 năm 2010). “Religion and society – Māori religion”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2011.
  256. ^ “Māori Social Structures”. Ministry of Justice. Tháng 3 năm 2001. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2011.
  257. ^ “Thousands turn out for Pasifika Festival”. Radio New Zealand (bằng tiếng en-nz). Ngày 25 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2017.
  258. ^ a ă Kennedy 2007, tr. 400.
  259. ^ Kennedy 2007, tr. 399.
  260. ^ Phillips, Jock (tháng 3 năm 2009). “The New Zealanders – Post-war New Zealanders”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2011.
  261. ^ Phillips, Jock (tháng 3 năm 2009). “The New Zealanders – Ordinary blokes and extraordinary sheilas”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2011.
  262. ^ Phillips, Jock (tháng 3 năm 2009). “Rural mythologies – The cult of the pioneer”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2011.
  263. ^ Swarbrick, Nancy (tháng 6 năm 2010). “Creative life – Visual arts and crafts”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011.
  264. ^ McLintock, Alexander biên tập (tháng 4 năm 2009) [originally published in 1966]. “Elements of Carving”. from An Encyclopaedia of New Zealand. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2011.
  265. ^ McKay, Bill (2004). “Māori architecture: transforming western notions of architecture”. Fabrications: the Journal of the Society of Architectural Historians, Australia and New Zealand 14 (1&2): 1–12. doi:10.1080/10331867.2004.10525189.
  266. ^ “A new New Zealand art – history of NZ painting”. Ministry for Culture and Heritage. Tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2011.
  267. ^ “Contemporary Maori art”. Ministry for Culture and Heritage. Tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2011.
  268. ^ McLintock, Alexander biên tập (tháng 4 năm 2009) [originally published in 1966]. “Textile Designs”. from An Encyclopaedia of New Zealand. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2011.
  269. ^ Wilson, John (tháng 3 năm 2009). “Society – Food, drink and dress”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2011.
  270. ^ Swarbrick, Nancy (tháng 6 năm 2010). “Creative life – Design and fashion”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011.
  271. ^ a ă “Fashion in New Zealand – New Zealand's fashion industry”. The Economist. Ngày 28 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2009.
  272. ^ Swarbrick, Nancy (tháng 6 năm 2010). “Creative life – Writing and publishing”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011.
  273. ^ “The making of New Zealand literature”. Ministry for Culture and Heritage. Tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011.
  274. ^ “New directions in the 1930s – New Zealand literature”. Ministry for Culture and Heritage. Tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2011.
  275. ^ “The war and beyond – New Zealand literature”. Ministry for Culture and Heritage. Tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2011.
  276. ^ a ă Swarbrick, Nancy (tháng 6 năm 2010). “Creative life – Music”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2011.
  277. ^ McLintock, Alexander biên tập (tháng 4 năm 2009) [originally published in 1966]. “Maori Music”. from An Encyclopaedia of New Zealand. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2011.
  278. ^ McLintock, Alexander biên tập (tháng 4 năm 2009) [originally published in 1966]. “Musical Instruments”. from An Encyclopaedia of New Zealand. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2011.
  279. ^ McLintock, Alexander biên tập (tháng 4 năm 2009) [originally published in 1966]. “Instruments Used for Non-musical Purposes”. from An Encyclopaedia of New Zealand. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2011.
  280. ^ McLintock, Alexander biên tập (tháng 4 năm 2009) [originally published in 1966]. “Music: General History”. from An Encyclopaedia of New Zealand. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2011.
  281. ^ McLintock, Alexander biên tập (tháng 4 năm 2009) [originally published in 1966]. “Music: Brass Bands”. from An Encyclopaedia of New Zealand. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2011.
  282. ^ McLintock, Alexander biên tập (tháng 4 năm 2009) [originally published in 1966]. “Music: Pipe Bands”. from An Encyclopaedia of New Zealand. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2011.
  283. ^ Swarbrick, Nancy (tháng 6 năm 2010). “Creative life – Performing arts”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2011.
  284. ^ “History – celebrating our music since 1965”. Recording Industry Association of New Zealand. 2008. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2012.
  285. ^ Trisha Dunleavy and Hester Joyce, eds. New Zealand Film and Television: Institution, Industry, and Cultural Change (Intellect Books, distributed by University of Chicago Press; 2012).
  286. ^ a ă Swarbrick, Nancy (tháng 6 năm 2010). “Creative life – Film and broadcasting”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2011.
  287. ^ “Top 20 highest grossing box office new zealand movies of all time”. Flicks.co.nz. Tháng 7 năm 2012.
  288. ^ Cieply, Michael; Rose, Jeremy (tháng 10 năm 2010). “New Zealand Bends and ‘Hobbit’ Stays”. New York Times.
  289. ^ “Production Guide: Locations”. Film New Zealand. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2011.
  290. ^ “Only peace protects freedoms in post-9/11 world”. Reporters Without Borders. Ngày 22 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2010.
  291. ^ “Freedom of the Press 2011” (PDF). Freedom House. 2011. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 23 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012.
  292. ^ Hearn, Terry (tháng 3 năm 2009). “English – Popular culture”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2022. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  293. ^ “Sport, Fitness and Leisure”. New Zealand Official Yearbook. Statistics New Zealand. 2000. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2008. Traditionally New Zealanders have excelled in rugby union, which is regarded as the national sport, and track and field athletics.
  294. ^ a ă â Phillips, Jock (tháng 2 năm 2011). “Sports and leisure – Organised sports”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2011. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Organised Sport” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  295. ^ Crawford, Scott (tháng 1 năm 1999). “Rugby and the Forging of National Identity”. Trong Nauright, John. Sport, Power And Society In New Zealand: Historical And Contemporary Perspectives (PDF). ASSH Studies In Sports History.
  296. ^ “Rugby, racing and beer”. Ministry for Culture and Heritage. Tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011.
  297. ^ Derby, Mark (tháng 12 năm 2010). “Māori–Pākehā relations – Sports and race”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011.
  298. ^ “ABS medal tally: Australia finishes third”. Australian Bureau of Statistics. Ngày 30 tháng 8 năm 2004. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2008.
  299. ^ “London 2012 Olympic Games: Medal strike rate – Final count (revised) - Statistics New Zealand”. Stats.govt.nz. Ngày 14 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2013.
  300. ^ Active. “The All Blacks guide to being successful (off the field)”. Telegraph. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2013.
  301. ^ Bain 2006, tr. 69.
  302. ^ “World mourns Sir Edmund Hillary”. The Age (Australia). Tháng 1 năm 2008.
  303. ^ “Sport and Recreation Participation Levels” (PDF). Sport and Recreation New Zealand. 2009. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2010.
  304. ^ Yousef, Robyn (tháng 1 năm 2011). “Waka ama: Keeping it in the family”. New Zealand Herald.
  305. ^ a ă “New Zealand Cuisine”. New Zealand Tourism Guide. Tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2016.
  306. ^ Petrie, Hazel (tháng 11 năm 2008). “Kai Pākehā – introduced foods”. Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2017.
  307. ^ Whaanga, Mere (tháng 6 năm 2006). “Mātaitai – shellfish gathering”. Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2017.
  308. ^ “Story: Shellfish”. Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2016.
  309. ^ Burton, David (tháng 9 năm 2013). “Cooking – Cooking methods” (bằng tiếng Anh). Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2016.
  310. ^ Royal, Charles; Kaka-Scott, Jenny (tháng 9 năm 2013). “Māori foods – kai Māori”. Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2016.

Tham khảo

Thư mục

  • Allan, H.H. (1982) Indigenous Tracheophyta – Psilopsida, Lycopsida, Filicopsida, Gymnospermae, Dicotyledons, Flora of New Zealand Volume I. Botany Division, Department of Scientific and Industrial Research.
  • Bain, Carolyn (2006). New Zealand. Lonely Planet. ISBN 1741045355.
  • Clark, R. (1994) Moriori and Māori: The Linguistic Evidence. In Sutton, Douglas G. (Ed.) (1994), The Origins of the First New Zealanders. Auckland: Auckland University Press.
  • Davenport, Sally. "Panic and panacea: brain drain and science and technology human capital policy" Research Policy 33 (2004) 617–630. Truy cập 2007-04-24.
  • Jackson, Duncan J.R. (2005). “Exploring the Dynamics of New Zealand's Talent Flow”. New Zealand Journal of Psychology.
  • Inkson, K (2004). “The New Zealand Brain Drain: Expatriate views”. University of Auckland Business Review 6 (2): 29–39.
  • King, Michael (2003). The Penguin History of New Zealand. New Zealand: Penguin Books. ISBN 9780143018674.
  • Lange, David (1990). Nuclear Free: The New Zealand Way. New Zealand: Penguin Books. ISBN 0140145192.
  • Lindsey, Terence; Morris, Rod (2000). Collins Field Guide to New Zealand Wildlife. HarperCollins (New Zealand) Limited.
  • Mackay, D. (1986) The Search For The Southern Land. In Fraser, B. (Ed.) (1986), The New Zealand Book Of Events. Auckland: Reed Methuen.
  • Mein Smith, Philippa (2005). A Concise History of New Zealand. Australia: Cambridge University Press. ISBN 0521542286.
  • Robert G. Patman (2005). “Globalisation, Sovereignty, and the Transformation of New Zealand Foreign Policy” (PDF). Working Paper 21/05. Centre for Strategic Studies, Victoria University of Wellington. tr. 8. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2007.
  • Sutton, Douglas G.; Flenley, John R.; Li, Xun; Todd, Arthur; Butler, Kevin; Summers, Rachel; Chester, Pamela I. (2008). “The timing of the human discovery and colonization of New Zealand”. Quaternary International 184: 109–121. doi:10.1016/j.quaint.2007.09.025.
  • Winkelmann, R. (2000). “The [[Labour economics|labour market]] performance of European immigrants in New Zealand in the 1980s and 1990s”. The International Migration Review (The Center for Migration Studies of New York, Inc.) 33 (1): 33–58. doi:10.2307/2676011. Tựa đề URL chứa liên kết wiki (trợ giúp)
  • Zavos, Spiro (ngày 2 tháng 9 năm 2007). “How to beat the All Blacks”. The Sun Herald (supplement). tr. 54.

Đọc thêm

  • David Bateman, ed. Bateman New Zealand Encyclopedia (2005)
  • Keith Sinclair and Raewyn Dalziel. A History of New Zealand (2000)
  • A. H. McLintock, ed. Encyclopedia of New Zealand 3 vols (1966)
  • New Zealand Official Yearbook (annual)

Liên kết ngoài

Wikimedia Atlas của New Zealand

Bảng mã IOC

Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) sử dụng ba ký tự tiêu biểu cho mã quốc gia và chùm ký tự này sẽ đại diện cho các vận động viên trong các kì Đại hội Olympic. Mỗi chùm ký tự đại diện cho Ủy ban Olympic của các quốc gia; nhưng cũng có thể trong các sự kiện quá khứ nó được dùng để đại diện cho liên hiệp các quốc gia hay tập thể cá nhân không đại diện cho bất kì một quốc gia nào.

Bảng mã này có một vài điểm khác biệt so với bảng chuẩn ISO 3166-1 alpha-3. Trong một số tổ chức thể thao khác, chẳng hạn FIFA hay Liên đoàn Thịnh vượng chung Anh, dùng ký hiệu giống với bảng này.

Chiến dịch Guadalcanal

Chiến dịch Guadalcanal, còn gọi là Trận Guadalcanal, và tên mã của Đồng Minh là Chiến dịch Watchtower, diễn ra từ ngày 7 tháng 8 năm 1942 đến ngày 9 tháng 2 năm 1943 trên đảo Guadalcanal và khu vực phụ cận tại quần đảo Solomon của Mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Việc tranh chấp diễn ra ác liệt cả trên bộ, trên biển và trên không; chiến dịch này là cuộc tấn công lớn đầu tiên của phe Đồng Minh chống lại Đế quốc Nhật Bản sau một thời gian dài phòng thủ.Vào ngày 7 tháng 8 năm 1942, lực lượng Đồng Minh, chủ yếu là Mỹ, thực hiện đổ bộ lên các đảo Guadalcanal, Tulagi, và Florida (Nggela Sule) phía Nam quần đảo Solomon với mục tiêu ngăn chặn quân Nhật sử dụng chúng làm căn cứ đe dọa con đường vận chuyển từ Mỹ đến Australia và New Zealand. Đồng Minh còn định sử dụng Guadalcanal và Tulagi như những căn cứ hỗ trợ cho chiến dịch chiếm đóng hoặc vô hiệu hóa căn cứ chủ lực của Nhật tại Rabaul trên đảo New Britain. Lực lượng Đồng Minh đã áp đảo số lượng quân Nhật phòng thủ nhỏ bé, vốn đã chiếm đóng các đảo này từ tháng 5 năm 1942, chiếm giữ Tulagi và Florida cùng một sân bay (sau này được đặt tên là Henderson) đang được xây dựng trên đảo Guadalcanal.

Bị bất ngờ bởi đòn tấn công của Đồng Minh, phía Nhật Bản từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1942 đã nhiều lần tìm cách chiếm lại sân bay Henderson. Ba trận chiến lớn trên bộ, năm trận hải chiến lớn, và các cuộc không chiến diễn ra liên tục hầu như hàng ngày, mà đỉnh điểm là trận Hải chiến Guadalcanal mang tính quyết định vào đầu tháng 11 năm 1942, trong đó nỗ lực cuối cùng nhằm tăng viện đủ số lượng binh lính để chiếm lại sân bay Henderson bị đánh bại. Sang tháng 12 năm 1942, phía Nhật từ bỏ mọi hy vọng tái chiếm Guadalcanal và triệt thoái các lực lượng còn lại vào ngày 7 tháng 2 năm 1943.

Chiến dịch Guadalcanal đánh dấu một chiến thắng chiến lược đáng kể nhờ phối hợp các binh chủng bởi lực lượng Đồng Minh đối với Nhật Bản tại mặt trận Thái Bình Dương. Quân Nhật đã đạt đến cao trào trong sự xâm chiếm của họ tại Thái Bình Dương, và Guadalcanal đánh dấu sự chuyển mình của Đồng Minh từ các chiến dịch phòng thủ sang tấn công chiến lược tại mặt trận này.

Danh sách đĩa nhạc của Christina Aguilera

Danh sách đĩa nhạc của nữ ca sĩ-nhạc sĩ người Mỹ Christina Aguilera bao gồm bảy album phòng thu, một album tổng hợp, một album thu thử, một đĩa mở rộng (EP), một album nhạc phim, 36 đĩa đơn và 32 video âm nhạc.

Năm 1997, cô thu âm bài hát "All I Wanna Do" cùng với Keizo Nakanishi trích từ album Spinning của Keizo. Năm 1998, cô thu âm bài hát "Reflection" cho album nhạc phim của phim hoạt hình Mộc Lan của hãng Walt Disney. Sau đó, Aguilera đăng ký hợp đồng với hãng thu âm RCA và phát hành album đầu tay mang tên chính mình vào ngày 24 tháng 8 năm 1999. Album là một thành công thương mại, đạt vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard 200 của Mỹ. Tổng cộng, album đã tiêu thụ được 8 triệu bản tại Mỹ và 17 triệu bản trên toàn thế giới. Cả bốn đĩa đơn "Genie in a Bottle", "What a Girl Wants", "I Turn to You" và "Come On Over Baby (All I Want Is You)" đều lọt vào tốp ba Billboard Hot 100. Năm 2000, Aguilera phát hành tiếp một album tiếng Tây Ban Nha, Mi Reflejo và một album Giáng sinh, My Kind of Christmas. Đầu năm 2001, Christina cùng với Ricky Martin hợp tác cùng nhau trong đĩa đơn "Nobody Wants to Be Lonely" trích từ album Sound Loaded của Martin. Sau đó, Aguilera tiếp tục hợp tác với ba ca sĩ khác là Lil' Kim, Mýa và Pink trong đĩa đơn "Lady Marmalade". Đây là ca khúc thành công nhất của Aguilera, đứng vị trí quán quân tại Mỹ, Úc, Đức, Ireland và rất nhiều quốc gia khác.

Ngày 29 tháng 10 năm 2002, album phòng thu thứ tư của Aguilera mang tên Stripped chính thức được phát hành. Từ một hình tượng ngây thơ trong album trước, cô lột xác với phong cách âm nhạc táo bạo và tự làm chủ hình ảnh của mình. Điển hình là khi "Dirrty" được phát hành, cô đã bị chỉ trích nặng nề ở Mỹ. Tuy nhiên bài hát lại cực kỳ thành công tại châu Âu. Đĩa đơn thứ hai trích từ album, "Beautiful" là một bản ballad với sự kết hợp nền nhạc piano của Linda Perry. "Beautiful" là một thành công thươg mại, lọt vào tốp 5 của rất nhiều quốc gia. Ba đĩa đơn tiếp theo trích từ album là "Fighter", "Can't Hold Us Down" và "The Voice Within". Tổng cộng, Stripped đã tiêu thụ được 12 triệu bản trên toàn thế giới. Năm 2006, Aguilera phát hành album Back to Basics với đậm âm hưởng nhạc jazz cổ điển nhưng cũng có chút ảnh hưởng của soul và blues. Trên thị trường âm nhạc, Back to Basics là một thành công lớn khi quán quân bảng xếp hạng Billboard 200 và rất nhiều quốc gia khác. Tổng cộng, Back to Basics đã tiêu thụ 1,7 triệu bản tại Mỹ và 4,5 triệu bản toàn thế giới. Năm đĩa đơn trích từ album là "Ain't No Other Man", "Hurt", "Candyman", "Slow Down Baby" và "Oh Mother". Năm 2008, để kỉ niệm 1 thập kỷ hoạt động, Aguilera phát hành tuyển tập hit mang tên Keeps Gettin' Better - A Decade of Hits bao gồm những ca khúc thành công nhất trong sự nghiệp từ những năm 1998 đến năm 2008 của cô.

Năm 2010, Aguilera phát hành album đậm chất nhạc điện tử mang tên Bionic. Mặc dù được đánh giá khá cao, song Bionic lại là một album bán không chạy do không có sự chuẩn bị kĩ kàng cho việc quảng bá album. Album phòng thu thứ bảy của Aguilera mang tên Lotus cũng gặp phải trường hợp tương tự khi doanh số khá thấp. Mặc dù thất bại, song Aguilera vẫn rất vui vì hai album đã thể hiện được chất giọng tốt của mình.

Trong hơn 10 năm sự nghiệp, cô đã có 2 album đạt vị trí số 1 tại bảng xếp hạng Billboard 200 và 5 đĩa đơn quán quân tại bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Tới nay, cô đã tiêu thụ được 50 triệu bản album trên toàn thế giới. Cô đồng thời là nghệ sĩ bán được đĩa đơn nhiều thứ nhì thập niên 2000, chỉ sau Madonna.

Danh sách đĩa nhạc của Ellie Goulding

Nữ ca sĩ kiêm sáng tác nhạc người Anh Ellie Goulding đã phát hành 3 album phòng thu, 1 album phối lại, 7 đĩa mở rộng, 32 đĩa đơn (gồm 7 đĩa đơn hát phụ), 5 đĩa đơn quảng bá và 35 video âm nhạc. Đến tháng 6 năm 2013, Goulding đã tiêu thụ được 3 triệu bản album và 10 triệu bản đĩa đơn toàn cầu. Trong số đó, cô ấy đã bán 1,5 triệu bản album và hơn 4,3 triệu đĩa đơn (gồm cả những bản hợp tác) tại Vương quốc Anh tính đến tháng 2 năm 2014.Sau khi ký hợp đồng với Polydor Records vào tháng 7 năm 2009, Goulding phát hành đĩa mở rộng (EP) đầu tay, An Introduction to Ellie Goulding vào tháng 12 cùng năm đó. Sau đó cô phát hành album phòng thu đầu tay, Lights, vào tháng 2 năm 2010. Album mở đầu tại vị trí quán quân trên bảng xếp hạng UK Albums Chart và được cấp chứng nhận Bạch kim từ Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Vương quốc Anh (BPI). Album có 4 đĩa đơn: "Under the Sheets", "Starry Eyed", "Guns and Horses" and "The Writer", khi lần lượt đạt vị trí số 53, 4, 26 và 19 trên bảng xếp hạng UK Singles Chart. Vào tháng 11 năm 2010, album đã được tái phát hành với tên Bright Lights kèm theo 7 bài hát mới, bao gồm một bản cover từ Elton John mang tên "Your Song", đĩa đơn đạt vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng UK Singles Chart. Đĩa đơn thứ sáu từ album, "Lights", chỉ giành vị trí thứ 49 trên bảng xếp hạng Anh Quốc, nhưng lại trở thành bài hát có vị trí xếp hạng cao nhất của Goulding tại Hoa Kỳ và Canada, khi bài hát lần luợt đạt vị trí thứ 2 và 7.Album phòng thu thứ hai của Goulding có tựa Halcyon ra mắt vào tháng 10 năm 2012 và giành vị trí quán quân tại Anh, đồng thời xuất hiện top 10 tại Canada, Đức và Hoa Kỳ. Cho đến nay, album đã giành 3 chứng nhận Bạch kim của BPI và một chứng nhận Vàng của Hiệp hội Công nghiệp thu âm Mỹ (RIAA). Đĩa đơn mở đường cho album, "Anything Could Happen", trở thành bài hát thứ ba của Goulding vào top 5 tại Anh khi đạt vị trí thứ 5. Bài hát cũng trở thành đĩa đơn đầu tiên của cô lọt vào bảng xếp hạng của Úc (vị trí thứ 20) và thứ hai tại Billboard Hot 100 (vị trí thứ 47). Hai đĩa đơn theo sau "Figure 8" và "Explosions" lần lượt đạt vị trí thứ 33 và 13 tại Anh. Vào năm 2013, Goulding đã hợp tác với DJ Calvin Harris trong đĩa đơn "I Need Your Love", đạt vị trí thứ 4 ở UK Singles Chart. Cùng năm đó, album Halcyon được tái phát hành với tên Halcyon Days, với 10 bài hát mới. Album được hỗ trợ bởi đĩa đơn thứ tư "Burn", bài hát giúp cô có đĩa đơn quán quân đầu tiên tại Anh. Bài hát cũng trở thành một hit lớn của năm trên toàn cầu, lọt vào top 10 bảng xếp hạng của nhiều quốc gia khác nhau. Halcyon Days còn có thêm 2 đĩa đơn nữa: một bản cover "How Long Will I Love You" của The Waterboys và "Goodness Gracious".

Năm 2014, Goulding đã phát hành đĩa đơn "Beating Heart" cho album nhạc phim của phim Dị biệt (Divergent), và hợp tác với DJ Calvin Harris lần thứ hai với đĩa đơn "Outside". Năm tiếp theo, cô ra mắt đĩa đơn "Love Me like You Do" cho album nhạc phim của Năm mươi sắc thái (Fifty Shades of Grey). "Love Me like You Do" trở thành một hiện tượng toàn cầu, giúp Goulding có đĩa đơn quán quân thứ 2 tại Anh và top 10 tại nhiều nước khác. Album phòng thu thứ ba của Goulding, Delirium, được phát hành vào tháng 11 năm 2015 và đạt vị trí thứ 3 tại Anh, Hoa Kỳ và Úc, và lọt top 5 của 20 quốc gia khác. Album có 3 đĩa đơn: "On My Mind", "Army" và "Something in the Way You Move".

Danh sách đĩa nhạc của Lady Gaga

Nữ ca sĩ người Mỹ Lady Gaga đã phát hành 5 album phòng thu, 1 album nhạc phim, 1 album tổng hợp, 2 album phối lại, 3 album video, 1 box set, 4 EP, 30 đĩa đơn (trong đó có 2 đĩa đơn với vai trò là nghệ sĩ góp giọng), và 9 đĩa đơn quảng bá. Gaga bước chân vào ngành công nghiệp âm nhạc với album phòng thu đầu tay The Fame năm 2008. Album đạt vị trí thứ hai trên bảng xếp hạng Billboard 200 và được cấp chứng nhận 3 lần Bạch kim tại Hoa Kỳ đồng thời giữ vị trí quán quân tại Áo, Canada, Đức, Thuỵ Sĩ và L.H. Anh. Hai đĩa đơn đầu tiên của album, "Just Dance" và "Poker Face" đều đạt được thành công trên quy mô quốc tế, vươn lên dẫn đầu các bảng xếp hạng tại Úc, Canada, L.H. Anh và Hoa Kỳ. Ba đĩa đơn còn lại của album gồm: "Eh, Eh (Nothing Else I Can Say)", "LoveGame" và "Paparazzi". "Paparazzi" lọt vào top 10 tại nhiều quốc gia và đạt vị trí quán quân tại Đức.Cuối năm 2009, Gaga phát hành The Fame Monster, phiên bản cao cấp và tái phát hành của The Fame, sau này được phát hành như một EP riêng biệt. EP vươn lên vị trí dẫn đầu tại Úc, New Zealand, L.H. Anh, và vị trí thứ năm tại Hoa Kỳ, nơi nó được chứng nhận Bạch kim. Đĩa đơn đầu tiên của album, "Bad Romance", gặt hái thành công quy mô quốc tế, đạt vị trí thứ hai tại Hoa Kỳ và vươn lên ví trí quán quân tại 12 quốc gia. Các đĩa đơn tiếp theo, "Telephone" và "Alejandro" là các bản hit lọt vào top 10 tại nhiều nước. Tính đến tháng 4 năm 2012, doanh số tiêu thụ tổng cộng của The Fame và The Fame Monster đạt 15 triệu bản toàn cầu. Album tổng hợp đồng thời là album phối lại đầu tiên của Gaga, The Remix, được phát hành vào năm 2010, bao gồm các bản remix của các ca khúc nằm trong The Fame và The Fame Monster. The Remix đạt vị trí thứ sáu tại Hoa Kỳ và nằm trong top 5 tại Canada và L.H. Anh. Album đã bán ra hơn 500.000 bản sao trên toàn thế giới, trở thành một trong những album phối lại bán chạy nhất mọi thời đại.Born This Way, album phòng thu thứ hai của Gaga được phát hành vào cuối tháng 5 năm 2011 và giành lấy vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard 200 của Hoa Kỳ cũng như tại 20 quốc gia khác. Đĩa đơn đầu tiên trích từ album, "Born This Way" leo lên vị trí quán quân tại 19 quốc gia trên thế giới trong đó có Hoa Kỳ, là đĩa đơn thứ ba của nữ ca sĩ giành được vị trí cao nhất tại đây. Bốn đĩa đơn khác là "Judas", "The Edge of Glory", "You and I" và "Marry the Night". Tháng 11 năm 2013, Gaga phát hành album phòng thu thứ ba Artpop và chọn ba bài hát "Applause", "Do What U Want" và "G.U.Y." làm ba đĩa đơn của album. Vào tháng 9 năm 2014, Gaga cùng với nam nhạc sĩ Tony Bennett ra mắt album hợp tác Cheek to Cheek. Album ra mắt tại vị trí thứ nhất trên Billboard 200, trở thành album thứ ba của Gaga đạt vị trí quán quân kể từ Born This Way. Album phòng thu thứ năm, Joanne, được phát hành vào tháng 10 năm 2016, sau đạt được vị trí thứ nhất tại Hoa Kỳ. Đĩa đơn đầu tiên và thứ hai của album, "Perfect Illusion" và "Million Reasons" làn lượt ra mắt tại vị trí quán quân tại Pháp và đạt vị trí thứ tư tại Hoa Kỳ. Với thứ hạng quán quân mà Joanne đã giành được tại Hoa Kỳ, Gaga trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên sở hữu bốn album đạt vị trí quán quân tại quốc gia này trong thập niên 2010. Năm 2018, Gaga và nam diễn viên Bradley Cooper phát hành album nhạc phim của bộ phim chiếu rạp Vì sao vụt sáng (A Star Is Born), nâng cao kỷ lục của Gaga đã nêu trước đó từ con số bốn lên năm. Album cùng với đĩa đơn đầu tiên "Shallow" giành được vị trí đầu bảng tại Hoa Kỳ, Úc, New Zealand, Thuỵ Sĩ và L.H. Anh.

Tính đến tháng 1 năm 2016, Gaga đã bán được khoảng 27 triệu album và 146 triệu đĩa đơn trên toàn thế giới. Theo thống kê, nữ ca sĩ đã bán ra 7,25 triệu đĩa đơn tại L.H. Anh, 11,46 triệu album tại Hoa Kỳ và trở thành nghệ sĩ đầu tiên và duy nhất có hai bài hát sở hữu số lượt tải về là 7 triệu đơn vị ("Poker Face" và "Just Dance"). Theo tính toán của Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ (RIAA), tính đến tháng 2 năm 2019, Gaga xếp thứ 11 trong danh sách những nghệ sĩ có doanh số tiêu thụ đĩa đơn dạng nhạc số cao nhất tại Hoa Kỳ, ước tính khoảng 61 triệu lượt tải về và lượt stream theo yêu cầu.

Danh sách đĩa nhạc của Lorde

Danh sách đĩa nhạc của Lorde, một nữ ca sĩ và nhạc sĩ người New Zealand, bao gồm 2 album phòng thu, 1 album nhạc phim, 3 đĩa mở rộng, 6 đĩa đơn và 6 video âm nhạc. Năm 13 tuổi, Lorde ký hợp đồng với hãng thu âm Universal Music Group (UMG) và bắt đầu sáng tác âm nhạc. Tháng 11 năm 2012, khi cô 16 tuổi, cô tự phát hành đĩa đơn mở rộng The Love Club EP. EP này được phát hành thương mại bởi UMG vào tháng 3 năm 2013; "Royals", một bài hát được trích ra từ EP, đã trở thành một bài hát nổi tiếng ở New Zealand vào đầu năm 2013. Cuối năm đó, "Royals" đã đứng đầu nhiều bảng xếp hạng quốc tế, trong đó có bảng xếp hạng Billboard Hot 100 của Mỹ. Với "Royals", Lorde trở thành nghệ sĩ đơn ca đầu tiên của New Zealand giành được vị trí quán quân trên Hot 100.Vào tháng 9 năm 2013, Lorde phát hành album phòng thu đầu tay Pure Heroine, trong đó bao gồm "Royals". Bài hát xếp vị trí thứ nhất tại New Zealand và Úc và được nhiều quốc gia chứng nhận doanh số. "Tennis Court" được phát hành làm đĩa đơn thứ hai từ album và đứng đầu các bảng xếp hạng đĩa đơn tại New Zealand. Đĩa đơn thứ ba từ album Pure Heroine, "Team", là một bài hát nằm trong top 10 tại New Zealand, Canada và Mỹ. "No Better" và "Glory and Gore" lần lượt là đĩa đơn thứ tư và thứ năm được phát hành từ album. Tháng 9 năm 2014, Lorde phát hành đĩa đơn "Yellow Flicker Beat", được thu âm cho album nhạc phim Trò chơi sinh tử: Húng nhại – Phần 1. Lorde đã bán được tổng cộng 6,8 triệu bản ở Mỹ (tính đến tháng 1 năm 2014) và 17 triệu bản trên toàn thế giới (tính đến tháng 11 năm 2014).

Danh sách đĩa nhạc của Nirvana

Danh sách đĩa nhạc của Nirvana, một ban nhạc rock người Mỹ có nguyên quán tại Aberdeen, Washington, gồm 3 album phòng thu, 21 đĩa đơn, 3 album trực tiếp, 4 album tổng hợp, 2 đĩa EP và 2 box set. Nirvana được thành lập vào năm 1987 bởi giọng ca chính kiêm nhạc công chơi guitar Kurt Cobain và nhạc công chơi bass Krist Novoselic, trong khi vị trí tay trống đã trải qua nhiều lần thay đổi nhân sự. Ban nhạc phát hành album phòng thu đầu tay có tựa Bleach vào năm 1989 thông qua hãng đĩa độc lập Sub Pop. Sau khi kết nạp thêm tay trống cuối cùng Dave Grohl và kí hợp đồng với hãng đĩa con của Geffen Records là DGC Records, ban nhạc phát hành album phòng thu thứ hai Nevermind. Nhạc phẩm đã trở thành một trong những album nhạc alternative bán chạy nhất thập niên 1990, đồng thời giúp phong trào grunge ở Seatle và nhạc alternative trở nên phổ biến rộng rãi. Album phòng thu thứ ba của nhóm, In Utero cũng giành được thành công về mặt chuyên môn và thương mại, mặc dù nó không đạt doanh số bằng album tiền nhiệm Nevermind như các thành viên trong ban nhạc đã kỳ vọng. Nirvana tan rã vào năm 1994 sau cái chết của Cobain; kể từ đó ban nhạc đã phát hành một số sản phẩm sau khi Kurt qua đời. Tuy nhiên điều này từng dẫn đến một cuộc tranh chấp pháp lý giữa góa phụ của Cobain Courtney Love và các thành viên còn lại của nhóm thông qua việc phát hành "You Know You're Right". Năm 2006, Love đã nhượng lại trách nhiệm phân phối một lượng lớn tác quyền danh mục các bài hát của Cobain cho Primary Wave Music Publishing. Kể từ khi ra mắt nhạc phẩm đầu tay, Nirvana đã bán được 27,6 triệu album chỉ tính riêng tại thị trường Hoa Kỳ và hơn 75 triệu bản trên toàn thế giới.

Danh sách đĩa nhạc của One Direction

Danh sách đĩa nhạc của nhóm nhạc nam Anh-Ireland One Direction bao gồm 5 album phòng thu, một đĩa mở rộng, 17 đĩa đơn (gồm 2 đĩa đơn từ thiện), 2 video album và 15 video âm nhạc. Họ ký hợp đồng với Simon Cowell của hãng thu âm Syco Records sau khi được hình thành và giành hạng ba trong cuộc thi The X Factor (mùa giải thứ 7). Sau đó, nhóm đã ký hợp đồng với hãng Columbia Records và có hoạt động rộng rãi tại Bắc Mỹ.Album đầu tay của nhóm, Up All Night, phát hành vào tháng 11 năm 2011. Album đạt vị trí quán quân tại 16 quốc gia và đây cũng là album đầu tiên ra mắt tại vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard 200 của Mỹ bởi một nhóm nhạc Anh, và kỷ lục này đã được ghi nhận vào Sách kỷ lục Guinness. Đĩa đơn đầu tiên trích từ album, "What Makes You Beautiful", trở thành một hit lớn toàn thế giới, quán quân tại bảng xếp hạng UK Singles Chart của Liên hiệp Anh và đạt vị trí thứ tư trên Billboard Hot 100 của Mỹ. Hai đĩa đơn tiếp theo, "Gotta Be You" và "One Thing" đều lọt vào tốp 10 bảng xếp hạng của Liên hiệp Anh. Album thứ hai, Take Me Home được phát hành tháng 11 năm 2012. Album tiêu thụ 540.000 bản trong tuần đầu tiên tại Mỹ cũng như quán quân bảng xếp hạng của 35 quốc gia. Đĩa đơn đầu từ album, "Live While We're Young" là đĩa đơn xếp hạng cao nhất của nhóm tại Mỹ và trở thành bài hát có lượng tiêu thụ trong tuần đầu tiên cao nhất mà không phải bởi một nghệ sĩ người Mỹ. "Little Things" và "Kiss You", hai đĩa đơn tiếp theo, cũng đạt nhiều thành công thương mại.

Album phòng thu thứ ba của nhóm, Midnight Memories, được phát hành vào ngày 25 tháng 11 năm 2013. Hai đĩa đơn đã phát hành từ album là "Best Song Ever" và "Story of My Life". Album tiếp tục trở thành một album thành công của One Direction khi nó có mặt ở vị trí quán quân ngay tuần đầu tiên tại UK Albums Chart và Billboard 200; và điều này đã giúp cho One Direction trở thành nhóm nhạc đầu tiên trong lịch sử có cả ba album đều đạt vị trí cao nhất tại Billboard 200. Với album phòng thu thứ 4, Four họ mở rộng kỷ lục bằng 4 album quán quân liên tiếp. Album Made in the A.M. phát hành đĩa đơn đầu tiên "Drag Me Down". Tháng 10 năm 2015, ban nhạc thông báo đĩa đơn thứ hai từ album: "Perfect". Tính đến tháng 11 năm 2015, ban nhạc đã bán được tổng cộng 20 triệu album trên toàn cầu.

Danh sách đĩa nhạc của The Beatles

Tại quê hương bản địa Liên hiệp Anh, trong khoảng thời gian từ năm 1962 tới năm 1970, The Beatles đã cho phát hành 12 album phòng thu (13 album toàn cầu), 21 đĩa mở rộng (EP) và 22 đĩa đơn. Tuy nhiên, danh sách đĩa nhạc của họ trên toàn thế giới lại khá phức tạp, bởi nhiều ấn bản được phát hành tùy theo từng quốc gia, đặc biệt là những năm đầu với Capitol Records tại Mỹ. The Beatles cũng có phát hành các ấn bản theo định dạng vinyl, LP, EP nhỏ và SP. Theo thời gian, các sản phẩm của họ được phát hành theo dạng cassette, băng Stereo 8, CD và sau cùng là định dạng nhạc số với ổ USB flash dùng cho Mp3 và FLAC. The Beatles cũng tiến hành nhiều album tổng hợp và các lần chỉnh âm, đưa tổng số ca khúc của The Beatles chỉ tính trong thập niên 60 lên tới 213 ca khúc, tương đương với khoảng 10 giờ nghe nhạc liên tục. Bên cạnh đó, nhóm còn phát hành năm bài hát là các phiên bản khác nhau của những ca khúc đã từng được phát hành: "Love Me Do", "Revolution", "Get Back", "Across the Universe" và "Let It Be"; hai bài hát bằng tiếng Đức là "Komm, gib mir deine Hand" và "Sie liebt dich"; và hai bài hát là bản sao của những ca khúc nằm trong những album trước nhưng vẫn góp mặt trong album Yellow Submarine: "Yellow Submarine" và "All You Need Is Love".

Hầu hết các album của The Beatles đều có cả định dạng mono lẫn stereo. Kể từ khi mono trở thành định dạng phổ biến, The Beatles và nhà sản xuất của họ George Martin chủ yếu chỉnh sửa các ca khúc của họ theo định dạng này. Họ cùng tiến hành chỉnh sửa lại theo định dạng mono trong 4 album đầu tay của ban nhạc. Các album còn lại của họ thường có cả hai định dạng, song bản mono không được phát hành phổ thông. Trong những năm cuối của thập niên 60, vì định dạng mono trở nên quá thông dụng, 2 album cuối cùng của ban nhạc (Abbey Road và Let It Be) chỉ có định dạng stereo.

Từ năm 1968, đĩa đơn "Hey Jude" và AlbumTrắng là những sản phẩm đầu tay từ công ty riêng của ban nhạc, Apple. Parlophone và Capitol tiếp tục phát hành các sản phẩm của The Beatles song đã buộc phải ký hợp đồng với Apple.

Đĩa nhạc của The Beatles bản Anh được phát hành lần đầu tiên trên CD vào năm 1987 và 1988. Bốn album đầu tiên chỉ có định dạng mono, trong khi các album còn lại được xuất bản với duy nhất định dạng stereo. Tuy nhiên George Martin đã tiến hành công cuộc chỉnh âm quy mô lớn với ý định đưa âm nhạc của The Beatles vào định dạng kỹ thuật số. Mặc dù vậy đợt chỉnh âm này chưa áp dụng các công nghệ mới của thế kỷ 21. Tới năm 2009, sau gần 4 năm nghiên cứu, Apple và EMI mới phát hành được bộ CD hoàn chỉnh vào ngày 9 tháng 9 năm 2009 với cả định dạng mono và stereo.

Với những sản phẩm CD album đầu tiên, tất cả những nhạc phẩm chính của The Beatles được hòa âm trên toàn thế giới nhằm bổ sung các album phát hành gốc ở Anh của nhóm trong giai đoạn 1963–1970, LP Magical Mystery Tour và tuyển tập Past Masters. Hai sản phẩm LP và tuyển tập trên bao gồm cả các bản nhạc phát hành trong giai đoạn 1962–1970 nhưng không xuất hiện trong những album ở Anh (chủ yếu là những đĩa đơn và đĩa mặt B nằm ngoài album). Kể từ đó, các sản phẩm trong quá khứ của ban nhạc đều được phát hành trên định dạng kĩ thuật số.

HMS New Zealand (1911)

HMS New Zealand là một trong số ba chiếc tàu chiến-tuần dương lớp Indefatigable được Hải quân Hoàng gia Anh Quốc chế tạo để bảo vệ các lãnh thổ của Đế quốc Anh. Được hạ thủy năm 1911, việc chế tạo con tàu được sự đài thọ về tài chính của chính phủ New Zealand như một món quà, và được đưa ra hoạt động cùng Hải quân Hoàng gia vào năm 1912. Được dự định để phục vụ tại Trạm Trung Quốc, con tàu lại được chính phủ New Zealand nhượng lại theo yêu cầu của Bộ Hải quân Anh để phục vụ tại vùng biển Anh Quốc.

Trong năm 1913, New Zealand được gửi đi trong một hành trình kéo dài mười tháng qua các thuộc địa Anh, nhấn mạnh ở chuyến viếng thăm lãnh thổ mà nó được đặt tên. Nó quay trở lại vùng biển Anh Quốc vào lúc bắt đầu Chiến tranh Thế giới thứ nhất, và đã hoạt động trong thành phần Hạm đội Grand của Hải quân Hoàng gia đối đầu với Hạm đội Biển khơi Đức. Trong chiến tranh, chiếc tàu chiến-tuần dương đã hoạt động trong cả ba trận hải chiến chủ yếu tại Bắc Hải trong Thế Chiến I: Heligoland Bight, Dogger Bank, và Jutland; cũng như đã xuất quân để đối phó với cuộc Bắn phá Scarborough bất phân thắng bại và Trận Heligoland Bight thứ hai. Mặc dù đã góp phần vào việc phá hủy hai tàu tuần dương; New Zealand chỉ bị hỏa lực đối phương bắn trúng một lần duy nhất trong suốt quãng đời hoạt động và không bị tổn thất thương vong nào; một con tàu may mắn được thủy thủ đoàn quy cho một bộ trang phục chiến binh của người Māori, bao gồm váy "piupiu" và vòng cổ "tiki", được hạm trưởng mặc trong lúc tác chiến.

Sau chiến tranh, New Zealand được gửi đi một chuyến vòng quanh thế giới khác, lần này là để đưa Đô đốc John Jellicoe thị sát công việc phòng thủ hải quân tại các thuộc địa. Đến năm 1920, chiếc tàu chiến-tuần dương được đưa về lực lượng dự bị. Quá trình giải trừ quân bị do Hiệp ước Hải quân Washington đã buộc phải loại bỏ New Zealand khỏi thành phần hải quân để đạt được giới hạn về tải trọng tàu chiến đặt ra đối với Anh Quốc, và con tàu bị bán để tháo dỡ vào năm 1920.

Imagine (bài hát của John Lennon)

"Imagine" là ca khúc do nam nhạc sĩ-ca sĩ người Anh John Lennon sáng tác và thể hiện. Đây là đĩa đơn bán chạy nhất trong sự nghiệp đơn ca của ca sĩ này. Lời bài hát cổ vũ người nghe hãy tưởng tượng ra một thế giới hoà bình, không có biên giới chia cắt các quốc gia và cũng không có sự chia rẽ giữa các tôn giáo và sắc tộc, cùng với đó thể hiện mong muốn rằng xã hội loài người sẽ sống một cuộc sống không chịu sự chi phối của của cải vật chất.

Lennon và Yoko Ono đồng sản xuất đĩa đơn này cũng như album cùng tên với Phil Spector. Quá trình thu âm bắt đầu tại phòng thu tại gia của Lennon tại Công viên Tittenhurst, Anh vào tháng 5 năm 1971. Công đoạn ghi đè cuối cùng diễn ra tại phòng thu Record Plant, ở thành phố New York vào tháng 7. Một tháng sau khi phát hành dưới dạng đĩa than LP vào tháng 9, Lennon cho ra mắt "Imagine" dưới dạng một đĩa đơn tại Hoa Kỳ; ca khúc lên tới vị trí thứ ba trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 còn bản thu trên đĩa than LP đứng đầu bảng xếp hạng Anh quốc vào tháng 11, sau này trở thành album có thành công chuyên môn và thương mại cao nhất trong sự nghiệp solo của Lennon. Mặc dù ban đầu không được phát hành dưới dạng đĩa đơn ở Vương quốc Anh, sau này vào năm 1975 đĩa đơn đã được phát hành để quảng bá cho một đĩa LP tổng hợp và ca khúc đã lên tới vị trí thứ sáu trên bảng xếp hạng cùng năm đó. Ca khúc đã bán được trên 1,6 triệu bản sao tại Anh quốc; đến thời điểm tháng 12 năm 1980 sau khi Lennon qua đời; ca khúc lại một lần nữa vươn lên vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng.

BMI (Broadcast Music, Inc.) thống kê "Imagine" là một trong số 100 ca khúc được biểu diễn nhiều nhất thế kỷ 20. Ca khúc đứng thứ 30 trong danh sách 365 Ca khúc của Thế kỷ có ảnh hưởng lịch sử lớn nhất của Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Bài hát giành giải Grammy Hall of Fame Award và được tiến cử vào danh sách "500 ca khúc định hình nên phong cách Rock and Roll" của Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll. Một cuộc điều tra tiến hành tại Anh bởi Sách kỷ lục Guinness về các đĩa đơn hit tại Anh xếp hạng "Imagine" là đĩa đơn hay thứ hai mọi thời đại, tạp chí Rolling Stone cũng xếp hạng ca khúc này đứng thứ 3 trong danh sách "500 bài hát vĩ đại nhất". Kể từ 2005, các nhà tổ chức sự kiện đã cho phát bài hát này ngay trước lễ thả quả cầu Quảng trường Thời đại ở thành phố New York. Hành chục nghệ sĩ đã biểu diễn hoặc thu âm lại ca khúc này, trong đó có Madonna, Stevie Wonder, Joan Baez, Elton John, và Diana Ross. Emeli Sandé cũng đã thu âm ca khúc này cho đài BBC để sử dụng cho video tổng kết tại lễ bế mạc Thế vận hội Mùa hè 2012 vào tháng 8 năm đó. "Imagine" sau đó lại một lần nữa vào bảng xếp hạng top 40 tại Anh quốc (đứng ở vị trí thứ 18).

Indefatigable (lớp tàu chiến-tuần dương)

Lớp tàu chiến-tuần dương Indefatigable là lớp tàu chiến-tuần dương thứ hai của Anh Quốc, đã phục vụ cùng Hải quân Hoàng gia Anh và Hải quân Hoàng gia Australia trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Thiết kế của chúng phản ảnh sự cải tiến tối thiểu so với lớp Invincible dẫn trước, gia tăng tầm xa hoạt động và cải thiện góc bắn chéo qua lườn tàu đối với các tháp pháo bên mạn giữa tàu bằng cách kéo dài lườn tàu. Giống như những chiếc tiền nhiệm, thiết kế của chúng tương tự như những thiết giáp hạm dreadnought đương thời của Anh, như là lớp Neptune, nhưng hy sinh một phần vỏ giáp bảo vệ và một tháp pháo để đổi lấy một tốc độ nhanh hơn 4 hải lý một giờ (7,4 km/h; 4,6 mph).

Nguyên chỉ có Indefatigable là chiếc duy nhất trong lớp, nhưng sau đó còn có HMAS Australia và New Zealand được chế tạo như một phần của kế hoạch phòng thủ các thuộc địa tự trị thuộc Đế quốc Anh; theo đó mỗi lãnh thổ tự trị sẽ mua một "đơn vị hạm đội" gồm một tàu chiến-tuần dương, ba tàu tuần dương hạng nhẹ và sáu tàu khu trục. Chỉ có Australia hoàn tất đầy đủ ý tưởng này, hình thành nên Hải quân Hoàng gia Australia, còn New Zealand chỉ đồng ý cung cấp kinh phí cho một tàu chiến-tuần dương. Một thiết kế của lớp Indefatigable đã được chọn để chế tạo hai chiếc này thay vì lớp Lion vốn đang được đóng cho Hải quân Hoàng gia Anh.

Chúng trải qua phần lớn thời gian của chiến tranh tuần tra tại Bắc Hải, và tham gia hầu hết các trận chiến tại đây, cho dù chỉ có New Zealand có mặt tại Anh Quốc khi chiến tranh bắt đầu. Indefatigable lúc đó hiện diện tại Địa Trung Hải khi nó truy đuổi các tàu chiến Đức Goeben và Breslau đang tháo chạy về Thổ Nhĩ Kỳ. Australia là soái hạm của Hải quân Hoàng gia Australia tại vùng biển Australia, và đã giúp vào việc chiếm đóng các thuộc địa Đức tại Thái Bình Dương cũng như truy tìm không thành công Hải đội Đông Á Đức Quốc trước khi lên đường đi Anh vào tháng 12 năm 1914. New Zealand tham gia một số hoạt động ban đầu tại Bắc Hải, bao gồm Trận Heligoland Bight và cuộc bắn phá Scarborough bất phân thắng bại. Australia được sửa chữa sau một va chạm với tàu chị em New Zealand ngay trước Trận Jutland, nên chỉ có Indefatigable và New Zealand có mặt trong cuộc hải chiến lớn nhất Thế Chiến I này, nơi Indefatigable bị phá hủy trong một vụ nổ hầm đạn. Cả Australia và New Zealand trải qua thời gian còn lại của cuộc chiến một cách bình yên, chờ đợi sự xuất hiện tiếp theo của Hạm đội Biển khơi Đức, nhưng việc này đã bị Kaiser cấm cho đến khi chiến tranh chấm dứt. New Zealand đã đưa Đô đốc John Jellicoe trong chuyến đi đến Ấn Độ và các thuộc địa khác sau chiến tranh, trong khi Australia quay trở về nhà nơi nó trở thành soái hạm của Hải quân Hoàng gia Australia. New Zealand bị bán để tháo dỡ vào năm 1922 trong khi Australia chỉ tồn tại thêm hai năm nữa trước khi bị đánh đắm nhằm tuân thủ những điều khoản của Hiệp ước Hải quân Washington.

Paracetamol

Paracetamol (tên nhãn hiệu quốc tế không độc quyền) hay acetaminophen, APAP (tên được chấp nhận tại Hoa Kỳ) là một thuốc có tác dụng hạ sốt và giảm đau, tuy nhiên không như aspirin nó không hoặc ít có tác dụng chống viêm. Khả năng làm giảm sốt cho trẻ em của thuốc này còn đang được tranh cãi.So với các thuốc NSAID, paracetamol có rất ít tác dụng phụ với liều điều trị nên được cung cấp không cần kê đơn ở hầu hết các nước. Và thường được bán cùng với các thành phần khác trong các đơn thuốc trị cảm lạnh. Paracetamol được dùng kết hợp với các thuốc giảm đau gốc thuốc phiện để làm giảm các cơn đau nặng hơn như đau do ung thư và đau hậu phẫu thuật.Paracetamol được hấp thu bằng đường miệng hoặc hậu môn và cũng có thể tiêm tĩnh mạch. Tác dụng của thuốc trong vòng 2 đến 4 giờ sau khi dùng.Từ năm 1977, Paracetamol đã được đưa vào Danh sách các thuốc thiết yếu của WHO.

Recorded Music NZ

Recorded Music NZ (trước đây là Recording Industry Association of New Zealand (RIANZ, Hiệp hội Công nghiệp ghi âm New Zealand)) là một hiệp hội thương mại phi lợi nhuận của các nhà sản xuất thu âm, nhà phân phối và nhạc sĩ là những người bán nhạc ở New Zealand. Recorded Music NZ cho phép bất kỳ hãng thu âm nào đang hoạt động ở New Zealand gia nhập, và chịu ảnh hưởng lớn bởi "Big Three" của ngành công nghiệp âm nhạc (Sony, Universal và Warner Music).

Recorded Music NZ phát hành bảng xếp hạng âm nhạc chính thức của New Zealand (The Official NZ Top40), tổ chức trao giải New Zealand Music Awards hàng năm, cung cấp các dịch vụ khác phục vụ trực tiếp cho các hãng thu âm và nghệ sĩ, đồng thời cũng cấp bản quyền âm nhạc và các xử lý các vấn đề liên quan đến bảo vệ bản quyền âm nhạc.

Red (album của Taylor Swift)

Red thường được viết cách điệu là RED là album phòng thu thứ tư của nữ ca sĩ kiêm sáng tác nhạc người Mỹ Taylor Swift, do hãng thu âm Big Machine Records phát hành vào ngày 22 tháng 10 năm 2012. Được Swift bắt tay thực hiện từ năm 2010, album là thành quả hợp tác giữa cô và các nhạc sĩ như Dan Wilson, Max Martin, Shellback, Gary Lightbody, Ed Sheeran và Patrick Warren. Kết cấu và tựa đề của album lấy cảm hứng từ những trải nghiệm tình cảm mà Swift đúc kết được trong thời gian thu âm, với thể loại pop đồng quê và pop rock.

Các nhà phê bình âm nhạc đương đại đón nhận Red một cách nồng nhiệt, khi đề cao tính linh hoạt của Swift ở cương vị nhạc sĩ cùng phần sản xuất mang tính thử nghiệm. Album mang về cho cô 2 đề cử "Album nhạc đồng quê xuất sắc nhất" và "Album của năm" tại mùa Giải Grammy lần thứ 56, trong khi giành giải "Album nhạc đồng quê được yêu thích nhất" tại Giải thưởng Âm nhạc Mỹ năm 2013. Red gặt hái thành công rực rỡ về mặt thương mại, khi giành ngôi đầu bảng tại Hoa Kỳ, Anh Quốc, Úc, Canada, Ireland và New Zealand, là album bán chạy thứ hai trên toàn cầu trong năm 2012, với doanh số đến nay đã chạm mốc 6 triệu bản.

Red cho phát hành tổng cộng 7 đĩa đơn chính thức, trong đó "We Are Never Ever Getting Back Together" và "I Knew You Were Trouble" vươn đến top 10 tại hơn 10 lãnh thổ khác nhau và là hai trong số các đĩa đơn bán chạy nhất thế giới. "Begin Again", "Red", "22" và "Everything Has Changed" đều giành được chứng nhận Bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Chuyến lưu diễn quảng bá vòng quanh thế giới The Red Tour, xuyên khắp các quốc gia tại Bắc Mỹ, Châu Đại Dương, Châu Á và Châu Âu đạt thành công lớn, khi đem về 150 triệu đô-la Mỹ trên toàn cầu.

Stripped (album của Christina Aguilera)

Stripped (tạm dịch: Trần trụi) là album phòng thu thứ tư trong sự nghiệp âm nhạc của nữ ca sĩ thu âm người Mỹ Christina Aguilera, được hãng đĩa RCA Records phát hành vào ngày 26 tháng 10 năm 2002. Khác với album Christina Aguilera mang thể loại bubblegum pop, Stripped là sự kết hợp các thể loại hoàn toàn mới bao gồm R&B, phúc âm, soul, pop rock, Latin và hip hop. Album được chính cô và các nhà sản xuất lâu năm khác sản xuất, gồm Scott Storch và Linda Perry. Trong suốt quá trình quảng bá cho album, cô đã sử dụng nghệ danh "Xtina" cùng những video khêu gợi đã bị cấm và bị chỉ trích nặng nề tại Mỹ, trong đó có video âm nhạc của đĩa đơn "Dirrty". Mặc dù vậy, album vẫn được phát hành với tư cách là "album lành mạnh" và không bị mang biển "Khuyến cáo cho cha mẹ" ("Parental Advisory"). Từ một hình tượng "Công chúa nhạc Pop" trước kia, Stripped đã làm cho Aguilera trở thành một "Biểu tượng sex".Stripped ra mắt tại vị trí á quân trên bảng xếp hạng Billboard 200 và tiêu thụ được 330.000 bản trong tuần đầu tiên. Mặc dù Aguilera bị chỉ trích trong việc sáng tác các ca khúc, song album đã mang về cho cô nhiều giải thưởng danh giá, bao gồm một giải Grammy. Album là một thành công thương mại, xếp hạng á quân tại Liên hiệp Anh và trở thành album bán chạy thứ 73 tại nước này. Tới nay, album đã tiêu thụ được 4,3 triệu bản tại Mỹ và 12 triệu bản trên toàn thế giới. Christina Aguilera đã thực hiện hai chuyến lưu diễn nhằm quảng bá cho album, bao gồm Justified/Stripped Tour và Stripped World Tour. Các đĩa đơn trích từ Stripped bao gồm "Dirrty", "Beautiful", "Fighter", "Can't Hold Us Down" và "The Voice Within".

The Love Club EP

The Love Club EP là đĩa mở rộng (EP) đầu tay của nữ ca sĩ người New Zealand Lorde. Ở tuổi 12, tài năng của Lord được một người chiêu mộ đến từ hãng thu âm Universal Music Group tên Scott MacLachlan khám phá và kể từ đó cô bắt đầu viết nhạc. Tháng 12 năm 2011, MacLachlan giới thiệu nhà sản xuất thu âm Joel Little cho Lorde. Trong ba tuần tiếp theo, cả hai đã hoàn thành việc sáng tác và sản xuất cả năm bài hát nằm trong EP. Tháng 11 năm 2012, Lorde tự phát hành EP miễn phí trên trang web chia sẻ nhạc SoundCloud. Vào ngày 8 tháng 3 năm 2013, EP được phát hành với mục đích thương mại bởi hai hãng thu âm Universal Music Group và Virgin Records.

Là một EP electronica mang âm hưởng từ dòng nhạc indie rock, The Love Club EP đã nhận được nhiều phản hồi tích cực từ các nhà phê bình âm nhạc. Những người này đã có lời khen ngợi cho phần âm nhạc của tác phẩm và đã so sánh nó với các nhạc phẩm của Sky Ferreira, Florence and the Machine và Lana Del Rey. EP từng giành được vị trí thứ hai trên bảng xếp hạng âm nhạc của New Zealand, Úc và được chứng nhận 7× Bạch kim và Bạch kim lần lượt tại hai quốc gia này. Tại Hoa Kỳ, EP từng được xếp vị trí thứ 23 trên bảng xếp hạng Billboard 200. Hơn 60.000 bản sao của EP đã được tiêu thụ chỉ tính riêng tại Hoa Kỳ. Nhằm quảng bá The Love Club EP rộng rãi, Lorde quyết định biểu diễn các bài hát nằm trong EP này tại các buổi hòa nhạc và cho phát hành ca khúc "Royals" với vai trò là đĩa đơn của EP.

Đế quốc Anh

Đế quốc Anh (tiếng Anh: British Empire) bao gồm các quốc gia tự trị, các thuộc địa, các lãnh thổ bảo hộ, các lãnh thổ ủy thác và các lãnh thổ khác do Anh cai trị và quản lý. Đế quốc Anh khởi nguồn với các thuộc địa và trạm mậu dịch hải ngoại do Anh thiết lập từ cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVIII. Vào giai đoạn đỉnh cao của nó, đây là đế quốc hùng mạnh nhất trong lịch sử và là thế lực đứng đầu toàn cầu trong hơn một thế kỷ. Đến năm 1913, Đế quốc Anh cai trị khoảng 412,2 triệu người, chiếm 23% dân số thế giới lúc đó và bao phủ diện tích hơn 35.500.000 km², gần một phần tư tổng diện tích toàn cầu. Do vậy, những di sản về văn hóa, ngôn ngữ, luật pháp của Đế quốc Anh được truyền bá rộng rãi. Vào thời điểm nó đạt tới đỉnh cao của quyền lực, Đế quốc Anh thường được ví với câu nói "đế quốc có mặt trời không bao giờ lặn" bởi vì sự mở rộng cương thổ ra toàn địa cầu đồng nghĩa với việc mặt trời luôn chiếu sáng trên ít nhất một trong những vùng lãnh thổ của nó.

Trong suốt Thời đại Khám phá vào thế kỷ XV và XVI, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là hai quốc gia châu Âu đi tiên phong trong phong trào thám hiểm thế giới và trong quá trình đó họ đã thiết lập các đế quốc hải ngoại lớn. Đố kỵ với sự thịnh vượng vô cùng lớn mà hai đế quốc thực dân này giành được, các nước Anh, Pháp và Hà Lan bắt đầu thiết lập các thuộc địa và các mạng lưới mậu dịch của họ tại châu Mỹ và châu Á. Một loạt cuộc chiến với Pháp và Hà Lan trong thế kỷ XVII và XVIII đã giúp Anh trở thành một cường quốc chi phối thống trị tại Bắc Mỹ và Ấn Độ. Nhưng đồng thời, uy thế của nước Anh (và cả Pháp) bị hạn chế tại châu Âu sau năm 1763, trước sự phát triển lớn mạnh của các cường quốc phía Đông như Phổ, Áo và Nga.Sự kiện Mười ba thuộc địa tại Bắc Mỹ giành được độc lập vào năm 1783 sau cuộc Chiến tranh Cách mạng Mỹ khiến cho nước Anh mất đi một số thuộc địa lâu đời nhất và đông dân nhất của mình. Ngay sau đó nước Anh nhanh chóng chuyển sự quan tâm sang châu Phi, châu Á và Thái Bình Dương. Sau thất bại của nước Pháp trong cuộc chiến tranh Cách mạng Pháp và chiến tranh Napoléon (1792 – 1815), nước Anh tận hưởng một thế kỷ thống trị hầu như không có đối thủ, và mở rộng phạm vi trên khắp toàn cầu. Địa vị thống trị của Anh sau này được ca ngợi như là Pax Britannica (Thái bình Anh Quốc), một giai đoạn mà châu Âu và thế giới tương đối thái bình (1815 – 1914), đây là thời điểm mà nước Anh nắm quyền bá chủ toàn cầu và trở thành người canh giữ cho hoà bình thế giới. Vào đầu thể kỷ 19, cuộc Cách mạng công nghiệp bắt đẩu biến đổi nước Anh; tại thời điểm diễn ra cuộc "Đại Triển Lãm" vào năm 1851, nước Anh được ca ngợi như là "công xưởng của thế giới". Đế quốc Anh còn bành trướng đến Ấn Độ, phần lớn Châu Phi và nhiều khu vực khác trên thế giới. Cùng với sự kiểm soát chính thức của nước Anh đối với các thuộc địa riêng của mình, nó còn thống trị gần như toàn bộ nền thương mại của thế giới đồng nghĩa với việc là nó kiểm soát nền kinh tế của nhiều khu vực khác như châu Á và Mỹ Latinh.Tại nước Anh, những quan điểm chính trị đã thay đổi theo hướng ủng hộ chính sách tự do thương mại cùng chính sách tự do và phổ cập hoá đặc quyền bầu cử. Vào thế kỷ XIX, dân số của nước Anh đã gia tăng một cách mạnh mẽ, cùng với đó quá trình đô thị hoá nhanh chóng mà gây nên những căng thẳng nghiêm trọng về cả kinh tế cũng như xã hội. Để tìm kiếm các thị trường và các nguồn tài nguyên mới, Đảng Bảo thủ dưới thời Benjamin Disraeli đã khởi động một kỷ nguyên mới của chủ nghĩa bành trướng đế quốc tại Ai Cập, Nam Phi và nhiều nơi khác. Nhiều thuộc địa như Canada, Úc và New Zealand được trao quyền tự trị, một vài trong số đó được tái phân loại là quốc gia tự trị.Đến đầu thế kỷ XX, sự phát triển lớn mạnh của Đức và Hoa Kỳ làm xói mòi phần nào vị thế dẫn đầu về kinh tế của nước Anh. Chính sách đối ngoại của Anh quốc tập trung vào mối quan hệ hợp tác chặt chẽ và hữu nghị với Hoa Kỳ, nhưng những căng thẳng về vấn đề ngoại giao và quân sự khiến quan hệ với nước Đức ngày càng trở nên xấu đi và là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Trong thời kỳ diễn ra cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, nước Anh đã phải dựa nhiều vào đế quốc của mình về mặt nhân sự cũng như lương thực. Cuộc chiến này đã tạo ra một gánh nặng to lớn cả về mặt quân sự, tài chính và nguồn nhân lực cho nước Anh. Mặc dù sau cuộc chiến này, cương thổ của Đế quốc Anh đã được mở rộng lên tới cực điểm, bản thân nó đã không còn giữ được vị thế như là một cường quốc vô song về quân sự và công nghiệp được nữa. Trong Chiến tranh thế giới lần hai, các thuộc địa của Anh tại Đông Nam Á đã bị Nhật Bản chiếm đóng, điều này đã làm cho uy tín của đế quốc Anh bị suy giảm nghiêm trọng và đẩy nhanh quá trình sụp đổ của đế quốc này. Sau chiến tranh, Anh phải trao quyền độc lập cho thuộc địa đông dân và giá trị nhất là Ấn Độ. Trong những năm còn lại của thế kỷ XX, phần lớn những thuộc địa của Đế quốc Anh giành được độc lập như một phần của phong trào phi thuộc địa hóa từ các cường quốc châu Âu, kết thúc với việc chuyển giao Hồng Kông cho Trung Quốc vào năm 1997. 14 lãnh thổ ở hải ngoại hiện vẫn thuộc chủ quyền của Anh.

Sau độc lập, nhiều cựu thuộc địa của Anh gia nhập Thịnh vượng chung các Quốc gia, một hiệp hội tự do của các quốc gia độc lập. 16 quốc gia có chung một nguyên thủ, Nữ vương Elizabeth II, đó là Vương quốc Khối thịnh vượng chung.

Đơn vị hành chính của New Zealand
Quốc gia chủ quyền  New Zealand      Quần đảo Cook  Niue
Khu vực 11 khu vực phi nhất thể 5 khu vực nhất thể Quần đảo Chatham   Các đảo ngoại vi không nằm dưới quyền khu vực này
(Quần đảo Kermadec, Quần đảo Three Kings, và Quần đảo Cận Nam Cực)
Lãnh thổ phụ thuộc Ross Tokelau 15 đảo 14 làng
Cơ quan lãnh thổ 13 thành phố và 53 huyện
Ghi chú Một số huyện nằm tại hơn một khu vực Kết hợp hai cấp khu vực và cơ quan lãnh thổ làm một Cơ quan lãnh thổ đặc biệt Quần đảo Solander ngoại vi tạo thành bộ phận của khu vực Southland Lãnh thổ châu Nam Cực của New Zealand Lãnh thổ phi tự quản của New Zealand Các quốc gia liên kết tự do với New Zealand
Quốc gia
có chủ quyền
Lãnh thổ
phụ thuộc
Quốc gia có chủ quyền
Bộ phận của
Quốc gia có chủ quyền
Lãnh thổ phụ thuộc

lãnh thổ khác
Tam giác Polynesia
Ngoại vi Polynesia
và văn hóa ngoại vi

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.